Bỏ qua nội dung chính

Anh Hùng Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

Tìm kiếm
Trang chủ
Tra cứu
Thư viện số
Thư viện Koha
Bộ sưu tập
Video
Sản phẩm thông tin
Quan tri CMs
  

Thư viện Tỉnh Đồng Nai > Anh Hùng Quân Đội Nhân Dân Việt Nam > Danh mục
Anh hùng Huỳnh Văn Nghệ

 

Ông sinh ngày 2 tháng 2 năm 1914 tại làng Tân Tịch, tổng Chánh Mỹ Hạ, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc xã thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnhBình Dương), trong một gia đình nghèo. Trước khi sinh ra ông, gia đình ông từng sống du cư bằng ghe trên sông Bao Ngược. Năm 1903, gia đình ông gặp một trận bão lớn cuốn hết cả gia tài và hai người con đầu.

Sau trận bão đó, gia đình ông lưu lạc lên lập nghiệp ở vùng Tân Uyên. Thân phụ của ông là ông Huỳnh Văn Tờn, từng học võ và biết chữ Nho, sống bằng nghề đi săn, nhưng có lúc phải đi làm mướn (cưa gỗ) để sinh kế. Là một người khẳng khái, mặc dù chính quyền thực dân cấm, ông Tờn vẫn lén lút dạy võ cho thanh niên trong làng và từng được hương chức làng mời ra làm hương tuần nhưng ông Tờn không nhận. Thân mẫu ông là bà Đoàn Thị Hiển, sinh năm Canh Thìn (1880), làm nghề gánh hàng bán cau khô, vải, nước mắm, thường đi chợ Tân Uyên để mua hàng về bán cho các làng lân cận như Tân Hòa, Mỹ Lộc... Huỳnh Văn Nghệ là con thứ 7 trong gia đình nên còn gọi là Tám Nghệ. Trừ 2 người đầu mất tích do bão lũ năm 1903. và người thứ ba và thứ sáu mất sớm, ông có một người anh thứ tư (Năm Thọ) và người chị thứ năm (Sáu Yển) và 2 người em út (Chín Lưỡng và Mười Mẫn). Như thông tục thời bấy giờ, ông còn được cha mẹ gọi là Ngộ hoặc Ngãi. Tuy nhà nghèo, nhưng ông được hưởng một nền giáo dục rất tốt, được cha dạy dỗ về căn bản cả văn lẫn võ, được gia đình chăm lo ăn học đến nơi đến chốn. Ông được cho đi học bậc tiểu học tại làng Mỹ Lộc, quận Tân Uyên và học rất giỏi. Nhờ đó, năm 1928, sau khi tốt nghiệp bậc tiểu học, ông đã giành được học bổng bậc trung học của Trường Petrus Ký. Sau khi lên Sài Gòn học ít lâu, cha ông tử nạn bởi bị rắn độc cắn. Toàn bộ gia đình ông trông nhờ vào người mẹ buôn bán nhỏ và người anh làm thầy giáo ở quê nhà.

Bước đầu hoạt động cách mạng

Từ nhỏ, ông chịu ảnh hưởng tinh thần yêu nước của gia đình. Khi học bậc trung học tại trường Petrus Ký tại Sài Gòn, ông thường xuyên có thái độ bài Pháp thực dân và có thể đã có những tiếp xúc đầu tiên với những người Cộng sản. Sau khi tốt nghiệp với bằng Thành chung vào năm 1932, ông vào làm công chức tại Sở Hỏa xa Đông Dương (Sài Gòn). Thời gian này, ông được các cán bộ Cộng sản vận động, tham gia phong trào Đông Dương Đại hội vào năm 1936, một phong trào vận động thu thập dân nguyện đề nghị cải cách với chính quyền thực dân Pháp, bắt đầu hoạt động làm thơ, viết báo (tiếng Việt, tiếng Pháp) đăng trên các báo ở Sài Gòn với bút danh Hoàng Hồ. Năm 1937, ông được bí mật kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất.

Năm 1940, Khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra và bị chính quyền thực dân đàn áp khốc liệt. Vì là một đảng viên bí mật hoạt động công khai, nên thân phận của ông không bị bại lộ. Nhưng do việc thường xuyên tiếp tế cho một bộ phận nghĩa quân rút về lập căn cứ ở Tân Uyên, năm  1942, ông bị phát hiện và bị truy bắt. May mắn là ông kịp đào thoát sang Thái Lan. Tại đây, ông hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước, tổ chức xuất bản tờ báo Hồn cố hương, kêu gọi kiều bào hướng về Tổ quốc, ủng hộ cách mạng.

Hoạt động quân sự

Năm 1944, ông trở về nước bắt liên lạc với Trần Văn Giàu, Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ và được giao lập khu nghĩa quân Đất Cuốc tại quê hương Tân Uyên, Biên Hòa. Tháng 7 năm 1945, lần thứ hai ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và tham gia Tổng khởi nghĩa tháng Tám, trực tiếp chỉ huy bắt sống tỉnh trưởng và cảnh sát trưởng tỉnh Biên Hòa. Ông được giao nhiệm vụ chỉ huy trưởng lực lượng Giải phóng quân Biên Hòa, cố vấn cho ủy ban kháng chiến miền Đông. Chính quyền cách mạng giao cho ông trọng trách mang hơn 10 vạn đồng (tiền Đông Dương) qua Campuchia mua vũ khí về phục vụ cách mạng nhưng hai kẻ môi giới cầm tiền đã bỏ trốn, khiến ông không hoàn thành nhiệm vụ. Sau này hai kẻ môi giới lừa bịp đã bị bắt.

Cuối tháng 9 năm 1945, Sài Gòn bị Pháp chiếm, trạng sư Dương Văn Giáo, một trong những lãnh đạo Việt Nam phục quốc đồng minh hội, đứng ra thành lập chính phủ Nam kỳ Cộng hòa quốc phục vụ cho thực dân Pháp. Huỳnh Văn Nghệ đã trực tiếp tham gia bắt sống Dương Văn Giáo. Tháng 5 năm 1946, Tư lệnh Nam Bộ Nguyễn Bình phong cho Chi đội trưởng Chi đội (tương đương trung đoàn) Huỳnh Văn Nghệ làm Khu bộ phó Khu 7 (bấy giờ Khu bộ trưởng Khu 7 là Lê Văn Viễn, một thủ lĩnh lực lượng Bình Xuyên. Không lâu sau đó, ông được thăng chức Khu trưởng Khu 7 kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Khu 7 thay cho cựu Khu trưởng Khu 7 Lê Văn Viễn đào nhiệm về vùng kiểm soát của quân Pháp. Ông đã chỉ huy nhiều trận đánh lớn tại miền Đông. Đặc biệt, với trận La Ngà ngày 1 tháng 3 năm 1948, đơn vị ông được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng thưởng Huân chương Chiến công, riêng Trung đoàn trưởng Huỳnh Văn Nghệ được đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thưởng riêng một áo trấn thủ. Năm 1953, ông được cử ra Bắc học tập và tiếp tục công tác trong Quân đội với hàm Thượng tá, chức vụ Phó Cục trưởng Cục Quân huấn thuộc Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Chuyển sang ngạch dân sự

Rời quân đội, Huỳnh Văn Nghệ chuyển sang làm Tổng Cục phó Tổng cục Lâm nghiệp. Năm 1965, ông về miền Nam tham gia chống Mỹ, làm Phó ban Kinh tài Trung ương Cục miền Nam. Sau khi đất nước thống nhất, ông là Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp (về sau hợp nhất vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Ông lâm bệnh và mất tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 5 tháng 3 năm 1977.

          Ba mươi năm sau, ông được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật cho các tác phẩm "Chiến khu xanh", “Bên bờ sông xanh", "Rừng thẳm sông dài". Ngày 17 tháng 4 năm 2010, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. "Thi tướng" Không chỉ là một chỉ huy quân sự tài ba, ông còn là một nhà thơ có những vần thơ in đậm trong tâm trí người đọc. Đồng đội và nhân dân miền Nam gọi ông là "Thi tướng rừng xanh".

Ở Huỳnh Văn Nghệ nhiệm vụ chiến sĩ và sứ mệnh thi sĩ đã hoà quyện với nhau, như chính lời ông viết:

Tôi là người lăn lóc giữa đường trần,

Không phân biệt lúc mài gươm múa bút.

Đời chiến sĩ máu hoà lệ, mực

 Còn yêu thương là chiến đu không thôi

Suốt một đời gươm chẳng ráo mồ hôi

Thì không lẽ bút phải chờ kiếp khác.

Trên lưng ngựa múa gươm và ca hát,

Lòng ta say chiến trận đến thành thơ...

Thơ của ông giản dị mà gần gũi, đầy cảm hứng mà sâu sắc, hồn nhiên mà xúc động. Bài thơ Nhớ Bắc của ông làm tại Chiến khu Đ năm 1946 với 4 câu tuyệt bút mở đầu đã được nhiều thế hệ người Việt Nam truyền tụng:

Ai về Bắc ta đi với

Thăm lại non sông giống Lạc Hồng

Từ thuở mang gươm đi mở cõi

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.

(Câu cuối có một số bản chép là "Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long''.

          Tuy nhiên, sau này đã được đính chính lại đúng nguyên tác là "trời Nam").

Bài thơ kết thúc bằng 4 câu mang nặng tình với đất nước:

Ai đi về Bắc xin thăm hỏi

 Hồn cũ anh hùng đất cổ Loa

 Hoàn Kiếm hồ xưa Linh Quy hỡi

Bao giờ mang trả kiếm dân ta.

Gần 50 bài thơ của ông đã được chọn in trong tập Thơ văn Huỳnh Văn Nghệ, NXB Đồng Nai, 1998. Ngoài ra ông còn viết truyện ký, tự truyện được tập hợp trong hai tập sách Quê hương rừng thảm sông dàiNhững ngày sóng gió.

Tháng 12 năm 2006, các tập thơ Chiến khu xanh, Bên bờ sông xanh, Rừng thẳm sông dài được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật. Đầu năm 2007, tỉnh Bình Dương phi hợp với tỉnh Đồng Nai và Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học Huỳnh Văn Nghệ - Cuộc đời và sự nghiệp tại Nhà Lưu niệm Huỳnh Văn Nghệ, thuộc xã Thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Tại thị xã Thủ Dầu Một, có một con đường mang tên Huỳnh Văn Nghệ. Và cũng để tưởng nhớ công lao của một vị tướng - một nhà thơ và ở thành phố Biên Hòa cũng có con đường mang tên ông, tỉnh Bình Dương đã quyết định thành lập Giải thưởng văn học nghệ thuật Huỳnh Văn Nghệ của tỉnh Bình Dương.

Cuộc đời ông cũng được hãng TFS dựng thành phim truyền hình 37 tập "Vó ngựa trời Nam", do Nghệ sĩ ưu tú Lê Cung Bắc làm đạo diễn và các diễn viên Huỳnh Đông vai Huỳnh Văn Nghệ, Lê Phương vai Nhàn, Phụng Cường vai Huỳnh Văn Nghệ lúc nhỏ, Tấn Hưng vai Tám Phát, Thạch Kim Long vai Chín Quỳ. Phim được dàn dựng từ năm 2007 và công chiếu vào tháng 3 năm 2010, nhận được một số lời khen ngợi. Ngoài ra, trong phim Dưới cờ đại nghĩa sản xuất năm 2006, ông được diễn viên Lê Văn Dũng thể hiện.

Ông lấy vợ tên là Đoàn Thị Nhạn (1915-1988), có tất cả 9 người con. Hai người con đầu mất sớm. Người thứ ba là bà Huỳnh Xuân Lan, mất năm 2007, nguyên là Phó TGĐ Tổng Công ty xây dựng số 1. Người thứ tư là bà Huỳnh Thu Cúc, giảng viên đại học Bách.Khoa. Người thứ năm là bà Huỳnh Thu Nguyệt, nguyên là kế toán trưởng. Người thứ sáu là ông Huỳnh Văn Nam, TGĐ Đài Truyền hình TP. Hồ Chí Minh (8/2002- 3/2011). Người thứ bảy mất sớm. Người thứ tám là bà Huỳnh Thị Sông Bé. Người con út là bà Huỳnh Thị Thành, hiện là Trưởng khoa Vật lý Đo lường, Viện Kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh.

 

 

Nguyễn Thái An

             Hà Tiến Thăng

 

 

Anh hùng Võ Trọng Việt

 

Thân thế và binh nghiệp

Ông sinh ra trong một gia đình nông dân ở cửa sông làng Trung Hoà, Đức Hòa, Đức Thọ, Hà Tĩnh, Võ Trọng Việt là anh cả của 6 đứa em. Năm 1975, ông đi bộ đội và trở thành lính của tiểu đoàn 22, Quân khu 4, Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Năm 1980, ông tốt nghiệp Trường Sĩ quan công an vũ trang (nay là Học viện Biên phòng) được phong quân hàm Thiếu uý và được phân công về phòng Trinh sát Quân khu V nhận nhiệm vụ đi biệt phái chống FULRO ở Đắk Lắk. Năm 2005, ông được điều động ra Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng làm Chính ủy. Năm 2006, ông trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XII. Tháng 01/2011, ông được bầu là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngày vào Đảng: 17/9/1977. Ngày chính thức: 17/3/1979.

Khen thưởng: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và nhiều huân huy chương khác.

Chức vụ hiện nay: Trung tướng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Bộ đội biên phòng; ủy viên ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội.

 

Nguyễn Thái An

Hà Tiến Thăng

 

 

 

ANH HÙNG TRẦN CÔNG AN

 

Ông có nhiều đóng góp to lớn cho phong trào cách mạng Biên Hòa. Đặc biệt, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tham gia chỉ huy và chiến đấu nhiều trận đánh địch; trong đó có trận đánh tháp canh nổi tiếng tại cầu Bà Kiên với phương pháp đánh đặc công. Năm 1948, trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, thực dân Pháp thực hiện chiến thuật Đờ La-tua, xây dựng hệ thống đồn bốt, tháp canh trên các trục lộ giao thông nhằm cắt đt liên lạc giữa vùng kháng chiến, bao vây căn cứ cách mạng chiến khu Đ.

Đêm 18 rạng sáng 19 tháng 3 năm 1948, Trần Công An đã chỉ huy một tổ gồm hai du kích Trần Văn Nguyên, Hồ Văn Lung tiến đánh tháp canh. Với số vũ khí được trang bị (09 trái lựu đạn dập và 1 trái OF - lựu đạn tấn công), cả ba lấy bùn, tro hoá trang, cầm thang bí mật tiếp cận tháp canh địch. Dùng thang áp vào tường để leo lên, mỗi người phân công leo lên các tầng tháp và ném lựu đạn vào lỗ châu mai. Trận đánh này tiêu diệt được 11 tên lính, thu 8 súng và 20 lựu đạn. Thắng lợi của trận đánh này mở ra một kỹ thuật đánh tháp canh trên toàn Nam Bộ.

Năm 1954, Trần Công An tập kết ra Bắc, làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 - trung đoàn 656 (Sư đoàn 338) có nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện quân sự, chính trị bảo đảm đơn vị diễn tập tấn công, phòng ngự. Đến năm 1958, ông làm Trung đoàn trưởng 656, tổ chức sản xuất ở huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Đến ngày 17/2/1961, được Bộ Tổng tham mưu quyết định làm trưởng đoàn 1 gồm 205 cán bộ đi B (chiến trường miền Nam). Khi về đến Ban quân sự Trung ương Cục, Trần Công An được Ban quân lực Miền quyết định chuyển sang làm đoàn phó U50 - đơn vị chịu trách nhiệm sản xuất đảm bảo hậu cần, bảo vệ chiến khu A (chiến khu Đ mở rộng) - sau là Đảng ủy viên Cục hậu cần miền.

Đến tháng 2 năm 1965, Bộ Tư lệnh miền lại quyết định giao cho ông giữ nhiệm vụ Thị đội trưởng Biên Hòa. Đêm 22 tháng 6 năm 1966, Trần Công An trực tiếp chỉ huy hai đại đội đặc công, tự cải tiến và sử dụng mìn hẹn giờ đánh vào kho liên hợp Long Bình, phá hủy trên 40.000 tấn bom đạn của Mỹ - ngụy. Thời gian về sau, Trần Công An tham gia nhiều công tác trên nhiều mặt trận và có những đóng góp lớn cho phong trào cách mạng của miền Đông Nam Bộ cho đến ngày đất nước thống nhất.

Với những đóng góp cho phong trào đấu tranh cách mạng, đại tá Trần Công An được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Những năm tháng cuối đời, ông sinh sống và mất vào ngày 07 tháng 9 năm 2008 tại thành phố Biên Hoà.

Nguyễn Thái An

Hà Tiến Thăng

 

Anh hùng Tô Ký

 

 

Năm 1939, ông làm Huyện ủy viên huyện Hóc Môn; bị thực dân Pháp bắt, kết án 5 năm tù và đày đi biệt xứ. Ông đã 2 lần vượt ngục vào tháng 3 năm 1941 và tháng 3 năm 1945. Năm 1945, ông làm Tỉnh ủy viên tỉnh Gia Định, phụ trách quân sự và tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở Gia Định. Năm 1946, ông làm Chi đội trưởng Chi đội 12 (Khu 7).

Từ năm 1947 đến năm 1950, ông làm Tư lệnh Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, Thường vụ khu y, Phó Tư lệnh Quân khu 7. Từ năm 1951 đến năm 1953, ông làm Tỉnh đội trưởng, Bí thư tỉnh ủy Gia Định. Từ năm 1954 đến năm 1955, ông làm Trưởng ban Ban Chuyển quân tập kết khu Hàm Tân, Xuyên Mộc; Chủ nhiệm Phòng cung cấp Phân Liên khu miền Đông Nam Bộ.

Từ năm 1957 đến năm 1964, ông làm Chính ủy Sư đoàn 338, Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương. Từ tháng 6 năm 1967 đến năm 1974, ông làm Chính ủy, Bí thư quân khu ủy Quân khu Hữu Ngạn. Tháng 12 năm 1978, ông chuyển ngành sang Tổng cục Dầu khí.

Ông được Nhà nước tặng thưởng: 02 Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và nhiều huân, huy chương khác. Năm 2010. ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

 

 

Nguyễn Thái An

Hà Tiến Thăng

 

ANH HÙNG PHẠM XUÂN ẨN

 

Phạm Xuân Ẩn sinh năm 1927, tại xã Bình Trước, Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, trong gia đình một viên chức cao cấp của chính quyền thuộc địa. Quê gốc của ông tại Hải Dương. Gia đình ông chuyển đến sống tại Huế khi cụ nội của ông là nghệ nhân kim hoàn được gọi vào Kinh đô để chế tác đồ vàng bạc cho triều đình. Ông nội của Phạm Xuân Ẩn là hiệu trưởng một trường nữ sinh ở Huế, đã được Vua ban Kim khánh. Cha của ông là một kỹ sư công chánh cao cấp tại Sở Công chánh, làm công tác trắc địa trên khắp miền Nam. Ông được sinh tại Nhà thương Biên Hòa, do chính các bác sĩ Pháp đỡ đẻ. Tuy là một viên chức cao cấp, nhưng cha của ông không nhập quốc tịch Pháp.

Thời niên thiếu, ông sống tại Sài Gòn, sau chuyển về Cần Thơ học trường Collège de Cn Thơ. Năm 1945, Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông bỏ học và tham gia tổ chức Thanh niên Tiền phong, sau đó học một khóa huấn luyện của Việt Minh về công tác tuyên truyền.

Năm 1947, ông trở về Sài Gòn để chăm sóc thân phụ đang bệnh nặng. Tại đây, ông tổ chức các cuộc biểu tình của sinh viên Sài Gòn, đầu tiên là chống Pháp rồi sau chống Mỹ. Ông làm Thư ký cho Công ty Dầu lửa Caltex cho đến năm 1950.

Năm 1950, ông vào làm ở Sở thuế quan Sài Gòn. Thực chất lúc này ông được Việt Minh giao nhiệm vụ tìm hiểu tình hình vận chuyển hàng hóa, khí tài quân sự và quân đội từ Pháp sang Việt Nam và từ Việt Nam về Pháp. Đây là những bước đầu hoạt động tình báo đầu tiên của ông. Năm 1952, ông ra Chiến khu D và được Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch - ủy viên ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ - giao nhiệm vụ tình báo chiến lược.

Năm 1953 tại rch Cái Bát, Cà Mau trong rừng u Minh, Phạm Xuân n được chính thức kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1954, Phạm Xuân n bị gọi nhập ngũ và được trưng dụng ngay làm bí thư phòng Chiến tranh tâm lý trong Bộ Tổng hành dinh quân đội Liên hiệp Pháp tại Camp Aux Mares (thành Ô Ma). Chính tại đây, ông đã quen biết với Đại tá Edward Lansdale, Trưởng phái bộ quân sự đặc biệt của Mỹ (SMM), trên thực tế là người chỉ huy CIA tại Đông Dương cũng là trưởng phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ (US.MAAG) ở Sài Gòn.

Trong công tác tình báo, để có thể đi khắp nơi và tiếp cận với những nhân vật có quyền lực nhất, tháng 10 năm 1957, theo sự chỉ đạo của đồng chí Mai Chí Thọ và Trần Quốc Hương (Mười Hương, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương) Phạm Xuân n qua Mỹ học ngành báo chí.

Tháng 10 năm 1959, Phạm Xuân Ẩn về nước, nhờ những mối quan hệ, ông được Trần Kim Tuyến, Giám đốc Sở Nghiên cứu Chính trị Văn hóa Xã hội (thực chất là cơ quan mật vụ trực thuộc Phủ Tổng thống), biệt phái sang làm việc tại Việt tấn xã phụ trách nhũng phóng viên ngoại quốc làm việc tại đây.

Từ năm 1960 đến giữa năm 1964, ông làm cho Hãng thông tấn Reuters.

Từ năm 1965 đến năm 1976, ông là phóng viên người Việt chính thức duy nhất của Tuần báo Time, ngoài ra ông còn là cộng tác viên của các tờ báo khác như The Cliristian Science Monitor...

Từ khi ở Mỹ về nước cho đến năm 1975, với vỏ bọc là phóng viên, nhờ quan hệ rộng với các sĩ quan cao cấp, các nhân viên tình báo, an ninh quân đội và người của CIA, Phạm Xuân n đã có được mọi nguồn tin tức quan trọng từ quân đội, cảnh sát và cơ quan tình báo.

Những tin tức và phân tích tình báo chiến lược của Phạm Xuân n được bí mật gửi cho Bộ chỉ huy quân sự ở miền Bắc thông qua Trung ương Cục miền Nam. Chúng sống động và tỉ mỉ đến mức người ta kể rằng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã reo lên: Chúng ta đang trong phòng hành quân của Hoa Kỳ. Tổng cộng, Phạm Xuân n đã gửi về căn cứ 498 báo cáo bao gồm tài liệu nguyên gốc đã được sao chụp, các thông tin mà ông thu lượm cùng phân tích và nhận định của bản thân. Cụ thể là:

Giai đoạn 1961-1965: những bản tài liệu nguyên bản về chiến lược chiến tranh đặc biệt như Tài liệu McGarr; tài liệu Staley, tài liệu Taylor, tài liệu Harkins; tài liệu ấp chiến lược... Ông gửi về nguyên bản kế hoạch kế hoạch Staley-Taylor.

Giai đoạn 1965-1968: Các kế hoạch liên quan đến chiến lược chiến tranh cuc bộ, phục vụ chiến thuật Mậu Thân 1968.

Giai đoạn 1969-1973: nhng tài liệu liên quan đến chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh.

Giai đoạn 1973-1975: hàng trăm bản tin nguyên bản "phục vụ trên hạ quyết tâm giải phóng miền Nam"...

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Phạm Xuân Ẩn là một trong những nhà báo chứng kiến sự kiện xe tăng của Quân đội Nhân dân Việt Nam húc đổ cổng dinh Độc Lập. Đến thời điểm đó cũng như một vài tháng sau, các đồng nghiệp phóng viên và những người thuộc chính quyền cũ cũng như chính quyền mới vẫn chưa biết ông là một điệp viên cộng sản. Khi đó vợ con của ông đã rời khỏi Việt Nam theo chính sách sơ tán của Mỹ, theo kế hoạch của ta, ông sẽ được gửi sang Mỹ để tiếp tục hoạt động tình báo. Tuy nhiên, ông đã đề nghị cấp trên cho ngừng công tác do đã hoàn thành nhiệm vụ. Kế hoạch thay đổi, vợ con ông đã phải mất một năm để quay lại Việt Nam theo đường vòng: Paris - Moskva - Hà Nội - Sài Gòn.

Ngày 15 tháng 1 năm 1976, Trung tá Trần Văn Trung (tức Phạm Xuân n) cán bộ tình báo thuộc Bộ Tham mưu Miền được Đảng, Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang". Lúc này nhiều người mới chính thức biết ông là một tình báo viên thời chiến.

Tháng 8-1978, ông ra Hà Nội dự một khóa học tập chính trị dành cho cán bộ cao cấp trong 10 tháng.

Năm 1990, Đại tá Phạm Xuân n được thăng cấp Thiếu tướng.

Năm 2002, ông về hưu. Nhưng cho tới sáu tháng trước khi qua đời, Phạm Xuân n vẫn đóng vai trò như một cộng tác viên của tình báo Việt Nam. Ông tham gia vào việc bình luận và đánh giá các tài liệu của Tổng cục Tình báo (Tổng cục 2, trực thuộc Bộ Quốc phòng). Ông mất tháng 9 năm 2006.

Các huân chương, huy chương ông đã được tặng thưởng:

Huân chương Độc Lập hạng Nhì.

Huân chương Quân công hạng Ba.

Huân chương Chiến thắng hạng Ba.

Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.

Huân chương Chiến công (1 hạng Nhất; 2 hạng Nhì; 1hạng Ba).

Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.

Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng

 

Nguyễn Thái An

Hà Tiến Thăng

                                                                                                        

 

ANH HÙNG PHẠM THANH NGÂN

 

Ông sinh ngày 18 tháng 4 năm 1939 tại xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên, quê gốc của ông là ở huyện Tiên Lữ, Hưng Yên. Tháng 6 năm 1957, ông tham gia hoạt động Đoàn Thanh niên tại địa phương. Ngày 21 tháng 3 năm 1959, ông nhập ngũ, trở thành chiến sĩ trinh sát rồi Tiểu đội trưởng Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Lữ đoàn 374, Sư đoàn 351 Pháo binh.

 

          Trở thành phi công

Trong một đợt kiểm tra tuyển quân, ông trúng tuyển và được đưa đi huấn luyện tại Trường dự khóa bay ở sân bay Cát Bi (Hải Phòng) vào tháng 4 năm 1961. Tháng 10 năm đó, ông được cử sang Liên Xô học lái máy bay MiG-17. Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 8 tháng 12 năm 1963, kết nạp chính thức ngày 8 tháng 9 năm 1964, khi đang học tại Liên Xô. Tháng 10 năm 1964, ông trở về nước và trở thành sĩ quan lái máy bay MiG-17 tại Trung đoàn 921 Không quân. Tuy nhiên, đến tháng 8 năm 1965, ông tiếp tục được cử đi học lái máy bay MiG-21 tại Liên Xô. Tháng 6 năm 1966, ông về nước và lần lượt giữ chức vụ Trung đội trưởng, Đại đội phó, Đại đội trưởng lái máy bay MiG-21 tại Đoàn không quân Sao Đỏ. Từ đây, ông bắt đầu trực tiếp tham gia chiến đấu.

 

Thành tích trong chiến đấu

Trong thời gian từ 1966 đến 1968, ông đã cùng đồng đội tham gia chiến đấu và trực tiếp bắn rơi 8 máy bay của đối phương và chỉ huy đơn vị bắn rơi 8 máy bay khác. Ông đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng 8 huy hiệu vì thành tích này. Tháng 7 năm 1968, ông được đi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua tiêu biểu hai miền Nam Bắc.

Cùng tháng 12 năm 1968, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng một chiếc đồng hồ vì thành tích bắn rơi nhiều máy bay Mỹ. ông được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 18 tháng 6 năm 1969 khi đang là Đại úy, Đại đội trưởng thuộc Trung đoàn Không quân 921. Điều đặc biệt là 2 trong số máy bay MiG-21 mà ông từng điều khiển, mang số hiệu 4324 và 4326, đều là những chiếc máy bay có số lần bắn hạ đối phương cao nhất (4324 với 14 lần và 4326 với 13 lần), đồng thời cũng có số lượng phi công từng điều khiển đạt đẳng cấp Ace nhiều nhất, được phong anh hùng nhiều nhất và trở thành tướng lĩnh nhiều nhất.

Tháng 9 năm 1970, ông lại được cử sang Liên Xô theo học tại Học viện Không quân Gagarin. Mãi đến thang 9 năm 1975, ông mới trở về nước và tham gia viết tài liệu tại Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân. Tháng 6 năm 1977, ông được cử làm sư đoàn phó Sư đoàn Không quân 371, thuộc Quân chủng Không quân vừa được thành lập. Tháng 8 năm 1978, ông được cử đi học tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc. Tháng năm 1989, ông trở về làm Sư đoàn phó, sau đó thăng làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 371. Tháng 8 năm 1982, lần thứ 4 ông đến liên xô học tập, Học viện Bộ Tổng tham mưu Voroshilov. Tháng 7 năm 1984, ông về nước và được cử giữ chức vụ Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân, đến tháng 2 năm 1985, được thăng làm phó tham mưu trưởng thứ nhất Quân Chủng Không quân tháng 9 năm 1986, thăng làm Phó Tư lệnh về chính Trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng kiêm chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Không quân cho đến tháng 10 năm 1987, ông thôi chức Chủ nhiệm Chính trị, nhưng vẫn là Phó Tư lệnh về Chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng. Tháng 6 năm 1988, ông được thăng quân hàm Thiếu Tướng.

Tháng 4 năm 1989, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân chủng Không quân. Tháng 9 năm 1991, ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII với cương vị Tư lệnh Quân chủng Không quân. Tháng 6 năm 1992, ông được thăng hàm Trung tướng. Tháng 1 năm 1996, ông được bầu tiếp làm Ủy viên Trung ương Đảng khóa VIII. Tháng 5 năm đó, ông được phân công làm phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Tháng 7 năm 1997, ông được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa X. Tháng 12 năm 1997, ông được bầu vào Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung   ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII. Từ tháng 1 năm 1998, ông được phân công làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tháng 11 năm 1999, ông được thăng hàm Thượng tướng. Tháng 5 năm 2001, ông thôi chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, được phân phụ trách Ban Tổng kết chiến lược về Quân      sự và Quốc phòng trực thuộc Bộ Chính trị. Một năm sau, ông nghỉ hưu.

Tặng thưởng:

- 2 Huân chương Quân công hạng Ba.

- Huân chương Chiến công hạng Nhất.

- 3 Huân chương Chiến công hạng Nhì.

- 3 Huân chương Chiến công hạng Ba.

- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì.

- Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba).

- Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

- 8 Huy hiệu Hồ Chí Minh.

 

Nguyễn Thái An

Hà Tiến Thăng

 

 

Anh hùng  Phạm Ngọc Lan

 

Tuy khởi đầu kết quả không khả quan, vào lớp 5 với kết quả đậu vớt trong kỳ phân loại, nhưng chỉ trong 1 năm, ông nhanh chóng hoàn tất chương trình 10 năm với kết quả xuất sắc.

Sau khi tốt nghiệp, hầu hết các học viên đều được cử đi học thêm ở nước ngoài. Vì vậy, ông cùng các bạn đồng môn trải qua thêm một thời gian học ngoại ngữ. Với kết quả học tập xuất sắc và kiểm tra sức khỏe tốt, dù đã đăng ký ý nguyện học về ngành xe tăng, ông lại được cử đi học... lái máy bay. "Tôi kinh ngạc hết sức khi hay tin. Bởi thời đó, ta làm gì có máy bay. Nghĩ đến chuyện được lái xe tăng là đã ghê gớm lắm rồi. Nghĩ đến chuyện lái máy bay trên trời, tôi thấy giống như chuyện viễn tưởng".

Tháng 10 năm 1956, ông sang Trung Quốc theo học tại Trường Không quân số 3, cao nguyên Vân Quý, Vân Nam, với chức vụ Trung đội trưởng. Trong quá trình học tập, ông luôn ở trong nhóm dẫn đầu với 8 môn lý thuyết đạt 80 điểm, tức là toàn điểm 10. Ông còn là học viên duy nhất làm bài thi bằng tiếng Trung Quốc. Sau gần 8 năm học tập và huấn luyện, sáng ngày 6 tháng 8 năm 1964, ông dẫn đầu đội hình của Trung đoàn 921 - Đoàn Không quân Sao Đỏ với 33 chiếc máy bay chiến đấu kiểu MiG-17A, 3 chiếc máy bay huấn luyện kiểu MiG-15UTI hạ cánh xuống sân bay Nội Bài, chỉ sau đúng một ngày diễn ra Sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Đoàn được đích thân Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra đón.

Sau khi về nước, Biên đội trực chiến đầu tiên được thành lập. Ông được phân công vai trò bay số 1 và Biên đội trưởng. Trong vai trò này, ông cùng các phi công tập luyện các kỹ thuật bay trên bầu trời Bắc Việt Nam để chuẩn bị cho các cuộc giao chiến sau này. Tháng 1 năm 1965, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Chủ nhiệm dẫn đường Trung đoàn Không quân 921, hàm Trung úy. Ngày 3 tháng 4 năm 1965, ông tham gia vào trận đánh đầu tiên của Không quân Nhân dân Việt Nam, tấn công các máy bay của Hải quân Mỹ đang tập kích vào khu vực cầu Hàm Rồng - một cây cầu huyết  mạch, yết hầu trên tuyến chi viện Bắc Nam.

Theo kế hoạch dự kiến của các chỉ huy Không quân, các máy bay Mỹ sẽ xuất phát từ hàng không mẫu hạm, qua điểm kiểm tra Hòn Mê để tập kích vào khu vực Hàm Rồng. Do đó, một biên đội do Đại úy Trần Hanh chỉ huy gồm số 1 (mã hiệu 01) - Trần Hanh và số 2 (mã hiệu 03) - Phạm Giấy, sẽ làm nhiệm vụ nghi binh, xuất phát từ Nội Bài, bay dọc đường số 1, tiến về Nho Quan, sau đó sẽ bay chờ ở cẩm Thủy để dẫn dụ tiêm kích đối phương rời xa khu vực chiến đấu. Sau đó, biên đội công kích do Phạm Ngọc Lan chỉ huy gồm số 1 (mã hiệu 05) - Phạm Ngọc Lan, số 2 (mã hiệu 06) - Phạm Văn Túc, số 3 (mã hiệu 07) Hồ Văn Quỳ, số 4 (mã hiệu 08) - Trần Minh Phương, sẽ bay thấp dọc ven núi để tránh rađa đối phương, theo hướng Tam Điệp, tiến vào khu vực chiến đấu từ hướng Hà Trung, lợi dụng thời cơ để tấn công. Trung tá Hoàng Ngọc Diêu được giao nhiệm vụ chỉ huy toàn bộ trận đánh. Vào lúc 7 giờ, các đài rađa cảnh giới Việt Nam phát hiện một tốp máy bay Mỹ bay vào trinh sát khí tượng và mục tiêu. Lúc 9 giờ 40 phút, 60 lần máy bay cường kích các loại của Hải quân Mỹ cùng lúc bay vào đánh phá cầu Tào, cầu Đò Lèn và cầu Hàm Rồng. Lúc 9 giờ 47, biên đội nghi binh và yểm hộ cất cánh. Một phút sau biên đội tiến công cũng cất cánh theo kế hoạch đã dự kiến. Lúc 10 giờ 09 phút, biên đội tiến công phân làm hai tốp, tiến vào khu vực tấn công, lợi đụng thế bất ngờ chiến thuật, khuấy đảo buộc các máy bay cường kích A-4 phải bỏ mục tiêu, đồng thời tiến hành không chiến với các máy bay tiêm kích F-8E hộ tống. Ban đầu, số 2 Phạm Văn Túc khai hỏa nhưng không trúng mục tiêu do tính sai khoảng cách. Phạm Ngọc Lan lệnh cho số 2 bình tĩnh, giữ đúng vị trí yểm hộ rồi cho máy bay vào tới cự ly bắn có hiệu quả và bắn rơi đối phương. Ông trở thành phi công Việt Nam đầu tiên bắn rơi máy bay Mỹ trong không chiến.

Đội hình máy bay Hải quân Mỹ sau phút bất ngờ cũng tìm cách chống trả. Tuy nhiên, lúc 10 giờ 17 phút số 2 Phạm Văn Túc bắn hạ tiếp một F-8E. Bên cạnh đó các khẩu đội phòng không của Việt Nam cũng bắn rơi và bị thương nhiều máy bay Mỹ, yểm hộ cho cả 2 biên đội máy bay của Việt Nam thoát về an toàn.

Cú hạ cánh ngoạn mục bằng thân máy bay

Sau khi chỉ huy biên đội bắn hạ 2 chiến F-8E, ông hạ lệnh cho các đồng đội trở về. Tuy nhiên, do phát hiện 1 chiếc F-8E đơn độc bay vòng lại, ông quay lại thế công kích để yểm hộ toàn biên đội rút lui an toàn, một mình tiếp tục truy đuổi máy bay đối phương đang tìm cách thoát ra phía biển. Ông bám sát suốt từ Hàm Rồng về đến cửa Thái Bình mới bắn trúng được đối phương. Tuy nhiên, chiếc F-8E may mắn này chỉ bị thương, vẫn thoát được ra biển và phi công được Hải quân Mỹ tiếp cứu sau đó.

Đến lúc này ông mới phát hiện chiến máy bay MiG-17A do mình điều khiển đã gần hết nhiên liệu, trục la bàn bị gãy do thực hiện quá nhiều độc tác ngoặc gấp, không còn định hướng được nữa. ông điện về báo cáo với chỉ huy rồi tự tính toán, phán đoán đường bay, lần theo tả ngạn sông Hồng ngược về căn cứ. Khi máy bay báo hết nhiên liệu, ông xin chỉ thị cấp trên 2 lần và đều được lệnh khẩn phải nhảy dù ngay ra khỏi máy bay để bảo toàn sự sống. Tuy nhiên, ông chần chừ vì "Lúc ấy nghĩ xót quá. Chiếc máy bay này vừa mới cùng mình lập chiến công, bỏ đi không đành. Mà bỏ đi là bỏ cả đống của chứ ít đâu". Vì vậy, ông quyết định hạ cánh bằng thân máy bay tại một bãi bôi trồng ngô ven sông Đuống. Hạ cánh bằng thân máy bay trên mặt đất là một quyết định mạo hiểm, nhất là với điều kiện hoàn toàn không có phương tiện cứu hộ nếu có sự cố xảy ra. Vì vậy, trường hợp hạ cánh của Phạm Ngọc Lan là một trong số ít trường hợp hạ cánh hy hữu trên thế giới. Với bản lĩnh, kỹ thuật và một chút may mắn, ông đã hạ cánh thành công mà không phải bỏ máy bay. Dù vậy, bản thân ông cũng bị thương nhẹ do bị va đập mạnh và bị kính buồng vỡ đâm vào mặt. Tuy cú hạ cánh mạo hiểm của ông thành công, chiếc máy bay vẫn bị hư hỏng nặng không thể bay được nữa, nên về sau được các kỹ sư tháo phụ tùng để dùng cho máy bay khác.

Hai lần quân ta bắt... quân mình

Khi tỉnh lại sau cú hạ cánh mạo hiểm, ông phát hiệt rất nhiều người dân địa phương vũ trang tiến lại bao vâv để bắt sống viên phi công mà họ cho là "giặc lái Mỹ”. Rất dễ hiểu bấy giờ lực lượng không quân Việt Nam quá hiếm hoi và việc một phi công Việt Nam đột ngột hạ cánh xuống một địa phương hẻo lánh là một điều gần như không thể xảy ra. Sau một hồi kiểm tra giấy tờ nghe thanh minh của ông, dân làng chuyển thái độ vui mừng và kéo đến để tận mắt chứng kiến sờ, nắn phi công và máy bay. Mãi một lúc lâu sau, ông mới có thể điện báo về sở chỉ huy, lúc đó cho rằng nhiều khả năng ông đã hy sinh vì bị rơi máy bay. Không lâu sau đó, vào ngày 6 tháng 11 năm 1965, trong một lần truy kích máy bay Mỹ trên bầu trời Sơn La, sau khi bắn bị thương một máy bay trực thăng CH-3C của Không quân Mỹ tiếp cứu phi công Mỹ nhảy dù, ông bị bắn rơi. Dù may mắn kịp bung dù, ông vẫn bị va đập mạnh với các thân cây ở vùng rừng già và bị vướng dù trên cành cây cao, buộc phải tháo dây đai để bám vào thân cây mà tuột xuống.

Cũng như nửa năm trước, ông lại phát hiện rất nhiều người dân địa phương đang lùng bắt "giặc lái". Lại thêm một lần dở khóc dở cười, ông lại được dân chúng bao vây với sự nhiệt tình. Ông được cõng về bản, được gọi y tá đến chăm sóc chữa trị và nhận được rất nhiều quà của người dân biếu tặng.

Tham gia công tác huấn luyện và chỉ huy

Thực ra, cú hạ cánh tháng 11 không nhiều may mắn thuận lợi như lần trước. Cột sống bị ảnh hưởng nghiêm trọng buộc ông phải điều dưỡng một thời gian. Sau khi ông bình phục, giữa năm 1966, cấp trên đã cho ông đi học chuyển loại MiG-21 tại Liên Xô. Sau khi về nước, cấp trên đã rút ông khỏi nhiệm vụ chiến đấu, chuyên tâm vào nhiệm vụ dẫn đường và huấn luyện các phi công trẻ kế thừa. Lúc này ông được thăng hàm Thượng úy.

Tháng 4 năm 1967, ông được thăng Đại úy và được cử làm Trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 921. Năm 1969, ông được cử làm Chủ nhiệm Kỹ thuật bay Bộ Tư lệnh Không quân, Quân chủng Phòng không Không quân. Tháng 1 năm 1973, ông được tiếp tục cử đi học tập tại Học viện Không quân Gagarin của Liên Xô. Sau khi về nước, tháng 3 năm 1974, ông được cử làm Trưởng phòng Tác huấn Không quân Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân, hàm Thiếu tá. Tháng 4 năm 1975, ông được Bộ Tư lệnh Quân chủng cử vào chỉ đạo, tham gia tiếp quản Sân bay Đà Nng. Sau đó, ông nhận lệnh bí mật đến sân bay Thành Sơn nghiên cứu chọn lựa một số khí tài quân sự vừa thu được, khẩn trương lập phương án đào tạo ngắn ngày hiệu quả nhất để các phi công Không quân Nhân dân Việt Nam nhanh chóng có thể sử dụng máy bay A37 tập kích vào sân bay Tân Sơn Nhất. Khi trận đánh diễn ra, ông là người trực tiếp chỉ huy dẫn đường cho Phi đội Quyết Thắng hoàn thành nhiệm vụ. Sau năm 1975, ông lần lượt giữ các chức vụ như sau:

Tháng 5 năm 1977, Tham mưu phó Quân chủng Không quân. Tháng 8 năm 1977, theo học tại Học viện Chính trị Quân sự. Tháng 7 năm 1978, Tham mưu phó Quân chủng Không quân (lần thứ 2).

Tháng 8 năm 1978, Sư đoàn phó Sư đoàn 371 Không quân. Tháng 4 năm 1979, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 370 mới thành lập. Tháng 7 năm 1981 Chủ nhiệm dẫn đường Quân chủng Không quân.

Tháng 11 năm 1982, quyền Cục trưởng Cục Huấn luyện Nhà trường, Quân chủng Không quân. Tháng 12 năm 1985, Cục trưởng Cục Huấn luyện Nhà trường Quân chủng Không quân. Tháng 6 năm 1994, Phó Cục trưởng Cục Huấn luyện Chiến đấu Bộ Tổng Tham mưu.

Ông được thăng hàm Thiếu tướng tháng 6 năm 1992.

Chiến tích và cuộc sống riêng

Tuy được ghi nhận bằng máy ảnh đã từng 3 lần khai hỏa vào máy bay Mỹ, nhưng thành tích chính thức của ông được ghi nhận chính là chiếc F-8E đầu tiên. Vì vậy, những lần xuất hiện, ông luôn đeo một chiếc Huy hiệu Bác Hồ, dành cho các phi công đã bắn hạ máy bay Mỹ, để kỷ niệm chiến tích đầu tiên này. ông được xem là người rất yêu âm nhạc, thời trẻ từng tìm cách xin một cây đàn đại phong cầm chiến lợi phẩm về để tập đệm đàn. “Nhìn thấy cây đàn, tôi mê quá vì hồi đó sau mỗi lần chiến thắng, anh em lại hát hò nhưng không có đàn. Tôi hội ý tiểu đội, quyết định xin mang cây đàn về. Cả tiêu đội hò nhau khiêng đàn cả một quãng đường dài, đến 9h sáng hôm sau đưa vào vườn chuối ngụy trang. Mò mẫm cả ngày, đến tối, tôi đã khớp nhạc cho anh em hát bài " Vì nhân dân quên mình". Suốt đêm ấy, tất cả mọi người chỉ hát bài này, nhưng vẫn vui vì có nhạc...”

Tặng thưởng:

Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.

Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, Ba). Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba). Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

1 Huy hiệu Bác Hồ (dành cho các phi công bắn rơi máy bay Mỹ), Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

 

Nguyễn Thái An

Hà Tiến Thăng

 

 

Anh hùng Nguyễn Văn Tình

 

Đồng chí nhập ngũ tháng 10 năm 1963. Từ tháng 10 năm 1963 đến tháng 2 năm 1964, đồng chí là Chiến sỹ Lữ đoàn 330, Sư đoàn 304. Từ tháng 2 năm 1964 đến tháng 2 năm 1965, đồng chí là Chiến sỹ cận vệ thuộc Phòng Hành chính Bộ Tư lệnh Hải quân. Từ tháng 3 năm 1965 đến tháng 10 năm 1965, đồng chí là Hạ sỹ đơn vị Đặc công nước thuộc Đội 1, Bộ Tư lệnh Hải quân. Từ tháng 11 năm 1965 đến tháng 10 năm 1966, là Trung sỹ Đại đội 1 Đặc công nước, Đội 1, Bộ Tư lệnh Hải quân. Từ tháng 11 năm 1966 đến tháng 9 năm 1968, đồng chí là Phân đội phó, Phân đội trưởng, Phó Bí thư Chi bộ Phân đội 1, Đội 1 Đoàn 126 Đặc công Hải quân. Từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 5 năm 1969, đồng chí là Trợ lý Tham mưu, Ban Tham mưu Đoàn 126 Đặc công Hải quân. Từ tháng 6 năm 1969 đến tháng 8 năm 1969, đồng chí là Đội phó, Đảng uỷ viên Đội 33 Đoàn 126 Đặc công Hải quân. Từ tháng 9 năm 1969 đến tháng 7 năm 1970, đồng chí là Đội trưởng, Chi uỷ viên Đội 11, Đoàn 126 Đặc công Hải quân. Từ tháng 7 năm 1970 đến tháng 8 năm 1971, đồng chí là Học viên tại Tiểu đoàn 9, Học viện Chính trị. Từ tháng 9 năm 1971 đến tháng 8 năm 1972, đồng chí là Chính trị viên lp đào tạo sỹ quan đặc công nước thuộc Tiểu đoàn 8 Đoàn 126 Đặc công Hải quân. Từ tháng 8 năm 1972 đến tháng 1 năm 1973, đồng chí là Chính trị viên phó Tiểu đoàn 8, Đoàn 126 Đặc công Hải quân, Đảng uỷ viên Tiểu đoàn. Từ tháng 2 năm 1973 đến tháng 12 năm 1973, đồng chí là Chính trị viên phó Tiểu đoàn 3, Đoàn 126 Đặc công Hải quân, Đảng uỷ viên Tiểu đoàn. T tháng 1 năm 1974 đến tháng 7 năm 1974, đồng chí là Trợ lý Ban Chính trị Đoàn 126 Đặc công Hải quân. Từ tháng 7 năm 1974 đến tháng 7 năm 1976, đồng chí là Tổ trưởng tổ học tập, Chi uỷ viên lớp đào tạo cán bộ chủ trì chính trị trung cấp thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 9, Học viện Chính trị. Từ tháng 8 năm 1976 đến tháng 11 năm 1977, đồng chí là Chính trị viên Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 126 Hải quân, Bí thư Đảng uỷ Tiểu đoàn, Đảng uỷ viên Lữ đoàn. Từ tháng 11 năm 1977 đến tháng 9 năm 1978, đồng chí là Tổ trưởng học tập, Chi uỷ viên Đội 1, Đoàn 564 Trường Văn hoá Quân khu 3. Từ tháng 10 năm 1978 đến tháng 9 năm 1980, đồng chí là Học viên Trường Ngoại ngữ Quân sự. Từ tháng 10 năm 1980 đến tháng 6 năm 1984, đồng chí học tại Học viện Quân chính Lê Nin Liên Xô, Đảng uỷ viên Tuỳ viên Quân sự 343. Từ tháng 7 năm 1984 đến tháng 8 năm 1989, đồng chí là Đoàn trưởng Đoàn Đặc công 861 (Nay là Đoàn 126 Hải quân ), Phó Bí thư Đảng uỷ Đoàn. Từ tháng 9 năm 1989 đến tháng 7 năm 1991, đồng chí là Học viên lớp đào tạo 10, Hệ đào tạo thuộc Học viện Quân sự cấp cao. Từ tháng 8 năm 1991 đến tháng 3 năm 1994, đồng chí là Đoàn trưởng Đoàn 126, Đảng uỷ viên Binh chủng Đặc công, Phó Bí thư Đảng uỷ Đoàn 126. Từ tháng 4 năm 1994 đến tháng 6 năm 1997, đồng chí là Phó Tư lệnh Binh chủng Đặc công, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Binh chủng. Từ tháng 7 năm 1997 đến tháng 7 năm 1998, đồng chí học bổ túc tại Học viện Chính trị Quân sự. Từ tháng 8 năm 1998 đến tháng 11 năm 1999, đồng chí là Phó Tư lệnh Binh chủng Đặc công, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Binh chủng. Từ tháng 11 năm 1999 đến tháng 2 năm 2000, đồng chí là Phó Tư lệnh Quân sự Quân chủng Hải quân. Từ tháng 2 năm 2000 đến nay, đồng chí là Phó Tư lệnh về chính trị Quân chủng Hải quân, Bí thư Đảng uỷ Quân chủng.

Đồng chí là Uỷ viên Trung ương Đảng khoá IX.

Danh hiệu: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân tháng 11 năm 1969.

Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:

- Hai Huân chương Chiến công hạng Nhất.

- Hai Huân chương Chiến công hạng Nhì.

- Hai Huân chương Chiến công hạng Ba.

- Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.

- Huân chương chiến sỹ Giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba.

- Huy chương quân kỳ Quyết thắng.

 

 

Nguyễn Thái An

             Hà Tiến Thăng

 

 

Anh hùng Nguyễn Thị Chiên

 

Gia đình Nguyễn Thị Chiên rất nghèo. Hết mồ côi cha rồi đến mẹ, đồng chí phải đi ở cho địa chủ, khổ cực ngay từ nhỏ. Cách mạng tháng Tám thành công, đồng chí thoát khỏi cuộc đời đi ở. Được cán bộ cách mạng giáo dục, dìu dắt, Nguyễn Thị Chiên dần dần hiểu biết tích cực tham gia hoạt động. Đồng chí đã làm công tác phụ nữ, tổ chức du kích, xây dựng cơ sở cách mạng, tuyên truyền giác ngộ quần chúng, chiến đấu chống giặc bảo vệ xóm làng..., công tác nào cũng nêu cao tinh thần tận tụy, gương mẫu, dũng cảm, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

            Năm 1946, Nguyễn Thị Chiên làm giao thông cho đoàn thể phụ nữ và du kích thôn. Năm 1947, được cử làm tiểu đội trưởng nữ du kích. Năm 1948, làm trung đội phó. Ở cương vị nào đồng chí cũng tích cực làm tốt mọi việc, được chị em rất tín nhiệm. Trong hoàn cảnh thiếu thốn của những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, đồng chí đã vận động chị em cày ruộng, vỡ hoang cấy lúa, tự túc lương thực và mua sắm trang bị.

Tháng 12 năm 1949, địch âm mưu cướp phá kho lương thực ở các địa phương, Nguyễn Thị Chiên đã chỉ huy đội nữ du kích đánh trả quyết liệt bảo vệ được kho muối.

Tháng 4 năm 1950, địch càn phá, khủng b ác liệt, cán bộ bị bật hết ra ngoài, một đêm Nguyễn Thị Chiên đang dẫn đường đưa đồng chí bí thư chi bộ về hoạt động thì bị bọn giặc phục kích. Nguyễn Thị Chiên đã ra hiệu đ đồng chí cán bộ chạy thoát còn mình thì bị địch bắt. Địch dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ tra tấn dã man, nhưng đồng chí đã nêu cao tinh thần bất khuất trước kẻ thù kiên quyết không khai một lời. Sau ba tháng rưỡi, chúng không khai thác được tài liệu gì, buộc phải thả đồng chí. Điều trị vừa hồi sức, đồng chí lại tiếp tục hoạt động.

Tháng 5 năm 1951, đội nữ du kích do đồng chí chỉ huy hoạt động mạnh, phá đường, quấy rối, phá tề... gây nhiều khó khăn cho địch. Một lần xin trên được bảy quả mìn, đồng chí đã chỉ huy chị em gài mìn phục kích giặc, diệt 5 tên, làm bị thương 7 tên, gây phấn khởi, tin tưng trong toàn đội và được tín nhiệm với nhân dân trong vùng tạm chiếm.

Tháng 7 năm 1951, bọn giặc điên cuồng đánh phá cơ sở cách mạng của ta, lùng bắt cán bộ, đảng viên, đàn áp nhân dân. Tình thế rất gay go, nhưng được cấp y chỉ đạo trực tiếp, đồng chí đã tích cực tuyên truyền, vận động, giúp đỡ nhân dân, xây dựng lại được cơ sở ở 5 thôn, làm chỗ đứng chân cho cách mạng.

Tháng 10 năm 1951, đồng chí chỉ huy đội du kích phối hợp với bộ đội phục kích địch trên đường 39. Khi n súng, địch chạy tán loạn, đồng chí đã dũng cảm cùng bộ đội truy kích địch. Riêng đồng chí bắt, trói được 6 tên, bắn bị thương 1 tên, thu 4 súng.

Tháng 12 năm 1951, đội nữ du kích phối hợp với bộ đội phục kích đánh địch chống càn. Lợi dụng địch chủ quan sơ hở, không đề phòng, Nguyễn Thị Chiên đã cùng đồng đội bất ngờ xông ra bắt sống 4 tên, có tên quan Hai chỉ huy đang đi sục vào làng. Khi giặc tiến ng vào, đồng chí đã cùng đồng đội dũng cảm chiến đấu. Riêng đồng chí đã bắn chết 3 tên, bắt sống 4 tên, giật được 1 súng.

Tháng 1 năm 1952, phối họp với bộ đội đánh bốt An Bồi, đồng chí đã dũng cảm cùng đồng đội bò vào cắt hàng rào, đánh bộc phá ném lựu đạn và cùng anh em xông vào bốt bắt sống 6 tên ngoan cố đang lẩn trốn, trong đó có tên đồn trưởng. Trận này đồng chí còn cõng được 6 thương binh ra ngoài an toàn.

Trong mọi mặt công tác, đồng chí đều gương mẫu đi đầu, tích cực học tập, rèn luyện, đoàn kết giúp đỡ chị em trong đội, xây dựng trung đội nữ du kích trưởng thành về mọi mặt.

Nguyễn Thị Chiên đã được tỉnh, huyện, xã khen 8 lần. Trong Đại hội liên hoan Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất tháng 5 năm 1952, đồng chí được Hồ Chủ tịch tặng khẩu súng ngắn của Người, được Chính phủ và Hồ Chủ tịch tặng Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.

Ngày 19 tháng 5 năm 1952, Nguyễn Thị Chiên được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

 

Nguyễn Thái An

Hà Tiến Thăng

 

 

 

Anh hùng Nguyễn Thành Trung

 

Ông tên thật là Đinh Khắc Chung, sinh ngày 9 tháng 10 năm 1947, tại xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Cha ông là ông Đinh Văn Dậu (còn gọi là Tư Dậu), mẹ ông là bà Nguyễn Thị Mỹ. Ông là người con trai thứ 4 trong gia đình có 5 anh em, vì vậy ông có tên gọi trong gia đình là Năm Chung.

Sau năm 1954, trừ người anh cả của ông tập kết ra Bắc, cả gia đình ông đều ở lại miền Nam. Cha ông và người anh thứ hai đều hoạt động bí mật tại quê nhà. Riêng ông cùng người anh thứ ba và người em gái út sống công khai với mẹ để tiếp tục đi học. Ngày 2 tháng 3 năm 1963, cha ông là Tư Dậu, khi đó đang là Phó bí thư, giữ quyền Bí thư Huyện ủy Châu Thành, Bến Tre, bị chính quyền Việt Nam giết chết, má và em gái ông bị bắt, nhà bị đốt. Ông phải đổi họ sang họ Nguyễn với một lý lịch mới để lánh nạn.

Trở thành điệp viên

Năm 1965, ông được Ban binh vận T2 (khu 8) đưa lên Sài Gòn tiếp tục học hết bậc phổ thông, rồi vào học khoa Toán - Lý - Hóa ở Đại học Khoa học Sài Gòn (nay là Đại học Khoa học tự nhiên). Sau khi tốt nghiệp Đại học Khoa học, ông được Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo thi tuyển vào Không lực Việt Nam Cộng hòa. Ngay sau khi nhận được giấy báo trúng tuyển, ngày 31 tháng 5 năm 1969, Nguyễn Thành Trung được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Sau hơn một năm huấn luyện ở Nha Trang, vào năm 1969 Nguyễn Thành Trung được đưa đi đào tạo phi công các căn cứ Hoa K tại các bang Texas, Louisiana và Mississippi. Ông học rất giỏi và được xếp thứ 2 trong tổng số 500 học viên của khóa. Đến năm 1972 thì về nước, đóng quân tại căn cứ không quân Biên Hòa, biên chế trực thuộc sư đoàn 3 không quân, phi đoàn 540 Thần Hổ.

Ném bom dinh Độc Lập

Ngày 8 tháng 4 năm 1975, lúc 8 giờ 30 phút sáng, Nguyễn Thành Trung nhận được mệnh lệnh xuất kích từ sân bay Biên Hòa (lúc này thuộc chính quyền Việt Nam Cộng hòa), lái máy bay ném bom dinh Độc Lập. Lần đầu ném 2 quả bom rơi không trúng mục tiêu, lần cắt bom thứ hai có trúng đích nhưng chỉ có một quả nổ. Ông tiếp tục dùng súng 20 ly bắn vào kho xăng Nhà Bè, rồi lái máy bay đáp xuống an toàn trên đường băng dã chiến bằng đất với đường đáp chỉ 1.000m ở sân bay tỉnh Phước Long (nay là tỉnh Bình Phước) trong khi F5E yêu cầu một đường băng hạ cánh đến 3000 m.

Phi đội Quyết Thắng

Ngày 22 tháng 4 năm 1975, ông được điều ra sân bay Đà Nng để hướng dẫn các phi công miền Bắc lái máy bayA-37(Phi đội Quyết Thắng) do quân Giải phóng chiếm được và huấn luyện trong vòng 1 tuần. Chiều ngày 28 tháng 4 năm 1975, theo lệnh của bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Thành Trung dẫn đầu phi đội gồm 5 chiếc A-37 từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang) cất cánh thẳng hướng Sài Gòn, ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, làm phá sản kế hoạch di tản bằng máy bay của Mỹ, rồi cả phi đội hạ cánh an toàn xuống sân bay Thành Sơn (Phan Rang). Sau giải phóng, vì là người duy nhất có thể lái máy bay F5 và A37 của Quân đội nhân dân Việt Nam, Nguyễn Thành Trung được phân công phụ trách công tác đào tạo, huấn luyện bay và đã góp phần rất lớn gây dựng nên Trung đoàn Không quân Cường Kích 937 và Trung đoàn Không quân Tiêm Kích 935.

Trong thời gian này Nguyễn Thành Trung được đào tạo bay bằng máy bay AN-26 của Liên Xô, vì đã có kinh nghiệm dày dạn tại Mỹ cũng như kinh nghiệm thực tiễn tại chiến trường nên Nguyễn Thành Trung tiếp thu rất nhanh và được giữ lại làm giảng viên, đào tạo phi công phục vụ vận chuyển cho chiến trường Campuchia. Những đóng góp to lớn của ông đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 20 tháng 1 năm 1994. Sau đó ông là Phó Tổng Giám đốc Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines), cơ trưởng, giáo viên của loại máy bay Boeing 777 và là phi công dày dạn kinh nghiệm nhât của Việt Nam với hơn 35 năm kinh nghiệm và hơn 22.000 giờ bay.

Ngày 1 tháng 10 năm 2008, ông đã tham gia tổ phi công lái máy bay Beechcraft King Air 350, số.seri FL-417 cho bầu Đức, người được coi là người đầu tiên tại Việt Nam sở hữu máy bay riêng.

 

Nguyễn Thái An

Hà Tiến Thăng

 

 

1 - 10 Tiếp theo