Bỏ qua nội dung chính

30thang4

Tìm kiếm
Trang chủ
Tra cứu
Thư viện số
Thư viện Koha
Bộ sưu tập
Video
Sản phẩm thông tin
Quan tri CMs
  

Blogs khác
Không có khoản mục nào trong danh sách này.
Liên kết
Không có khoản mục nào trong danh sách này.

Thư viện Tỉnh Đồng Nai > trangtin > 30thang4 > Danh mục
Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
CHI PHAN. Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử: Kỷ niệm 33 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước / Chi Phan // Cựu chiến binh. - 2008. - Số 203. - Tr.2, 9

Đồng chí Văn Tiến Dũng cương vị Tổng tham mưu trưởng lâu năm nhất của quân đội cách mạng từ 1953 - 1978; điều hành một cơ quan chiến lược vào những thời kỳ sôi động nhất, phong phú nhất, đầy cam go thử thách và rực rỡ chiến công. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị, đồng chí đã tham gia tích cực vào việc hoạch định các kế hoạch chiến lược, đánh bại các chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ; đánh qụy không lực Hoa Kỳ trong chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân; xây dựng tuyến vận tải chiến lược từ Bắc vào Nam. Ngoài ra, còn đánh bại cái gọi là “Chiến tranh bóp nghẹt” của địch, giành thắng lợi từng bước, tiến lên kết thúc cuộc chiến tranh cách mạng lâu dài của dân tộc, đúng thời cơ lịch sử, bằng một trận quyết chiến chiến lược vĩ đại - Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
     Ngoài việc chung sức, chung lòng cùng các đồng chí trong Quân uỷ Trung ương, lãnh đạo công cuộc xây dựng: lực lượng, huấn luyện và chiến đấu, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng còn chăm lo xây dựng cơ quan vững mạnh “để là đầu tàu dẫn dắt và thúc đẩy toàn quân”. Trong công tác huấn luyện, đồng chí chú trọng huấn tuyến tác chiến hiệp đồng minh chủng; đưa bộ đội chủ lực, tiến lên đánh hiệp đồng binh chủng với quy mô ngày càng lớn, nhằm tạo sự đột biến có tính chất chiến lược về thế và lực lên chiến trường. Chủ trương ấy được chứng minh xác đáng qua việc chỉ đạo chỉ huy đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc và qua các chiến dịch lớn ở cuối thời kỳ kháng chiến thống Mỹ, cứu nước. Thất  bại của chiến lược “hiến tranh đặc biệt”, trên chiến trường miền Nam, Mỹ leo thang mở rộng chiến tranh, ào ạt đưa quân vào miền Nam thực hiện “Chiến tranh cục bộ”; dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc, hòng cứu vãn tình thế hiểm nghèo, nguy cơ sụp đổ chế độ tay sai của chúng ở miền Nam. Trước tình hình này, đồng chí Văn Tiến Dũng đã sớm đặt đúng vấn đề, thống nhất ý kiến trong tập thể Bộ Tổng tham mưu về việc chuyển quân đội và toàn thể quân và dân miền Bắc sang trạng thái sinh hoạt thời chiến; sẵn sàng chiến đấu cao, triển khai chiến tranh nhân dân, đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Tháng 4 năm 1974, đồng chí Văn Tiến Dũng được Nhà nước thăng cấp Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Đối với miền Nam, đồng chí Văn Tiến Dũng được cử vào làm đại diện Bộ Chính trị Quân uỷ Trung ương, Bộ tổng tư lệnh, chỉ đạo các chiến dịch lớn như: Đường 9 - Nam Lào, Bắc Quảng Trị, Tây Nguyên và là Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Với tài năng, kinh nghiệm và óc sáng tạo, đồng chí đã giúp các Bộ chỉ huy chiến dịch giành được thắng lợi giòn giã.
     Là Tư lệnh trong Chiến dịch Hồ Chí Mình lịch sử, cùng với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chiến dịch là: Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Đinh Đức Thiện, Lê Ngọc Hiền, Đại tướng Văn Tiến Dũng quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị: Thần tốc, táo bạo, chắc thắng; đánh chiếm Sài Gòn nhanh gọn, nhưng phải đảm bảo cho thành phố ít bị tàn phá, hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và của.
     Sau nhiều đêm thức trắng trao đổi, bàn bạc, đồng chí và Bộ Tư lệnh chiến dịch đi tới nhất trí về cách đánh là: Dùng một bộ phận lực lượng thích lợp trên từng hướng, đủ sức hình hành bao vây, chia cắt, chặn giữ quân địch lại, không cho chúng rút chạy về Sài Gòn. Ta tiêu diệt và làm tan rã tại chỗ các sư đoàn bộ binh chủ lực của địch phòng thủ vòng ngoài; đồng thời, dùng đại bộ phận lực lượng các đơn vị, nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm các địa bàn then chốt ở vùmg ven, mở đường cho các binh đoàn đột kích cơ giới hoá mạnh, đã được tổ chức chặt chẽ, tiến theo các trục đường lớn đánh thẳng vào năm mục tiêu, được lựa chọn trong nội thành. Năm mục yêu đó là: Bộ tổng tham mưu ngụy, Dinh Độc Lập, Biệt khu Thủ đô, Tổng nha cảnh sát và sân bay Tân Sơn Nhất. Đánh trúng năm mục tiêu đầu não này thì ngụy quân, ngụy quyền như rắn mất đầu; toàn bộ hệ thống phòng ngự và kìm kẹp còn lại sẽ bị tan rã. Quần chúng nổi dậy. Không một thế lực nào ngăn lại nổi. Trận quyết chiến chiến lược sẽ nhanh chóng kết thúc. Sài Gòn mau giải phóng. Theo Đại tướng Văn Tiến Dũng, muốn tạo được bất ngờ về cách đánh thì phải hết sức táo bạo. Và có táo bạo mới tạo được bất ngờ và giành chiến thắng.
     Kết thúc thắng lợi Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, mọi người mới thấy hết được trí tuệ tập thể của Bộ chỉ huy chiến dịch thật sáng suốt, uyên bác và vai trò của người chỉ huy Văn Tiến Dũng cũng rất quyết đoán, chịu trách nhiệm cao nhất, trong giờ phút trọng đại của đất nước. Đó là phẩm chất ngời sáng của một vị danh tướng.
Trở về Nam chiến đấu

PHÙNG ĐÌNH ẤM. Trở về Nam chiến đấu / Thiếu tướng Phùng Đình Ấm kể; Minh Anh ghi // Sài Gòn giải phóng. - 2009. - Ngày 25 tháng 4. - Tr.3

Thiếu tướng Phùng Đình Ấm, nguyên Đoàn phó B90, nay đã 80 tuổi đời nhưng vẫn rất minh mẫn. Tháng 4 năm nay, tuy đang bị căn bệnh thận hành hạ từng giờ nhưng ông vẫn đi thăm lại Bia kỷ niệm giao lien hai miền gặp nhau nối thong hành lang Bắc – Nam trong kháng chiến chống Mỹ ngày 30-10-1960, tại thôn 3 xã Lộc Bảo, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Gần 50 năm trước, ông là một trong những cán bộ chiến sĩ miền Nam đầu tiên tập kết, trở về Nam chiến đấu, đi theo đường Trường Sơn.
Ông hồi tưởng: “Thi hành hiệp định Giơnevơ, chúng tôi ra miền Bắc và xây dựng XHCN. Trong khi đó bọn Mỹ-Diệm ngang nhiên phá hoại hiệp định, tàn sát khủng bố nhân dân, trả thù người kháng chiến. Chúng đã gây biết bao đau thương trên khắp miền Nam. Lòng chúng tôi như lửa đốt và chỉ mong ước có đôi cánh để bay thẳng vào Nam chiến đấu. Rồi hạnh phúc như vỡ òa khi chúng tôi nhận lệnh về Nam…”
Liệt Sĩ Đầu Tiên
 Đoàn B90 được thành lập ngày 25-5-1959, có nhiệm vụ dựa vào cơ sở ở Nam Tây Nguyên để mở đường, bắt liên lạc với Xứ ủy và lực lượng vũ trang Nam bộ, nối liền hành lang xuyên suốt Bắc - Nam trên dẫy Trường Sơn vốn bị “đứt đoạn” từ Nam Tây Nguyên. Đoàn B90 có 25 cán bộ chiến sĩ.
Đoàn 559 thành lập xong, Quân ủy TƯ quyết tổ chức một đoàn độc lập, đặc trách gầy dựng cơ sở, nhanh chóng mở con đường ở cuối dãy núi Trường Sơn, xuyên qua “vùng trắng” chưa có cơ sở cách mạng, nối liền đường Trường Sơn với Tây Nguyên và Đông Nam bộ, để sự chi viện của TƯ về tận chiến trường Nam bộ. Biết rằng vào đây là “vùng trắng” cực kỳ nguy hiểm nên ngoài các tiêu chuẩn về đức và tài, những người được tuyển chọn còn phải có một tiêu chuẩn đặc biệt: “không có gia đình và người yêu ở miền Bắc”. Mục đích là để giữ tuyệt đối bí mật, không ai “vương vấn” hậu phương để gánh trách nhiệm cực ky quan trọng. Đoà công tác đặc biệt ấy lấy phiên hiệu là B90.
Trong đoàn, tôi quý nhất là thượng sĩ y tá Trần Văn Thời, trẻ nhất đoàn. Vì anh em thương nhau nên Thời thổ lộ lằng đã có người yêu trong thời gian đóng quân ở xứ Thanh. Hai người đã hẹn ước sẽ yêu nhau trọn đời và chuẩn bị cưới nhau thì Thời nhận lệnh vào Nam chiến đấu. Sau nhiều đêm dằn vặt, Thời  gạt nước mắt nói dối người yêu để giữ bí mật theo chủ trương của Đảng.
 Kể với tôi chuyện tình yêu và người vợ sắp cưới của mình, Thời như nghẹn ngào chực khóc dù trước mặt nàng, anh vẫn phải giữ vẻ bình thản, tươi cười. Anh mong đến ngày đất nước thống nhất, sẽ trở về xứ Thanh tạ tội và thú thật cùng người yêu bởi Thời ra đi là vì sứ mạng cao cả của Tổ quốc. Theo lời Thời kể, tôi mường tượng rằng người thôn nữ mà anh yêu rất đẹp, da trắng, tóc dài và chân thật vô cùng. Vậy mà trong chuyến vượt sông ĐăkR’Tih “Đồng Nai Thượng” để bắt liên lạc thông suốt đường Trường Sơn, Thời đã anh dũng hy sinh mang theo mối tình đẹp như hoa của mình. Hôm ấy, Thời xung phong cầm một đoạn dây bơi ngang để dùng chính đoạn  dây ấy làm tay vịn cho đồng đội băng sông. Đặc thù là lũ ở Trường Sơn rất phức tạp, khi bơi mực nước chỉ ngang bụng nhưng đến giữa dòng, nước có thể đột ngột dâng cao ngang... mái nhà. Thời bơi đến giữa dòng thì lũ về, tôi còn nhớ tiếng Thời hét: “Cứu em” rồi bị nước cuốn trôi mất.
Như vậy, Trần Văn Thời chính là liệt sĩ đầu tiên Của Đoàn B90 trong sự nghiệp mở đường cuối dãy Trường Sơn. Nhớ lại vẻ mặt rạng ngời hạnh phúc của Thời khi kể về người yêu, mà đến giờ, 50 năm sau, tôi còn cảm thấy đau đớn. Có lẽ bây giờ, người thôn nữ xứ Thanh năm nào đã hiểu nỗi lòng của Trần Văn Thời!
Tình nghĩa đồng bào
Tất Cả những gì thuộc về miền Bắc như bằng khen, huân huy chương, quân hàm, hình ảnh, quân phục... đều được gửi lại.Cán bộ chiến sĩ đòan B90 đội mũ rộng vành, mình khoác áo bà ba đen, cổ quấn khăn rằn, chân đi dép lốp theo đúng kiểu du kích miền Nam đẻ giữ bí mật. Vũ khí trang bị cho mỗi người gồm 1 súng Colt 12, một tiểu liên giảm thanh và 2 cơ số đạn. Trang bị đi đường gồm võng kaki, tăng nóc vải nhựa che mưa, gạo, lương khô…có tổng trọng lượng 20kg. Vậy nhưng tôi vẫn “xé rào” mang theo bức ảnh Bác Hồ bằng lụa, Tập thơ Từ ấy của Tố Hữu và quyển vở học tiếng M’Nông. Trong đoàn có đồng chí Kpă Ngãi, dân tộc H’Roi đi tập kết, rất thạo tiếng M’Nông. Trên đường vượt Trường Sơn, tôi vừa đi vừa học, mỗi ngày quyết tâm học 3 từ, cho nên khi đến Nam Tây Nguyên tôi đã có thể giao tiếp bằng ngôn ngữ trên với đồng bào M’Nông bản địa. Có già làng còn bảo : “Mày là con của ngừời M’Nông” nữa. Tuy nhiên, nếu không có đồng bào, có lẽ chưa hẳn Đoàn B90 đã hoàn thành nhiệm vụ. Ấy là khi đến địa phận Quảng Nam, đồng bào Cơ Tu ở làng LơPơ đã ùa ra đón bộ đội và quàng vào cổ chúng tôi những tấm Ru (thổ cẩm) mới tinh tươm ; còn khi đến làng Tăng Đam, một cậu bé đã tặng tôi một buồng chuối chín vàng để “trả ơn chú bộ đội cho cây kim vá áo” ; một ông lão tặng “bộ đội về từ đất Cụ Hồ” mấy ống nước đoác (lấy từ cây đoác) bởi vì thấy tụi bây là đồng bào vui cái bụng lắm rồi...
“Đi không dấu”
 Không biết từ đâu, do ai đặt ra, phương châm “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” đã trở thành luật bất thành văn mà bất cứ đoàn nào hành quân qua Trường Sơn cũng đều tuân thủ triệt để, nghiêm khắc. Ngay tại vĩ tuyến 17, các lối mòn đều có công an của ta quan sát rất kỹ và đặt nhiều ký hiệu trên đường để theo dõi kẻ thù. Thế mà Đoàn B90 vẫn lặng lẽ đi qua, các chiến sĩ giao liên đã tháo dỡ ký hiệu, mật hiệu gắn trên cây, đường rồi sắp xếp lại y như cũ... khéo đến nỗi công an giới tuyến của ta cũng không biết có cả đoàn người đi qua.
 Mấy năm tập kết ra Bắc sống trong hòa bình, một bước đi là mang dép, mang giày. Thế mà nay vượt Trường Sơn, chúng tôi phải tháo dép ra để đi chân trần. Có thể nói đây là cái khổ nhất trong trăm ngàn nỗi khổ của bộ đội Trường Sơn: chân ai nấy phồng rộp, có người bong cả mảng da gót… Khi vượt Đường 9, anh chiến sĩ đi sau cùng của đoàn kéo theo một cành cây tươi đầy lá để xóa toàn bộ dấu chân. Đến Bến Tắt (thượng nguồn sông Bến Hải), chúng tôi vượt sông trên một con đò im lặng đến nao lòng. Chỉ nghe tiếng mái dầm khua nước và hơi thở nhẹ của ông lão chèo đò. Không được phép nói chuyện, tôi lặng lẽ bắt tay ông và biết đó là sự hy sinh thầm lặng mà to lớn của nhân dân, sự hy sinh “vô danh”.
 Sau 4 tháng gian khổ xẻ dọc Trường Sơn, Đoàn B90 đã đến Tây Nguyên để cùng với Đảng bộ Đắc Lắc mở đường nối hậu phương miền Bắc đến tận chiến trường Nam bộ.
 Tròn nửa thế kỷ trôi qua, tôi vừa đến địa điểm đóng quân cũ (đỉnh núi Bsa Dariel thuộc huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng ngày nay) và vui mừng nhận thấy nơi đây đã có cột bìa lịch sử, bằng đá hoa cương, khắc biểu tượng đôi tay siết chặt nhau của người du kích miền Nam và anh bộ đội vừa tập kết từ miền Bắc trở về. Bến dứơi cột bia có dòng chữ “Bia kỷ niệm giao liên hai miền gặp nhau nối thông hành lang Bắc-Nam trong kháng chiến chống Mỹ ngày 30-10-1960”.

 

Trận đánh cuối cùng vào căn cứ Phú Lâm
LÊ QUỐC QUANG. Trận đánh cuối cùng vào căn cứ Phú Lâm / Lê Quốc Quang; Nguyễn Công Huân ghi // Cựu chiến binh Việt Nam. - 2000. - Số 111. - Tr.8,28.

Tôi là thương binh hạng 4/4 nguyên là thiếu tá Trung đoàn phó đặc công đã nghỉ hưu được 10 năm. Hiện nay là Đảng uỷ viên, đại biểu Hội đồng nhân dân, chủ tịch Hội CCB phường Đồng Tiến, thị xã Hòa Bình. Tháng 4 năm 1970 tôi mới được “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. So với các bạn cùng trang lứa, tôi nhập ngũ muộn hơn lúc đó đã 25 tuổi. Song, tôi có vinh dự được trực tiếp tham gia trận đánh then chốt cuối cùng trong chiến dịch 55 ngày đêm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước thu giang sơn về một mối. Nhớ lại, ngày ấy sau khi cùng các đơn vị bạn giải phóng thị xã Bình Long, đoàn Đặc công 429 chúng tội được rút về căn cứ để củng cố lại. Nhận thêm cán bộ, chiến sĩ mới tăng cường cho các tiểu đoàn, đai đội trực thuộc. Biên chế lại tổ chức, thay đổi lại phiên hiệu của các đơn vị để đảm bảo bí mật. Đoàn đã tổ chức hội nghị quân chính tiếp tục quán triệt tình hình, nhiệm vụ chiến đấu. Đặc biệt, lần này Đảng ủy và ban chỉ huy đoàn luôn nhấn mạnh đến kỷ luật chiến trưòng, vào thành phố phải thận trọng, nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật của người quân nhân cách  mạng, người lính của Bác Hồ. Đồng chí Lê Sự, chính ủy đoàn lúc đó đã căn dặn chúng tôi: Chúng ta có thể phải sống thiếu ăn, thiếu uống, thiếu mặc, thiếu tình cảm. Nhưng! Tuyệt đối không cho phép chúng ta thiếu tư cách đạo đức của người chiến sĩ cách mạng, phải giữ gìn bản chất, truyền thống của: “Bộ đội Cụ Hồ", phải xứng đáng với truyền thống của dân tộc, của quân đôi nhân dân anh hùng, vì Tổ quốc hy sinh, vì nhân dân phục vụ...? Sau khi làm tốt công tác củng cố ổn định tổ chức, tư tưởng thông suốt, nắm vững tình hình nhiệm vụ mới, bổ sung vật chất, đơn vị chúng tôi được lệnh hành quân về Long An, qua Ba Thu, qua Bến Lức đi sâu vào các căn cứ phía Tây Nam Sài Gòn. Là lính đặc công, chúng tôi từng có dịp được sống, chiến đấu trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, quen thuộc địa bàn, có một số kinh nghiệm chiến đấu. Song, đến địa bàn mới lạ nên gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ. Nước  ngọt không có mà uống, mọi người phải dùng nước lợ vừa mặn vừa chát. Mọi sinh hoạt phải dựa vào các bụi cây trên các kênh rạch, mắc võng ở tư thế ngồi trên các bụi cây chàm. Nhiều chiến sĩ mắc bệnh đường ruột, nhưng không ai kêu ca, sờn lòng, nản chí, ý chí quyết tâm bám trụ, thọc sâu, tất cả vì chiến đấu và chiến thắng luôn thể hiên rõ. Qua một số trận đánh mở đầu giành thắng lợi, nên chúng tôi đã chiếm được lòng tin yêu của nhân dân và các đơn vị bộ đôi địa phương. Đêm 23 và rạng sáng 24-4-1975, đơn vị chúng tôi đã san bằng căn cứ địch ở Lương Hòa, mở hành lang cho các sư đoàn BB7, BB9 và các đơn vị khác tiến vào Sài Gòn. Lúc ấy tình thế rất khẩn trương, phát triển theo chiều hướng thuận lợi cho ta, khó khăn cho địch. Lính ta hầu như không có thời gian nghỉ ngơi, luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Thế rồi, một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng đã đến với chúng tôi. Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh cho đơn vị chúng tôi phải đánh chiếm bằng được căn cứ ra đa Phú Lâm của địch nằm ở phía tây nam Sài Gòn, đây là trung tâm thông tin lớn nhất của địch, cách trung tâm thành phố không xa. Trung tâm này có nhiều thiết bị thông tin hiện đại để phát hiện mục tiêu, lực lượng của đối phương từ xa, địch huênh hoang mệnh danh là mắt thần. Diệt trung tâm này sẽ làm tê liệt mạng lưới thông tin liên lạc của địch, phá vỡ sự hợp đồng giữa các mũi, các hướng của chúng. Địch sẽ gặp nhiều khó khăn chống đỡ với Quân giải phóng. Ngược lại, quân ta sẽ có nhiều thuận lợi đánh vào các cơ quan chỉ huy đầu não của chúng. Tuy nhiên, để tiềm nhập được an toàn, từ trong đánh ra, từ ngoài đánh vào không dễ chút nào. Bởi địch dùng nhiều lớp hàng rào dây thép gai bùng nhùng làm vật cản, trên các lớp hàng rào địch cài sẵn nhiều quả mìn vướng nổ, lính địch canh gác cẩn mật quanh khụ mắt thần suốt ngày đêm. Muốn vào được Trung tâm, phải băng qua một cánh đồng rộng và rất trống trải, chọn hướng nào để tiềm nhập. vào được để đánh mục tiêu? Điều đó  như một bài toán khó giải đối với chúng tôi, mặc dù mục tiêu đó đã được trinh sát nhiều lần, đặc điểm tình hình đã nắm vững. Sau khí nhận lệnh của cấp trên, Ban chỉ huy đại đội đặc công gồm có: tôi Lê Quốc Quang, Hoàng Thanh Nhi, Nguyên Văn Thắng, đã hạ quyết tâm đánh thắng địch theo phương án đã được chuẩn bị kỹ. Thiếu tá Nguyễn Xuân Tình (Anh hùng lực lượng vũ trang) – đoàn trưởng cùng các đồng chí Ban chỉ huy đoàn đã phê duyệt phương án và tăng cường cho 5 đồng chí biệt động nội thành để dẫn đường giúp đơn vị áp sát mục tiêu. Theo phương án phối hợp chiến đấu sẽ có một trung đội công binh của đơn vị bạn dùng thuyền chèo tay đưa đại đội đặc công vượt qua sông Vàm Cồ Đông. Song, khi thực thi thì trung đội công binh phải đi làm nhiệm vụ khác nên đại đội phải tự lực vượt sông rộng mênh mông bát ngát không nhìn rõ bờ bên kia. Làm thế nào để đưa 86 chiến sĩ qua sông an toàn tuyệt đối? Sông rộng, thuyền bè không có, mọi người đều phải mang theo ba lô, súng đạn nặng trĩu trên vai, trên lưng, lại có những chiến sĩ lại không biết bơi? Lúc đó là chiều 28-4-1975, chúng tôi đang băn khăn, lo lắng chưa biết cách giải quyết thế rào thì rất may, bỗng từ xa chúng tôi nghe thấy tiếng động cơ và nhìn thấy có một chiếc thuyền gắn máy KOLE đang chạy tới gần. Tôi giơ tay vẫy thuyền, đồng thời gọi rất to để người lái thuyền nghe rõ tín hiệu. Con thuyền chạy chậm lại và tiến sát vào bờ, trên thuyền có một phụ nữ khoảng gần 40 tuổi và một cháu gái chừng 15 tuổi, đó là hai mẹ con làm ăn lương thiện đang cho thuyền chạy dọc sông Vàm Cỏ Đông: Chúng tôi là bộ đội vào giải phóng Sài Gòn, muốn qua sông nhưng không có thuyền, nhờ chị giúp đỡ đưa hết anh em chiến sĩ sang sông. Nghe tôi nói như thế, chị vui lòng chấp nhận. Tôi cử hai đồng chí phó chỉ huy đại đội và một nửa số chiến sĩ lên thuyền đi chuyến 1 sang sông. Sang đến bờ bên kia đồng chí Thắng và anh em chờ chuyến 2, đồng chí Nhi theo thuyền sang bên này đón tôi và số quân còn lại. Thế là 2 chuyến chở quân qua sông Vàm Cỏ Đông an toàn dưới ánh trăng thanh mờ, gió mát. Tạm biệt chị chở thuyền, chúng tôi bày tỏ lòng cảm ơn, quên không kịp hỏi họ tên và địa chỉ của chị. Tôi hỏi chị có cần viết giấy chứng nhận gì công không, chị bảo khỏi cần giấy tờ gì hết, cũng chẳng phải tiền nong gì, chị đã giúp đỡ vô tư cho cách mạng. Nếu không có chị dùng thuyền đưa quân qua sông thì đại đội chúng tôi khó lòng hoàn thành được nhiệm vụ trên giao. Tập trung đủ quân an toàn, cả đại đội lặng lẽ tiếp tục hành quân bí mật đến mục tiêu. Hai giờ sáng ngày 29-4-1975 các hướng tấn công đã vào vị trí triển khai. Giờ nổ súng đã đến, bộc phá lệnh nổ, tiếp theo là những ánh chớp của thủ pháo do các chiến sĩ bên trong căn cứ  đánh ra liên tiếp nổ. Một số mũi khác chưa vào trong được chuyển cách đánh cường tập. Người trước nằm đè lên vật cản dây thép gai để người phía sau giẫm lên nhảy vào căn cứ tìm đến mục tiêu. Hỏa lực của địch bắn ra như mưa, các trận địa pháo tới tấp chi viện. Máy bay lên thẳng lượn nhiều vòng chiếu đèn pha để cố tìm ra chúng tôi. Sau 52 phút chiến đấu ác liệt, chúng tôi đã làm chủ trận địa, khẩn trương kiến thiết công sự chiến đấu tại chỗ. Địch tăng cường quân từ nội thành ra chi viện nhưng chúng chỉ dám dùng hỏa lực từ xa bắn vào hỏa lực của tạ. Hôm sau 30-4-1975, địch tổ chức nhiều đợt phản kích nhưng đều bị tiểu đoàn 13 đánh bật ra. Địch tăng cường dùng nhiều chiếc máy bay phản kích, ta dùng súng bộ binh bắn cháy 2 máy bay lên thẳng của chúng. Cuộc chiến đấu giằng co giữa ta và địch diễn ra ác liệt, mặc dù trên đài phát thanh lúc 11 giờ 30 phút, Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng Quân giải phóng, nhưng trận chiến đấu tại căn cứ này vẫn còn tiếp diễn thêm 30 phút nữa. Tự nhiên phía địch im tiếng súng. Ngay lúc đó trong thành phố có hai chiếc xe Zeep cắm cờ trắng tiến về phía chúng tôi. Đó là xe của tên đại tá chỉ huy trưởng xin gặp chỉ huy trưởng của ta để đầu hàng và nộp vũ khí cùng các phương tiện chiến tranh khác. Chỉ huy trưởng của ta chấp nhận sự đầu hàng của địch và yêu cầu chúng giải tán ngay đơn vị, cho binh sĩ trở về nhà họ. Bọn lính ngụy bỏ lại súng ống, mũ, giày, quần áo... Vứt tung tóe các thứ trên đường phố để bỏ chạy. Tin chiến thắng lan tỏa khắp nơi, nhân dân Sài Gòn reo mừng phấn khởi, gặp chúng tôi tay bắt, mặt mừng, niềm vui không kể xiết.
Tổng hành dinh ngày 30-4-1975
VÕ NGUYÊN GIÁP. Tổng hành dinh ngày 30-4-1975: Trích Hồi ức “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng” / Đại tướng Võ Nguyên Giáp; Phạm Chí Nhân thể hiện // Xưa nay. - 2000. - Số 74. - Tr.4-6.

LTS. Vào dịp kỷ niệm 25 năm ngày Giải phóng miền Nam (1975-2000), Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia sẽ cho ra mắt bạn đọc cuốn hồi ức Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Cách đây 5 năm, một số phần đầu tiên của cuốn hồi ức này đã được tác giả cho phép công bố trên tạp chí Xưa & Nay từ số tháng 7-1995 đến 9-1995. Nay nhân toàn bộ cuốn hồi ức sắp phát hành, được sự đồng ý của tác giả, chúng tôi xin trích một đoạn trong chương 9 mang tên “Chiến dịch Hồ Chí Minh”, đoạn viết về những động thái diễn ra tại Tổng hành dinh trong ngày 30 - 4 - 1975. Tên bài do X&N tạm đặt.
…Ngày 30-4-1975
Hai mươi lăm năm đã trôi qua mà ngày lịch sử ấy vẫn hiện lên đậm nét trong ký ức như mới hôm nào. “Nhà con rồng” hôm nay hình như rạng rỡ hơn trong gió xuân ấm áp. Ngôi nhà cổ, thềm sân rộng và cả bốn con rồng đá chầu bậc lên xuống như tươi tắn hơn mọi ngày. Những cây ngọc lan tán lá sum sê, toả hương thơm ngát.  Sớm hơn thường lệ, tôi ngồi vào bàn làm việc ở Sở chỉ huy. Trên tấm bản đồ ở mặt bàn, các mũi tên đỏ đã tiến vào trung tâm thành phố. Tôi phác họa trong đầu một chương trình cho ngày hôm ấy, với bao nhiêu công việc phải làm: hội ý Bộ Chính trị, nắm thêm phản ứng của Mỹ, dự kiến các hoạt động quân sự, chính trị trong trường hợp chưa dời điểm được ngay, chỉ đạo tác chiến và nổi dậy ở phần đất còn lại sau khi Sài Gòn giải phóng, điện động viên bộ đội, nhắc nhở chấp hành nghiêm các chính sách vào thành...
 Bất giác, tôi nhớ lại ngày toàn thắng ở Điện Biên Phủ, ngày 7-5-1954. Lẽ tất nhiên ở đây có rất nhíều điểm khác. Thế nhưng, cũng cái không khí phấn khởi sôi nổi ở Sở chỉ huy, cùng
những giờ phút náo nức đón tin vui từ phía trước điện về, những suy nghĩ về công việc ở cuối và sau chíến dịch... Và nhất là cũng cái cảm giác lâng lâng khó tả, vừa khẩn trương, sôi nổi, vừa đàng hoàng, chủ động, vừa lo lắng chờ đợi, vừa vui sướng tự hào, lúc này không còn là của riêng ai trong ngày toàn thắng của dân tộc.
 Anh Ba, anh Trường Chinh, anh Đồng cũng đến đây sớm hơn thường lệ. Các anh khác trong Bộ Chính trị lần lượt đến sau, đông đủ. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương họp theo dõi tình hình chiến trường Sài Gòn - Gia Định, thảo luận công việc và đón tin toàn thắng. Anh Cao Văn Khánh, trực ban ngày hôm ấy, túc trực tại phòng tác chiến, chốc chốc lại sang báo cáo anh hình mới nhất. Các mũi  nhanh về hướng trung tâm thành phố. Mục tiêu cuối cùng của chiến dịch đã tới gần, chỉ còn tính từng giờ. Tin đến thường cắt ngang cuộc họp, đang phát biểu phải dừng lại giữa chừng, nhưng mọi người đều.vui vẻ chấp nhận. : Anh Khánh báo cáo: Đại sứ Mỹ Ma tin chuồn khỏi Sài Gòn lúc 4 giờ 15 phút sáng. Hy vọng của ông ta thoả hiệp, đàm phán với Việt cộng tan vỡ như bọt xà phòng.
  Binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn II và cánh quân phía Đông của anh Lê Trọng Tấn đang vượt cầu xa lộ trên sông Đồng Nai, diệt ổ đề kháng của địch ở Thủ Đức, phía Bắc cầu Rạch Chiếc. Trận địa pháo của ta ở Nhơn Trạch đã bắn hơn 300 viên đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Các đơn vị đầu tiên đang tiến từ cầu Tân Cảng vào Sài Gòn: Quân đoàn IV tiến về Hố Nai. Địch liều mạng chống giữ. Ta tiêu diệt Hố Nai, đang tiến công sở chỉ huy Quân đoàn III ngụy, chuẩn bị tiến vào nội ô. Sư đoàn l0 Quân đoàn III đang tiến vào ngã tư Bảy Hiền. Quân đoàn I đánh vào Lai Khê, Phú Lộc, Lái Thiêu, đang tiến vào Gò Vấp; một cánh quân khác đánh địch  từ cầu Bình Triệu.
 Đoàn 232 đang tiến về hướng Biệt khu thủ đô và tổng Nha cảnh sát ngụy. Trên đường số 4, quân ta đã chiếm Thủ Thừa, thị xã Tân An. Trung đoàn l và trung đoàn 2 Gia Định áp sát Bắc sân bay Tân Sơn Nhất, mở hành lang vào ngã tư Bảy Hiền. Bộ đội đặc công chiếm giữ cầu Rạch Chiếc, cầu xa lộ Biên Hoà.  
Lực lượng vũ trang Biên Hoà phối hợp với bộ đội chủ lực giải phóng Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ.
Ở vùng ven đô và nội đô, nhân dân nổi dậy phối hợp với bộ đội tiến công địch. ở nhiều quận, nhiều phường, xóm, đồng bào vùng lên chiếm đồn bốt địch, trụ sở ngụy quyền. Cờ cách mạng đã tung bay ở phường Tây Nhì, quận Phú Nhuận từ trưa ngày 29-4. Một cảnh tượng điển hình của chiến tranh nhân dân Việt Nam diễn ra hết sức hào hùng. Tiến công kết hợp với nổi dậy. Quân sự, chính trị, binh vận, giáp công. Sức mạnh tổng hợp của cách mạng áp đảo ngụy quân, ngụy quyền đang tan rã. Trên hướng đồng bằng sông Cửu Long, các lực lượng vũ trang ta đã ém sẵn quanh các mục tiêu quan trọng. ở Bạc Liêu, quân ta đã vào thị xã. Ở Sóc Trăng, ta đang tiến công thị xã và sân bay. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương trao đổi về những công việc cấp thiết. Thay mặt Bộ Chính trị, tôi điện vào chiến trường: Ủy ban quân quản công bố ngay trên đài phát thanh mệnh lệnh đầu tiên. Nội dung:
 a/ Quân giải phóng tiến vào để giải phóng thành phố Sài Gòn - Gia Định hoàn thành công cuộc giải phóng miền Nam.
 b/ Quân đội ngụy quyền Sài Gòn phải lập tức hạ vũ khí đầu hàng.
c/ Tuyên bố giải tán chính quyền các cấp.
d/ Kêu gọi đồng bào đứng dậy, cùng Quân giải phóng đập tan mọi sự chống cự của địch,, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, hoàn thành công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam thân yêu.
Vừa theo dõi tin tức kỹ thuật của Cục 2, tôi vừa liên lạc bằng vô tuyến điện thoại tiếp sức (radio relai) với Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh. Các cánh quân của ta đang tiến rất nhanh. Địch đang trong tình trạng vô cùng nguy khốn. 10 giờ sáng 50 phút đồng chí Nguyễn Thanh, trưởng phòng 70 vào báo cáo tin vừa nhận được: Theo đài phát thanh Nhật Bản, Quân giải phóng miền Nam có xe tăng dẫn đầu đang tiến vào Sài Gòn. Mấy phút sau, có tin thêm: Dương Văn Minh đề nghị ngừng bắn để thương lượng. Mọi người cùng nói: “Chỉ có đầu hàng vô điều kiện. Còn gì đâu mà thương lượng?”. Tôi viết ngay một bức điện, lnh cho các cánh quân tiếp tục tiến công. Nội dung bức điện được đọc lên, tất cả đều nhất trí. Cùng lúc đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh cũng điện cho các quân đoàn và đoàn 232 không vì có tin ấy mà dừng lại.
Tiến vào Sài Gòn
LÊ NAM PHONG. Tiến vào Sài Gòn: Nhân kỷ niệm 28 năm ngày giải phóng miền Nam / Trung tướng Lê Nam Phong; Hoàng Minh Mẫn ghi // Cựu chiến binh Việt Nam. - 2003. - Số 144. - Tr.5.

Mờ sáng 30-4-1975 sau khi nhận được tin Lê Minh Đảo và toàn bộ sư đoàn 18 ngụy đã tháo chạy về bờ tây sông Đồng Nai; Tướng Hoàng Cầm, Tư lệnh Quân đoàn 4 liền lệnh cho Sư đoàn 7 chúng tôi hành tiến theo xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa vào Sài Gòn.
Tôi và anh Phan Liêm chính ủy Sư đoàn cùng ngồi trên một chiếc xe bọc thép tức khắc lách qua đoàn xe của Trung đoàn 141 vượt lên phía trước để tổ chức chỉ huy sư đoàn truy kích địch. Lúc đó chiếc T54 của Hoàng Cao Đại, đại đội trưởng đội 7 đang dẫn đầu đoàn xe của sư đoàn rầm rập tiến lên. Trong tiếng động cơ ầm vang của hàng ngàn xe các loại và tiếng bom đạn nổ liên tục rền vang, tôi phải nhô cao người hét lớn ra lệnh cho Hoàng Cao Đại:
- Đại đội 7 trướng cờ lên, dũng cảm, táo bạo tiến lên! Giờ lịch sử đã đến rồi.
Mệnh lệnh như tiếp thêm sức mạnh cho đoàn quân chiến thắng; lập tức đoàn xe tăng tốc nối đuôi nhau xông tới, dẫn đầu là chiếc xe “đất” vừa chiếm được của địch, trên xe có Phạm Xuân Huệ, chính trị viên và tiểu đoàn trưởng trinh sát cùng 20 chiến sĩ; ngay sau đó là xe của Nguyễn Việt Minh, trợ lý tác chiến sư đoàn và một số sĩ quan tham mưu; kế tiếp là đoàn xe tăng rồi đoàn xe cơ giới dài dằng dặc nối đuôi nhau hùng dũng tiến lên phía trước.
Trên đường tiến quân chúng tôi phải vượt qua hết chướng ngại vậy này đến chướng ngại vật khác mà quân thù đã dựng lên, thêm vào đó lại vô số xác xe địch bị quân ta bắn cháy nằm ngổn ngang giữa lòng đường. Vì vậy những chiếc tăng đầu đội hình tiến quân vừa phải dọn đường vừa phải dò mìn. Mặc dù vậy với hào khí “4.000 năm mang vào trận đánh hôm nay” quân ta vẫn dũng cảm đạp bằng hiểm nguy tiến vào sào huyệt cuối cùng của địch.
Vào giờ này Sài Gòn như trong cơn hoảng loạn, một bộ phận nhân dân do bị địch xuyên tạc, chưa hiểu biết nhiều về cách mạng nên đã chạy trốn, hàng ngàn xe các loại chở dân từ Sài Gòn chen chúc chạy ngược ra; hàng chục ngàn dân lẫn cả ngụy quân, ngụy quyền xô đẩy nhau hốt hoảng tháo chạy ngược hướng tiến lên của quân đội cách mạng; người, xe trên xa lộ chật như nêm: Bộ đội ta rầm rập tiến vào, nhân dân và ngụy quân ngụy quyền nháo nhác chạy ra.
Bỗng một chiếc xe chở dân bị nổ tung do vướng phải mìn của địch cài lại trước lúc tháo chạy, nhiều người chết ngay tại chỗ, số còn lại phần lớn bị trọng thương. Các chiến sĩ quân y sư đoàn lập tức lao vào cứu chữa cho dân trước  sự cảm phục và ngạc nhiên của những người sống sót.
Đoàn xe vẫn băng về phía trước, trước sự hãi hùng của hàng chục ngàn tàn quân ngụy với đủ loại sắc lính đang trên đường tháo chạy. Nhưng cũng trong đám tàn quân ấy có nhiều cánh tay giơ cao vẫy chào chúng tôi; nhiều gương mặt, ánh mắt, nụ cười tươi vui thiện cảm chào đón chúng tôi; đó đây còn có tiếng hò reo chào mừng:
“Hoan hô Quân giải phóng, cảm ơn Quân giải phóng”.
Khi đoàn xe tiến qua cầu Sài Gòn thì xúc động biết bao khi xuất hiện trước mắt chúng tôi một rừng cờ tổ quốc và cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đang phấp phới tung bay, vẫy chào đoàn quân giải phóng, hàng ngàn cánh tay giơ cao vẫy gọi, hàng ngàn nụ cười lóa sáng nhòa trong nước mắt mừng vui; nhiều cán bộ, chiến sĩ chúng tôi cũng nước mắt lưng tròng mừng mừng, lủi tủi. Từ trong khối quần chúng đông đảo ấy có nhiều tiếng reo vui: “Các anh giải phóng ơi! Dương Văn Minh đã đầu hàng rồi, các anh hãy dừng lại cho chúng tôi được ngắm nhìn các anh một chút, mấy mươi năm mới có ngày hôm nay mà....”.
Sư đoàn 7 chúng tôi không có vinh dự là người đầu tiên tiến vào “Dinh Độc Lập” nhưng Sài Gòn đã được giải phóng, giang sơn đã thu về một mối, đó là hạnh phúc lớn lao cho toàn dân tộc ta. Suốt 30 năm chúng tôi liên tục chiến đấu hy sinh cũng để có ngày hôm nay.
Tạm biệt bà con cô bác nơi cửa ngõ Sài Gòn, chúng tôi ào ạt tiến vào “Dinh Độc Lập” hội quân với các mũi liến công từ các hướng đổ về. Ở đây tôi gặp anh Bùi Thanh Vân, Sư đoàn trưởng - anh Vũ  Thược, Tham mưu trưởng sư đoàn 5, nhiều cán bộ, chiến sĩ đoàn 232; chúng tôi ôm chầm lấy nhau, mắt trào lệ hòa cùng niềm vui lớn của dân tộc.
Thông tin liên lạc trong Tổng tiến công mùa Xuân 1975
NGỌC PHÚC. Thông tin liên lạc trong Tổng tiến công mùa Xuân 1975: Sự kiện chính trị / Ngọc Phúc // Cựu chiến binh Việt Nam. - 2007. - Số 192. - Tr. 6, 9.

Thiếu tướng Hoàng Niệm, nguyên tư lệnh Bộ Tư lệnh thông tin liên lạc, gần như cả cuộc đời binh nghiệp gắn bó với bộ đội thông tin- liên lạc, trong đó gần 30 năm ở cương vị chỉ huy binh chủng (1960 - 1988). Từ ngày về hưu, cùng gia đình sống ở TP Hồ Chí Minh, mỗi năm hai ba lần ông ra Hà Nội. Dịp này ông đang ở Hà Nội, tôi đến trạm khách của Bộ tư lệnh tìm gặp ông. Đã ngoài tuổi 80 những vẫn khoẻ mạnh, giọng nói đầy sức thuyết phục, ông giúp tôi hình dung phần nào đóng góp của cán bộ và chiến sĩ Binh chủng giữ mạch máu thông tin liên lạc trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử:
- Hồi đó, đang dự một lớp tập huấn của Bộ đội thì tôi được lệnh của Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng nhận nhiệm vụ mới:Tổ chức một tổ thông tin liên lạc đi chuẩn bị cho chiến trường Tây Nguyên cùng với Phó tổng tham mưu trưởng Lê Ngọc Hiền. Chúng tôi mang 2 xe điện dài 15 W. Dọc đường bổ sung thêm 1tiểu đoàn tiềp sức tuyến Bắc - Nam, 1 tiểu đoàn thông tin của Đoàn 559 và trung đoàn thông tin của Bộ tư lệnh Tây Nguyên, thành lập bộ phận thông tin liên lạc phục vụ chiến dịch. Khó khăn lớn nhất cho công tác thông tin liên lạc là địa hình Tây Nguyên bị chia cắt bởi sông lớn, núi rừng bạt ngàn. Mặt khác, đây cũng là chiến dịch chiến đấu binh chủng hợp thành có nhiều đơn vị, nhiều binh chủng kỹ thuật tham gia, phối hợp nhiều lực lượng đánh địch trên nhiều địa hình phức tạp. Theo yêu cầu của Bộ Tư lệnh chiến dịch là phải đảm bảo liên lạc trực tiếp thông suốt đến các đơn vị, các mũi tiến công. Cán bộ và chến sĩ các đơn vị thông tin không quản ngại khó khăn, gian khổ trong việc vận chuyển thiết bị, lương thực, thực phẩm cho các trạm vô tuyến tiếp sức lên những đỉnh núi cao từ 1.000 đến 3.000 mét cũng như nhanh chóng cơ động theo yêu cầu của chiến trường. Trong chiến dịch này, cơ quan thông tin chiến dịch thực hiện kết quả nghi binh thông tin, góp phần đảm bảo tuyệt đối việc giữ bí mật ý đồ chiến dịch và ýđịnh chiến lược. Các máy vô tuyến 2W của sư đoàn 968 sử dụng quy ước đang dùng của các sư đoàn 10, sư đoàn 320. Nhờ đó thu hút sự chú ý của địch về phía Kon Tum, Plây Cu. Sau này tướng Mỹ Tim-uết cố vấn của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cay đắng kêu lên rằng: “Bằng phương pháp nghi binh qua làn sóng điện, Việt cộng đã thành công trong kế hoạch giam chân bộ phận chủ yếu của quân khu 2( quân đội Sài Gòn) ở Kon Tum và Plây Cu”.
Sau Chiến thắng Buôn Ma Thuột, ngày 2-4-1975, Sở chỉ huy tiền phương của Bộ di chuyển vào Lộc Ninh, thuộc chiến trường B2. Để phục vụ cho Chiến dịch Hồ Chí Minh, Bộ Tư lệnh thông tin liên lạc chiến dịch được thành lập do Chủ nhiệm thông tin B2 làm Chủ nhiệm, Hoàng Niệm làm Phó chủ nhiệm. Khó khăn của công tác thông tin chiến dịch tăng lên gấp bội là do lực lượng huy động vào chiến dịch rất lớn gồm nhiều binh đoàn, nhiều mũi tiến công thần tốc trong điều kiện xa T.Ư trên một quy mô rộng lớn cả thành thị và nông thôn, cả đồng bằng và rừng núi... bộ phận thông tin của Bộ Tư Lệnh thông tin liên lạc đảm nhiệm thông tin liên lạc chiến lược từ Bộ Chính trị, Quân ủy T.Ư đến Bộ Tư lệnh chiến dịch, thông tin liên lạc phạm vi ngắn do bộ phận thông tin liên lạc của B2, các binh đoàn, các mũi tiến công… đảm nhiệm. Do hợp đồng chặt chẽ, bám sát chiến sự từ các mũi tiến công, từ các binh đoàn, các quân binh chủng với tinh thần thần tốc quyết thắng nên đã góp phần quan trọng vào chiến thắng chung các chiến dịch Hồ Chí Minh. Tổng số lực lượng thông tin liên lạc trực thuộc Bộ Tư lệnh chiến dịch gồm 11 tiểu đoàn, trong đó có 3 tiểu đoàn vô tuyến điện, 5 tiểu đoàn hữu tuyến điện, 2 tiểu đoàn vô tuyến điện tiếp sức và vô tuyền điện sóng cực ngắn và l tiểu đoàn thông tin truyền đạt. 11 giờ ngày 24-4-1975, mệnh lệnh tiến công vào Sài Gòn của Bộ Chính trị và Quân uỷ T.Ư được đại đội 5 vô tuyến điện (thuộc tiểu đoàn đoàn 77 tổng trạm Bộ) chuyển kịp thời tới Bộ Tư lệnh Chiến Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ngày 26-4-1975 các hướng chiến dịch đã tập kết đúng địa điểm và thời gian quy định. Ngày 28-4-1975, bộ đội thông tin sở chỉ huy tiền phương Quân chủng Phòng không – không quân đã dẫn đường cho biên đội 5 máy bay A37 do Nguyễn Thành Trung phụ trách cất cánh từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang) ném bom sân bay t6an Sơn Nhất, làm kinh hoàng quân đội ngụy. Thông tin liên lạc thông suốt đảm bảo cho công tác chỉ huy chiến đấu từ Bộ chính trị, Quân uỷ T. Ư và Bộ tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh đến các mũi tiến công vào Sài Gòn. 10 giờ 30 phút ngày 30-4, cụm điện đài của Bộ chuyển cho 3 đài phục vụ trực tiếp Bộ tư lệnh Chiến dịch bức công điện của Bộ Chính trị và Quân uỷ T.U&, chỉ thị bắt Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền nguỵ Sài Gòn đầu hàng vô điều kiện. 11 giờ 30 phút, sau khi bộ đội ta cắm cờ lên nóc dinh Độc Lập, các chiến sĩ đài vô tuyến điện tiếp sức báo cáo ngay với Sở chỉ huy chiến dịch. Đồng chí Tư lệnh chiến dịch, Đại tướng Văn Tiến Dũng sử dụng máy bay điện thoại thoông qua tuyến trực vô tuyến điện tiếp sức Bắc - Nam báo cáo Bộ Chính trị và Quân uỷ T. Ư.
Kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh, 6 đơn vị và 9 cán bộ, chiến sĩ thông tin được tặng thưởng huân chương Chiến cộng các loại, 189 đồng chí được tặng Bằng khen, Giấy khen. Bộ Tư lệnh chiến dịch đánh giá: “Thông tin đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của chiến dịch...” Ngày 31-5-1976, Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc được Uỷ Ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước tuyên dương danh hiệu cao quý: Đơn vị Anh Hùng LLVTNN.
Vui câu chuyện tôi gợi để ông nhớ một kỷ niệm khó quên trong chiến dịch. Đắn đo mãi, ông thân tình kể:
- Thiếu Hoàng Dũng, nguyên chánh văn phòng BộTổng tham mưu, hồi đó là thư ký cho đồng chí Văn Tiến Dũng. Gặp tôi, anh hay nhắc đến chuyện: Sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột, BCH chiến dịch chuyển ngay vào Lộc Ninh. Trên đường cơ động Sở chỉ huy tiền phương của Bộ, trong lúc nghỉ trưa, đồng chí Hoàng Dũng nói với tôi:”Tư lệnh muốn trao đổi trực tiếp công việc ngay với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, anh có cách nào không?”. Ông nói giọng khẩn khoản đầy lo lắng: ''Gấp lắm rồi. Tôi lạy cậu đấy!”. Tôi hứa với anh là 15 phút nữa sẽ liên lạc đuợc.Tôi tổ chức một phiên liên lạc bằng vô tuyến tiếp sức khẩn cấp. Đúng 15 phút sau, Tổng tham mưu trưởng có ngay cuộc trao đổi trực tiếp với đại tướng Võ Nguyên Giáp về triển khai kế hoạch chiến dịch Hồ Chí Minh!”.
Kể xong ông cười đôn hậu…
Sống mãi cùng “Ký ức Tây Nguyên”
LÊ HẢI TRIỀU. Sống mãi cùng “Ký ức Tây Nguyên” / Lê Hải Triều // Quân đội nhân dân. - 2008. - Ngày 15 tháng 4. - Tr.8,7.

Lần đầu tiên tôi gặp Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp vào năm 1968 trong một lần tôi được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ. Tôi cùng với đoàn Dũng sĩ lên Mặt trận Tây Nguyên gặp ông. Chúng tôi được nghe rất nhiều về tài chỉ huy thao lược của ông, nhưng khi được gặp mặt tôi vẫn rất xúc động. Khác với hình dung của tôi. Đại tá Đặng Vũ Hiệp (lúc đó là Chủ nhiệm chính trị (Mặt trận Tây Nguyên) xuất hiện với dáng vẻ rất thư sinh, người cao dong với gương mặt thanh thoát. Ông nói chuyện với đoàn chúng tôi khoảng mười lăm phút. Tính ông sôi nổi, tình cảm, gần gũi như một người anh lớn đang dặn dò, chăm chút đến các em. Ông xóa dần khoảng cách của một người chỉ huy cao cấp với các chiến sĩ bằng những chuyện vui, pha trò hóm hỉnh, cách nói dí dỏm hài hước nhưng không kém phần sắc sảo thông minh. Không ai còn nhận ra đây là câu chuyện giữa người chỉ huy cấp cao của mặt trận với các chiến sĩ của mình mà như một cuộc gặp mặt thân tình của những người trong gia đình. Chỉ mười lăm phút thôi nhưng ấn tượng tốt đẹp về ông thì mãi mãi tôi không bao giờ quên và tình cảm gắn bó, duyên phận tôi và ông cũng bắt đầu từ đó. Sau này khi làm Biên tập viên tại Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, tôi được ông tin tưởng gửi gắm giao cho 40 cuốn sổ tay ông ghi liền mạch từ năm 1965 cho đến kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. 40 cuốn sổ ông ghi chép tỉ mỉ từng ngày những sự kiện, những công việc xảy ra trong 10 năm lăn lộn là chiến trường Tây Nguyên. Biết ông và cũng hiểu về ông phần nhiều nhưng cho đến khi tiếp cận trực tiếp những trang sổ tay và những kỷ niệm chiến tranh của ông tôi mới hiểu thêm về cuộc đời cũng như tâm tư, tình cảm của một vị tướng suốt đời phục vụ quân đội, phục vụ cách mạng. Tôi như gặp lại mình, gặp lại đồng đội một thời ở chiến trường Tây Nguyên trong mỗi trang nhật ký của ông. Tôi viết say sưa, viết nhanh, mê mải chỉ mong thể hiện được đầy đủ nhất quãng thời gian chiến đấu sôi động đó của ông và cũng là của thế hệ những người lính chúng tôi trong Ký ức Tây Nguyên bi tráng. Ông trải qua nhiều cương vị trong quân đội từ một chiến sĩ đến Thượng tướng Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị nên ông hiểu rõ tâm tư, tình cảm của anh em, đồng đội. ông là người giữ chức Chính ủy bộ tư lệnh tiền phương mặt trận Tây Nguyên trong một loạt chiến dịch Đắc Siêng, Đắc Tô Tân Cảnh và đặc biệt là chiến dịch PLây Me nổi tiếng đánh Sư đoàn ky binh không vận số 1 một đơn vị mạnh nhất của lục quân Mỹ ở Tây Nguyên vào tháng 11 năm 1965. Ông là một nhà chính trị tài ba, một nhà quân sự quyết đoán thì ai cũng biết, nhưng ít ai biết ông là một nhà văn hóa nhà lãnh đạo văn hóa sắc sảo của quân đội với những kiến thức rất sâu rộng. Ông biết nhiều ngoại ngữ, tiếng Nga và tiếng Pháp rất giỏi. Những ai đã có dịp tiếp xúc với ông đều nhận thấy ông là một người gần gũi, giản dị và rất chân thành. Ông là vị Tướng yêu thương từng người lính, đồng cam cộng khổ với họ, nhận được từ họ sự trân trọng, kính phục và mến yêu. Ông thuyết phục mọi người bằng lòng dũng cảm, tình yêu thương đối với người lính nơi trận mạc. Ông sinh hoạt cùng anh em, cùng hành quân trèo đèo, lội suối, cùng ăn với lính bữa cơm độn  sắn, độn ngô. Chế độ bồi dưỡng của người chỉ huy có khác hơn chăng ở mấy hộp sữa, cân đường. Nhưng bao giờ ông cũng dành đường, sữa cho anh em cấp dưới, Mỗi lần đến thăm đơn vị, thấy ai đau ốm, sốt rét hay vết thương nặng ông lấy cho anh em bồi dưỡng. Ông đích thân ra tận chốt ở Đắc Rơ Cót-Kon Tum năm 1973, nằm với chiến sĩ Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 28, cùng anh em bàn cách đánh địch giữ chốt. Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, kiên cường không chịu khuất phục trước mọi khó khăn, dũng cảm trước kẻ thù, nhưng lại bị suy sụp trước cái chết thương tâm của cô con gái mà ông hết mực thương yêu. Tôi đến an ủi ông bằng những ký ức về Tây Nguyên, về những tháng năm ông cùng chúng tôi cầm súng chiến đấu. Ông gắng gượng vượt qua nỗi đau. Nhưng sau đó, đến lượt tôi phải gánh chịu một nỗi đau quá sức tưởng tượng. Cậu con trai giỏi giang, thông minh và đẹp đẽ của tôi cũng ra đi vì căn bệnh ung thư quái ác ông lại an ủi, động viên tôi, cũng bằng những ký ức về Tây Nguyên, về tình đồng chí, đồng đội, về những chiến thắng mà ta đã giành được. Thật kỳ lạ, những điều đó đã giúp chúng tôi vượt qua phút giây đau thương và gắn bó với nhau hơn. Những người cả một thời tuổi trẻ trận mạc như chúng tôi phải tiễn đưa những đứa con trẻ dại thì không có nỗi đau nào bằng. Chúng tôi đã chiến đấu, đã đổ máu để các con được sống và học tập trong hòa bình. Vậy mà... Giờ tôi mới hiểu được nỗi đau xé ruột gan của ông vì mất đi người thân yêu nhất. Dựa vào bản lĩnh kiên cường của ông và vòng tay ấm áp của đồng đội, tôi đã không bị đổ gục sau những tháng ngày đau khổ đó. Tôi khâm phục sức chịu đựng phi thường của ông vì ông đã vượt qua đau thương, mất mát để tiếp tục hoạt động, làm việc vì đồng đội, chiến sĩ của mình. Ông là Chủ tịch Hội nạn nhân chất độc da cam đi-ô-xin Việt  Nam. Ông cùng anh em với những vết thương, di chứng của tội ác chiến tranh còn trên thân thể mình và con cháu mình đi đòi công lý. Việc làm gặp rất nhiều khó khăn nhưng ông vẫn quyết tâm làm vì ông biết phía sau ông là những người lính, những người dân, những bạn bè quốc tế đang hết lòng ủng hộ công việc cao cả của mình. Thế nhưng, trong những ngày đầu năm Mậu Tý này, sức khỏe của ông yếu lắm. Vẫn biết con người không thể thoát khỏi vòng sinh, lao, bệnh, tử nhưng chúng tôi -những đồng đội của ông, vẫn mong ông khỏe lại, tiếp tục cùng chúng tôi đấu tranh, đi đòi công lý giúp đỡ những người khó khăn. Sự có mặt của ông làm chúng tôi thêm quyết tâm, thêm tin tưởng vào sự tất thắng của công lý, công bằng và lẽ phải. Ông năm nay tròn tám mươi tuổi, cũng đã đến tuổi thượng thọ, sức khỏe sút nhiều so với mấy năm trước. Ông nằm trong bệnh viện với dáng vẻ hao gầy, xanh xao, im lặng, thở những hơi thở khó nhọc nhưng ánh mắt vẫn ánh lên niềm tin yêu cuộc sống. Tôi vào thăm ông, chỉ được để ngồi cạnh ông, ghi lại vào trong trí nhớ hình ảnh về một vị tướng nổi tiếng, nắm bàn tay xương xương một thời vạch lên những chiến lược chỉ huy tài tình, để cảm nhận được ông vẫn còn bên cạnh chúng tôi. Nhưng sự cố gắng của các y bác sĩ, của gia đình, đồng đội và của bản thân vị lão tướng lẫy lừng một thời đã không được đền đáp. Ông đã vĩnh viễn ra đi vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 11 tháng 4 năm 2008. Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp ơi. Ông ra đi đã để lại một khoảng trống không thể lấp đầy. Chúng tôi không còn được gặp ông để nghe những lời tâm tình, để cùng ông ôn lại kỷ niệm một thời đã qua, để được nhìn sâu vào đôi mắt cương nghị và quyết đoán của ông, để được ông tiếp thêm sức mạnh vào cuộc sống. Mong ông ra đi thanh thản. Những ký ức về ông sẽ sống mãi trong tâm trí chúng tôi.   
Những giờ phút lịch sử tại Tổng hành dinh
VÕ NGUYÊN GIÁP. Những giờ phút lịch sử tại Tổng hành dinh: Trích hồi ức “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp / Đại tướng Võ Nguyên Giáp // Cựu chiến binh Việt Nam. - 2001. - Số 122. - Tr.3.

Đêm 28-4-1975, một đêm thức trắng thức của cơ quan Tổng hành dinh. Các đồng chí trong Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cũng không ai ngủ được. Những người nắm được kế hoạch cụ thế của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đều cùng thức với chiến trường, đón giờ “G” của trận Tổng công kích vào Sài Gòn như đón phút giao thừa của lịch sử.
Sáng sớm hôm sau, Bộ Chinh trị và Quân ủy Trung ương họp tại Sở chỉ huy.
Một tấm bản đồ Sài Gòn-Gia Định trải rộng trên bàn. Các đồng chí lãnh đạo ngồi và đứng xung quanh, theo dõi tình hình chiến sự đang diễn biến.
Cơ quan tham mưu chiến lược phát huy hết mọi năng lực của bộ máy chỉ huy, theo dõi sự phát triển của cuộc Tổng công kích và nổi dậy từng phút, từng giờ. Anh Lê Hữu Đức kịp thời báo cáo những tin mới nhận được từ các nguồn khác nhau, không chậm hơn thực tiễn đang diễn ra ở chiến trường là mấy.
Các mũi tên đỏ được tô đậm thêm, kéo dài thêm, tiến về hướng nội đô. Những nét gạch chéo lần lượt đánh dấu các mục tiêu đã bị đánh chiếm. Hầu như mỗi giờ, mỗi khắc đều có tin mới đưa về. Nhiều chức sắc ngụy quân, ngụy quyền bỏ chạy ra nước ngoài, gồm nghị sĩ cựu thủ tướng, tổng tham mưu trưởng. Sài Gòn hỗn loạn. Quân địch như rắn mất đầu. Các nhân viên quân sự và dân sự Mỹ tháo chạy bằng máy bay lên thẳng từ sân thượng một số nhà cao tầng trong cuộc hành quân “Cơn lốc”. Dượng Văn Minh ra lệnh ngừng bắn, cử đại diện đến trại Đa-vít ở Tân Sơn Nhất xin gặp phái đoàn ta trong Ban liên hiệp đình chiến để “thương lượng”!. Không khí phấn khởi, sôi nổi, hào hùng bao trùm cuộc họp. Vừa nghe báo cáo vừa trao đổi ý kiến. Mỗi tin tức là một sự kiện, một tình huống, cần được xử trí kịp thời.
10 giờ, đồng chí Bí thư thứ nhất gửi một điện khẩn vào chiến:
“Các anh ra lệnh cho quân ta tiếp tục tiến công vào Sài Gòn theo kế hoạch, tiến quân với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ thành phố, tước vũ khí quân đội địch, giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống cự của chúng.
2 - Công bố đặt thành phố Sài Gòn - Gia Định dưới quyền của Ủy ban quan quản do tướng Trần Văn Trà làm Chủ tịch... Ký tên: Ba”.
Tin về dồn dập. Các cán bộ tác chiến, quân báo, thông tin; cơ yếu quên nghỉ, quên ăn. Đang làm việc cách Sài Gòn gần 2.000 km mà ai cũng thấy mình như đang ở ngay mặt trận cùng đồng đội, đồng bào tiến công và nổi dậy, góp sức giành toàn thắng.
Tối 29-4  
Tôi chủ trì buổi giao ban nghe đồng chí Cục trưởng Tác chiến báo cáo tổng hợp tình hình. Các cánh quân của ta trên năm hướng đã đồng loạt nổ súng, hiệp đồng chiến đấu, đánh chiếm các mục tiêu quan trọng chủ yếu, mở cửa thọc sâu vào trung tâm Sài Gòn.
Theo kế hoạch, 5 giờ 30 phút sáng 30-4-1975, các hướng đồng loạt đánh vào Sài Gòn. 
Riêng cánh quân phía đông, anh Lê Trọng Tấn đề nghị cho nổ súng trước từ 18 giờ ngày 29-4. Lý do là các lực lượng ta còn cách vùng ven từ 15 đến 20km, phải vừa đánh địch vừa tiến quân, lại phải vượt sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, nếu cùng nổ sung sẽ không đến kịp.
Điện của anh Tấn đến vào lúc nửa đêm. Cục Tác chiến đánh thức tôi dậy. Nửa giờ sau, tôl và anh Lê Hữu Đức tới nhà anh Ba.
Sau khi anh Đức đọc bức điện tôi đề nghị chuẩn y cho cánh quân phía đông đánh vào 18 giờ chiều ngày 29-4, sớm hơn giờ G mười hai tiếng.
Anh Ba đồng ý và nói:
-             Đánh, đánh, đánh thôi anh ạ! Lúc này, cánh quân nào phát triển thắng lợi là tạo thắng lợi chung cho toàn chiến dịch.
- Tôi hỏi: Điện ký tên anh chứ?
- Không! Anh là Tổng Tư lệnh, ký tên anh.
Một thoáng sau, anh Ba nói thêm: Ký thêm tên tôi cũng được, hoặc nói rõ đã trao đổi với anh Ba, và anh Ba nhất trí. Về tới Tổng hành dinh, tôi viết ngay điện trả lời anh Tấn, đồng điện cho anh Dũng. Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh cũng đồng ý để cánh quân phía đông nổ súng sớm hơn kế hoạch. 
Như vậy, trên thực tế từ 1 giờ ngày 29-4-1975, trận tiến công Sài Gòn-Gia Định đã bắt đầu.
Trời đã về khuya. Cục Quân báo vừa nắm được tình hình địch mới nhất. Anh Cao Văn Khánh điện gấp cho các chiến trường: “Có tin địch ra lệnh cho các tàu hải quân ở Cần Thơ, Đồng Tâm và Phú Quốc tập trung ở một địa điểm và một số tàu đổ bộ chuẩn bị đi sang đảo Guam. 78 máy bay của ngụy, đã chuyển đến U-ta- phao... Theo dõi xem tàu hải quân có chở bộ binh theo không và có kế hoạch đánh cho kịp”. Lại một đêm nữa, cả Tổng hành dinh cùng thức với chiến trường, vì miền Nam, vì cả nước.  
Ngày 30-4-1975
Hai mươi nhăm năm đã trôi qua, mà ngày lịch sử ấy vẫn hiện lên đậm nét trong ký ức, như mới hôm nào. 
“Nhà con rồng” hôm nay hình như rạng rỡ hơn trong gió xuân ấm áp. Ngôi nhà cổ, thềm sân rộng và cả bốn con rồng đá chầu ở bậc lên xuống như tươi tắn hơn mọi ngày. Những cây ngọc lan tán lá sum sê, tỏa hương thơm ngát.
Sớm hơn thường lệ, tôi ngồi vào bàn làm việc ở Sở chỉ huy. Trên tấm bản đồ ở mặt bàn, các mũi tên đỏ đã tiến vào trung tâm thành phố. Tôi phác họa trong đầu một chương trình cho ngày hôm ấy. Với bao nhiêu công việc phải làm: hội ý Bộ Chính trị, nắm thêm phản ứng của Mỹ, dự kiến các hoạt động quân sự, chính trị trong trường hợp chưa dứt điểm được ngay, chỉ đạo tác chiến và nổi dậy ở phần đất còn lại sau khi Sài Gòn giải phóng, điện động viên bộ đội, nhắc nhở chấp hành nghiêm các chính sách vào thành...
Bất giác, tôi nhớ lại ngày toàn thắng ở Điện Biên Phủ, ngày 7-5-1954. Lẽ tất nhiên ở đây có rất nhiều điểm khác. Thế nhưng, cũng cái không khí phấn khởi sôi nổi ở Sở Chỉ huy, cũng những giờ phút nao nức đón tin vui từ phía trước điện về, những suy nghĩ về công việc ở cuối và sau chiến dịch... Và nhất là cũng cái cảm giác lâng lâng khó tả, vừa khẩn trương, sôi nổi, vừa đàng hoàng, chủ động, vừa lo lắng chờ đợi, vừa vui sướng, tự hào, lúc này không còn là của riêng ai trong ngày toàn thắng của dân tộc.
Anh Ba, anh Trường Chinh, anh Đồng cũng đến đây sớm hơn thường lệ. Các anh khác trong Bộ Chính trị lần lượt đến sau, đông đủ. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp theo dõi tình hình chiến trường Sài Gòn-Gia Định, thảo luận công việc và đón tin toàn thắng. Anh Cao Văn Khánh trực ban ngày hôm ấy, túc trực tại phòng tác chiến, chốc chốc lại sang báo cáo tình hình mới nhất. Các mũi tiến công của quân ta phát triển rất nhanh về hướng trung tâm thành phố. Mục tiêu cuối cùng của chiến dịch đã tới gần, chỉ còn tính từng giờ. Tin đến thường cắt ngang cuộc họp, đang phát biểu phải dừng lại giữa chừng, nhưng mọi người đều vui vẻ chấp nhận. Anh Khánh báo cáo: Đại sứ Mỹ Ma-tin chuồn khỏi Sài Gòn lúc 4 giờ 15 phút sáng. Hy vọng của ông ta thỏa hiệp, đàm phán với “Việt cộng” tan vỡ như bọt xà phòng.
Binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn II trong cánh quân phía đông của anh Lê Trọng Tấn đang vượt cầu xa lộ trên sông Đồng Nai, diệt ổ đề kháng của địch ở Thủ Đức, phía bắc cầu Rạch Chiếc. Trận địa pháo của ta ở Nhơn Trạch đã bắt hơn 300 đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất.
Các đơn vị đầu tiên đang tiến từ cầu Tân Cảng vào Sài Gòn. Quân đoàn IV tiến về Hố Nai. Địch liều mạng chống giữ. Ta tiêu diệt Hố Nai, đang tiến công sở chỉ huy quân đoàn III ngụy, chuẩn bị tiến vào nội đô. Một cảnh tượng điển hình của chiến tranh nhân dân Việt Nam diễn ra hết sức hào hùng. Tiến công kết hợp với nổi dậy. Quân sự chính trị, binh vận giáp công. Sức mạnh tổng hợp của cách mạng áp đảo ngụy quân, ngụy  quyền đang tan rã.
Trên hướng đồng bằng sông Cửu Long, các lực lượng vũ trang ta đã ém sẳn, quanh các mục tiêu quan trọng. Ở Bạc Liêu, quân ta đã vào thị xã. Ở Sóc Trăng, ta đang tiến công thị xã và sân bay.
Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương trao đổi về những công việc cấp thiết. Thay mặt Bộ Chính trị, tôi điện vào chiến trường:
“Ủy ban quân quản công bố ngay trên đài phát thanh mệnh lệnh đầu tiên. Nội dung:
a) Quân giải phóng tiến vào để giải phóng thành phố Sài Gòn-Gia Định, hoàn thành công cuộc giải phóng miền Nam.
b) Quân đội ngụy quyền Sài Gòn phải lập tức hạ vũ khi đầu hàng,
c) Tuyên bố giải tán chính quyền các cấp.
d) Kêu gọi đồng bào đứng dậy, cùng Quân giải phóng đập tán mọi sự chống cự của địch, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, hoàn thành công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam thân yêu”. Vừa theo dõi tin kỹ thuật của Cục 2, tôi vừa liên lạc bằng vô tuyến điện thoại tiếp sức với Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh. Các cánh quân của ta đang tiến rất nhanh. Địch đang trong tình trạng vô cùng nguy khốn.
10 giờ sáng. Đồng chí Nguyễn Thanh. Trưởng phòng 70 vào báo cáo tin vừa nhận được: Theo đài phát thanh Nhật Bản, Quân giải phóng miền Nam có xe tăng dẫn đầu đang tiến vào Sài Gòn. Mấy phút sau, có tin thêm: Dương Văn  Minh đề nghị ngừng bắn để thương lượng.
Mọi người cùng nói: “Chỉ có đầu hàng vô điều kiện. Còn gì đâu mà thương lượng?!”.
Tôi viết ngay một bức điện, lệnh cho các cánh quân tiếp tục tiến công. Nội dung bức điện được đọc lên, tất cả đều nhất trí. Cùng lúc đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh cũng điện cho các quân đoàn và đoàn 232 không vì có tin ấy mà dừng lại.
10 giờ 50 phút. Cục 2 báo cáo Quân ta đã Vào dinh Tổng thống ngụy. Ngay sau đó, các đài phát thanh phương Tây cũng đưa tin này
11 giờ 30 phút. Đồng chí Nguyễn Duy Phê, Cục phó Cục Cơ yếu mang vào phòng họp một bức điện của anh Lê Trọng Tẩn báo cáo: Một đơn vị thuộc cánh quân phía đông đã cắm cờ lên dinh Độc lập.
Mọi người vây quanh tấm bản đồ chiến sự. Tin từ các hướng tới tấp điện về. Năm cánh quân của ta hợp điểm giữa Sài Gòn.Quân đoàn II chiếm dinh Tổng thống; Quân đoàn IV chiếm Bộ Quốc phòng, cảng Bạch Đằng và Đài phát thanh; Quân đoàn 1 chiếm Bộ Tổng tham mưu và khu vực các bộ tư lệ lệnh các binh chủng; Quân đoàn III chiếm sân bay Tân Sơn Nhất; Đoàn 232 chiếm Biệt khu thủ ôlô và Tổng nha cảnh sát. Kế hoạch tác chiến chiến dịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành thắng lợi.
Trong không khí hân hoan, hội nghị sôi nổi trao đổi về những biện pháp cuốn cùng. Tôi điện ngay vào chiến trường thông báo ý kiến của Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương:
“Có thể dùng Dương Văn Minh để kêu gọi các đơn vị của địch hạ vũ khí, nhưng không phải với tư cách Tổng thống mà với tư cách một người đã sang hàng ngũ nhân dân. Đã nhận tin ta cắm cờ lên Dinh Độc lập lúc 11 giờ. Các anh trong Bộ Chính trị rất vui, rất vui”
Bức điện gửi đi lúc 12 giờ 25 phút
Hội nghị ngừng họp.
Các đồng chí lãnh đạo ra cả ngoài hành lang. Tiếng cười nói rộn ràng, vui vẻ. Phấn khởi, nghẹn ngào, xúc động đến trào nhớ mắt.
Anh Ba, các anh trong Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, ai nấy đều nhớ đến Bác Hồ. Ước mơ nước nhà độc lập, thống nhất mà Bác hằng mong đã thành sự thật, nhưng Người đã đi xa! Đồng bào chiến sĩ miền Nam không còn được đón Bác vào thăm. Mọi người nghĩ đến biết bao đồng chí, đồng đội, đồng bào đã ngã xuống, không được thấy giờ phút khải hoàn. Ngay trong chiến dịch cuối cùng, bao nhiêu cán bộ, chiến sĩ đã vĩnh viễn ra đi trước ngày toàn thắng Tôi chỉ thị cho cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính trị điện ngay cho Việt Nam Thông tấn xã và Đài Tiếng nói Việt Nam kịp thời loan tin thắng lợi, và chuẩn bị viết thông cáo chiến thắng. Chỉ mười lăm phút sau, đài đã ngừng buổi phát thanh thường lệ, phát đi phát lại những dòng tin phấn khởi mà muôn vạn con tim Việt Nam đón đợi: Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Lẫn vào tiếng loa phóng thanh, tiếng reo hò, hoan hô chiến thắng vang dậy khắp phố phường.
Nhớ một thời "Xẻ dọc Trường Sơn"
MAI THẮNG. Nhớ một thời “Xẻ dọc Trường Sơn” / Mai Thắng, Hà Thuý // Quân đội Nhân dân. - 2005. - Ngày 7 tháng 4. - Tr.3.

Những mái đầu đã bạc, những tướng lĩnh, sĩ quan dạn dày trận mạc năm nào, nay gặp lại nhau tay bắt, nước mắt rưng tròng… Các ý kiến phát biểu trong cuộc gặp nhân chứng lịch sử Bộ đội Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh với Đại thắng mùa xuân vào ngày hôm qua (6-4) như được dồn nén từ cuộc chiến tranh khốc liệt, qua ba chục năm hòa bình tựa như lời tâm sự với đồng đội đang sống hôm nay và cả với người đã khuất… Không khí của buổi gặp mặt đã làm tái hiện khí thế hào hùng của một Trường Sơn huyền thoại, tuyến đường huyết mạch góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc…
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên ủy viên Bộ Chính trị, phó Thủ tướng Chính phủ, Tư lệnh Bộ đội đường Hồ Chí Minh vì công việc bận, không đến dự buổi gặp mặt, đã gửi bài phát biểu nhờ Thiếu tướng Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Bá Tòng, Phó tư lệnh bí Thư Đảng uỷ Binh đoàn Trường Sơn đọc giúp. Bài phát biểu khẳng định: Đường Hồ Chí Minh là “mạch máu chủ” nối liền mạng lưới giao thông vận tải hậu phương miền Bắc, mạng lưới giao thông vận tải chiến trường miền Nam và hai nước bạn trên bán đảo Đông Dương hợp thành một tuyến vận tải chi viện chiến lược. Để chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, Bộ đội Trường Sơn đã xây dựng thế trận cầu đường đa dạng, kỳ hình. Ta đã xây dựng và bảo đảm giao thông hơn 20 nghìn ki lo mét đường giao thông bao gồm cả đường vòng, đường tránh, đường kín, đường nghi binh, đường tiêu chuẩn Đông Trường Sơn, tạo cơ sở hạ tầng cho phát triển vận tải cơ giới.
Đại tá Trần Hữu Đạo, nguyên Trưởng phòng thông tin Binh đoàn Trường Sơn cán bộ thông tin Đoàn 559 nhớ lại thời điểm tết Nguyên đán Ất Mão năm 1975 khi đồng chí cùng đồng đội khẩn trương mắc đường dây trần “Thống nhất từ Quảng Bình vào chỉ huy sở tiền phương của Bộ đội Đường Hồ Chí Minh. Để giữ được bí mật mà vẫn liên lạc tốt phục vụ cho trung đoàn công binh 575 có nhiệm vụ sửa chữa khôi phục các đường 48, 50, mở trục dọc và hai nhánh 50C, 50D bí mật cho xe tăng tiếp cận Buôn Ma Thuột, thông tin Trường Sơn đã dùng loại dây bọc cực nhỏ (chuyên dùng cho đặc công, 1km nặng 2kg) để mắc từ cơ vụ B31 (Đắc Đam) đến sở chỉ huy trung đoàn. Khi trung đoàn di chuyển, thông tin kéo dây theo. Do vậy, ngày 4-3-1975, đường mở đến bản Kơ Lia-Chư Mơ Nga, cách Buôn Ma Thuột 20km mà địch không hề biết.
Thiếu tướng Đỗ Xuân Diễn, nguyên Cục phó Cục cầu đường Bộ đội đường Hồ Chí Minh kể lại thời khắc lịch sử, khi chúng ta đã kết thúc thắng lợi chiến dịch Tây Nguyên, thời cơ mới đã đến Bộ tư lệnh Bộ đội đường Hồ Chí Minh huy động lực lượng công binh thần tốc khôi phục cầu đường trên quốc lộ 1. Nhờ nhân dân giúp đỡ, bộ phận công binh Trường Sơn đã tận dụng ngay những thiết bị mà địch bỏ lại để khôi phục cầu, tạo điều kiện cho bộ đội ta hành quân như vũ bão tiến vào giải phóng Sài Gòn và các tỉnh phía Nam.
Thiếu tướng Võ Sở, nguyên Phó chủ nhiệm chính trị Bộ đội đường Hồ Chí Minh nhớ lại thời điểm sau khi nhận được điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp “Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa…”, cơ quan chính trị Bộ đội Trường Sơn đã nhanh chóng phổ biến tới các đơn vị và đến từng cán bộ, chiến sĩ. Nhiều chiến sĩ đã viết ngay mệnh lệnh đó trên kính xe, trên mũ nan và tại nơi làm việc, coi đó là mệnh lệnh phải thi hành. Cả Trường Sơn được huy động vào trận đánh sục sôi như ngày hội lớn.
Đại tá Phan Hữu Đại nguyên Chính ủy sư đoàn ô tô cơ động kể lại hai cuộc hành quân cơ động thần tốc hai binh đoàn bộ binh từ xa tiến vào Sài Gòn trên hướng Đông Trường Sơn và Duyên hải do sư đoàn 571 thực hiện. Đây có thể coi là cuộc cơ động thần tốc đại quy mô chưa từng có trong lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta cũng như trong lich sử chiến tranh thế giới. Cuộc cơ động thứ nhất ở hướng Đông Trường Sơn là sử dụng 1000 xe chuyển 3 sư đoàn bộ binh và Binh  đoàn bộ của Binh đoàn Quyết Thắng tiến từ Vĩnh Linh (Quảng Trị) đến Đồng Xoài cách sài Gòn 50km với quãng đường dài 1200 km xuyên rừng chỉ mất có 10 ngày, sớm hơn 6 ngày so với mệnh lệnh trên giao. Cuộc hành quân này nhanh chóng và bí mật đến mức ta đến sát nách mà địch không hay biết. Cuộc cơ động thứ hai là sử dụng gần 700 xe, chở hai sư đoàn bộ binh cùng cơ quan Binh đoàn bộ Binh đoàn Hương Giang xuất phát từ Đà Nẵng vào Xuân Lộc, cửa ngõ Sài Gòn trên quãng đường dài 900km. Vừa hành quân, vừa tác chiến tiêu diệt toàn bộ tuyến phòng thủ từ xa của địch từ hướng Duyên Hải. Hai cuộc hành quân thần tốc nói trên đã làm cho kẻ địch hoàn toàn bất ngờ, tạo điều kiện cho các cánh quân của ta nhanh chóng giải phóng Sài Gòn.
Chị Nguyễn Thị Thịnh, nguyên trung đội trưởng Trung đội thông tin thuộc tiểu đoàn 226, Sư đoàn 472 trên đường Trường Sơn giờ đây đã là Phó chủ tịch UBND huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây. Thế nhưng, khi nghe chúng tôi gợi chuyện chiến đấu thời chống Mỹ, chị vẫn không ghìm nổi những giọt nước mắt khi kể về sự hy sinh của đồng đội. Chị Thịnh nói rằng. Phần lớn các cựu chiến binh Trường Sơn, cựu thanh niên xung phong Trường Sơn đều đã sống những năm tháng còn lại của đời mình xứng đáng với những người ngã xuống trên chiến trường.
Đại tá Lương Sĩ Nhung, Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn - Tổng giám đốc tổng công ty xây dựng Trường Sơn thông báo với các nhân chứng lịch sử tại cuộc gặp mặt hai tin vui: Một là, Chính phủ và Bộ Quốc phòng đã đồng ý giao cho Binh đoàn Trường Sơn làm tổng thầu xây dựng lại đường Trường Sơn Đông huyền thoại với số vốn đầu tư khoảng 3500 tỷ đồng. Hai là, trong ngày 7-4-2005, Binh đoàn Trường Sơn sẽ bàn giao ki-lô-mét cuối cùng của đường Hồ Chí Minh, nhánh phía Tây (đoạn từ Khe Gát đi Tăng Ký), trong đó có nhiều đoạn trùng với đường Tây Trường Sơn lịch sử.
Cuộc gặp mặt kết thúc, nhưng trong ánh mắt của các nhân chứng lịch sử và những người chứng kiến vẫn như có một Trường Sơn hôm nay, với khí thế thi đua mới vẫn luôn có một con đường Trường Sơn huyền thoại là động lực để mỗi người vươn lên trong cuộc sống.
Người viết "Thông cáo số 1" của quân giải phóng
 Tại Bảo tàng Binh đoàn Hương Giang đang lưu giữ một kỷ vật rất có giá trị: “Thông cáo số 1” của Bộ Tư lệnh Quân giải phóng Sài Gòn – Chợ lớn”, được phát trên đài phát thanh Sài Gòn Giải phóng chiều 30/04/1975. Người viết bản “Quân lệnh số 1” khi đó là Đại tá Nguyễn Công Trang, Phó chính ủy Quân đoàn 2. Trải qua nhiều cương vị công tác, năm 1990 ông nghỉ hưu với quân hàm Thiếu tướng.
Tôi tìm đến gia đình ông tại Khu tập thể 16A, phố Lý Nam Đế, Hà Nội. Ở tuổi 87, vẫn khỏe mạnh, minh mẫn, Thiếu tướng Nguyễn Công Trang kể:
- Gần trưa 30-04-1975, các đồng chí trong Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 gồm: Thiếu tướng Tư lệnh Nguyễn Hữu An; Đại tá, Phó tư lệnh Hoàng Đan và tôi là Phó chính ủy quân đoàn cùng Thiếu tướng Nam Long, phái viên của Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh cùng những chiếc xe tăng đi đầu đội hình của Lữ đoàn xe tăng 203 tiến về Dinh Độc Lập. 11 giờ 30 phút trưa ngày 30-04-1975, lá cờ của quân giải phóng tung bay tại Phủ tổng thống Ngụy…
Tôi đưa Thiếu tướng Nguyễn Công Trang xem bản Photocopy “Thông cáo số 1…” do chính tay ông viết với nét chữ khá đẹp, có chữ ký của ông bên góc trái, phía dưới ghi thời điểm hoàn thành bản quân lệnh: 13 giờ 30 phút ngày 30-04-1975. Mở đầu bản quân lệnh ghi: “Quân giải phóng đã hoàn toàn làm chủ thành phố Sài Gòn lúc 11 giờ 30 phút. Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn Dương Văn Minh đã phải đầu hàng không điều kiện. Để bảo đảm trật tự an ninh, Bộ Tư lệnh Quân giải phóng Sài Gòn – Gia Định quy định…”. Thông cáo gồm 6 điều, trong đó có giai đoạn: “Nghiêm cấm mọi hành động phá rối trật tự trị an, mọi luận điệu chiến tranh tâm lý…; xâm phạm đến tính mạng, tài sản của nhân dân, của chính quyền cách mạng… Lệnh giới nghiêm trong thành phố từ 18 giờ đến 6 giờ sang…”.
Theo Thiếu tướng Nguyễn Công Trang, khi Quân đoàn 2 tiến vào giải phóng thành phố Đà Nẵng trưa 29-3-1975, do chưa có kinh nghiệm về quân quản, nên ngay chiều hôm đó, nhân dân vào phá kho gạo của quân đội Mỹ - Ngụy tại bán đảo Sơn Trà, lấy đi toàn bộ hàng hóa, lương thực trong kho. Rút kinh nghiệm từ sự việc đó, trước khi tiến vào giải phóng Sài Gòn, Bộ tư lệnh quân đoàn thống nhất phải tiến hành thiết quân luật, giới nghiêm thành phố trong đêm đầu tiên được giải phóng. Sau bữa cơm trưa đạm bạc với thịt hộp, rau muống khô (do anh em công vụ nấu ngay trong sân của dinh Thống Nhất) ông bắt tay ngay vào viết “Thông cáo số 1”. Được các đồng chí trong Bộ tư lệnh quân đoàn bổ sung, nhất trí thông qua, ông giao đồng chí Đệ cán bộ Phòng Tổ chức (Cục Chính trị quân đoàn) đưa đến đọc tại Đài phát thanh Sài Gòn giải phóng. Ngay chiều hôm đó, cứ 15 phút một lần, bản Quân lệnh số 1 liên tục được phát trên đài phát thanh. Từ 18 giờ chiều 30-4, xe thiết giáp bánh hơi của quân đoàn đi tuần tra suốt đêm, trên thiều tuyến phố.
Nhờ bản quân lệnh và những biện pháp kịp thời của Bộ tư lệnh Quân đoàn 2, nên thành phố Sài Gòn sầm uất, hoa lệ với rất nhiều của cải, tài sản, cơ sở sản xuất, kinh doanh và số đông tàn quân ngụy, nhưng không hề xảy ra cảnh lộn xộn, cướp phá, hôi của… Ban đêm, người dân thực hiện nghiêm lệnh giới nghiêm, chỉ lác đác có một số lính ngụy sợ hãi trút bỏ quân phục, mặc quần áo lót trở về nhà. Sài Gòn qua một đêm không ngủ, nhưng yên tĩnh, an ninh trật tự bảo đảm tốt. Hôm sau, Trung tướng Trần Văn Trà chính thức đảm nhận trọng trách Trưởng ban quân quản thành phố. Ngày 1-5-1975, thành phố Sài Gòn bước vào nhịp sống mới trong niềm vui đại thắng. 
1 - 10 Tiếp theo