Bỏ qua nội dung chính

30thang4

Tìm kiếm
Trang chủ
Tra cứu
Thư viện số
Thư viện Koha
Bộ sưu tập
Video
Sản phẩm thông tin
Quan tri CMs
  

Blogs khác
Không có khoản mục nào trong danh sách này.
Liên kết
Không có khoản mục nào trong danh sách này.

Thư viện Tỉnh Đồng Nai > trangtin > 30thang4 > Danh mục
Trận đánh cuối cùng
PHÙNG THẾ TÀI. Trận đánh cuối cùng / Phùng Thế Tài // Nhân dân. - 2003 .- Ngày 30 tháng 4. - Tr.3-4.

Sài Gòn - Gia Định là trung tâm kinh tế của miền nam, là dinh lũy cuối cùng của địch. Sau những thất bại ở Phan Rang, Xuân Lộc, kế hoạch phòng thủ từ xa bị phá sản, quân địch rất hoang mang, đối phó bị động, lúng túng. Ngày 23-4, Tổng thống Mỹ tuyên bố “Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt đối với Mỹ” và ra lệnh di tản người Mỹ ra khỏi Sài Gòn. Tuy nhiên, lực lượng địch phòng thủ Sài Gòn còn khá đông, sĩ quan, binh sĩ hoang mang nhưng chưa rối loạn, tan rã. Vòng ngoài, lực lượng còn lại của các sư đoàn 5, 25, 18, 22 bố trí thành một tuyến phòng thủ cách trung tâm Sài Gòn 30-50 km từ Long An qua Tây Ninh, Biên Hòa đến Long Bình. Chúng dựa vào các căn cứ và những cụm điểm lớn để ngăn chặn và đẩy lùi các mũi tiến công của ta. Vùng ven Sài Gòn, lực lượng địch có ba lữ đoàn dù và thủy quân lục chiển, ba liên đoàn biệt động quân bố trí ở Hóc Môn, Tân Sơn Nhất, Bình Chánh, Gò Vấp, Nhà Bè làm nhiệm vụ bảo vệ khu vực, và sẵn sàng ứng cứu cho tuyến ngoài. Ở nội khu, lực lượng chủ yếu là cảnh sát và phòng vệ dân sự.
Lực lượng ta tham gia chiến dịch ở các quân đoàn 1, 2, 3, 4 và đoàn 232 (tương đương quân đoàn)… Các đơn vị chủ lực tham gia chiến dịch là những binh đoàn chủ lực lớn mạnh vừa chiến thắng ở Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, tiểu đoàn bộ đội địa phương, các trung đoàn đặc công, biệt động đã nhiều năm liền bám trụ chiến trường, am hiểu địa hình trong và ngoài thành phố. Với tinh thần thần tốc và quếyt thắng, chỉ trong một thời gian rất ngắn, ta đã tập trung được một lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu lớn, trong đó có nhiều đơn vị vừa gấp rút hành quân từ hậu phương lớn vào. Đây là một thành công lớn của ta, một bất ngờ lớn đối với địch.
Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định tiến công giải phóng Sài Gòn từ năm hướng: tây bắc, đông bắc, đông đông nam, tây và tây nam.Để thực hiện đánh nhanh, dứt điểm nhanh, vừa tiêu diệt địch, vừa bảo vệ các cơ sở kinh tế, văn hóa, cách đánh chiếm thành phố là: thực hiện chia cắt, bao vây tiêu diệt và làm tan rã các sư đoàn địch phòng thủ ở vòng ngoài, không cho chúng co cụm về nội thành. Đồng thời đánh chiếm và chốt giữ các cầu lớn để mở đường cho các binh đoàn đột kích cơ giới mạnh đã được tổ chức chặt chẽ, tiến nhanh theo các trục đường lớn đánh thẳng vào năm mục tiêu chủ yếu được lựa chọn trong thời gian ngắn nhất. Để phối hợp các binh đoàn đột kích mạnh, tạo điều kiện cho các quân đoàn tiến nhanh, một kế hoạch phát động quần chúng nổi dậy phối hợp đòn tiến công quân sự đuợc chuẩn bị dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung ương Cục phát huy cao độ ý chí quyết thắng của quân và dân cả nước.
Từ ngày 20 đến 25-4, các đơn vị lần lượt đến Sở chỉ huy chiến dịch nhận nhiệm vụ, mục tiêu trên từng hướng.
Hướng tây bắc Quân đoàn 3 do Thiếu tướng Vũ Lăng làm Tư lệnh, Đại tá Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy, có ba sư đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng (khoảng 46.000 người. Ngoài ra, còn có hai trung đoàn Gia Định (1 và 2), các đội đặc công - biệt động của Thành đội Sài Gòn và được sự chi viện của pháo binh và phòng không chiến dịch. Lực lượng trên hướng này có nhiệm vụ đánh chiếm Đồng Dù, tiêu diệt Sư đoàn 25 ngụy, đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và cùng với Quân đoàn 1 chiểm Bộ tổng tham mưu ngụy.
Hướng bắc và đông bắc, Quân đoàn 1 (thiếu sư đoàn 308) do Thiếu tướng Nguyễn Hòa làm Tư lệnh, Thiếu tướng Hoàng Minh Thi làm Chính ủy, có hai sư đoàn bộ binh và các đơn vị anh hùng (khoảng 30.000 người) được tăng cường Trung đoàn 95 bộ binh (Sư đoàn 325, Quân đoàn 2) và một trung đoàn cao xạ tự hành có nhiệm vụ đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu và Bộ tư lệnh các binh chủng ngụy ở Gò Vấp.
Hướng đông và hướng đông nam có hai quân đoàn, Quân đoàn 4 do Thiếu tướng Hoàng Cầm làm Tư lệnh, Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện làm Chính uỷ, có ba sư đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng (khoảng 30.000 người), được tăng cường Lữ đoàn 52 bộ binh (Quân khu 5), một tiểu đoàn pháo 13 ly, ba tiểu đoàn xe tăng thiết giáp, một trung đoàn và một tiểu đoàn cao xạ hỗn hợp, có nhiệm vụ tiêu diệt sở chỉ huy Bộ tư lệnh Quân đoàn 3 và Sư đoàn 18 ngụy ở Biên Hoà, sau đó thọc sâu vào nội thành chiếm Dinh Độc Lập. Quân đoàn 2 do Thiếu tướng Nguyễn Hữu An làm Tư lệnh và Thiếu tướng Lê Linh làm Chính uỷ, có ba sư đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng (khoảng 40.000 người) có nhiệm vụ đánh chiếm Bà Rịa, Nước Trong, Long Bình, chặn sông Lòng Tàu, sau đó phát triển vào nội thành cùng quân đoàn 4 chiếm Dinh Độc Lập.
Hướng tây và tây nam, Đoàn 232 do Trung tướng Lê Đức Anh làm Tư lệnh và Thiếu tướng Lê Văn Tưởng làm Chính ủy, có ba sư đoàn bộ binh, ba tiểu đoàn xe tăng thiết giáp và một đại đội thiết giáp, một tiểu đoàn pháo ly 130 ly, một trung đoàn và năm tiểu đoàn pháo cao xạ cùng với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương Quân khu 8 tất cả khoảng 4.200 nguời Lực lượng trên hướng này có nhiệm vụ tiêu diệt Sư đoàn 25 nguỵ, cắt đứt đường số 4 sau đó thọc sâu đánh chiếm biệt khu thủ đô nguỵ, Tổng nha cảnh sát.
17 giờ ngày 26-4-1975, trận tổng công kích vào Sài Gòn bắt đầu.
Hướng đông đông-nam, sau 45 phút pháo bắn chuẩn bị, thê đội 1 của Quân đoàn 2 gồm bộ binh và xe tăng bắt đầu tiến công các cụm phòng thủ của địch trong hành tiến. Sư đoàn 325 tiến đánh Chi khu Long Thành, tiêu diệt một tiểu đoàn địch, bắt 500 tên. Sau đó vượt đường số 15, giải phóng Phước Tường, bao vây Long Tân. Sư đoàn 3 (Quân khu 5) dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2, đánh chiếm quận lỵ Đức Thạnh và thị xã Bà Rịa. Phối hợp bộ đội chủ lực. lực lượng vũ trang địa phương giải phóng các huyện Xuyên Mộc, Long Lễ, Long Điền, Đất Đỏ. Trưa 27-4, thị xã Bà Rịa và toàn tỉnh Phước Tuy được giải phóng.
Sư đoàn 304 tiến công căn cứ Nước Trong, một mục tiêu quan trọng, trên đường tiến quân của quân đoàn. Tại đây, học viện sĩ quan thiết giáp và sĩ quan Thủ Đức của địch đến thực tập cùng với Lữ đoàn 468 lính thủy đánh bộ và Trung đoàn 318 thiết giáp ngày chống cự quyết liệt trong suốt ngày 27-4. Hơn 100 lần chiếc máy bay địch liên tục đánh vào các trận địa của ta. Trời nắng gắt các chiến sĩ ta khát nước đến cháy cổ. Sư đoàn phải cho xe vượt lửa đạn, vận chuyển nước đến từng phân đội. Bộ Tư lệnh Quân đoàn chỉ thị cho các sư đoàn bỏ lối đánh vỗ mặt, tập trung xe tăng đánh vào cạnh sườn và sau lưng địch. Đến 17 giờ ngày 28-4, toàn bộ quân địch tại căn cứ Nước Trong bị tiêu diệt.
Đội hình tiến công của Quân đoàn 4 phát triển theo trục đường số 1. Có kinh nghiệm của trận đánh Xuân Lộc, Sư đoàn 341 nhanh chóng đập tan khu vực phòng ngự của địch, làm chủ chi khu Trảng Bom do Sư đoàn 18 bộ binh và Trung đoàn 5 thiết giáp ngụy chiếm giữ (10 giờ ngày 27- 4).
Phát huy thắng lợi, Quân đoàn 4 tiến đánh Hố Nai (ngoại vi thị xã Biên Hòa). Tại đây, Lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp và Lữ đoàn 4 dù ngụy đã xây dựng những cụm phòng ngự mạnh có các tuyến hỏa lực chống tăng để ngăn chặn cuộc tiến công của ta. Lực lượng đi đầu của quân đoàn nhiều lần tổ chức đột phá nhưng đến chiều 28-4 vẫn chưa qua được Hố Nai.
Tuy nhiên, trước sức tiến công mãnh liệt của ta và do pháo binh chiến dịch đặt tại Hiếu Liêm bắn phá dữ dội làm tê liệt sân bay Biên Hoà. Chiều 28-4, địch phải di tản máy bay về sân bay Tân Sơn Nhất. Sở chỉ huy Quân đoàn 3 ngụy bỏ Biên Hoà chạy về Gò Vấp.
Hướng tây và tây nam, Sư đoàn 5 (Đoàn 232), Sư đoàn 8 (Quân khu 8) cắt đứt đường số 4 từ cầu Bến Lứa đến ngã ba Trung Lương và Cai Lậy đến An Hữu, ngăn chặn các sư đoàn 7.9 và 22 nguỵ, tạo điều kiện thuận lợi cho các hướng chiến dịch. Sư đoàn 3 đánh chiếm đầu cầu bảo đảm cho lực lượng đột kích chủ yếu là Sư đoàn 9 bộ binh và binh khí kỹ thuật vượt sông Vàm Cỏ Đông. Mặc dù gặp nhiều khó khăn do thiếu khí tài và bến bãi, đường bị lầy lội thêm sau những trận mưa to, các đơn vị công binh được nhân dân địa phương tận tình giúp đỡ đã tổ chức tốt việc vượt sông, đưa Sư đoàn 9 và một bộ phận xe, pháo sang chiếm lĩnh khu vực Tây Vĩnh Lộc và Mỹ Hạnh. Các trung đoàn 24 và 28 đánh địch mở rộng hành lang phát triển lên phía bắc.
Hướng bắc, Quân đoàn 1 sử dụng Sư đoàn 312 có Tiểu đoàn 2 bộ đội địa phương phối hợp tiêu diệt một số trận địa pháo địch, làm chủ đoạn đường 16, bao vây căn cứ Phú Lợi và chiếm lĩnh khu vực phía bắc thị xã Thủ Dầu Một, không cho Sư đoàn 5 ngụy đưa lực lượng về Sài Gòn.
Hướng tây bắc, Quân đoàn 3 tập trung hỏa lực pháo binh, tiêu diệt 11 trong số 18 trận địa pháo địch ở khu vục tác chiến, bảo đảm cho các đơn vị triển khai đội hình tiến công địch. Sư đoàn 316 chốt chặn trên đường số 1 và đường số 22, kiềm chế Sư đoàn 25 bộ binh ngụy, không cho chúng rút từ Tây Ninh về Đồng Dù và Hóc Môn. Sư đoàn 320A đưa lực lượng áp sát, chuẩn bị tiến đánh căn cứ Đồng Dù.
Tại vùng ven Sài Gòn, bộ đội đặc công, biệt động nhanh chóng đánh chiếm các cầu qua sông, chuẩn bị cho các binh đoàn binh chủng hợp thành tiến vào thành phố. Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng đòi hỏi bộ đội đặc công không những phải đánh chiếm và còn phải bám trụ đánh địch phản kích, giữ bằng được tất cả các cầu trên tất cả các hướng tiến quân. Được nhân dân và các lực lượng vũ trang tại chỗ hết lòng giúp đỡ và phối hợp chiến đấu, các đơn vị đã bí mật ém sẵn lực lượng từ truớc. Ngày 27 và 28-4, Trung đoàn 113 đặc công đánh chiếm cầu Rạch Chiếc, cầu Rạch Cát. Trung đoàn 115 đặc công cùng với một tiểu đoàn của Trung đoàn Gia Định chiếm cầu Bình Phước, làm chủ xa lộ Đại Hàn, đoạn từ cầu Bình Phước đến Quán Tre. Trung đoàn 116 chiếm cầu xa lộ Biên Hòa. Các trận chiến đấu, chiếm và giữ các cầu trên đuờng tiến vào thành phố diễn ra vô cùng quyết liệt. Bộ đội đặc công với lực lượng không lớn đã đánh lui hàng chục đợt phản kích của địch, bảo vệ được cầu cho đến khi các binh đoàn lớn đánh vào nội thành, góp phần quan trọng vào thắng lợi nhanh chóng của chiến dịch và khôi phục thành phố sau chiến tranh.
Phối hợp cuộc tiến công của các binh đoàn chủ lực, bộ đội không quân cũng được lệnh bước vào chiến đấu. 15 giờ 40 phút ngày 28-4, một biên đội gồm năm máy bay A37 do phi công Nguyễn Văn Lục chỉ huy, phi công Nguyễn Thành Trung (người đã ném bom Dinh Độc Lập ngày 8-4) dẫn đường cất cánh từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang) bay về phía Sài Gòn. Vượt qua mạng rađa cảnh giới của địch, biên đội đã ném bom chính xác vào khu vực để máy bay ở sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy 24 máy bay, diệt 200 binh sĩ và nhân viên ngụy trực chiến ở sân bay. Tiếng bom nổ ở Tân Sơn Nhất làm rung chuyển cả thành phố Sài Gòn. Quân địch kinh hoàng vì bất ngờ. Việc di tản bằng máy bay có cánh của địch từ sân bay Tân Sơn Nhất bị tê liệt. Mỹ buộc phải tổ chức chiến dịch “di tản liều mạng” bằng máy bay lên trung.
Đến chiều 28-4, sau hai ngày đêm chiến đấu, quân đội ta phá vỡ các khu vực phòng thủ vòng ngoài của địch, cắt đứt đường số 4, tăng cường vây ép Sài Gòn trên các huớng và các cơ quan chỉ huy Quân đoàn 3 ngụy bỏ chạy. Mất chỉ huy về chiến lược, chiến dịch, quân địch càng hoang mang rối loạn.
Thời cơ mở trận tổng công kích trên toàn mặt trận đã đến. Đêm 28-4, Bộ Tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho các cánh quân tiến công đồng loạt vào sáng 29-4. Đồng thời chỉ thị cho các quân khu 8 và 9 phối hợp tiến công và nổi dậy giải phóng đồng bằng Nam Bộ.
5 giờ sáng 29-4, trước giờ các cánh quân cùng tiến vào nội thành Sài Gòn. Bộ Chính trị đã gửi điện nhiệt liệt khen ngợi toàn thể các đơn vị lập được chiến công lớn trong những ngày qua. Bộ Chính trị kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên thanh niên nhanh chóng đánh thẳng vào sào huyệt cuối cùng của địch với khí thế hùng mạnh và của một quân đội trăm trận trăm thắng, đập tan mọi sức đề kháng của địch, kết hợp tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn - Gia Định. Đồng thời phải giữ nghiêm kỷ luật, triệt để chấp hành mọi chỉ thị mệnh lệnh, bảo vệ tính mạng và tàn sản của nhân dân, nâng cao tính chất cách mạng và truyền thống quyết thắng của quân đội, giành thắng lợi hoàn toàn cho chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại.
Lời kêu gọi của Bộ Chính trị được phổ biến đến cán bộ, chiến sĩ toàn mặt trận. Tin chiến thắng của các cánh quân được thông báo kịp thời. Những khẩu hiệu động viên ngắn gọn, thiết thực “Chậm trễ là có tội với lịch sử”, “Thời cơ là mệnh lệnh”, được nêu lên, tất cả các đơn vị đều bừng khí thế tiến công quyết tâm nhanh chóng, cắm cờ lên Dinh Độc lập.
Hướng đông, Sư đoàn 325 (Quân đoàn 2) đánh chiếm chi khu Nhơn Trạch, khu Thành Tuy Hạ, phát triển đến Cát Lái. Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ thị cho pháo binh Quân đoàn 2 đưa trận địa pháo 130 ly đến Nhơn Trạch bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Nhhững loạt bắn chính xác làm sân bay Tân Sơn Nhất chìm ngập trong lửa đạn, bị tê liệt hoàn toàn.
Binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn 2 gồm Trung đoàn 66 bộ binh, một lữ đoàn - xe tăng một tiểu đoàn pháo cao xạ và một tiểu đoàn công binh hùng dũng tiến về phía trước. Tiếng pháo vừa dứt, binh đoàn thọc sâu đã tiến tới cầu Xa Lộ trên sông Đồng Nai, bắt liên lạc với Trung đoàn 116 đặc công đang giữ vững đầu cầu sau nhiều lần đánh lui các đợt phản kích của một tiểu đoàn địch. Cán bộ chiến sĩ đặc công ngồi trên xe tăng dẫn đường và cùng với chiến sĩ bộ binh tiêu diệt các ổ phuc kích của địch, bảo đảm cho xe tăng vượt qua cầu, tiến nhanh vào nội thành.
Sư đoàn 341 quân đoàn 4 và quân đoàn 6 bộ binh Quân khu 7 vòng qua Hố Nai đánh vào Biên Hoà. Đội hình thọc sâu của Quân đoàn 4 gồm hai trung đoàn bộ binh (Trung đoàn 144 và 165 thuộc quân đoàn 7 và các tiểu đoàn xe tăng, pháo cao xạ tiến công theo đường số 1.
Huớng bắc, sư đoàn 312 (Quân đoàn 1) tiến công căn cứ Phú Lợi, Trung đoàn 209 (sư đoàn 312) chốt chặn trên đường số 13 và đường liên tỉnh số 14 diệt cánh quân địch rút chạy từ Lai Khê - Bến Cát thị xã Bình Dương, bắt 200 tên. Đội hình thọc sâu của quân đoàn gồm hai trung đoàn 27 và 48 bộ binh (Sư đoàn 320B) các tiểu đoàn binh chủng nhanh chóng đánh chiếm chi khu Tân Uyên, căn cứ Lái Thiêu, mở đường tiến xuống Gò Vấp.
Huớng tây bắc, Sư đoàn 320A (Quân đoàn 3) tiến công căn cứ Sư đoàn 25 ngụy tại Đồng Dù. Địch dùng xe tăng đặt trong công sự bắn chặn các cửa mở vào cho bộ binh phản kích vào phía sau đội hình của ta. Kết hợp thọc sâu với vu hồi bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng. Sư đoàn 320A đã làm chủ căn cứ Đồng Dù, sau sáu giờ chiến đấu quyết liệt,diệt 560 tên, bắt 880 tên, thu 17 khẩu pháo lớn (có ba khẩu 175 ly) và 439 xe tăng. Lý Tòng Bá, Chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn ngụy chạy trốn bị du kích Củ Chi bắt sống. Nắm thời cơ địch đang hoang mang dao động sau khi mất Đồng Dù, sư đoàn 316 chuyển từ bao vây ngăn chặn sang tiến công tiêu diệt và làm tan rã hai trung đoàn 46 và 49 Sư doàn 2 ngụy tại Phước Hiệp, Trảng Bàng. Gò Dầu Hạ... Lực lượng chủ yếu phòng thủ cửa ngõ tây - bắc Sài Gòn bị tiêu diệt. Binh đoàn thọc sâu của quân đoàn gồm Sư đoàn 10 bộ binh và các đơn vị binh chủng tiến theo đường số 1 vượt qua cầu Bông do Trung đoàn 198 đặc công đã chiếm giữ từ trước, nhanh chóng vượt qua Hóc Môn, tiêu diệt quân địch tại Trung tâm huấn luyện Quang Trung. 24 giờ ngày 29-4, binh đoàn tiến thẳng xuống ngã ba Bà Quẹo, đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất.
Hướng tây và tây nam, Đoàn 232 phối hợp pháo binh và xe tăng giải phóng thị xã Hậu Nghĩa... Tàn quân địch tháo chạy theo đường liên tỉnh số 8 bị Trung đoàn Gia Định chặn đánh bắt hơn 1.000 tên. Binh đoàn thọc sâu của đoàn 232 gồm Sư đoàn 9 và một số đơn vị binh chủng nhanh chóng tiến đến vùng ven thành phố.
Tất cả như một vòng kim cô dưới sự chỉ huy của Bộ chỉ huy chiến dịch, sự chỉ đạo chặt chẽ kịp thời của Bộ Chính trị, Bộ Tổng tư lệnh, xiết chặt đầu não của kẻ thù và đúng 11 giờ 30 phút ngày 30-4, cờ chiến thắng đã tung bay trên nóc Dinh Độc lập của ngụy quyền Sài Gòn.
Thanh Hoá với chiến trường miền Nam thời chống Mỹ, cứu nước
THẾ NGHĨA. Thanh Hoá với chiến trường miền Nam thời chống Mỹ, cứu nước / Thế Nghĩa // Nhân dân. - 2000. - Ngày 23 tháng 4. - Tr.3.

Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, Thanh Hóa là một trong những tỉnh đóng góp nhiều sức người sức của cho hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ. Nhân dịp kỷ niệm 25 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước (30-4-1975 – 30-4-2000)                                  
Chúng tôi gặp các nhân chứng trực tiếp với chiến dịch giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa cho chiến trường miền Nam. Trong đó có các cụ Trịnh Ngọc Bích, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh; cụ Nguyễn Nghiễm, nguyên Phó ty giao thông - Phó Chủ tịch UBND tỉnh: Lê Văn Tào nguyên Phó ty, Đào Đức Hinh, Phó ty giao thông Thanh Hóa. Các cụ đã về hưu, hiện còn minh mẫn khỏe khoắn với tuổi 76-80. Và nhà văn Kiều Vượng đang công tác, người đã có gần 30 năm trong ngành giao thông theo sát chiến dịch vận tải đến ngày toàn thắng.
TẠO RA MẠNG LƯỚi GIAO THÔNG THỦY, BỘ.
 Tất cả cho giao thông vận tải để chi viện chiến trường miền Nam. Đó là mệnh lệnh, là chỉ thị của T.W Đảng và Chính Phủ. Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc 1965. Thanh Hóa nằm trong tọa độ lửa máy bay địch. Là yết hầu của ngõ miền Bắc hậu phương vào khu 4. Trên tuyến đường 1A từ Đò Lèn - Hàm Rồng đến phà Ghép vào Nghệ An. Suốt ngày đêm bị đánh phá ác liệt. Thanh Hóa thành lập Ban chỉ huy chiến dịch, huy động sức người. mọi vật lực cho chiến dịch giao thông. Trong đó 15.115 nhân viên, cán bộ ngành giao thông tỉnh. 10.427 thanh niên xung phong sửa cầu đường bị đánh phá. mở đường mới thủy, bộ, cùng với đường sắt bảo đảm huyết mạch giao thông. Với chiến lược 4 đường ra, 3 đường vào. Bốn ra gồm: tuyến 1A đường 22 đi Ninh Bình, đường 15 đi Quan Hóa - Hòa Bình, đường đi Điền Hộ - Nga Sơn - Ninh Bình. Ba vào là 1A, đường 15A, 15C đi dốc Bò Lăn. Ngoài ra, hệ thống đường liên thôn, liên xã, liên huyện thành  một thế bàn cờ cho người, các loại xe, tổng chiều dài 900 km. Cùng với đường bộ, mở các tuyến sông - sông biển. Trong đó, nạo vét sông Nhà Lê, sông Mã, sông Chu, sông Bưởi, sông Hoạt... lập ra các trạm trung chuyển để xe và các phương tiện bốc dỡ hàng hóa. Bảy cầụ, phà trọng điểm trên tuyến 1A từ Đò Lèn - Hàm Rồng - Ghép... đều làm đường rẽ tránh. Mỗi cầu từ 2-3 đường. Mỗi đường tránh từ 2, 3-5 km. Khi chánh cầu, phà, xe vận tải rẽ đường tránh qua cầu phao, kéo cáp, Cầu phao được làm bằng cây luồng, ghép hàng vạn cây cột thành khối , mặt cầu lát luồng phía trên là ván xe trọng tải 3-4 tán đi qua dễ dàng. Đó là đặc trưng cho cây luồng của hàng vạn ha rừng Thanh Hóa. Cây luồng ra trận. Nhờ hệ thống giao thông thủy bộ đó, trong 4 năm 1965-1968 trên địa bàn Thanh Hóa cộng lại chỉ có 90 ngày tắc đường ác liệt nhất năm 1966, riêng cầu Hàm Rồng 419 lần chiếc máy bay địch đánh 71.600 quả bom phá, 500 tên lửa rốc-két, hàng trăm quả bom nổ chậm, nhưng đường bộ vẫn thông suốt cho xe hậu phương miền Bắc vận chuyển lương thực, thuốc men, vũ khí, đạn dược vào chiến trường miền Nam. Cụ Bích, cụ Nghiễm nói về con người hậu phương Thanh Hóa lúc đó: Trong chiến tranh càng chứng minh tinh thần yêu nước của nhân dân miền Bắc với miền Nam ruột thịt. Có gia đình vừa đóng xong cỗ áo quan dự phòng cho bố mẹ già, họ tháo ván ra lát cầu phao cứu đoàn xe bị máy bay đánh phá. Nhiều gia đình vừa làm xong nhà, họ tự nguyện cho phá làm đường nhiều ra đánh cả nhà ra làm cọc tiêu hướng dẫn xe qua cầu phao, đường tránh. Họ làm việc trên đều tự nguyện không cần điều kiện nào.
XE THỒ, THUYỀN NAN VÀO ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH.
 Truyền thống Điện Biên năm xưa của nhân dân Thanh Hóa lại trỗi dậy với hàng ngàn xe đạp thồ được huy động vào đường Hồ Chí Minh đưa hàng hóa, lương thực, đạn dược vào chiến trường miền Nam. Sáng tao hơn nữa là một vạn thuyền nan ra tiền tuyến. Đó là tháng 11-1968, Đoàn cán bộ Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa ra Hà Nội làm việc với Ban Bí thư TW được Bác Hồ gặp thân mật. Bác khen ngợi quân dân Thanh Hóa sản xuất giỏi chiến đấu dũng cảm, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, bảo đảm thông suốt giao thông vận tải. Người nhắc nhở nhiệm vụ giai đoạn tiếp theo rất nặng nề. Vì Mỹ thua đau, buộc phải ngừng ném bom miền Bắc, nhưng rồi chúng sẽ đánh phá ác liệt hơn. Được T.W giao nhiệm vụ yêu cầu chi viện chiến trường khối lượng lớn trong đó phải huy động 32.062 tấn phương tiện vận tải. Khả năng Thanh Hóa chỉ có 25.489 tấn phương tiện. Đồng chí Hoàng Văn Hiếu lúc đó là ủy viên Thường vụ tinh ủy - Phó Chủ tịch UBND tỉnh phụ trách giao thông vận tải giao nhiệm vụ cho hai phó ty giao thông tỉnh là Đào Đức Hinh và Lê Văn Tào. Bằng mọi biện pháp tạo ra phương tiện vận tải nhân dân. Huy động tất cả 4.000 xe đạp của 13 huyện, cùng với một vạn xe đạp T.W cấp: Mở ba công trường đan thuyền nan. Huy động và chọn 1.600 cụ ông có tay nghề giỏi, có sức khỏe tốt ở ba huyện có thuyền nan truyền thống đan hai đợt đầu 5.000 chiếc bằng vật liệu nứa tre các huyện miền núi cấp. Vậy là ngoài gần 300 ô-tô T.Ư cấp, Thanh Hóa có thêm binh đoàn xe đạp thồ mang tên Điện Biên. Một binh đoàn thuyền nan mang tên Lam Sơn ra chiến trường. Hai lực lượng vận tải thủ công này được huy động hàng vạn tay lái xe thồ, hàng nghìn thủy thủ thuyền nan. Mỗi xe thồ từ 250-300 kg, có xe  chở 750 kg. Mỗi thuyền nan bình quân 3,5 tấn hàng. Cụ Đào Đức Hinh - phó ty giao thông - trưởng đoàn thuyền nan lúc đó cho biết: Thuyền nan sử dụng nước sông và đồng đã là khó vì nó bằng tre nứa trát keo. Vậy mà lúc đó đan cải tiến chở hơn ba tấn hang căng buồm đi sông biển từng chặng 260-300 km mỗi trạm giao hàng là một sáng tạo, gan góc lắm. Từ Thanh Hóa vào Bến Thủy, từ Bến Thủy đi cảng Gianh rồi đi Thác Tre tập kết chân hàng. Ở đó từng bao gạo phải vượt dốc bằng dây tời cáp đưa lên đỉnh 1.001m. Rồi gạo lên vai người, có cả đưa vào bao ni-lông thả xuôi dòng Xê Băng Hiêng xuống Sênh Pôn, nút cuối Cùng là cầu Cha Ki... Nhà văn Kiều Vượng trợ lý chỉ huy chiến dịch lúc đó, ghi trong nhật ký: Mỗi lần thuyền cặp bến, hàng nghìn nguời ào xuống bốc vác chuyển tải sang phương tiện khác đi tiếp vào tuyến trong. Biết hàng là gạo, nhưng hàng nghìn người vẫn theo tiêu chuẩn chia từng hạt muỗi, cọng rau, miếng thịt ướp muối. Rất đói nhưng ăn thêm rau, măng để tiết kiệm từng lạng gạo cho chiến trường…
 Trong báo cáo Thủ tướng Chính phủ ngày 22-7-1969 của UBND tỉnh Thanh Hóa: Trong 4 năm ngành giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa vận chuyển vào B phục vụ chiến trường miền Nam 182.383 tấn hàng hóa, đi tuyến C giúp bạn 20.369 tấn trong tổng số đã hoàn thành 1.373.300 tấn hàng hóa. Bộ Giao thông giao cho tỉnh Thanh Hóa vận tải vào các tỉnh khu 4 và chiến trường B-C. Sự hy sinh lớn lao và chiến công oanh liệt. Trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc trong bốn năm 1965 - 1968 Thanh Hóa đã hứng chịu 13 vạn tấn bom đạn do máy bay thả và 20.490 quả đại bác của tàu chiến Mỹ. Trong cuộc đọ sức này 7.752 người của Thanh Hóa đã hy sinh, 7.896 người bị thương. Trong số đó ngành giao thông vận tải 1.296 người ngã xuống, 1.061 người bị thương. Nằm ở vị trí chiến lược của hậu phương lớn miền Bắc và là cửa ngõ yết hầu vào chiến  trường, đánh Thanh Hóa là Mỹ muốn hủy diệt huyết mạch giao thông, chặn lại sức chi viện tiền tuyến lớn miền Nam. Trên địa bàn tỉnh này có 89 cầu lớn nhỏ, có tuyến quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Bắc - Nam và hệ thống sông, biển đường thủy lợi hại. Chúng đã đánh sập 37 cầu, phá hủy 42.000 đường nhựa trục lớn, chặt đứt nhiều km đường sắt, đánh nát các bến phà. Phương tiện vận tải trong đó có 4.026 thuyền ván, thuyền nan bị đánh chìm trên sông biển. 277ô tô vận tải bị đánh cháy cùng với 6.647 tấn hàng hóa. Nhiều kho tàng, bến bãi bị san bằng. Trong các mục tiêu bị đánh phá ác liệt thì ngành giao thông vận tải chiếm tỷ trọng 50,6%. Hơn 1.500 ngày đêm chiến đấu dũng cảm quân và dân tỉnh Thanh Hóa chiến thắng oanh liệt bắn rơi 276 máy bay giặc Mỹ, bắt sống nhiều giặc lái bảo vệ huyết mạch giao thông miền Bắc hậu phương. Riêng đợt chiến dịch vận tải chiến trường B. Thanh Hóa đã chuyển vượt kế hoạch Bộ Giao thông giao. Tiếp đó, từ 1969 cho đến ngày toàn thắng Thanh Hóa đã chuyển hàng triệu tấn hàng vào chiến trường miền Nam và các tỉnh khu 4 cũ.
- Truyền thống yêu nước của nhân dân Thanh Hóa là từ cội nguồn dân tộc. Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ do Đảng lãnh đạo càng chứng minh trí thông minh sáng tạo và dũng cảm của quân dân Thanh Hóa. Từ chiếc xe đạp thồ hàng, cho đến cây mía, cây tre, luồng, sông nước, đất đai được áp dụng lợi hại để đọ sức với vũ khí tối tân hiện đại của đế quốc giàu có, góp phần vào tiềm năng quốc phòng cho đất nước anh hung. Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc nhiều tập thể, cá nhân đã được tuyên dương Anh hùng LLVTND, đó là nhân dân các huyện: Tĩnh Gia, Như Xuân, thị xã Thanh Hóa, huyện Hà Trung, Đội cầu phà Ghép. Anh hùng liệt sĩ Mai Xuân Điểm, Anh hùng Vũ Hùng Út. Toàn ngành được thưởng 69 Huân chương các hạng.
Nhớ về phi đội Quyết Thắng
NGUYỄN VĂN VĨNH. Nhớ về phi đội Quyết Thắng / Nguyễn Văn Vĩnh // Toàn cảnh Sự kiện Dư luận. - 2000. - Số 117. - Tr.5

Sau hai ngày tiến công mở đầu chiến dịch Hồ Chí Minh, hệ thống chỉ huy của địch đều rối loạn. Nhiều tên cầm đầu chính quyền đã di tản, trong đó có cả tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Tuy nhiên trong vài chính giới của Mỹ vẫn có hy vọng một sự dàn xếp ngoại giao, hòng cứu vãn sự thất bại hoàn toàn. Giữa lúc đó, Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh ra lệnh cho bộ đội phòng không-không quân, đặc biệt là không quân, cần khắc phục mọi khó khăn, kịp tham gia chiến dịch lịch sử và dứt khoát không để chậm sau ngày 28-4-1975.
Ở xa hậu phương lớn, lại là một quân chủng kỹ thuật hiện đại thì những khó khăn càng tăng thêm gấp bội. Kế hoạch được vạch ra là: Tổ chức một phi đội quyết thắng, sẵn sàng cất cánh đi làm nhiệm vụ đánh sân bay Tân Sơn Nhất. Phi đội này hoàn toàn là máy bay A37 của địch (do phát động được lòng yêu nước của nhân viên kỹ thuật không quân) được đưa từ sân bay Đà Nẵng vào sân bay Thành Sơn, 10 giờ 15 ngày 28-4-1975, 5 chiếc A37 từ miền Trung đã tập kết ở sân bay Thành Sơn (Phan Rang) do 5 phi công điều khiển. Cấp trên đã xác định phương châm đánh địch: là bí mật, bất ngờ, mưu trí, sáng tạo. Mục tiêu đánh thẳng vào sân bay Tân Sơn Nhất, chỗ dựa cuối cung của địch để di tản. Sân bay này bị dội bom sẽ có tác dụng lớn, tạo sự hoảng hốt trong ngụy quân và ngụy quyền. Đường bay được xác định là theo hướng ven biển, tuyệt đối không sử dụng vô tuyến thông tin để bảo đảm yếu tố bí mật, bất ngờ. Đúng 16 giờ 40, biên đội 5, chiếc A37 do Nguyễn Thành Trung chỉ huy đã ném bom đúng đường băng của sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy 26 máy bay của địch, có 24 chiếc A37, làm cho sân bay Tân Sơn Nhất bị tê liệt hoàn toàn. Từ giờ phút đó, Sài Gòn hoàn toàn bị cô lập cả đường bộ, đường không và đường thuỷ.
Sau gần 90 phút cất cánh đi làm nhiệm vụ, 18 giờ 15, ngày 28-4 biên đội đã trở về an toàn. Chiếc A37 cuối cùng hạ cánh, là của phi công Từ Đễ. Vậy là phi đội đã sử dụng hết cả cơ số dự trữ là 10 phút cho phép. Những cánh bay chiến thắng trở về đã chắp thêm vào những chiến công vang dội của toàn quân trong chiến dịch Hồ Chí Minh tiến vào Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ngày 30-4-1975.
Trận đánh của không quân ta vào đúng thời điểm then chốt của chiến dịch, vào một mục tiêu có ý nghĩa là chiến lược thực sự là một quả đấm hiểm bất ngờ làm cho kẻ địch choáng váng, tạo đều kiện thuận lợi cho bộ đội binh chủng hợp thành phát triển thế tiến công đẩy địch lao nhanh vào thế sụp đổ không gì cưỡng nổi. Từ giờ phút này Sài Gòn hoàn toàn cô lập cả về đường bộ, đường không và đường thủy. Chiến thắng ở phi trường Tân Sơn Nhất đã thể hiện một tinh thần tiến công mưu trí sáng tạo phát huy truyền thống anh hùng của quân đội ta. Phi đội Quyết thắng gồm những ai? Đó là, Nguyễn Thành Trung, tên thật là Đinh Khắc Trung, sinh 1947, quê An Khánh – Châu Thành, Bến Tre dẫn đầu biên đội. Sau này về  làm Phó tổng giám đốc hãng hàng không Pacific, có thời gian làm cơ trưởng đội bay A320 của Hàng không Việt Nam, anh được tặng danh hiệu Anh hùng quân đội; Từ Đễ là một phi công quê Thường Tín - Hà Tây, hiện nay là Đại tá, Phó cục trưởng cục quân huấn - Bộ tổng tham mưu; Nguyễn Văn Lục, quê Phú Thọ, nay là Đại tá; Mai Văn Vượng, quê Thanh Hóa và cuối cùng là Hán Văn Quảng, quê Hảl Dương, hiện nay là Đại tá.
Hàng năm vào dịp kỷ niệm giải phóng miền Nam 30 tháng 4 các anh vẫn về họp mặt biên đội cũ của mình. Sân bay Tân Sơn Nhất hôm nay sau 2 năm giải phóng đang là một sân bay hiện đại, một cửa ngõ đường không mở cửa ra thế giới, nhớ về ngày toàn thắng, càng thêm tin tưởng ở công cuộc đổi mới của đất nước. Tân Sơn Nhất - một khúc ca chiến thắng vẻ vang trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập thống nhất cho dân tộc.
Nhớ lại Sài Gòn ngày giải phóng
HẢI NINH. Nhớ lại Sài Gòn ngày giải phóng / Hải Ninh // Cộng sản. - 2002. - Số 12. - Tr.29-29, 16.

Nhiệm vụ trao cho đoàn quay phim bị chúng tôi là bám theo mặt trận phía tây nam Sài Gòn, xuyên thẳng vào tận hang ổ cuối cùng của Mỹ - ngụy là dinh tổng thống ngụy quyền, ghi cho được những giờ phút lịch sử, những giây phút chiến thắng vinh quang của cuộc chiến tranh giải phóng và thống nhất vĩ đại nhất của dân tộc từ trước đến nay.
Đoàn quay phim mặt trận chúng tôi có sáu người : Hải Ninh, Hoàng Tích Chỉ, Nguyễn Khánh Dư, Trần Trung Nhàn, Đặng Đình Hùng, Trần Thúy Lan đã lên đường tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh với tốc độ cơ giới, hy vọng sẽ đuổi kịp cuộc hành quân thần tốc của các binh chủng quân đội đang tiến về Sài Gòn. Nhưng chúng tôi đến được nơi này thì quân dân ta đã giải phóng đất đai, tiêu diệt giặc từ hôm trước. Tình thế mặt trận diễn biến từng giờ, thay đổi từng ngày, không thể nào nắm bắt được. Các khu tập trung chiến lược, căn cứ quân sự, kho tàng, bến cảng, cho tới các thành phố bị chiếm đóng lâu nay nhanh chóng bị tan rã, sụp đổ. Các vùng quê trải dài từ đồng bằng lên cao nguyên, từ miền núi xuống vùng biển, cờ giải phóng, cờ đỏ sao vàng tung bay rợp trời trong niềm vui chiến thắng của nhân dân vùng giải phóng.
Cho đến sáng ngày 30-4-1975, chúng tôi tiếp cận được phòng tuyến ngoại vi Sài Gòn từ hướng tây nam. Trước ống kính của chúng tôi lúc này là các binh chủng xe tăng, xe bọc thép, các đoàn quân giải phóng đang rầm rập tiến về Sài Gòn. Khoảng cách cuối cùng của một cuộc chiến tranh đang diễn ra với tốc độ khủng khiếp.
Phòng tuyến bảo vệ, đô thành phía tây nam của địch bị phá vỡ từng mảng. Từng cụm xe tăng đề kháng của giặc ở cầu Bông bị đập nát, lổn nhổn lăn lóc dưới chân cầu. Từng đoàn ô tô nhà binh nối đuôi nhau chồng chất tắc nghẽn, nằm chết hai bên đường quốc lộ. Ngay ngoại vi phi trường Tân Sơn Nhất, một máy bay trực thăng chạy trốn không thoát mắc kẹt giữa các vòng dây điện chằng chịt trên gác thượng một ngôi nhà. Ngược lai với các mũi tiến công như vũ bão của quân giải phóng là đám sĩ quan, binh lính ngụy tháo chạy, vừa chạy vừa vứt vũ khí xuống đường, vừa trút các bộ quần áo lính loang lổ, bê bết máu me, cát bụi chiến trường. Hàng chục cây số đường vào thành phố mặt đường ngập ngụa áo quân, mũ mãng, lon cờ, giầy dép của lính ngụy, giống như một con rắn độc vừa quằn quại chạy trốn, vừa trút bỏ bộ da loang lổ tội ác của mình.
Cảnh tượng ấy còn kỳ lạ hơn, khi không thấy một anh lính giải phóng nào đuổi bắt, ngăn chặn, tra xét bọn tàn quân đang lũ lượt chạy trốn. Chúng chạy trong nỗi khiếp sợ và kinh hoàng trước các cuộc hành quân thần tốc, trước sức mạnh bão táp của quân giải phóng. Chúng chạy trong cơn hoảng loạn đến cực độ với bộ mặt sám hối cuộc đời làm tay sai cho Mỹ; nhưng lại le lói trong cặp mắt của chúng một niềm tin khoan dung, độ lượng của nhân dân, của những người chiến sĩ giải phóng và tự “lột xác” mình để được tha thứ. Có lẽ chưa có một cuộc chiến tranh nào trong lịch sử dân tộc diễn ra những cảnh tượng lạ kỳ đến như vậy. Bên cạnh sức mạnh về ý chí chiến đấu, về vũ khí hiện đại của quân dân ta trong trận quyết chiến cuối cùng, còn có một sức mạnh thần kỳ tiềm ẩn sâu trong lòng một dân tộc là biết lấy “đại nghĩa thắng hung tàn”.
Vào khoảng 10 giờ sáng ngày 30-4-1975, bám theo mũi tiến quân đầu tiên tiến vào thành phố, chúng tôi đã lọt vào cửa ngõ phía tây Sài Gòn, trước bệnh viện “Vì dân”. Máy quay của chúng tôi đang nhô cao để lấy cho được hình ảnh các đoàn quân giải phóng thì bất ngờ vấp phải đạn hóa học do các ổ đề kháng của địch trên các nhà tầng cao bắn xuống. Chỉ sau ít phút mọi người đã thấy choáng váng, đứng không vững trên xe. Đôi tay cầm máy của anh Khánh Dư đã bắt đầu run lên. Không thể để mất hình ảnh lịch sử ngàn năm mới có một lần, anh em trong đoàn đã nhanh chóng quan hệ với dân chúng bên đường phố lấy khăn ướt bảo vệ cho mọi người trong đoàn. Mặc cho tiếng súng kẻ thù vẫn nổ, song sáu anh em vẫn bình tĩnh đứng vững trên chiếc xe của mình để ghi trọn vẹn vào ống kính quay phim những giây phút lịch sử vô cùng quý giá.
Xe chúng tôi tiếp tục bám theo đoàn xe tăng đang tiến về dinh Tổng thống ngụy quyền. Để có được hình ảnh lịch sử quan trọng nhất như nhiệm vụ được giao, chúng tôi cho xe tăng tốc vượt lên đầu đoàn xe tăng. Lúc này tôi và anh Khánh Dư phải ra ngồi trên mũi xe để không bị vướng, quay cho rõ, cho đẹp. Chiếc xe đã đuổi kịp đoàn xe tăng. Mặt đường chấn động dữ dội vì tốc độ tấn công của cả một đoàn xe tăng. Chiếc xe con của chúng tôi cũng bị rung lên. Để vượt lên phía trước, anh Trần Thúy Lan phải vận dụng hết tài năng và lòng dũng cảm để luồn lách qua các dòng xe chạy loan trên đường có lúc xe bị ép lại giữa đoàn xe tăng và hàng dãy xe dài nằm chết bên đường. Khi Chiếc xe sắp vượt bên đầu đoàn xe tăng thì bỗng nhiên hai chúng tôi bị tung bổng lên không trung rồi rơi trên mặt đường, nằm kề gang tấc bên những vòng xích xe tăng. Một sự cố bất ngờ xảy ra trên đường phố, chiếc xe phải, phanh lại đột ngột để tránh một tai nạn chết người cho dân. Tuy bị thương nhưng tôi còn đủ tỉnh táo đưa mắt tìm kiếm anh Khánh Dư trong đám bụi mù của vòng xích xe tăng, và ứa nước mắt... Chuyện gì đã xảy ra... lẽ nào giữa những giây phút lịch sử thiêng liêng nhất chúng tôi lại chia tay nhau... Nếu số phận của anh và chiếc máy quay không còn nạn thì chúng tôi mất tất cả, không còn “vũ khí” để chiến đấu. Lo lắng về nhiệm vụ, nao lòng vì tình đồng đội, lại bị thương ở chân, người tôi như bị lên cơn sốt ác tính khi được đưa vào nhà dân để cứu chữa.
Tôi sung sướng biết bao khi thấy anh Hoàng Tích Chỉ trở lại đón tôi với gương mặt rạng rỡ, tôi hiểu ngay đã không có chuyện buồn xảy ra.
Chúng tôi đã hoàn thành những cảnh quay một cách trọn vẹn. Song điều đáng tiếc nhất là không lấy được cảnh chiếc xe tăng của quân giải phóng húc đổ cái cổng sắt trước dinh lũy cuối cùng ngụy quyền Sài Gòn.
Tối hôm đó, khi nằm đau ê ẩm trong phòng chiếu của một xưởng làm phim tâm lý chiến Mỹ - ngụy ở số 7 Thi Sách, anh Khánh Dư vừa hút thuốc lá vừa kể một cách khoái chí về cái thân hình gầy gò xương nhưng đầy tự hào của mình. Cho đến lúc ấy anh vẫn không giải thích được, khi anh bị chiếc xe hất tung ra hàng chục thước, mười phần chết chín, không bị xích xe tăng nghiền thì cũng nát xương, nhưng anh lại thoát hiểm, không chết. Và cũng không hiểu bằng cách nào chiếc máy quay vẫn được bảo vệ trong vòng tay của anh, toàn thân cuộn tròn lăn lông lốc trên đường phố mà chiếc máy quay không bị hỏng. Cho đến nay chuyện ấy vẫn còn nằm trong vòng bí ẩn. Chúng tôi tự giải thích với nhau có lẽ đó là khí thiêng của trời đất, tổ tiên, của cả dân tộc đã phù hộ, che chở cho chúng tôi để hoàn thành nhiệm vụ.
 Đoàn quay phim mặt trận chúng tôi đã có mặt ở dinh “Độc Lập'' vào trưa ngày 30-4-1975, đúng như 1ệnh chiến dịch ban ra từ Hà Nội. Lá cờ đỏ sao vàng đã ngạo nghễ tung bay trên nóc nhà dinh Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn.
Đồng chí Phó chính ủy quân đoàn chiến thắng đánh chiếm dinh Tổng thống ngụy quyền cho chúng tôi biết trên lầu có mặt đủ các nhân vật từ Tổng thống, Thủ tướng, Phó thủ tướng ngụy quyền, cho tới các “vị dân biểu”. Chúng tôi sẵn sàng trong tư thế bấm máy ghi một cách bất thần những trạng thái, diện mạo chân thật nhất của đối phương. Vừa bước chân lên khỏi bậc thang cuối cùng của tầng trệt, tiếng máy quay trên tay anh Khánh Dư đã kêu sè sè. Trước ống kính là một đám người phờ phạc, đứng ngồi lổn nhổn. Khi phát hiện thân hình to lớn của tướng Dương Văn Minh đang cúi đầu đi lại quanh quẩn trên hành lang một cách đơn độc và trầm lặng, máy chúng tôi đã bám sát ghi trọn trạng thái khủng hoảng, bế tắc của vị “Tổng thống” cuối cùng của chính quyền Sài Gòn. 
Khi biết chúng tôi là ai, khó khăn lắm Dương Văn Minh mới lấy lại được tư thế Bàn tay của vị “Tổng thống” phác vào không khí nhiều lần mới cất lên được tiếng nói: “... kính vỡ... uổng quá... loại kính này đắt tiền lắm... uổng quá...”.
Chúng tôi nhìn nhau khó hiểu, như đang đứng trước một người mê sảng. Có lẽ đó là sự nuối tiếc một cuộc sống vàng son trên chiếc “ngai vàng” đầy quyền uy và giàu có đã sập đổ tan tành.
Máy quay của chúng tôi lướt qua từng gian phòng đang chứa đầy ắp các “vị dân biểu” nằm ngồi ngổn ngang. Có “vị” đánh trần, quạt phành phạch bằng tờ báo. Kể ra dưới cái nóng tháng tư của Sài Gòn mà không có điều hòa nhiệt độ thì cực thật. Có lẽ là lần đầu tiên trong đời phải chịu khổ của những kẻ quen sống trên bơ sữa này. Sự xuất hiện bất ngờ của các phóng viên quay phim quân giải phóng đã gây những phản xạ náo loạn trong các gian phòng. Ống kính đã ghi lại.một cách tự nhiên các “vị dân biểu” vội chỉnh lại tư thế, có người đang cởi trần vội xỏ vào chiếc áo, người nào không kịp sửa sang lại quần áo thì vội xoay mặt đi, dấu mặt sau lưng người khác. Nhưng hầu hết các cặp mắt đều trố lên nhìn như không hiểu gì cả. Một cái gì đã sập đổ quá nhanh đã làm cho họ choáng váng, bàng hoàng, và cam chịu sự phán xét của lịch sử.
Người có đáng điệu bình tĩnh hơn cả là Nguyễn Văn Hảo - Phó thủ tướng chính quyền Sài Gòn. Hảo biết tự trấn an cho mình và cố giữ thể diện của một “chính khách” lúc thất thế bằng một câu nói khá kiểu cách : “Chúng tôi chờ đợi các ông vào thương thuyết, không ngờ các ông vào với sức mạnh”. Nếu Hảo thông minh và tỉnh táo hơn một chút thì sẽ không nói như vậy, vì chỗ đứng của ông ta lúc này là một tù binh. Nhưng để làm sáng tỏ một sự thật, tôi đã nói với Hảo.
- Nếu ông không tự dối mình thì điều ông vừa nói là một sự xuyên tạc sự thật. Cứ giả thử như các ông có ý định đó, như vậy các ông sẽ giải thích thế nào những hành động tử thủ chống đối cách mạng một cách ngoan cố ở Xuân Lộc, Đồng Xoài,. Biên Hòa, Bà Rịa, cầu Tân Cảng (Sài Gòn)... Ngay tại đây nhìn qua khe cửa, các ông có thể thấy rõ những đề kháng bằng xe tăng, xe bọc thép, súng ống hạng nặng của các ông đặt xung quanh dinh lũy cuối cùng này, không chứng minh cho,những điều ông vừa nói.
Hảo đấu dịu, tỏ vẻ biết điều hơn.
- Các ông chiến thắng là phải, vì các ông có tổ chức.
- Ông mới nói đúng một phần, điều quan trọng hơn là chúng tôi có chính nghĩa, chúng tôi chiến dấu vì nhân dân, chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Ông giải thích thế nào về hành động của Nguyễn Văn Thiệu đã bỏ các ông trong cơn binh lửa để chạy thoát than với 4 tấn vàng? Đúng lúc ấy một dáng người béo lùn mà sau này Tôi biết là Vũ Văn - Thủ tướng chính quyền Sài Gòn vội chạy đến thanh minh.
- Thưa quý ông, tôi lấy danh dự bảo đảm với quý ông là ông Hảo đã có công ngăn cản ông Thiệu giữ lại 4 tấn vàng. Trong lúc đối thoại anh Đặng Đinh Hùng đã bật máy ghi âm, Nguyễn Văn Hảo đã phản ứng.
- Tôi đề nghị các ông không được ghi âm, nếu Không chúng tôi cũng ghi âm.
Sự kìm nén cũng có giới hạn, tôi nghiêm mặt nhắc lại lần thứ hai về vị trí của Hảo lúc này.     
-   Ông không còn cái quyền đó nữa rồi!     
Chúng tôi đảo một lượt quanh “Phủ đầu rồng”, đã một thời không biết bao nhiêu báo chí phương Tây đã nói về nó như một dinh lũy chống cộng khét tiếng, được miêu tả như một pháo đài kiên cố, mà mấy quả bom phản chiến của Nguyễn Thành Trung ném trúng chính giữa ngôi nhà chỉ khoét được một cái lỗ to bằng cái nong.
Trong phòng làm việc của Thiệu còn giữ nguyên trạng 6 chiếc ghế bọc gấm hoa cho Tổng thống và các “đại thần”. Chiếc ghế của Tổng thống to hơn một chút. Đặc biệt có một nút điện báo động đặt rất kín đáo dưới tay ngai chiếc ghế .
Trên tường treo một bức tranh sơn dầu vẽ vùng biển quê hương miền Trung của Thiệu.
Ống kính của chúng tôi đặc biệt chú ý tới tấm bản đồ Việt Nam bọc ny lon cẩn thận treo trên tường phòng họp của các tướng lĩnh của Thiệu. Các mũi tiến công của quân cách mạng tràn xuống phía Nam như nước vỡ bờ được ghi trên bản đồ một cách chân thật, không chút dấu diếm.
Len lỏi qua các dẫy đầu thú dữ nhồi do các tướng tá đem về tặng “người hùng” từ chiến trường rừng núi Tây Nguyên, chúng tôi lên tận lầu trên cùng. Đây là tầng lầu bí mật của Tổng thống, được canh gác cẩn mật “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Ở đây Thiệu cho đặt một máy tiềm vọng kích, ngày đêm nhìn ngó ra xung quanh thành phố. Tình hình biến động trong thành phố có thể xem xét qua chiếc ống nhòm ma quái này. Tinh võ biền mà lại nhút nhát như Thiệu được bộc lộ rất rõ ở hai vật thể đặt cạnh nhau - chiếc tiềm vọng kính là nỗi Lo âu ám ảnh hàng ngày của Thiệu được đặt bên hai con hổ nhồi nhe nanh vuốt đọa dẫm, huênh hoang. Trước mọi thứ được dấu kín, bây giờ được phơi bày ra ánh sáng, lộ mọi hình tích, trông thật trơ trẽn. đấy là chưa kể đường hầm bí mật đặt ngầm dưới toà nhà để khi cần thoát thân cho nhanh.
Ống kính của chúng tôi đã ghi tất cả những thứ đó, khi những hình ảnh ấy được ghép lại sẽ cho mọi người hình dung được phần nào tính cách của một nhân vật đã đi ngược lại dòng lịch sử, phản bội lại dân tộc mình. Tất cả những điều đó đã được ghi lại trong bộ phím “Thành phố lúc rạng đông” sau này. Chúng tôi rời khỏi “Phủ đầu rồng”, có cảm giác như vừa qua một đêm dài tăm tối. Trong khi bên ngoài mọi người đang đón chào buổi rạng đông của thành phố. Những dòng người vô tận như những dòng thác lũ, với những băng cờ rực rỡ cuộn trôi trên các đường phố Sài Gòn. Xe chúng tôi như đang bi trôi đi giữa những dòng thác lũ của ngày hội dân tộc ấy. Sân bay Tân Sơn Nhất cũng rợp bóng cờ bay chờ đón Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Tất cả phóng viên báo chí, đặc biệt là các phóng viên quay phim đều hướng ống kính vào chiếc chuyên cơ từ Thủ đô Hà Nội vừa hạ cánh xuống sân bay để đón chào một con người trở về - từ một người thợ Ba Son, người tù Côn Đảo, người kéo cờ phản chiến trên “biển đen”, người chiến sĩ cách mạng, và bây giờ là Chủ tịch nước Việt Nam độc lập và thống nhất. Con người ấy đã đi qua cả một đêm trường nô lệ gần một trăm năm để hôm nay nhìn thấy đất nước quê hương mình đuợc giải phóng, thống nhất, với một nụ cười rạng rỡ .
...Nhớ lại cuộc chống Mỹ đầu tiên ở Sài Gòn
BÙI ĐỨC TỊNH. Nhớ lại cuộc chống Mỹ đầu tiên ở Sài Gòn: Kỷ niệm 25 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước / Bùi Đức Tịnh // Xưa nay. - 2000. - Số 74B. - Tr.15

Sáng ngày 19-3-1950, theo sự bố trí của anh Nguyễn Văn Hiếu, cán bộ Ban Trí vận Thành ủy, tôi cùng với luật sư Nguyễn Hữu Thọ đến trường Tôn Thọ Tường trong chiếc xe trac-xi on avant của anh Thọ. trong xe có chở một loa phóng thanh và một micro để dùng trong khi phát biểu. Mục đích của buổi tập hợp là để anh Thọ, trưởng phái đoàn liên lạc đồng bào các giới, báo cáo với các giới đồng bào về kết quả các cuộc gặp gỡ của anh với thủ hiến Trần Văn Hữu để yêu cầu chính quyền của Hữu giải quyết những vấn đề tồn tại từ lâu nay và mới phát sinh sau vụ Trần Văn Ơn bị sát hại. Trưởng phái đoàn liên lạc đồng bào các giới đã yêu cầu 5 điều:
1/ Mở cửa lại vô điều kiện tất cả các trường, trả tự do cho các học sinh còn bị giam cầm và bảo đảm an ninh cho học sinh.
2/ Thu nhận lại tất cả các công nhân bị sa thải vì đã tham gia đám tang Trần Văn Ơn.
3/ Cho xuất bản lại tất cả các tờ báo bị đóng cửa sau ngày Trần Văn Ơn bị mưu sát.
4/ Trả tự do cho những người bị bắt giữ vì hoạt động chính trị.
5/ Ban hành các quyền tự do cơ bản.
Trần Văn Hữu đã hứa thỏa mãn tất cả 5 yêu sách. Trong cuộc tập, anh Thọ sẽ kêu gọi các giới đồng bào cùng nhau đoàn kết, đòi hỏi chính quyền thực hiện đầy đủ và trọn vẹn 5 yêu sách, đòi chấm dứt chiến tranh, đòi Pháp thương nghị với chính phủ Cụ Hồ, thực hiện dân chủ. Dự trù, sau bản báo cáo và kêu gọi của anh Thọ, đại biểu đồng bào các giới sẽ phát biểu. Về các giới khác, tôi không được biết nhưng riêng về hai giới do Ban trí vận lãnh đạo thì tôi sẽ phát biểu với danh nghĩa đại diện các ký giả dân chủ (từ công khai thời ấy để chỉ các ký giả ở nội thành thành) rồi anh giáo sư bác sĩ Trần Cửu Kiến, đại diện giới giáo học tư thục. Một ngày trước anh Thọ đã gửi thư báo cáo thủ hiến Nam phần và Nha cảnh sát Đô thành việc phái đoàn đồng bào các giới tổ chức cuộc họp mặt. Nhưng ngày 17-3, hai tàu chiến Mỹ đã ngược sông Lòng Tàu cặp bến cảng Sài Gòn và một hàng không mẫu hạm chở hàng trăm máy bay chiến đấu tiến vào vùng biển nước ta. Theo kế hoạch của chúng, 71 máy bay cất cánh từ hàng không mẫu hạm sẽ bay biểu diễn thật thấp từ bờ biển Đà Nẵng đến Sài Gòn trong khi lính hải quân Mỹ sẽ từ hai tàu chiến lên bờ đi ngênh ngang vào Sài Gòn.
 Mười giờ đêm 18-3 ba khẩu súng cối 82 ly của Trung đoàn 300 Bộ đội miền Đông đã nã 20 phát vào hai tàu chiến Mỹ. Và có lẽ lo ngại rằng Phái đoàn đồng bào các giới sẽ hô hào chống Mỹ  can thiệp, nên khi xe của anh Thọ đến gần trường Tôn Thọ Tường cảnh sát đã ngăn chặn. Nhờ đồng bào dự cuộc họp đang trên đường đi đã tay nắm tay làm thành một hàng rào kiên cố xe anh Thọ mới vào được đến sân trường.
Chúng tôi vừa đem loa và micro xuống xe, anh Thọ chưa lên đến bục phát biểu thì Trần Văn Tư, Giám đốc cảnh sát Đô thành mặc sắc phục cảnh sát trưởng, đứng trên xc cảnh sát của y tuyên bố cuộc họp mặt bất hợp pháp và tuyên bố giải tán.
Lựu đạn cay được quăng tới tấp vào những người đang tập hợp trong sân trường. Mạnh ai nấy chạy, đổ xô ta đường nhưng quần chúng đã nhanh chóng chuyển thành một cuộc tuần hành thị uy kéo dài trên các đường phố. Sợ chúng tịch thu loa và micro, tôi đem về phía các dãy nhà để tìm nơi dấu. Sau cùng tôi đã nghĩ ra cách đem cả loa và micro vào một phòng vệ sinh, gài cửa ở bên trong như đang đi vệ sinh. Lúc đó tôi nghe vang lên bên ngoài đường phố các khẩu hiệu: “Đả đảo thực dân Pháp và bù nhìn Bảo Đại! Đả đảo Mỹ can thiệp!, Hồ Chí Minh muôn năm!”. Sau này tôi được biết đoàn tuần hành đã kéo ra bùng binh chợ Bến Thành, đi về phía bến Argone, trương cờ đỏ sao vàng, hạ cờ tam sắc, đốt cờ ba quan... Khí thế của quần chúng lính Mỹ phải rút xuống tàu, hai chiến hạm của Mỹ cũng nhổ neo dong tuốt.
 Khi ngoài sân trường đã im lặng, tôi đem loa và micro ra ngoài và kêu xích lô chở về văn phòng anh Thọ ở số l52 đường Charles de Gaulle (nay là đường Nam Kỳ Kkởi Nghĩa).
Nhiếp ảnh với Đại thắng Xuân 1975
TRẦN ẤM. Nhiếp ảnh với Đại thắng Xuân 1975 / Trần Ấm // Hà Nội mới. - 2005. - Ngày 30 tháng 4. - Tr.6.

Để kịp thời ghi lại những hình ảnh lịch sử trong chiến dịch Xuân 1975 đại thắng, Việt Nam Thông tấn xã và Thông tấn xã Giải phóng đã đồng loạt tung vào các mặt trận những tay máy chuyên nghiệp. Đây là đợt ra quân rầm rộ nhất trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Những tay máy sừng sỏ trong làng nhiếp ảnh Việt Nam đã xuất quân cùng các tay máy thường trú trên các vùng trọng điểm ở miền Nam đều “tay máy”, “tay súng”, vào trận.
Mở đầu là phóng viên nhiếp ảnh Nông Quang Khanh - TTXGP B2, tham gia chiến dịch đường 14 Phước Long (từ 13-12-1974 đến 6-1- 1975). Nhà nhiếp ảnh Nông Quang Khanh đã theo sát bước chân giải phóng quân trên đường ra trận, ghi lại được những hình ảnh đồng bào các dân tộc Mạ, Stiêng, K’ho ở Đồng Xoài, Phước Long đi dân công phục vụ chiến dịch. Đây là chiến dich đầu tiên ở Đông Nam Bộ, quân giải phóng đánh hợp đồng binh chủng: xe tăng pháo binh, pháo phòng không hỗ trợ cho bộ binh đánh chiếm mục tiêu. Tỉnh lỵ Phước Long được giải phóng, quân ta bắt sống nhiều tù, hàng binh địch.
Tiếp đến là chiến dịch Tây Nguyên - Buôn Ma Thuật mở đầu ngày 10-3-1975, các phóng viên ảnh Anh Tôn, Phước Huề… thường trú ở khu 5 đã theo sát bước chân quân giải phóng dùng xe tăng pháo lớn vào giải phóng thị xã Buôn Ma Thuật. Lần đầu tiên quân giải phóng làm chủ thị xã lớn ở Tây Nguyên, bắt sống 2 đại tá quân ngụy Sài Gòn là Vũ Thế Phong, Sư đoàn phó Sư 23 chủ lực ngụy và Nguyễn Trọng Luật Tỉnh trưởng tỉnh Đắc lắk.
Chiến thắng Buôn Ma Thuật được phát triển nhanh chóng theo QL 19 xuống các tỉnh miền Trung. Các anh Phước Huề, Anh Tôn lại có mặt ở Cheo Reo, Phú Bổn để ghi lại được hình ảnh cuộc rút chạy thảm bại khỏi Tây Nguyên của quân Ngụy Sài Gòn.
Cũng ở mặt trận Tây Nguyên, nhà nhiếp ảnh Hồng Phấn, Xuân Quyết - phóng viên thường trú tại địa phương đã vào giải phóng thị xã Kon Tum và Plây-cu.
Trong lúc đó thì ở Hà Nội đã cho xuất kích tổ “phóng viên mũi nhọn, thọc sâu” gồm các anh: Đinh Quang Thành, Vũ Tạo, Hứa Kiểm, Trần Mai Hưởng, Ngọc Đản, Hoàng Thiểm, Trần Tuấn, Ngọc Quả, Văn Bảo… Tổ phóng viên mũi nhọn, thọc sâu theo sát bước chân thần tốc của Binh đoàn Hương Giang vào giải phóng Huế, cửa Thuận An, cửa Tư Hiền. Quân cách mạng kéo cờ chiến thắng trên đỉnh Phú Văn Lâu ngày 25-3-1975 thì đến ngày 26-3-1975 các anh trong tổ phóng viên mũi nhọn- thọc sâu lại cùng Binh đoàn Hương Giang hành quân thần tốc, vượt đèo Hải Vân vào giải phóng thành phố Đà Nẵng, thành phố lớn nhất miền Trung với trên 10 vạn quân địch đang cố thủ.
Cuộc tiến công giải phóng Đà Nẵng mạnh như vũ bão, ngày 29-3-1975, thành phố Đà Nẵng đã được giải phóng. Tổ phóng viên mũi nhọn thọc, sâu kịp thời ghi lại những hình ảnh quân ta đánh chiếm sân bay Nước Mặn, đài Ra-đa trên bán đảo Sơn Trà… Các phóng viên Hà Mùi, Việt Long, Hữu Quả thường trú ở Quảng Đà cũng kịp thời có mặt, ghi lại hình ảnh thảm bại của quân Ngụy Sài Gòn và cảnh hồ hởi phấn khởi của đồng bào thành phố Đà Nẵng đón quân giải phóng vào giải phóng quê hương.
Từ mặt trận Tây Nguyên, các phóng viên Hồng Thu, Sĩ Huynh, Anh Tôn, Phước Huề, Tiến Ất, Bùi Tường, Trọng Nghiệp tràn xuống miền duyên hải ghi lại hình ảnh thị xã Tam Kỳ, thị xã Quảng Ngãi, Tuy Hòa, Phú Yên rồi Bình Định, Quy Nhơn, Khánh Hòa, Nha Trang được giải phóng.
Vẫn theo sát bước chân thần tốc, táo bạo của binh đoàn Hương Giang, tổ phóng viên mũi nhọn, thọc sâu ngược lên giải phóng thành phố Đà Lạt rồi lại xuôi về đập tan phòng tuyến Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận được giải phóng các anh Đinh Quang Thành, Hứa Kiểm, Lâm Hồng Long, Vũ Tạo còn vào sân bay Thành Sơn ở Phan Rang để ghi lại hình ảnh những máy bay hiện đại của Mỹ mới trang bị cho quân ngụy vẫn còn nguyên vẹn. Các anh còn lấy xe Honda đổ xăng cơ động dọc đường hành tiến về giải phóng thị xã Phan Thiết  và tỉnh Binh Thuận.
Tại thị xã Phan Thiết được giải phóng anh Hồng Long đã tìm gặp được người mẹ thân yêu sau 20 năm xa cách, anh được đi lại một ngày thăm mẹ. Còn các phóng viên mũi nhọn tiếp tục lên đường cùng quân đoàn hành quân vào tập kết ở rừng cao su Xuân Lộc. Đến đây các phóng viên mũi nhọn chia nhỏ theo từng Sư đoàn đánh chiếm các mục tiêu căn cứ Nước Trong, Thành Tuy Hòa, Khu kho Long Bình và xuống giải phóng thị xã Bà Rịa Vũng Tàu.
Tổ phóng viên mũi nhọn, thọc sâu đã ghi lại được hình ảnh trận địa pháo Nhơn Trạch dội bão lửa vào sân bay Tân Sơn Nhất và lễ xuất kích của quân đoàn II từ rừng cao su ông Quế tiến về giải phóng Sài Gòn.
Ở mặt trận phía Tây - Đông Nam Sài Gòn, phóng viên Nông Quang Khanh bám sát cánh quân 232, xe tăng pháo binh vượt sông Vàm Cỏ Đông tiến vào giải phóng Phú Lâm, Tổng nha cảnh sát.
Ở mặt trận phía Bắc, Sài Gòn phóng viên Phạm Thanh Hải bám sát quân đoàn 4 tiến vào giải phóng Hố Nai, thành phố Biên Hòa rồi tiến về giải phóng Sài Gòn.
Ở hướng Tây Bắc Sài Gòn các phóng viên Dương Thanh Phong, Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Văn Khuynh… thường trú ở khu Sài Gòn - Gia Định theo quân giải phóng tiến vào trại huấn luyện Quang Trung Hóc Môn rồi đánh chiếm Dinh tỉnh trưởng Gia Định.
Các anh Hoàng Thiển, Ngọc Đản, Đinh Quang Thành, Vũ Tạo, Trần Mai Hưởng bám sát lữ đoàn xe tăng 203 theo xa lộ, vượt cầu Sài Gòn tiến vào Dinh Độc Lập. Các anh đã kịp thời ghi lại hình ảnh chiếc xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập, Bùi Quang Thân xông lên cắm cờ chiến thẳng trên nóc Dinh Độc Lập lúc 11g 30 ngày 30-4-1975.
Các anh Văn Bảo, Lâm Tấn Tàu, Nông Quang Khanh, Minh Lộc cũng có mặt tại Dinh Độc Lập vào trưa ngày 30-4-1975 để ghi lại hình ảnh nội các Dương Văn Minh đầu hàng.
Theo sát bước chân thần tốc táo bạo của bộ đội giải phóng với vũ khí là chiếc máy ảnh trong tay, các phóng viên nhiếp ảnh kể trên đã ghi lại hình ảnh có một không hai trong mùa xuân Đại thắng 1975. Và những hình ảnh đó còn sống mãi với trang sử hào hung của dân tộc ta trong thế kỷ 20.
Người treo cờ Tổ quốc trên đảo Song Tử Tây
LÊ XUÂN PHÁT. Người treo cờ Tổ quốc trên đảo Song Tử Tây / Lê Xuân Phát, Trương Vân Tiên ghi // Quân đội nhân dân. - 2005. - Ngày 6 tháng 4. - Tr.5

Phải mất nhiều ngày tìm đến nhà tôi mới gặp được anh. Dù đang rất bận công việc nhưng anh cũng dành thời gian ít ỏi kể cho tôi nghe trận chiến đấu mà anh tham gia và được chỉ huy giao nhiệm vụ treo lá cờ Tổ quốc trên đỉnh cột cờ ở đảo trước khi quân ta tiến vào giải phóng đảo cách đây 30 năm.
Lúc đó là 3 giờ 40 phút ngày 11-4-1975 tàu 673 (Đoàn M25 Hải quân) được lệnh xuất phát từ cảng Đà Nẵng. Sau 4 ngày đêm hành quân thần tốc, bí mật bất ngờ, tàu 673 đưa lực lượng Đội 1, Đoàn Đặc công Hải quân M26, do đội trưởng Nguyễn Ngọc Quế chỉ huy đã tới vùng biển thuộc Quần đảo Trường Sa. Xa xa đảo Song Tử Tây hiện lên trong màn đêm một màu xanh thẫm. Thỉnh thoảng có vài ánh đèn le lói lúc tắt, lúc sáng đó là đèn tuần tra của bọn lính tuần trên đảo. Mọi công tác chuẩn bị cho trận đánh giải phóng đảo Song Tử Tây theo mệnh lệnh trên giao đã được chỉ huy quán triệt, triển khai đến từng tổ, từng chiến sĩ. Trước khi vào trận đánh, tôi được chỉ huy gọi lên giao nhiệm vụ treo lá cờ Tổ quốc lên cột cờ ở đảo. Nhận nhiệm vu chỉ huy giao, tôi vừa mừng lại vừa lo. Mừng vì được cấp trên tin tưởng giao cho nhiệm vụ quan trọng này. Lo là làm sao hoàn thành nhiệm vụ, treo được cờ trước khi quân ta tiến vào làm chủ toàn đảo. Sau khi nhận nhiệm vụ từ người chỉ huy, tôi cẩn thận quấn lá cờ Tổ quốc vào cổ, xin chỉ huy một chiếc loa pin mang theo và số trang bị vũ khí cần thiết rồi nhanh chóng xuống xuồng bơi vào đảo. Xuồng nhỏ, sóng lớn có lúc tưởng mình sẽ bị sóng đánh bật ra cuốn trôi mất. Người tôi mệt lả vì phải vật lộn, chống chọi với sóng gió và mấy đêm liền thao thức không ngủ được. Vừa tiếp cận lên đảo, tôi nhanh chóng lợi dụng địa hình vận động tiến lên theo hướng khu trung tâm chỉ huy đảo. Thấy động, bầy chim bay lên ràn rạt và kêu chí chóe. Bọn địch thấy thế bắn lên mấy loạt đạn canh phòng. Bị lộ chăng? Tôi nằm im nghe ngóng rồi tiếp tục bò ên theo hướng về nơi có cột cờ ở trung tâm chỉ huy đảo. Lợi dụng các lùm cây, tôi nhanh chóng bí mật bò lên trinh sát nắm các chốt canh phòng của địch báo cáo cho chỉ huy. Đến chân cột cờ, nhìn lên thấy có hai dây kéo và lá cờ ba sọc đang bay, tôi liền nhanh chóng cầm dây kéo lá cờ ba sọc xuống. Nhưng vừa kéo được một đoạn thì gió mạnh làm lá cờ và dây quấn lại với nhau. Cố kéo được khoảng 2 mét thì dây bị đứt. Làm thế nào bây giờ, cột cờ lại bằng ống tuýp không có gì để bám, víu. Bằng mọi giá phải trèo lên bằng được. Loay hoay mãi tôi mới trèo được lên giật phăng lá cờ ba sọc vứt xuống đất và treo lá cờ Tổ quốc vào. Đúng 3 giờ 30 phút, các mũi tiến công của ta cũng đã áp sát các vị trí và nhất loạt nổ súng. Tôi nghe rõ tiếng la hét, tiếng kêu cứu hoảng loạn của bọn lính và tiếng súng bắn trả điên cuồng của chúng ở các lô cốt. Trong tình thế bị bao vây bọn địch co cụm lại ngoan cố chống cự. Khi đã chiếm lĩnh được vị trí cần thiết tôi lấy chiếc loa pin đứng lên gọi to: “Hỡi anh em binh sĩ Sài Gòn toàn đảo đã bị Quân giải phóng bao vây anh em hãy bỏ súng ra hàng để hưởng lượng khoan hồng của cách mạng trở về đoàn tụ với gia đình”. Súng vẫn nổ dữ dội từ bốn phía dồn bọn địch co cụm vào giữa trung tâm chỉ huy đảo. Trận đánh giằng co, quyết liệt kéo dài hơn một giờ đồng hồ. Các mũi tiến công của ta ào lên như cơn lốc, bao vây chiếm lĩnh hết vị trí này đến vị trí khác. Sức chống cự của địch yếu dần rồi câm lặng. Trời gần sáng, quân ta đã tiến vào làm chủ hoàn toàn đảo Lúc đó trên đỉnh cột cờ ở giữa trung tâm đảo lá cờ Tổ quốc đã tung bay phần phật trong gió. Đảo Song Tử Tây chính thức được giải phóng từ lúc ấy. Người treo cờ Tổ quốc trên đảo trong trận đánh mở màn giải phóng đảo Song Tử Tây đêm 14-4-1975 ấy chính là Hạ sĩ Lê Xuân Phát thuộc Đội 1 Đoàn Đặc công Hải quân M26 Anh hùng.
 Tháng 12 năm 1972, tạm biệt quê hương Hoằng Hóa, Thanh Hóa, anh lên đường nhập ngũ về huấn luyện tại Đoàn Đặc công M26. Sau trận chiến đấu giải phóng đảo Trường Sa. Tháng 4 -1978, anh được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tại Chi bộ Đội 1. Năm 1983, anh về Đoàn Quân nhạc và năm 1987 anh chuyển công tác về Cục huấn luyện nhà trường. Năm 1988, anh rời quân ngũ trở về với cuộc sống đời thường, vẫn tích cực tham gia công tác xã hội ở phường. Từ năm 1995 đến nay được chính quyền nhân dân tín nhiệm bầu anh là Trưởng khu dân cư và phó bí thư Chi bộ khu dân cư số 6 - phường Quán Toan quận Hồng Bàng, TP Hải Phòng; là đại biểu HĐND phường khóa 1999 - 2004 và khóa 2004 – 2009. Điều mong ước của anh Phát hiện nay là được gặp lại đồng đội cũ và thăm lại đơn vị Đội 1 đơn vị ba lần Anh hùng, nơi mà anh đã sống chiến đấu và trưởng thành nhân dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng đảo Trường Sa giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc và 50 năm thành lập Quân chủng Hải quân nhân dân Việt Nam anh hùng.
Người mở đường máu trên sông Bến Hải
VÕ LINH. Người mở đường máu trên sông Bến Hải / Võ Linh // Sài Gòn giải phóng. - 2009. - Ngày 22 tháng 4. - Tr. 3.

Lấy thân mình… mở đường!
Năm 1968, sau chiến dịch Mậu Thân, trên toàn chiến trường, quân ta đang giành thế áp đảo. Hàng ngàn chiến sĩ bộ đội ta từ miền Bác hành quân vào nam đã tập kết đầy đủ ở bờ Bắc sông Bến Hải. Cấp trên chỉ đạo: Phải nhanh chóng đánh sập hàng rào Macnamara ở căn cứ Cồn Tiên Dốc Miếu để mở đường vào giải phóng Quảng Trị... Nhưng lúc đó nhiều ngả đường đã bị địch phong tỏa. Duy chỉ bến đò B (Tùng Luật, Vĩnh Giang, Vĩnh Linh) là cửa duy nhất có thể mở đường đưa bộ đội vượt sông. Tuy nhiên, quãng sông Bến Hải, từ Cửa Tùng đến cầu Hiền Lương đã bị quân Mỹ nguỵ rải dày đặc bom từ trường và mìn hẹn giờ. Và năm 1968 đã có không ít chuyến đò chở bộ đội vượt sông bị tổn thất vì dính bom từ trường trên sông!
Tại thời điểm đó, ông Nguyễn Văn Đồng và Lê Văn Trọng đều là hai chàng trai trẻ nằm trong lực lượng dân quân du kích trực chiến tại bến đò B. Chứng kiến những người bạn là đồng chí, đồng đội của mình ra đi không trở về, lòng hai ông như quặn thắt.
“Mình chết thì chết, nhất định không được để bộ đội thương vong khi qua sông. Bằng mọi giá, phải đưa bộ đội vượt sông an toàn, có đủ lực lượng chi viện cho chiến trường thì mới mong đánh thắng địch; nhân dân hai bờ Nam - Bắc mới mong có ngày được đoàn tụ” - ông Đồng nhủ thầm. Đến tối, khi cuộc họp khẩn của toàn bộ lực lượng dân quân du kích tham gia trực chiến tại bến đò được triệu tập, xã đội trưởng Nguyên Văn Bân phân tích tình thế… Hai chiến sĩ trẻ cùng lúc đứng vụt dậy... xung phong mang thân đi “mở đường máu” – phá bom của địch rải trên sông. Ngay đêm đó, tại bến đò B, đồng đội, đồng chí đã tổ chức luôn một lễ truy điệu sống cho hai anh. Nghi thức trong lễ truy điệu này không khác lễ truy điệu những đồng đội đã hy sinh trước đó. Chỉ khác, đằng sau bát nhang nghi ngút khói là nhịp đập của hai trái tim trẻ tuổi đang sôi sục ý chí “cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
Món quà động viên cuối cùng của đơn vị dành cho hai chiến sĩ trẻ là hai… điếu thuốc lá Điện Biên ướt nhèm. Đêm ấy, trong một căn hầm tại bến đò B, người ta thấy hai đốm lửa lập lòe lóe lên cùng với nụ cười rạng ngời đầy kiêu hãnh của hai người con Bến Hải Cửa Tùng sắp đi vào cửa tử để mở đường vận chuyển an toàn cho con đường giải phóng!
“Cảm tử” cho ngày thống nhất
Điếu thuốc tàn… “Lúc ấy, tui đã vắt lên mình 15 quả mìn chống tăng được bọc trong vỏ sắt nhảy phắt lên chiếc đò. Phía trước, ông Trọng cũng đã sẵn sàng lướt mái chèo. Chúng tôi từ từ chèo thuyền từ bên Bắc sông Bến Hải (bến đò B) lướt sang bờ Nam...”. Sau lưng, hàng trăm đồng chí của họ thấp thỏm dõi theo cúi đầu mặc niệm tiễn đồng đội “đi” - ông Đồng nhớ lại.
“Bọn tui đi chuyến này là coi như mang thân đi.. rà bom. Vì như đặc tính của bom từ trường thì chỉ cần “ngửi” thấy hơi kim loại ở gần là nổ ngay. Không có quả bom nào nổ cũng tốt. Mà bom nổ thì càng… tốt hơn vì bộ đội ta sang sông sẽ an toàn” – ông Trọng vô tư kể.
-              Lúc đó, hai ông không nghĩ đến vợ con hay người thân của mình sao?
-              Có chứ? Đã có lúc, trong tâm trí tui hiện lên cảnh người vợ cùng bốn đứa con nheo nhóc đang đi sơ tán ở tận Hà Tĩnh, nhưng tui gạt ngay đi: “Nếu phải lựa chọn giữa gia đình và Tổ quốc thì mình phải chọn Tổ quốc trước tiên. Tó quốc trên hết. Tổ quốc còn thì gia đình còn, mà Tổ quốc mất thì gia đình cũng mất” - ông Trọng lại khẳng định.
Hai người lính cảm tử ôm mìn lướt qua lượt lại trên dòng Bến Hải đúng hơn một tiếng đồng hồ. “Cứ mỗi vòng thấy anh em tui quay thuyền lui là ai cũng thở hắt ra nhẹ nhõm. Rồi lại hít vào một hơi thật dài để... nín thở tiếp. Đến chuyến cuối cùng, một trục trặc nhỏ làm tất cả đều thót tim. Quả mìn đeo trên người bỗng nhiên bung dây lăn cả ra sàn thuyền. Mọi người trên bờ đã nhắm mắt lại. Nhưng may thay, quả mìn đã được tui kịp thời khóa chốt trước đó” - ông Đồng kể.
Ngay đêm đó, hàng ngàn chiến sĩ bộ đội ta cùng nhiều lương thực vũ khí, đạn dược được chuyển an toàn vào trận địa chuẩn bị cho trận đánh căn cứ Cồn Tiên Dốc Miếu. Cũng từ việc mở thông được cửa tử ở bến đò B này, mà chỉ trong một thời gian ngắn, phần lớn địa giới tỉnh Quảng Trị được giải phóng. Đôi bờ Bắc Nam giới tuyến đã quy về một mối. Còn hai ông, sau khi hoàn thành nhiệm vụ lại lặng lẽ tiếp tục tham gia chiến đấu…! 
Trong những năm gần đây, nhà nước ta đã có chủ trương làm chế độ chính sách cho các trường hợp có thành tích trong kháng chiến nhưng chưa được công nhận. Hai ông cũng nằm trong số này. Tuy nhiên hơn 11 năm qua, hồ sơ của họ vẫn… đợi ngày giải quyết (?).
Người anh hùng và anh lính ngụy
NGUYỄN HIỆP. Người anh hùng và anh lính ngụy / Nguyễn Hiệp // Quân đội Nhân dân. - 2005. - Ngày 23 tháng 4. - Tr.5.

Trần Công Bằng (tên thường gọi Tám Bằng) anh hùng Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Minh Hải, Chủ tịch Hội CCB huyện Giá Rai (đã nghỉ hưu), 15 năm tham gia đánh Pháp, 21 năm đánh Mỹ. Anh đã chiến đấu trên 250 trận. Qua 24 lần thương tật, anh bị cụt mất 1 bàn tay trái, gãy xương tay phải, gãy xương đùi, vỡ sọ não, đứt 5 khúc ruột và hàng chục vết thương nhỏ khác. Đi vào lửa đạn, tên anh đã gắn với nhiều chiến công lịch sử. Mùa xuân năm 1968, quân giặc đánh mạnh vào vùng nông thôn giải phóng. Đơn vị của anh Tám đã lập chiến công lớn, đánh tiêu diệt sân bay Lộ Tẻ, Cần Thơ. Đứng bên bờ công sự, anh đưa mắt lên vòm trời đầy sao. Pháo từ các phía làm rung chuyển đất trời. Sau 7 phút điểm hỏa, sân bay địch bị ngập chìm trong biển lửa. Đơn vị của anh Tám đã làm tan xác hơn 60 máy bay Mỹ, trong đó 18 trực thăng vũ trang, 2 trực thăng kéo pháo, 5 đa-cô-ta, 32 phản lực và “đầm già”, một kho bom, 2 kho nhiên liệu, hàng trăm xe pháo bị phá hủy an Day Lọ loe, Cán Thơ bị mất, giặc phản kích ác liệt Anh Tám đã bị thương gãy xương đùi chân phải Một ngày nằm lai bên ụ trực thăng giữa sân bay chịu nắng lửa, đói khát, anh cảm thấy lâu như thể một năm! Vết thương sưng căng đau nhức ĐÊM đến, anh bò ra được 12 lớp rào gai thì trời sáng Rồi anh tiếp tục bò đi qua hết 25 vòng rào gai, mương hào đầy chông và mìn Cứ thế, đêm đi ngày ém lại, ann cố sức lặn lội để tìm đến các điểm hẹn,nhưng chỉ một thân anh còn sót lại trên chiến trường 15 ngày sau thân anh ốm gầy như que củi, còn một chân với một tay Thức ăn của anh là những cây chuối nhỏ, cái chân bị gãy cứ bám theo như con vật chết Qua những cơn sốt mê man, chập chờn, làm anh nhớ lại buổi đầu nên vợ nên chồng chưa được 4 hôm thì lên đường chiến đấu Sau hơn 3 tháng gặp lại người vợ trẻ thì anh đã mất hết một bàn tay Các anh và chị của anh phải đi ở đợ cho các chủ điền Vào lửa đạn tần này, gian lao thử thách còn nhiều han gấp bội Đang trong mơ, bỗng đâu có tiếng xuồng ai khua động Anh vừa mừng, cũng vừa lo Cái gì rồi  sẽ đến? Nếu là đối thủ, thì phần thắng không thuộc về mình. Nhìn qua đám lau sậy lưa thưa, anh nhận ra một lính ngụy trong sắc áo vàng lờ mờ. Hắn ngồi trên con xuồng nhỏ, chở nhiều lọp đặt cá đi khuất dần về phía sân bay. Lúc này đây giữa cái sống với cái chết… Anh Tám quyết định phải gặp hắn tại đây. Ba hôm sau, hắn đã trở lại, cũng trên con xuồng nhỏ, anh quay nòng súng bám vào mục tiêu. Xuồng hắn dừng lại bên cái lọp. Những giây phút căng thẳng, anh Tám gọi to: “Anh ơi!”... Hắn giật nảy người, lảo đảo… Anh Tám nói tiếp: “Anh sờ tay vào bao súng, tôi sẽ xiết cò. Tôi xin hứa giữ mạng sống cho anh. Tôi chỉ nhờ anh một việc nhỏ. Hắn bất động như kẻ mất hồn… Tôi là giải phóng quân, đánh vào sân bay đã bị thương nặng, không thể sống được. Nhưng trước khi tôi chết, phải để lại cho người đang sống việc gì có lợi. Còn bây giờ chúng ta là người Việt Nam. Vậyanh hãy đến lấy súng tôi rồi bắn tôi, sau đó anh đi lập công với giặc để nuôi vợ con anh!”. Với giọng cứng rắn, anh Tám bảo hắn nhiều lần tên trung úy vẫn đứng lặng người. Rồi những giọt nước mắt của hắn từ từ tăn dài xuống mặt. Suy nghĩ giây lâu anh Tám nói tiếp: “Nếu anh không giết tôi, thì anh phải cứu tôi”. Tên trung úy như chợt nhớ lại điều gì. “Vâng, vâng tôi phải cứu anh, anh cần phải sống”… Gió từ đồng nội thổi về xóa đi những căng thẳng. Họ càng hiểu nhau hơn, cả hai người cùng một tuổi. Qua thời học sinh, hắn lớn lên trong gia đình lao động ở Sài Gòn, rời đại học phải đi sĩ quan, rồi về giữ kho ở sân bay này. Là một sĩ quan ngụy quân, tâm hồn của “T” đã bị giam hãm với những chuỗi ngày lạc lõng trong vòng kẽm gai bao bọc lạnh lùng. Ngày đầu được tiếp xúc với một chiến thương quân giải phóng, T đã tự thấy mình sao quá bé nhỏ. Tình hình chiến sự trên khắp miền Nam ngày càng diễn ra bất lợi làm cho T phải nghĩ đến cuộc sống tự do…
Hôm nay, T đi dỡ lọp sớm hơn mọi khi, dừng xuồng trên điểm hẹn, vắng lặng T chống xuồng đi, rồi chống xuồng lại mấy vòng. Không lẽ anh ấy đã… T gọi to: “Bằng ơi, anh Bằng ơi”. Nãy giờ anh Tám quan sát kỹ. “Tôi đây, tôi đây… xin lỗi anh tôi dời điểm khác, đời lính luôn cảnh giác mong anh thông cảm”. 
T rời xuồng, ôm anh Tám đi tìm nơi khô ráo, vết thương đã hơn 20 ngày vẫn còn quấn chặt trong tấm vải dù ngụy trang. Cuộc giải phẫu chỉ có hai người. Rồi T trao thêm cho anh Tám áo quần, dây cao su để quấn, thuốc điều trị và 10 hộp sữa do vợ của T đã luộc chín để phòng bất trắc anh Tám có thể sử dụng được nhiều ngày. Anh Tám được chăm sóc sau hậu cứ đến khi vết thương ổn định. Sáng hôm đó, T cải trang đi phép về Sài Gòn. Trên chiếc xuồng nhỏ được phủ kín, T lội kéo xuồng đưa anh Tám đi tắt để tránh qua 3 đồn giặc. Qua bờ, qua mương, qua những đồng lúa chín vàng. Nhìn T đẫm mồ hôi, anh Tám càng xúc động. Xuồng dừng lại bên bờ kênh nhỏ, T nói: “Ta đã đến vùng mất an ninh. Bây giờ anh hãy ở đây… khi mặt trời xuống sẽ được gặp những người phía bên kia”. Họ ôm nhau lần sau cùng, anh Tám nghe trong mắt mình cay cay!
Ngày giải phóng Cần Thơ 30-4-1975, anh Tám đi tìm T khắp nơi, “Ơn đền nghĩa trả, giữ trọn thủy chung”… Anh Tám xin bảo lãnh T ra khỏi trại cải huấn, rồi đề nghị Nhà nước tặng thưởng cho người lính ấy.
Người anh hùng năm 1975 ở cửa ngõ Sài Gòn

LÊ MINH HUỆ. Người anh hùng năm 1975 ở cửa ngõ Sài Gòn / Cựu chiến binh Việt Nam. - 2003. - Số 144. - Tr. 5.



Giữa năm 1972, người con của xã Đỗ Xuyên, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, lên đường nhập ngũ khi vừa tròn 19 tuổi. Tháng 12 năm ấy, anh được vào chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên và lập công xuất sắc ngay từ trận đầu. Tháng 4-1975, anh tham gia mặt trận Đồng Dù phía Tây Bắc Sài Gòn. Tại đây, anh đã cùng đồng đội tiêu diệt sư đoàn 25 "Tia chớp nhiệt đới" nổi tiếng gian ác, bắt sống tên chuẩn tướng Lý Tòng Bá, sư đoàn trưởng ngụy, mở toang cánh cửa đánh vào Cầu Bông và tiến thẳng vào sân bay Tân Sơn Nhất. Kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh, anh Vũ Thanh Sơn được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND ở tuổi 23. Sau đây là vài mẩu chuyện về anh.

Sắp đến ngày 30-4, kỷ niệm ngày toàn thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thế mà Ban giám hiệu nhà trường ở đây chưa biết mời ai đến nói chuyện truyền thống cách mạng cho học sinh trường mình. Giữa lúc ấy, một cô giáo hiến kế:

- Thầy hiệu trưởng còn phải băn khoăn gì nữa! "Người đương thời" đang ở ngay ngoài cổng. Mời được anh ấy vào nói chuyện là "nhất" rồi, không ai bằng!

- Sao? Cô có đùa không đấy?

- Dạ, em đâu dám. Em tưởng thầy biết anh ấy từ lâu rồi.

- Quả thực tôi chưa biết! Ai vậy?

Cô giáo nhìn thầy hiệu trưởng cười và chậm rãi thưa:

- Là anh hùng quân đội "xịn", người đang coi giữ xe đạp ở cổng trường mình đấy. Mà anh ấy trực tiếp chiến đấu lập công xuất sắc ở cửa ngõ Sài Gòn, trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Người như thế thầy đã ưng chưa?

Nghe nói thế, thầy hiệu trưởng chỉ còn biết gật đầu, nói: Tuyệt, tuyệt!

Vào một buổi sáng tháng 4 đẹp trời, hội trường chật ních thầy trò. Có cả học sinh mấy trường lân cận cũng đến "nghe nhờ". Sau lời giới thiệu ngắn gọn của thầy hiệu trưởng, người Anh hùng bước lên bục trong tiếng vỗ tay rào rào như song.

Nhiều em học sinh đập tay vào vai bạn thì thào khoái chí:

- Ôi! Bác Sơn! Bác Sơn coi xe đạp mày ạ!

- Ừ nhỉ! Thế mà mấy năm gửi xe, mình không biết bác Sơn là Anh hùng!

Hôm nay bác Sơn đẹp quá.

Nhìn kìa, ngực bác ấy đầy huân chương.

Rồi tiếng xuýt xoa, thì thào im bặt. Mọi gương mặt đều chăm chú hướng về Anh hùng Vũ Thanh Sơn, lắng nghe từng lời anh nói. Bằng giọng ấm áp và chậm rãi, anh thân tình kể về những năm học trò của mình.

"…Ngày ấy, trường phổ thông cấp 3 Phú Thọ cách nhà tôi chừng bảy ki-lô-mét. Hàng ngày tôi phải cuốc bộ tới trường. Bụng đói vì những năm chiến tranh cái gì cũng thiếu. Thiếu gạo phải ăn độn sắn khoai. Thiếu sách giáo khoa, thiếu giấy mực và thiếu cả trường lớp, phải sơ tán học ở đình chùa, học nhờ nhà dân. Phần đông học sinh nghèo không có xe đạp. Học hết bậc phổ thông, lớp 10/10, tôi vào bộ đội khi tròn 19 tuổi. Nhờ nhiều năm cuốc bộ đi học mà đôi chân dẻo dai, săn chắc đã giúp tôi vượt Trường Sơn tới đích".

Anh kể về sự hồi hộp trước giờ nổ súng trận đầu ra sao. Đó là trận diệt đồn Chư Nghé thuộc tỉnh Gia Lai. Lúc ấy là 5 giờ sáng, sương còn giăng mờ khắp núi đồi. Ta lựa thời điểm mờ sáng để tấn công là lúc bọn địch lỏng lẻo, mệt mỏi sau một đêm canh gác. Tâm trạng cậu học sinh như anh khi vào trận đầu tiên sao mà hồi hộp pha lẫn sự sợ hãi, lo âu đến thế. Lệnh nổ súng! Anh bắn tiểu liên, tung tựu đạn thoăn thoắt vượt rào kẽm gai trong tiếng bộc phá, tiếng đạn rít, trong khói bụi mịt mù. Thế là hết sợ. Trận ấy, ta tiêu diệt và bắt gọn một tiểu đoàn địch. Tiếp đến là trận Làng Siêu cũng ở tỉnh Gia Lai, Tây Nguyên, một trận chống địch càn quét, lấn chiếm vùng giải phóng. Hai đại đội bộ binh của ta phải chọi với địch có xe tăng, thiết giáp yểm trợ. Sau nhiều giờ giao tranh quyết liệt, nhiều đồng chí của ta đã anh dũng hy sinh. Khi anh Sơn quay sang bên cạnh, thấy Bế Văn Thành xạ thủ súng B40, người dân tộc Dao tỉnh Cao Bằng hy sinh, Sơn chộp ngay khẩu B40 từ tay bạn bắn cháy liền hai xe tăng và một chiếc M.113 của giặc, góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang tháng 8-1973 không thể nào quên. Sau này, đồng chí Bế Văn Thành cũng được truy tặng danh hiệu Anh hùng.

Dừng lại giây lát, nhấp một ngụm nước, anh Vũ Thanh Sơn tâm sự: Đi chiến đấu hết trận này đến trận khác, tôi thấy những bài học lịch sử, địa lý hôm nào cứ ngân nga, ngấm vào máu thịt, thấy ý nghĩa lớn lao trong từng tấc đất, từng dòng sông, con suối. Điều ấy thôi thúc lớp lớp thanh niên phải sống và chiến đấu, phải làm gì có ý nghĩa đẹp cho quê hương, đất nước. Và tôi không ngờ mình được tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Tháng 3-1975 cùng với Huế, Đà Nẵng, mặt trận Tây Nguyên và toàn miền Nam ta thắng lợi trong thế chẻ tre. Bọn giặc hoảng loạn tháo chạy. Trong thời cơ vô cùng thuận lợi ấy, Bộ chỉ thị phải thần tốc, thần tốc nữa, quyết giành toàn thắng. Trung đoàn 48 thuộc sư đoàn 320 của tôi được giao nhiệm vụ cùng trung đoàn 64, trung đoàn 9 đánh thẳng vào tập đoàn cứ điểm Đồng Dù, phía Tây bắc Sài Gòn. Với diện tích gần 4 ki-lô-mét vuông, có sân bay dã chiến, sư đoàn 25 "Tia chớp nhiệt đới" khét tiếng gian ác đóng giữ. Cấp trên giao cho trung đội 7 của tôi mũi nhọn đánh chiếm lô cốt đầu cầu, chiếm và cắm cờ lên nóc sở chỉ huy của địch. Giặc chống trả quyết liệt, 75 tay súng của ta chỉ còn lại 8 người. Trong tình thế ấy trung đội trưởng Vũ Thanh Sơn dùng súng B40 của đồng đội bắn cháy liền hai xe tăng M48. Cùng lúc ấy đồng đội anh cũng diệt 10 chiếc M48 nữa, đè bẹp sự phản kháng của địch, tạo điều kiện cho bộ đôi ào ạt xông lên bắt sống tên chuẩn tướng, sư đoàn trưởng Lý Tòng Bá, diệt gọn sư đoàn "Tia chớp nhiệt đới", tiến đánh Cầu Bông và xộc thẳng vào sân bay Tân Sơn Nhất. Hôm ấy là ngày 29-4-1975, Vũ Thanh Sơn bị trọng thương phải đưa đi quân y viện dã chiến cấp cứu. Ngay trên giương bệnh, anh đã được tin vui: đơn vị đề nghị cấp trên phong tặng anh danh hiệu Anh hùng.

Kể đến đây, anh Vũ Thanh Sơn im lặng giây lát, giọng đầu xúc động:

- Điều tôi xúc động nhất không phải là mình được phong tặng danh hiệu Anh hùng. Tôi xúc động, nhớ thương bao đồng chí đã ngã xuống trước này toàn thắng có mấy tiếng đồng hồ, để Tổ quốc sạch bóng quân thù, để lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu sau 30 năm trường kỳ kháng chiến thắng lợi.

Là một thanh niên học sinh nơi Đất tổ Hùng Vướng, tôi rất vinh dự được góp một chút nhỏ sức trẻ vào thắng lợi chung của cách mạng nước nhà. Nhưng rồi sức khỏe yếu, là thương binh hạng 4/4, mất sức 75%, tôi được về nghỉ năm 1988 tại Việt Trì. Nhà nước đã ưu đãi cấp cho tôi căn nhà cấp bốn, rộng 78 mét vuông. Tôi làm thêm một gác xép để ở, còn tầng trệt dùng làm nơi trông giữ xe đạp cho các em học sinh. Nhà tôi thường xuyên có gần 100 xe đạp gửi. Tôi lấy lệ phí 200 đồng một xe, số tiền nhỏ nhoi không đủ mua nửa mớ rau muống. Có em nhà nghèo không có tiền, tôi trông giúp. Biết đâu, trong số các em sau này học tập thành tài, thành tiến sĩ, kỹ sư, thành các nhà khoa học giúp ích cho đời, sẽ có lúc nhớ về một anh bộ đội nghỉ hưu trông coi xe đạp. Tôi xin hứa trông giữ xe đạp cho các thầy cô và các em thật cẩn thận, xứng với niềm tin yêu của mọi người…

Tiếng vỗ tay lại vang rền cả hội trường. Nhiều thầy cô và các em mang hoa lên tặng anh. Có nhiều em chạy lên vây quanh cốt chỉ để xem những tấm huân chương chiến công trên ngực áo người anh hùng. Chiều ý các em, anh giảng giải từng chiếc trong tổng số 13 chiếc huân chương, cái nào là hạng nhất, cái nào hạng nhì, cái nào hạng ba. Rồi anh còn phải trả lời tại sao cuống huân chương, có cái màu đỏ, có cái màu nửa xanh nửa đỏ. Nhiều em yêu cầu anh phân biệt cái nào là huy hiệu chiến sĩ thi đua, cái nào là dũng sĩ diệt Mỹ, cái nào là huy hiệu Anh hùng.

Chuyện của anh đã đi vào nhiều bài văn hay, được điểm mười. Các em khai thác nhiều chi tiết lạ khi anh Vũ Thanh Sơn về địa phương tham gia BCH CCB làm trưởng khu hành chính, làm ủy viên HĐND phường Gia Cẩm, TP. Việt Trì. Anh đã góp phần tích cực cùng nhân dân phấn đấu phát triển kinh tế, xóa hết hộ nghèo. Năm 2000, phường Gia Cẩm được tặng thưởng huân chương Lao động hạng ba và 5 năm liền phường được tặng cờ thi đua xuất sắc của Bộ Công an.

Bằng uy tín và sự chân thành, anh còn giáo dục được nhiều tay "anh chị" trong giới cờ bạc, tiêm chích, trộm cắp, về sống và làm ăn lương thiện.

Vợ anh, cô giáo Nguyễn Thị Bình, dạy môn kỹ thuật gò hàn ở trung tâm hướng nghiệp dạy nghề Phú Thọ thường xuyên nhắc nhở hai con thi đua "ngầm" với bố! Cháu Vũ Quốc Duy năm nào cũng học giỏi và đã thi đỗ vào Đại học. Cháu Vũ Duy Tân đang là học sinh giỏi lớp 11. Anh Vũ Thanh Sơn và chị Nguyễn Thị Bình đều là đảng viên hơn 20 năm tuổi Đảng. Họ được xóm giềng, khối phố, bạn bè khen ngợi là gia đình sống đẹp, giữ trọn phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", không khó khăn nào ngăn cản được bước đi vững chắc và tự tin của mình.

1 - 10 Tiếp theo