Bỏ qua nội dung chính

30thang4

Tìm kiếm
Trang chủ
Tra cứu
Thư viện số
Thư viện Koha
Bộ sưu tập
Video
Sản phẩm thông tin
Quan tri CMs
  

Blogs khác
Không có khoản mục nào trong danh sách này.
Liên kết
Không có khoản mục nào trong danh sách này.

Thư viện Tỉnh Đồng Nai > trangtin > 30thang4 > Danh mục
Trò chuyện với người cầm quân mở “Cánh cửa thép” Xuân Lộc
PHAN HOÀNG. Trò chuyện với người cầm quân mở “Cánh cửa thép” Xuân Lộc / Phan Hoàng // Đồng Nai. - 2000. - Ngày 18 tháng 4. - Tr.4

Thưa Thượng tướng Hoàng Cầm, là người trực tiếp thành lập và chỉ huy cao nhất của Quân đoàn 4, quân đoàn chủ lực đầu tiên của quân giải phóng miền Nam, xin Thượng tướng cho biết vài nét về quân đoàn này?
- Sau một thời gian vào B2, tôi được lệnh xây dựng Sư đoàn 9 chủ lực đầu tiên của Quân giải phóng miền Nam. Đây là sư đoàn đàn anh trong cuộc đối đầu với quân Mỹ, về sau được tuyên dương đơn vị anh hùng. Tôi là sư đoàn trưởng, còn anh Lê Văn Tưởng là chính ủy đầu tiên. Sau đó, tôi được cử làm phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Miền. Bấy giờ anh Trần Văn Trà là tư lệnh thay anh Hoàng Văn Thái. Tôi nhận lệnh thành lập Quân đoàn 4 vào ngày 20 tháng 7 năm 1974, từ hai sư đoàn chủ lực là sư đoàn và Sư đoàn 9 cùng một số tiểu đoàn binh chủng độc lập. Tôi được phân công làm tư lệnh, anh Bùi Cát Vũ - phó tư lệnh, anh Hoàng Nghĩa Khánh - tham mưu trưởng, anh Ba Vinh phụ trách hậu cần. Đến chiến dịch Hồ Chí Minh, anh Hoàng Thế Thiện về làm chính ủy. Khi sang Campuchia thì tôi là tư lệnh kiêm chính ủy.
* Vai trò Quân đoàn 4 được xác lập ra sao?
- Ngay từ khi thành lập, Quân đoàn 4 đã được giao hai nhiệm vụ chính. Thứ nhất, quân đoàn là đơn vị chủ lực của B2 (từ khu 6 trở vào), có nhiệm vụ giải phóng các đô thị lớn, nhất là Sài Gòn, hỗ trợ du kích chiến tranh, xây dựng cơ sở. Thứ hai, đây là đơn vị cơ động của vùng nam Đông Dương; chính vì vậy mà năm 1979 Quân đoàn 4 mới đi tiên phong tiến vào giải phóng Phnôm Pênh.
Sau khi thành lập, vào ngày 12 tháng 12 năm 1974, Quân đoàn 4 tiến hành đánh chiếm và giải phóng toàn bộ tỉnh Phước Long. Đây là trận đánh rất có ý nghĩa chiến lược,vì qua đó, ta biết được tình hình mạnh yếu của địch, cũng như thấy được thời cơ đã đến mà trung ương đề ra sách lược mới. Tiếp theo đó, Quân đoàn 4 tiến đánh Bình Long qua phía bắc Tây Ninh, Dàu Tiếng, Chơn Thành; đánh từ Mỏ Vẹt đến La Ngà qua Hoài Đức Tánh Linh, Bà Rịa để hình thành bàn đạp bao vây Sài Gòn từ nhiều hướng. Sau chiến thắng Dầu Tiếng tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 9 được lệnh tách khỏi Quân đoàn 4 chuyển về làm lực lượng nòng cốt cho đoàn 232 chiến đấu phía tây nam Sài Gòn. Bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh, phiên chế Quân đoàn 4 có ba sư chủ lực là Sư đoàn 7, Sư đoàn 341 và Sư đoàn 6 được thành lập từ hai trung đoàn chủ lực của quân khu 7.
* Trận đánh Xuân Lộc nổi tiếng của Quân đoàn 41 theo Thượng tướng, có vai trò như thế nào trong toàn bộ chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử?
- Trận Xuân Lộc kéo dài mười hai ngày, từ 9 tháng 4 đến 21 tháng 4 năm 1975 là trận đánh mở đầu cho chiến dịch và là trận lớn nhất, quyết liệt nhất, quan trọng nhất trong toàn bộ chiến dịch. Thứ nhất, địch mất quân khu 1 và quân khu 2 nên dồn quân về đây. Thứ hai, Đại tướng Weyand, tham mưu trưởng Lục quân Mỹ và là cựu tổng tư lệnh quân Mỹ ở Đông Dương; được lệnh Nhà Trắng bay sang lập phòng tuyến cố thủ Sài Gòn, xem Xuân Lộc là “cánh cửa thép”, lá chắn cuối cùng để tìm một giải pháp chính trị. Mất Xuân Lộc là mất tất cả. Do đó, sau khi Xuân Lộc bị quân ta chiếm thì tướng Weyand liền lên máy bay chuồn về Mỹ, kéo theo tướng tá chế độ Sài Gòn bỏ chạy, tổng tham mưu trưởng chạy, tổng thống chạy,... Sau Xuân Lộc, Quân đoàn 4 tiếp tục đánh chiếm Trảng Bom, Hố Nai, Biên Hòa, Sở chỉ huy Quân đoàn 3 của ngụy, sân bay Biên Hòa; rồi tiến thẳng vào Sài Gòn đánh chiếm bộ quốc phòng, dinh Gia Long, bộ tư lệnh hải quân, kho xăng Nhà Bè...
* Thượng tướng mặt tại dinh Độc Lập vào lúc nào?
- 13 giờ 30 ngày 30-4-1975. Trước đó, 12 giờ 30, Đại đội anh hùng của Sư đoàn 7 do Chính trị viên Hoàng Cao Đại chỉ huy với bốn xe tăng dẫn đầu đã tiến vào dinh Độc Lập. Khi tôi vào, được biết Dương Văn Minh cùng nội các của ông ta từ sáng sớm đến lúc ấy vẫn chưa ăn uống gì. Tất nhiên, họ sợ hãi không dám ngỏ lời. Tôi liền bảo họ: Các ông có thể nhờ người nhà đưa cơm nước và đồ cá nhân cần dùng tới, chứ đói sao chịu nổi... Và đêm ấy, tôi cùng anh em binh lính nằm ngay trên hiên dinh Độc Lập nghỉ ngơi. Dù đang đói ngủ nhưng tôi không tài nào chợp mắt được. Đã nằm trong dinh Độc Lập rồi mà tôi cứ ngỡ mình đang mơ!
* Thưa Thượng tướng, có ý kiến cho rằng việc đầu hàng vô điều kiện của Tổng thống Dương Văn Minh là hành động có lợi cho đất nước, cho cách mạng. Thượng tướng nghĩ sao?
Việc Dương Văn Minh lên làm tổng thống chế độ Sài Gòn là con bài cuối cùng của Mỹ nhằm cản bước tiến quân ta, tìm một giải pháp chính trị có lợi cho chúng. Theo tôi, hành động đầu hàng của Dương Văn Minh là việc phải làm, không thể khác được khi quân ta đã tiến đến nơi.
* Theo Thượng tướng, đều gi tạo nên sức mạnh quyết định để quân đội ta chiến thắng?
- Đó là đường lối chính trị đúng đắn. Ngoài ra, ta còn hơn đối phương về nghệ thuật chiến tranh.
Trận đánh sau cùng của những người lính đặc công
NGUYỄN QUỐC HOÀN. Trận đánh sau cùng của những người lính đặc công / Nguyễn Quốc Hoàn // Đồng Nai. - 2008. - Ngày 29 tháng 4. - Tr. 8

Rạng sáng ngày 28-4-1975, đại đội 14 cùng đại đội 8 tiểu đoàn 174, thuộc trung đoàn đặc công 113 được giao nhiệm vụ triển khai đội hình chặn địch từ Sóng Thần, Thủ Đức chi viện cho thị xã Biên Hòa, đồng thời ngăn chặn lực luợng lớn binh lính ngụy bị thất thủ từ Xuân Lộc, Trảng Bom... tháo chạy về Sài Gòn theo ngã xa lộ Đại Hàn. Lúc này do phòng tuyến vòng ngoài bị đập nát, địch tan tác như ong vỡ tổ, xe tăng, pháo binh kêu theo cả quân lính tháo chạy. Trên trời, máy bay trực thăng quần thảo như chuồn chuồn, xả súng bừa bãi đề dọn đuờng cho bọn lính tháo chạy.Thế nên trận địa đơn vị bị nằm giữa tâm bão.
Cựu binh Nguyễn Văn Chương (nay là giáo viên cấp 3 truờng Nguyễn Trãi, TP.Biên Hòa) nhớ lại:
“Từ sáng 28-4, tôi cùng đồng đội gồng mình chịu những trận mưa pháo và đủ loại hỏa lực của địch, kể cả từng đàn máy bay vũ trang vãi đạn như mưa rào. Cánh lính đặc công len lỏi từng mô đất, bức tuờng nhà dân để tránh đạn, quyết sinh tử với 10 giặc để bảo vệ cầu Gành và cầu Mới (Hóa An) chuẩn bị cho đại quân ta tiến về Sài Gòn như mệnh lệnh. Mỗi khi tạm yên tiếng súng, nhìn qua ngó lại chỉ còn mình là nguyên vẹn,  nhưng mặt mũi đen nhẻm vì thuốc súng, tai ù đặc, chỉ nói bằng cách ra hiệu nhưng đau đớn hơn là đồng đội chẳng còn ai, tôi gào khóc đi tìm và gặp một số chiến hữu đều nằm bất động. Có người mắt còn mở như muốn nhắn gởi điều chi mà chưa kịp nói. Cựu binh Nguyễn Xuân Giao lúc đó là trung đội phó trinh sát tiểu đoàn 23 kể: “Đại đội 1 của tiểu đoàn 23 đặc công nước được tăng cuờng cho trung đoàn 113 để đánh các mục tiêu ở triền sông, bến cảng và giữ cầu. Lúc xuất quân có 23 cán bộ, chiến sĩ nhưng đến chiều 29-4 chỉ còn lại hai người là Trần Văn Bột và Vũ Đức Ninh. Trong số 21 đồng đội hy sinh ở khu vực cầu Gành, có những người đã bị nước cuốn trôi. Tôi còn sống cũng là chuyện rất hy hữu. Lúc lâm trận, tôi đang ở căn hầm dã chiến, bỗng nhiên được đồng chí Nguyễn Minh Dị - chính trị viên tiểu đoàn truyền đạt mệnh lệnh:  Đồng chí Xuân Giao có nhiệm vụ thay thế vị trí tiểu đoàn trưởng cùng tôi chỉ huy bộ đội chiến đấu, giữ vững trận địa đến cùng!” Tôi chỉ kịp nói: “Rõ!” và nhảy vọt lên khỏi công sự tức thì một quả đạn cối 81 ly của địch rơi xuống hầm, y tá Trữ và liên lạc Thông hy sinh tại chỗ. Trong lúc trận địa đang rền vang tiếng súng, trên hai chục thương binh được đưa về trạm phẫu đang được cấp cứu mà y tá, y sĩ đều đã hy sinh và cần được bảo vệ, không để địch giết hại hoặc bắt sống. Tôi  tổ chức lại lực lượng và kéo khẩu súng 12,7 ly hỏa lực chính lúc này lại gần hơn để đề phòng địch tràn lên.Và tìm vị trí cách đó tầm thước để quan sát bao quát trận địa. Đi theo tôi chỉ có vài ba tay súng lúc ấy một xe tăng M41 của địch lù lù trườn tới. Cậu xạ thủ B40 lựa thế dương súng kịp bắn, thi một trái đạn M79 đã trúng ngay giữa ngực chóng cướp đi mạng sống người lính trẻ. Truớc tình huống bất ngờ này tôi lăn máy vòng chộp lấy khẩu súng B40 là phóng quả đạn vào đúng chỗ hiểm yếu nhất của xe tăng. Nó bùng cháy như một bó thuốc rụi, thiêu rụi cả bọn lính trong xe, loại trừ được mấy chục hiểm họa cho mấy chục thương binh đang bị địch đe dọa. Và giữa lúc mặt đất còn nồng nặc mùi thuốc súng, bọn giặc tràn qua trận địa để tìm đường về Sài Gòn đang trong cơn hấp hối, trời bỗng tối sầm lại và đổ cơn mưa lớn, kéo dài cho tới sầm tối. Nhờ cơn mưa cứu nguy này mà đơn vị được lực lượng tiếp viện lên giải quyết thương binh về tuyến sau”.
Như vậy là trong trận đánh sau cùng ấy, trước ngày toàn thắng 30-4-1975 lịch sử đã có 53 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn đặc công 113 oanh liệt hy sinh. Đó là chưa kể nhiều đồng chí thương tích đầy mình, đến nay vẫn còn để lại di chứng trên cơ thể.
Trảng Bom những trận đánh quan trọng trong chiến dịch Hồ Chí Minh
VŨ CAO. Trảng Bom những trận đánh quan trọng trong chiến dịch Hồ Chí Minh / Vũ Cao // Xưa nay. - 2000. - Số 74. - Tr. 7-8

Một tháng liên tục tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, quân và dân ta đã giành thắng lợi cực kỳ to lớn qua hai chiến dịch: Chiến dịch Tây Nguyên và Chiến dịch Huế - Đà Nẵng, đập tan toàn bộ hệ thống chính quyền ngụy ở hai quân khu 1,2, giải phóng một dải đất rộng lớn gồm 16 tỉnh, 5 thành phố Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang, Đà Lạt...
Thời cơ chiến lược lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước đã đến... Ngày 14-4 phiên họp lịch sử của Bộ Chính trị hạ quyết tâm mở cuộc Tổng tiến công chiến lược mang tên Bác Hồ.
Về phía địch, sau khi mất quân khu 1 và quân khu 2, chúng thu gom tàn quân khôi phục một số sư đoàn đã bị tan rã, điều chỉnh kế hoạch tổ chức bố trí phòng ngự để cố giữ địa bàn còn lại ở Cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ (thuộc quân khu 3 và quân khu 4) mong trì hoãn cuộc tiến công của ta cho đến mùa mưa.
Dân ở Sài Gòn - Gia Định có trên 3 triệu và gần 1 triệu dân số các tỉnh miền trung, Tây Nguyên chạy về gây lộn xộn mất trật tự ở nội đô.
Ngày 22-4-1975, thế trận Tổng tiến công và nổi dậy của trận quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn Gia Định đã hình thành:
Trên hướng Đông, quân đoàn 4 ta áp sát chi khu quân sự Trảng Bom, quân đoàn 2 áp sát chi khu quân sự Long Thành; các đơn vị đặc công: đoàn 10, đoàn 116, đoàn 113, đoàn 115, đoàn 117 đã “ém sẵn” sẵn sàng đánh chiếm các mục tiêu trên đường quốc lộ 1 và nội thành.
Trên hướng Bắc: quân đoàn 1 áp sát phía Bắc Thủ Dầu Một.
Trên hướng Tây Bắc, quân đoàn 3, làm chủ đường 22, đường số 1 áp sát Đồng Dù...
Trên hướng Tây, binh đoàn 232, sư đoàn 9, các trung đoàn độc lập 24, 88 đã áp sát Lộc Giang và phía nam quận 8 Sài Gòn... 
Hướng Đông tiêu diệt Trảng Bom.
Trước nguy cơ bị tiêu diệt, đêm 20-4, sư đoàn 18 và toàn bộ lực lượng địch ở Xuân Lộc tháo chạy, trên đường chạy bị quân ta truy đánh bỏ lại toàn bộ xe, pháo, kho tàng để về Trảng Bom, Long Bình, Biên Hoà, lập tuyến phòng thủ án ngự đường số 1, đường số 15 bảo vệ Biên Hoà - Sài  Gòn. Trung tướng Nguyễn Văn Toàn Tư lệnh quân khu 3 nguỵ lệnh cho chuẩn tướng Lê Minh Đảo, sư đoàn trưởng sư đoàn 18 cùng các bộ phận được tăng cường cố thủ Xuân Lộc gồm lữ 3 kỵ binh, các liên đoàn biệt động của quân khu 3, một trung đoàn của sư đoàn 5 tăng cường và 7 đơn vị pháo binh, vừa tháo chạy về, tinh thần hoang mang, tổ chức, trang bị xộc xệch chưa được bổ sung củng cố đã phải lập tuyến phòng thủ tại chi khu Trảng Bom án ngữ đường số 1:  
Sư đoàn 18, được tăng cường trung đoàn 5 thiết giáp, 7 trận địa pháo binh phòng ngự đường số 1 tại khu vực Bầu Cá, Trang Bom, suối Đỉa.
- Lữ đoàn 3 thiết giáp, biệt động quân phòng ngự khu vực: Hố Nai, Tam Điệp, Biên Hoà…
 - Lữ đoàn 258 thuỷ quân lục chiến phòng ngự đường 15, từ căn cứ Nước Trong, chi khu Long Thành.
- Lữ đoàn 468 thuỷ quân lục chiến phòng ngự Đông Nam Biên Hoà.
“Cánh cửa thép” Xuân Lộc, cửa ngõ Sài Gòn, bị vỡ làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ còn lại của địch ở xung quanh Sài Gòn - Gia Định. Tinh thần chiến đấu của quân ngụy đã hoang mang càng suy sụp.
Thời cơ chiến lược đã đến, đêm 21-4, Bộ chỉ huy chiến dịch giao nhiệm vụ cho tư lệnh quân đoàn 4: Đánh chiếm Trảng Bom, Biên Hoà, tiến vào Sài Gòn theo trục đường bộ. Hướng đường 15 và đường xa lộ Biên Hoà - Sài Gòn giao cho quân đoàn 2, chú ý hiệp đồng!...
Ngày 22-4-1975, Thiếu tướng Hoàng Cầm – Tư lệnh quân đoàn 4 của ta và Thiếu tướng Chính uỷ Hoàng Thế Thiện nhận định tình hình và giao nhiệm vụ cho các tư lệnh sư đoàn:
Tập trung ưu thế binh lực, hoá lực, phát huy sức mạnh đột kích của xe tăng - thiết giáp nhanh chóng đập tan tuyến phòng thủ Trảng Bom, Biên Hoà.
Sử dụng sư đoàn 341, được tăng cường một tiểu đoàn xe tăng, một tiểu đoàn cao xạ và một đại đội pháo binh, đánh chiếm Trảng Bom, mở đường số 1, tiếp theo đánh chiếm sở chỉ huy sư đoàn 3 không quân, và chiếm sân bay Biên Hoà.
- Sư đoàn 6, quân khu 7 do quân đoàn chỉ huy đánh chiếm căn cứ quân đoàn 3 ngụy và tiểu khu Biên Hoà.
- Sư đoàn 341, sư đoàn 6 hoàn thành mở cửa lớn cho quân đoàn và lực lượng của Bộ tiến vào Sài Gòn, giữ những khu vực được giao, nhanh chóng xốc lực lượng làm dự bị cho quân đoàn sẵn sàng tấn công Sài Gòn Gia Định. 
- Sư đoàn 7, được tăng cường 2 tiểu đoàn xe tăng và ô tô cơ giới thọc thẳng vào Sài Gòn theo trục đường số 1 qua núi Châu Thới -Thủ Đức, chiếm các mục tiêu quận 1, Dinh Độc lập.
Sư đoàn 9, đoàn 232 tíến vào Sài Gòn theo hướng Tây Nam đánh chiếm biệt khu Thủ đô...
Ngày 23-24 tháng 4, sư đoàn trưởng Trần Văn Trân - chính uỷ Trần Nguyên Độ nhận lệnh của quân đoàn, nhanh chóng tổ chức trinh sát thực địa, phổ biến quyết tâm và giao nhiệm vụ, tổ chức hiệp đồng các lực lượng sư đoàn:
Tư tưởng chỉ đạo của lực lượng tiến công là:
- Tập trung lực lượng trên hướng chủ yếu, đánh lục tiêu chủ yếu (sở chỉ huy sư đoàn, trung, lữ đoàn địch).
- Thọc sâu bao vây, chia cắt nhanh, tiêu diệt từng bộ phận, tiến lên tiêu diệt toàn bộ quân địch.
- Tiến công liên tục, “thần tốc” đánh cả ngày lẫn đêm.
Trên phương án đó các đơn vị được phân công nhiệm vụ như sau:
 - eBB2: được tăng cường 2 đại đội xe tăng, 2 khẩu pháo 85 ly, 2 khẩu pháo cối 120 ly. Có nhiệm vụ tiến công trên các hướng chủ yếu của sư đoàn vào mục tiêu chủ yếu (sở chỉ huy đoàn trung đoàn, yếu khu địch). Bao vây chia cắt địch ở suối Đỉa không cho địch rút chạy về Hố Nai-Biên Hoà.
- eBB1: được tăng cường 2 khẩu pháo 85 ly, 2 khẩu pháo cối 120 ly, có nhiệm vụ tiến công trên các hướng thứ yếu tiêu diệt sở chỉ huy trung đoàn 48, phối hợp với tiểu đoàn bộ binh 8/eBB3 tiêu diệt quân địch ở Bầu Cá.
- dBB8/eBB3 được tăng cường một đại đội xe tăng có nhiệm vụ tiến công vu hồi theo trục đường quốc lộ 1 từ ấp Đông Nghĩa vào Đông Trảng Bom và phối hợp với eBB 1 tiêu diệt sở chỉ huy e48 địch.
- EBB3 (-d8) làm nhiệm vụ dự bị của sư đoàn sẵn sàng vào chiến đấu trên hướng eBB2, nếu cBB2 tiến công thuận lợi, eBB3 (-d8) được chuyển thuộc xe tăng phát triển tiến công Biên Hoà.
- eBB4 (+ lực lượng tăng cường) bố trí thành cụm pháo binh chi viện đội hình chiến đấu của sư đoàn, tập trung trên hướng chủ yếu, mục tiêu chủ yếu Trảng Bom, trận địa pháo binh địch, suối Đỉa, chi viện suốt quá trình chiến đấu của sư đoàn.
Ngày 25-26 tháng 4, các trung đoàn, binh chủng lực lượng địa phương tổ chức hiệp đồng, chiếm lĩnh trận địa...
17 giờ ngày 26-4-1975, trên toàn mặt trận, cuộc tổng tiến công chiến lược chiến dịch mang tên Hồ Chí Minh bắt đầu: Trên hướng Đông, sư đoàn 341, quân đoàn 4, tổ chức chỉ huy các hướng, mũi chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công, trận địa bao vây chia cắt địch:
0 giờ 5 phút ngày 27-4-1975, pháo binh bắn chuẩn bị vào các mục tiêu theo kế hoạch. Pháo binh bắn chính xác, những loạt đạn đầu đã tiêu diệt nhiều địch, thông tin, hệ thống chỉ huy bị tê liệt, các trận địa pháo binh của địch bị chế áp bất ngờ không kịp phản ứng; Sau l5 phút hoả lực chuẩn bị, các hướng báo cáo về sở chỉ huy chưa mở cửa xong, tư lệnh sư đoàn lệnh cho pháo binh bắn chế áp thêm 15 phút tạo điều kiện cho xe tăng, bộ binh mở cửa và phát triển tiến công - nhanh chóng tạo thành các múi vu hồi chia cắt hiệp đồng diệt địch.  
4 giờ 45 phút, eBB2 bắt được liên lạc với xe tăng, cùng lúc địch tổ chức phản kích, eBB2 và xe tăng đã hợp đồng diệt địch và phát triển diệt địch co cụm ở ngã ba đường 1.
5 giờ 5 phút, phát triển trên các hướng thuận lợi, pháo binh chuyển làn bắn tập trung vào trung tâm Trảng Bom, Bầu Cá, ga Song Mây, suối Đỉa.
Từ 5 giờ 10 phút đến 10 giờ 30 phút ngày 27-4, cuộc chiến đấu giữa ta và địch quyết liệt, các hướng, mũi được pháo binh chi viện của sư đoàn và pháo binh đi cùng, hiệp đồng chặt chẽ tiêu diệt lần lượt từng mục tiêu bộ binh, xe tăng địch, làm chủ chiến trường. Sư đoàn báo về quân đoàn và xin tiếp tục phát triển tiến cộng địch trên hướng Hố Nai - Biên Hoà...
Trận tiến công Trảng Bom, sư đoàn 341 tổ chức tiến công nhanh, hiệp đồng chặt, đánh trúng mục tiêu chủ yếu sở chỉ huy địch, đã tiêu diệt đánh tan sư đoàn 18 gồm chiến đoàn 48, 43, 52, chi đoàn 1 và 3, xe tăng thiết giáp, lữ 3 kỵ binh, 7 đơn vị pháo binh và các liên đoàn biệt động của quân khu 3 địch, thu số lớn vũ khí, trang bị kỹ thuật xe tăng, pháo binh bắt l265 tên và hàng nghìn tên ra hàng, trong đó có hàng trăm sĩ quan cấp tá và cấp uý. Phá vỡ tuyến phòng thủ “cánh cửa thép” hướng Đông Sài Gòn, mở cửa lớn tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng, binh khí kỹ thuật của quân đoàn, lực lượng cơ động của bộ phát triển tiến công Biên Hoà, Sài Gòn, Gia Định.
Thế trận quốc phòng ở một vùng đất anh hùng
ĐỨC VIỆT. Thế trận quốc phòng ở một vùng đất anh hùng / Đức Việt // Đồng Nai. - 2002. - Tháng 1. - Tr.31

Vào những ngày giáp Tết, chúng tôi nhận được tin vui: Kết thúc phong trào thi đua Quyết thắng năm 2001, huyện Vĩnh Cửu được công nhận là một trong những địa phương dẫn đầu trong tỉnh vê công tác xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và đã được tư lệnh Quân khu 7 tặng cờ thi đua xuất sắc. Đây là năm thứ 3 liên tiếp, Vĩnh Cửu có được vinh dự này. Từ thông tin này, chúng tôi quyết định về thăm lại Vĩnh Cửu giữa lúc cán bộ, nhân dân huyện nhà chuẩn bị đón năm mới Nhâm Ngọ 2002 trong niềm lạc quan, phấn chấn. Đồng chí Nguyễn Thành Công, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Vĩnh Cửu không giấu được vẻ hồ hởi khi nhắc đến chuyện chăm lo cho còng tác quân sự địa phương và cho biết rằng, đó là thành quả của sự nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện nhà nhiều năm liền. Đối với một vùng đất anh hùng, giàu truyền thống cách mạng như Vĩnh Cứu thì thành quả vừa nêu càng khẳng định thêm rằng, dù trong thời bình, Vĩnh Cửu vẫn luôn xem công tác quân sự địa phương là một trong những vấn đề mấu chốt để ổn định an ninh trật tự, an toàn xã hôi. thúc đẩy sư nghiệp phát triển kinh tế, từng bước xoá bỏ nghèo nàn, lạc hậu, làm cho nhân dân ấm no, hanh phúc và giàu có. Do vậy bên cạnh việc tập trung lãnh đạo công tác phát triển kinh tế, Đảng bộ và chính quyền huyện còn đặc biệt chú ý đến vấn đề xây dựng quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, đủ sức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự địa phương và sẵn sàng chiến đấu khi cần thiết. Thượng tá Lê Quốc Doanh, Phó chỉ huy trưởng chính trị ban chỉ huy quân sự huyện đã nêu ra những việc làm đầy thuyết phục trong công tác quân sự địa phương ở huyện nhà. Do có sự quan tâm lãnh đao, chỉ đạo tích cực của Đảng bộ, chính quyền địa phương nên đã tạo điều kiện cho cơ quan quân sự huyện làm tốt vai trò tham mưu của mình trong việc tổ chức, xây dựng lực lượng. Có thể thấy rõ điều này qua công tác giáo dục quốc phòng cho quần chúng nhân dân đã trở thành nền nếp ở các địa phương, cơ quan, xí nghiệp, lâm trường, nhà máy, trường học… trong huyên. Từ đó đã tạo đà cho phong trào bám rễ vững chắc và ngày càng đi vào chiều sâu. So với nhiều năm trước đây, hiện nay hê thống lực lượng vũ trang của huyện lớn mạnh hơn nhiều. Đặc biệt là từ khi triển khai thực hiện Pháp lệnh dân quân tự vệ và dự bị động viên. Vĩnh Cửu đã tạo ra một bước đột phá làm thay đổi hoàn toàn nếp nghỉ, cách nhìn của một số người từng xem nhẹ vai trò của dân quân tự vệ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Từ tinh thần của Pháp lệnh, công tác xây dựng dân quân tự vệ có thuận lợi hơn nhiều. Các địa phương trong huyện đã có nhiều biện pháp giải quyết tốt chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ nên đã thu hút được đông đảo thanh niên tham gia. Nếu như trước đây, dân quân tự vệ chủ yếu là nam giới thì ngày nay nhiều xã, thị trấn trong huyện có rất nhiều chị em đăng ký tham gia vào lực lượng bảo vệ xóm làng. Các xã như Phú Lý, Trị An, Vĩnh Tân thị trấn Vĩnh An... đã xây dựng được từ tiều đội đến trung đội dân quân nữ. Riêng tại cơ quan quân sự huyện cũng đã duy trì được một trung đội dân quân thường trực, cơ động chiến đấu của huyện. Anh em phục vụ trong thời hạn 2 năm, được hưởng lương và phụ cấp 600 ngàn đồng / tháng và được giải quyết một số chế độ, chính sách như quân đội thường trực. Đây cũng là nơi duy nhất trong tỉnh tố chức được lực lượng này. Chính từ sự quan tâm đó, phong trào dân quân tự vệ ở Vĩnh Cửu trở thành chỗ dựa vững chắc cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương trong việc gìn giữ an ninh, trật tự. Đến nay, tỉ lệ dân quân ở các xã thị trấn đạt 1,5%, cấp huyện đạt 1,6 - 2% . Đảng viên trong lực lượng chiếm 6,2%, đoàn viên 26,9% ; trong đó 100% chỉ huy trưởng và 80% chỉ huy phó quân sự xã, thi trấn là đảng viên. Toàn huyên có 5/10 xã có chi bộ quân sự. Cùng với công tác dân quân tự vệ, việc quản lý quân dự bị động viên cũng là việc làm khá nổi bật của Vĩnh Cửu. Hàng năm, khi anh em thanh niên địa phương hoàn thành NVQS, xuất ngũ trở về, huyện tổ chức đón rước chu đáo và làm lễ giao nhiệm vụ để trong quá trình sinh sống, làm ăn, anh em gắn trách nhiệm của mình cùng với địa phương tham gia bảo vệ Tổ quốc. Điều này đã được minh chứng qua thực tiễn là hàng năm, khi có lệnh triệu tập huấn luyện, diễn tập, quân dự bị động viên của huyện đều có mặt từ 94-97%, đảm bảo biên chế đầy đủ cho các đơn vị theo yêu cầu. Có nhiều trường hợp anh em đi làm ăn xa nhưng khi có lệnh gọi đều trở về nhận nhiệm vụ một cách nghiêm túc. Nhờ được quan tâm lãnh đạo chỉ đạo. chăm sóc, đầu tư từ nhiều phía nên công tác quân sự địa phương ở Vĩnh Cửu ngày càng đi vào chiều sâu. Đặc biệt là lớp trẻ của huyện nhà luôn ý thức được rằng bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ và quyền lợi của thanh niên, do vậy khi vào mùa tuyển quân, thanh niên trong huyện náo nức làm đơn tình nguyện nhập ngũ; chất lượng năm sau cao hơn năm trước. Điều này giúp cho Vĩnh Cửu luôn hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu gọi thanh niên nhâp ngũ hằng năm. Số thanh niên của huyện đang tại ngũ đều phát huy tốt truyền thống cách mạng của quê hương mình. Nhiều người tích cực tu dưỡng, phấn đấu trở thành sĩ quan phục vụ lâu dài trong quân đội.
Hiện nay, khi đất nước còn phải đối đầu với nhiều thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, thì thành quả xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh ở huyện Vĩnh Cửu là việc làm đáng ghi nhận và trân trọng. Đón chào xuân mới, tin rằng với thành quả đạt được huyện nhà sẽ tiếp tục góp thêm hương sắc vào vườn xuân của dân tộc.
Thần tốc “Về nhà”
PHONG VŨ. Thần tốc “Về nhà” / Phong Vũ // Đồng Nai. - 2005. - Ngày 28 tháng 4. - Tr.8.

Sau một tuần thị sát thành phố, ngày 16-4-1975, Bí thư thành ủy Biên Hòa Phan Văn Trang trở ra căn cứ. Tình hình lúc này rất cấp bách nên thành ủy Biên Hòa đã ra Nghị quyết: “Tổng công kích, tổng khởi nghĩa giải phóng thị xã Biên Hòa”. Nghị quyết đã vạch rõ: Khẩn trương triển khai mọi mặt trong thời gian ngắn nhất bảo đảm khi có lệnh kết hợp với mũi công kích của lực lượng lớn tấn công thì phóng tay phát động quần chúng khởi nghĩa và công kích ở địa phương, giành toàn bộ chính quyền ấp, xã, quận, tỉnh về tay nhân dân.
Ngày 23-4-1975, tại sở cao su Bình Sơn, Thường vụ Khu ủy miền Đông đã họp với Đảng ủy, Bộ tư lệnh quân đoàn 4. Trong hội nghị, Đồng chí Năm Trang đã báo cáo cụ thể, chi tiết kế hoạch phát động quần chúng trong nội thành kết hợp với bộ đội chủ lực để giải phóng thành phố và được hội nghị nhất trí cao. Sau đó, bí thư Thành ủy và chỉ huy Bộ tư lệnh quân đoàn 4 còn bàn sâu thêm về mục tiêu tấn công pháo kích quyết quét sạch địch tại ngã ba Dầu Giây, trận địa pháo sông Thao, chi khu Trảng Bom và các chốt điểm của địch dọc lộ 1 để mở đường về đánh chiếm quân đoàn 3 nguỵ sân bay Biên Hòa.
Ngày 24-4, Thường vụ khu ủy miền Đông công bố quyết định thành phần Ủy ban quân quản TP. Biên Hoà: Đồng chí Lê Đình Nhơn, Phó bí thư khu ủy làm Chủ tịch và đồng chí Phan Văn Trang làm Phó chủ tịch. Song song đó, do tính chất quan trọng của thị xã Biên Hòa nên Thường vụ Khu ủy và Bộ tư lệnh quân khu đã chỉ định đồng chí Năm Trang và đồng chí Ngnyễn Việt Hoa dẫn đầu bộ chỉ huy tiền phương cùng với trung đoàn quân khu và quân đoàn 4 tấn công vào TP. Biên Hoà.
Đến sáng ngày 26-4, tiểu đoàn (D) 174 của trung đoàn đặc công 113 đã bám sát nhà máy nước Hóa An. Tại cầu Hang, quân ta và sư đoàn dù 18 của địch đánh nhau ác liệt. Kết quả, ta tiêu diệt được nhiều tên địch và phá hủy 4 xe tăng của chúng. Tại cầu Hóa An, D174 nhanh chóng tiêu diệt bọn bảo vệ cầu. Tiểu đoàn 23 đặc công thủy bám và đánh chiếm được cầu Ghềnh, cầu Rạch Cát, tạo điều kiện cho các cánh quân tiến vào đánh diệt địch và chiếm nhà máy điện Biên Hòa, tấn công vào căn cứ Hốc Bà Thức. Ngày 27-4, bộ đội chủ lực của ta tiến quân trên xa lộ Biên Hòa, nhanh chóng đánh chiếm được cầu Đồng Nai.
Từ ngày 27 đến 29-4, Quân đoàn 4 triển khai đánh địch dọc theo quốc lộ 1. Đồng chí Năm Trang nhớ lại: “Chúng (quân địch) bố trí lực lượng trên đồi suối Đĩa liên tục bắn phá bước tiến của quân ta. Đến ngày 29-4, Bộ chỉ huy tiền phương và trung đoàn 5 mới chốt giữ được cứ điểm này và đưa một tiểu đoàn bắt sống tên nữ gián điệp đang ôm máy truyền tin gọi pháo bắn. Tại Hố Nai, suối Săn Máu giữa ta và địch đánh nhau rất dữ dội. Song với sức mạnh “thần tốc” của ta bọn địch nhanh chóng bị tiêu diệt xin hàng hoặc tháo chạy tán loạn. Và cuộc chiến thật sự ác liệt xảy ra tại quân đoàn 3, trong nội thành. Địch bám công sự bắn trả liên hồi. Đến sáng ngày 30-4, ta mới làm chủ được tình hình”. Trên đường thần tốc về lại “nhà mình”. Vào lúc 15 giờ ngày 29-4, trước thế trận thắng như chẻ tre của lực lượng cách mạng, bọn địch ở nhà tù Tân Hiệp hoảng sợ đã tự động rút chạy. Các đồng chí bị địch giam giữ tại đây đã nổi dậy phá khám. Đồng chí Phan Văn Trang kể lại: “Sau khi phá khám các “tù nhân” kéo ra quốc lộ 1 hướng về Hố Nai. Một số tù nhân bị thương đã chạy vào giáo xứ N. và được linh mục T. tận tình cứu giúp. Số khác thì gặp được Bộ chỉ huy Tiền phương đang đóng tại nhà thờ Bắc Hòa, khu vực Hố Nai. Trong hàng trăm tù nhân đó có vợ tôi, bà Nguyễn Thị Thanh, bị địch bắt giam từ năm 1969. Gặp nhau trong mưa bom, lửa đạn nên chúng tôi đành ngậm ngùi chia tay vì nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Đích đến của tôi là vào giải phóng thị xã Biên Hoà”.
6g sáng ngày 30-4, nữ đảng viên Trương Thị Sáu cùng một người tên Mượn, cơ sở nội tuyến của ta trong lực lượng biệt động quân bảo vệ của địch đã tiến thẳng vào Toà Hành chính hạ cờ nguỵ xuống, kéo cờ Tổ quốc ta lên. Chi bộ chợ Biên Hoà đã tổ chức quần chúng tháo gỡ các khẩu hiệu phản động và càc tàn tích của chế độ tay sai ở dinh trung tướng Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Toàn, bộ tư lệnh quân đoàn 3, nha cảnh sát miền Đông. Thừa thắng xông lên được ủy ban khởi nghĩa các khu vực kêu gọi, nhân dân khắp nơi trong nội thành cùng các cán bộ, đảng viên, lực lượng tại chỗ đã tiến đến tiểu khu Biên Hoà, thành Kèn,trại cảnh sát dã chiến, trụ sở quận Đức Tu, các xã Bình Trước, Tam Hiệp… Xé cờ nguỵ ảnh Nguyễn Văn Thiệu và kéo cờ cách mạng lên. Lúc đó, Bộ chỉ huy tiền phương Biên Hòa cũng đã ra lệnh cho các cánh quân, các lực lượng “thần tốc” tiến thẳng vào trung tâm thành phố. Hai bên đường quốc lộ 1 (hướng từ ngã ba Hố Nai đi bệnh viện tâm thần), nhân dân đổ xô ra vẫy tay reo hò hoan hô quân giải phóng. Hàng trăm xe hon da của nhân dân chạy theo sau xe của đoàn quân cách mạng tiến vào giải phóng Biên Hòa. Đồng chí Năm Trang bồi hồi nhớ lại: “Khi chúng tôi đến công trường sông Phố, hàng ngàn người dân đã đứng chờ sẵn ở đó không biết từ bao gíờ. Không ai bảo ai, đồng bào cùng đoàn quân giải phóng kéo nhau vào Toà hành chính. Lúc đó, đúng 10 giờ 30 phút ngày 30-4-1975. Xoay quanh chúng tôi trước sân Toà hành chính có khoảng 5.000 đồng bào. Tôi với tư cách là Bí thư Thành ủy đứng tại cột cờ nói chuyện với đồng bào. Trải qua 30 năm chiến tranh, hôm nay thành phố Biên Hoà hoàn toàn giải phóng, đất nước ta hoàn toàn thống nhất, chấm dứt cuộc đời nô lệ lầm than từ hơn một thế kỷ qua; đất nước được hoàn toàn độc lập, nhân dân được sống trong tự do, hòa bình. Vì vậy mỗi người dân phải chung sức chung lòng xây dựng quê hương ta giàu đẹp hơn. Ngay bây giờ, đồng bào phải ổn định tình hình, ta làm chủ lấy ta, giải quyết cuộc sống”. Sau lời phát biểu không chuẩn bị trước nhưng rất có “thần” của đồng chí Bí thư Thành uỷ là những tràng pháo tay như sấm dậy, những bó hoa tươi thắm tới tấp đưa đến chúc mừng, biểu thị sự đồng lòng ủng hộ của nhân dân TP. Biên Hoà.
Tiếp sau đó các đơn vị bộ đội chủ lực của ta hành quân về các ngã để tiếp quản. Sân bay Biên Hoà, khu kỹ nghệ Sonadezi, ty công an, chi khu Đức Tu, tiểu khu quân sự Biên Hoà, tỉnh đoàn bảo an, tổng kho Long Bình, sư đàon 18 và chốt chặt ở những vị trí quan trọng như: ngã ba Vũng Tàu, ngã ba Tam Hiệp, ngã ba Tân Thành - Bửu Long…
Trong ngày 30-4-1975, Uỷ ban quân quản TP. Biên Hoà đã chỉ đạo và giao nhiệm vụ cho Ban an ninh triển khai kế hoạch ổn định trật tự và tình hình nhân dân trong thành phố. Ngay buổi chiều hôm đó, hệ thống điện, nước đã hoạt động trở lại, phục vụ nhân dân. Mọi sinh hoạt của cư dân thành phố trở lại nhịp sống bình thường.
Nơi các anh ngã xuống trước ngày toàn thắng
NGUYỄN TRƯỜNG GIANG. Nơi các anh ngã xuống trước ngày toàn thắng / Nguyễn Trường Giang // Cựu chiến binh Đồng Nai. - 2001. - Số tháng 7. - Tr.27-29.

Ngày 25-4-1975, 2 tiểu đoàn 174 và 23 thuộc trung đoàn 113 đặc công từ hậu cứ gần trảng Nhà Nai, Bắc thị trấn Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa nay là tỉnh Đồng Nai hành quân tiếp cận trận địa. Mục tiêu chủ yếu là 2 cầu được bảo vệ vững chắc để đón đại quân tiến vào giải phóng Sài Gòn - thủ phủ cuối cùng của ngụy quyền Sài Gòn đó là cầu Mới và cầu Ghềnh bắc qua sông Đồng Nai. Thời điểm này, mặt trận Xuân Lộc đang thực sự trở nên nóng bỏng, quyết liệt. Đối phương lập thành phòng tuyến để bảo vệ Sài Gòn nên càng nóng bỏng và quyết liệt hơn. Nhận nhiệm vụ trên giao, cán bộ, chiến sĩ cả hai đơn vị rất phấn khởi vì được tham gia vào chiến dịch lịch sử mang tên Bác kính yêu. Nhưng cũng rất lo lắng vì mục tiêu nằm sâu giữa sào huyệt quân thù. Hơn nữa, đặc công mà tác chiến theo phương thức bộ binh, đánh chiếm mục tiêu, làm chủ trận địa, bám trụ và gíữ vững kéo dài thời gian. Trong lúc đó trang bị vũ khí lại hạn chế. Liệu có thể trụ vững…? Niềm tin vào chiến thắng là điều ai cũng kỳ vọng, nhưng ngày toàn thắng chỉ còn tính từng ngày, từng giờ, lúc ấy liệu mình có còn nhìn thấy ánh cờ sao phấp phới tung bay trước gió trong nắng mới huy hoàng! Thâm tâm là vậy, nhưng chỉ lưới qua rất nhanh để dồn sức lực cho một cuộc chiến đấu mới mà chưa thể lường hết được những tình huống cực kỳ quyết liệt, một mất một còn với kẻ thù. Nói lực lượng của hai đơn vị cấp tiểu đoàn, nhưng quân số chỉ bằng vài ba đại đội tăng cường vì quá trình chiến đấu hao hụt chưa kịp bổ sung. Hơn nữa, sở trường cũng khác biệt. Tiểu đoàn 23 đặc công thủy chuyên đánh các mục tiêu dưới nước, nay lên khô. Còn tiểu đoàn 174 là pháo tầm gần chuyên khống chế sân bay  Biên Hòa, nay lại đánh gần như xung lực tuy được huấn luyện cấp tốc thời gian ngắn nhưng không tránh khỏi sự bỡ ngỡ, lúng túng.
Đêm 26–4 tất cả lặng lẽ vượt lộ 16 tiếp tục tiến về hướng mục tiêu, thị xã Biên Hòa hiện dần lên phía trước. Đến điểm quy định trời đã gần nửa đêm, gió từ sông Đồng Nai nhè nhẹ thổi mát rượi, như vơi đi những giọt mồ hôi thấm đẫm lên cơ thể. Bên kia ba căn cứ quân sự lớn là phi trường Biên Hòa, chỉ huy sở Quân đoàn 3 ngụy và Quân khu 3, ánh điện sáng rực, tiếng động cơ máy bay, các loại xe chuyển động ầm ào náo nhiệt. Lúc này, toàn bộ đội hình dừng lại khu vực phía đông ấp Tân Bản, thuộc xã Bửu Hòa, thị xã Biên Hòa. Chỉ huy sở trận đánh đặt ở đây, cách giữa hai cầu chưa đầy một cây số. Một bộ phận được bố trí gần ngã ba cầu Hang. Nhiệm vụ cụ thể được hoạch định như sau:
Đại đội 1 tiểu đoàn 23 và đại đội 14 tiểu đoàn 174 đánh chiếm cầu Ghềnh.
Đại đội 3 Tiểu đoàn 23 và đại đội 13 tiểu đoàn 174 đánh chiếm cầu Mới (còn có tên gọi là cầu Hóa An). Số đơn vị còn lại bố trí gần sở chỉ huy làm lực lượng dự bị. Đồng thời có nhiệm vụ ngăn chặn địch từ hướng Thủ Đức Sài Gòn và huyện Dĩ An, tỉnh Sông Bé đánh lên. Hỏa lực, chi viện trực tiếp cho các đơn vị đánh chiếm hai cầu bố trí gần Cầu Hang. Đại đội 8 hỏa lực sử dụng 4 khẩu ĐKB chi viện cho các lực lượng phía trước.Ý nghĩa đánh chiếm, chốt giữ và bảo vệ vững chắc hai cầu có tâm quan trọng đặc biệt Thứ nhất không cho địch từ đông bắc và thị xã Biên Hòa rút về co cụm ở Sài Gòn. Thứ hai bảo đảm đường cơ động cho các binh đoàn chủ lực ta tiến về giải phóng thủ phủ Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của bè lũ bán nước.
Sau khi chiếm lĩnh trận địa, ai nấy hối hả đào công sự chiến đấu. Sau khi đã hoàn thành, không ít bạn trẻ gối đầu lên thành công sự tranh thủ kéo một giấc thật ngon lành, trông đến là thương. Đêm đã khuya lắm rồi mà bà con cô bác nơi đây vẫn còn thức, họ bàn luận vế chiến cuộc, vừa thắc thỏm hồi hộp, vừa tin tưởng đợi chờ. Giữa lúc ấy, một thanh niên đến gặp chỉ huy đơn vị, anh tự giới thiệu tên là Tấn hớt hải thông báo:
Xã đã thành lập ủy ban khởi nghĩa, do cô Hai (tức chị Hai Não) và chị Tám (tự Tám Huệ) lãnh đạo. Các chị phái em tới đây để liên lạc với đằng mình, cần gì các anh cứ cho hay. Hồi hôm cô bác cứ chờ hoài, giờ thực sự có mặt các anh, tụi em và bà con mừng hết biết. Anh đến thật đúng lúc- một cán bộ chỉ huy nói. Đề nghị anh cho biết thêm tình hình khu vực này?
Sau khi trao đổi những nét mà anh nắm được, rồi anh chỉ tay về phía trước nói: Hồi hôm ở xóm Chùa cách đây khoảng cây số có lính và xe tăng địch kéo về nhưng số lượng bao nhiêu chưa rõ Anh cung cấp vậy là quý lắm rồi - một đồng chí đáp lại. Anh còn trao đổi thêm một số nét nữa rồi xin phép trở về vị trí công tác của mình. Tin này được nhanh chóng truyền đi các bộ phận nhằm củng cố tinh thần sẵn sàng chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ.
 
Qua một ngày chiến đấu thật căng thẳng và quyết liệt, lực lượng ta có phần bị thương vong. Cơ số đạn cũng bị tiêu hao đáng kể. Nhưng từ phía sau hậu cứ tiếp viện kịp thời. Quân số cũng được tăng cường từ thê đội dự bị.
Ngày 28-4 mới từ mờ sáng, các cỗ pháo của địch lại tới tấp dội về các chốt của ta. Tiếp đó, 5 chiếc trực thăng võ trang của địch từ sân bay Tân Sơn Nhất đến quần lượn rồi bắn hỏa tiễn, đạn trọng liên 12 ly 8 xuống  đợt tấn công của bộ binh, kết hợp với xe tăng, liều lĩnh hòng chiếm lại cầu. Tới 10 giờ sáng, chúng tăng cường thêm một tiểu đoàn bộ binh đánh vào chỉ huy sở của ta tại ấp Tân Bản Được sự phối hợp của các chiến sĩ du kích. Lợi dụng các hệ thống công sự và địa hình địa vật. Ta đã đẩy lùi các đợt phản kích của chúng. Diệt nhiều tên, thu 20 súng, buộc đối phương phải tháo chạy ở khu vực cầu Mới. Còn phía cầu Ghềnh, chiều hôm đó do lực lượng không cân sức, địch đã tạm thời chiếm được cầu. Nhưng ngay đêm đó 28-4, ta tổ chức tập kích chiếm lại cầu Suốt đêm hôm đó, tất cả lực lượng ta củng cố công sự, tăng cường trang bị vũ khí, đạn dược chuẩn bị tinh thần cho cuộc chiến đấu mới.
Qua hai ngày phản kích quyết liệt địch đã gây cho ta những tổn thất nặng nề, nhưng chúng chưa thực hiện được ý định đẩy toàn bộ lực lượng đối phương ra khỏi hai mục tiêu trọng yếu. Nên bọn quan thầy của chúng hết sức cay cú, căm tức Bước sang ngày 29-4, sau nhiều giờ dùng máy bay trinh sát L19 nhằm thăm dò lực lượng ta tiếp đó chúng dùng pháo binh tới tấp dội xuống các chốt của ta. Đó là ngón đòn mà mấy ngày trước chúng đã làm. Tuy nhiên hôm ấy, chúng còn tăng cường thêm 2 tiểu đoàn bộ binh cùng xe tăng đồng loạt đánh chiếm 2 cầu và điểm chốt của ta ở cầu Hang. Còn hướng cầu Ghềnh, đại đội 1 tiểu đoàn 23 và đại đội pháo 174 chiếm lĩnh địa hình có lợi đánh lùi mấy đợt tấn công của địch, diệt nhiều tên. Bắn cháy 5 xe tăng. Ba đồng chí trong ban chỉ huy đại đội 1, trong lần tấn công của địch bị rơi vào vòng vây của chúng. Cả 4 người chiến đấu đến viên đạn cuối cùng rồi anh dũng hy sinh. Tương tự, tại cầu Mới, anh em ta kiên quyết giành giật với địch từng tấc đất để giữ cầu. Chúng còn dồn lực lượng mạnh đánh vào điểm chốt cầu Hang do đại đội pháo ta chiếm giữ. Đây là vị trí quan trọng, không chỉ trực tiếp chi viện bằng hỏa lực cho 2 cầu mà còn chặn địch từ Thủ Đức và Dĩ An tiến công sang.
Mờ sáng ngày 29 - 4, tổ trinh sát báo cáo: Bộ binh địch từ cầu Mới theo trục lộ tiến về phía ta. Khi tốp đi đầu chỉ cách 50m, lập tức các cỡ súng ta dồn dập nhả đạn. Xác địch đổ gục trên mặt lộ và rải rác các bờ ruộng ven đường. Số còn lại chạy tán loạn. Bị đòn choáng váng, chúng không dám mò lên nữa. Lợi dụng bờ nương ẩn nấp, gọi pháo chi viện. Khi loạt pháo vừa dứt, 6 xe tăng xuất hiện nối đuôi nhau chạy rung chuyển trên mặt lộ. Chúng vừa chạy vừa bắn như vãi đạn về trận địa chốt của ta. Lợi dụng địa hình các thửa ruộng khô, chúng dàn hàng ngang cách đội hình ta 300 m nhả đạn như mưa. Chúng tưởng đó là ngón đòn áp đảo đối phương. Nhưng nào ngờ khẩu ĐKZ82 do Nghị chỉ huy và Lã Đình Điều pháo thủ số 1. Khi chiếc xe tăng M41 chỉ cách 100 m, Điều hướng nòng pháo chính xác vào mục tiêu và 2 quả đạn vút bay đi. Cả 2 khối thép khựng lại và bốc cháy. Ngay lúc đó cả 4 chiếc còn lại đều hướng vế khẩu ĐKZ của ta nhả đạn, càng súng bị đạn địch tiện gãy. Khẩu đội trưởng Nghị hy sinh, các pháo thủ khác thương bị thương. Riêng bản thân Điều cũng bị thương vào trán, máu chảy tràn xuống sống mũi và một bên mắt. Tình hình thật nghiêm trọng, hỏa lực chính diệt xe tăng ngưng hoạt động là cơ hội cho đối phương tràn lên chọc thủng trận địa ta. Hơn nữa, đồng đội lại tiếp tục hy sinh. Trước tình hình nguy ngập ấy, nhanh như sóc Lã Văn Điều bật khỏi công sự, đứng thẳng tư thế hiên ngang với nòng pháo còn nóng khủng khiếp trên vai. Bằng động tác chính xác và giật cò chiếc xe tăng thứ 3 của địch bốc cháy. Những chiếc còn lại đứng tại chỗ không dám bò lên nữa mà chỉ dùng hỏa lực bắn kiềm chế. Điều nạp tiếp quả đạn thứ, nhưng chưa kịp giật cò thì đạn của địch trúng nòng pháo của Điều, quả đạn trong nòng cùng phát nổ. Điều anh dũng hy sinh trong tư thế hiên ngang, mang tầm vóc như một anh hùng. Noi gương hình ảnh sáng chói của Điều, các khẩu đội khác bắn chính xác vào đội hình địch. Những xe tăng còn lại quay đầu tháo chạy, bọn bộ binh cũng hoảng sợ bám theo xe tăng về hướng xóm Chùa.
Tại một hướng khác có Nguyễn Tiến Huân, trinh sát viên của tiểu đoàn tăng cường cho đơn vị. Khi xạ thủ B40 bị thương, Huân xin thay thế và trực tiếp bắn cháy xe tăng địch. Khi bị thương nặng vẫn không rời trận địa, cùng đồng đội đánh lui nhiều đợt tấn công của địch và tiêu diệt nhiều sinh lực của chúng. Những thất bại qua các phản kích trên vẫn chưa làm cho địch chùn bước. Khoảng 2 giờ trưa ngày 29-4, chúng lại giở thêm thủ đoạn bỏ tiến công chính diện sang phản kích cạnh sườn. Lần này được tăng cường những 9 xe tăng, kết hợp bộ binh đột từ phía trái của ta. Những khối thép di động băng qua các thửa ruộng tiến lên chiếm lĩnh dãy đồi đá Hóa An cách trận địa ta 800 m, dùng pháo bắn dữ dội về phía ta. Hướng chính diện, chúng dung xe kéo 2 khẩu pháo 105 ly, đặt trên lộ bắn trực tiếp vào điểm chốt của ta. Trận địa cối 106,7 ly đặt trên núi Châu Thới cũng kiềm chế ráo riết trận địa cối 82 mm của đơn vị. Đợt tập kích hỏa lực tổng hợp vào các điểm chốt lần này làm cho sự tổn thất càng tăng lên. Có thể nói, sức chịu đựng của cán bộ, chiến sĩ suốt ba ngày chiến đấu thật khủng khiếp giữa sào huyệt quân thù.
Trước tình hình căng thẳng đến cực độ ấy phẩm chất người lính đặc công được chứng minh rõ nét hơn bao giờ hết. Lúc này, trên cơ sở thực lực của mình, động viên bộ đội quyết tâm bám trụ: “Còn người còn trận địa”. Hỏa tiễn ĐKB của Đại đội 8 bắn cấp tập vào cụm bộ binh và xe tăng địch cùng với trận địa cối của chúng trên núi Châu Thới. Rồi cối cùng ĐKB nã chính xác vào 2 khẩu pháo 105 ly của địch nghênh ngang trên mặt lộ, phá hủy 1 khẩu. Trận địa cối trên núi Châu Thới cũng câm lặng. Khi loạt đạn cuối cùng của đơn vị vừa dứt, lực lượng địch tháo chạy nhốn nháo, nhiều tên vứt luôn cả súng để thoát thân. Lúc này, về phía Tân Uyên -tỉnh Sông Bé, tiếng súng nổ dồn dập mỗi lúc một gần. Mới hay quân đoàn 1 của ta đang tiến công địch hướng đó.
Qua ba ngày chiến đấu anh dũng kiên cường, đơn vị đã đánh lui hàng chục đợt phản công điên cuồng của địch. Diệt và làm bị thương hàng trăm tên, phá hủy 7 xe tăng, 1 khẩu pháo 105 mm, giữ vững 2 cầu đón đại quân vào giải phóng Sài Gòn, dinh lũy cuối cùng của bè lũ bán nước.
Song, trong trận đánh cuối cùng ấy 60 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trước giờ thắng lợi. Và tương đương như thế đồng chí khác bị thương.
Hy sinh thân mình cho Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân bao giờ cũng là cao quý. Nhưng hy sinh trước giờ toàn thắng, cả đất trời rợp ánh cờ sao thì càng thiêng liêng, cao quý bội phần.
Hôm nay, đi trên mảnh đất máu các anh đã đổ, cây trái sum sê, đàn em thơ gương mặt tươi rói cặp sách đến trường. Bao đôi trai gái sánh bên nhau trong ngày lễ tân hôn… Và cụm công nghiệp Hóa An trên mặt trận năm nào mời chào bạn bè quốc tế vào đầu tư, thu hút hàng chục ngàn lao động trẻ. Mà đội ngũ công nhân trẻ hôm nay, trạc tuổi con cái chúng mình. Máu các anh đã đổ đang ngày một tô hồng thêm đất nước mến yêu.
Những trận đánh để đời của Đại đội trưởng C240
PHONG VŨ. Những trận đánh để đời của Đại đội trưởng C240 / Phong Vũ // Đồng Nai. - 2006. - Ngày 27 tháng 4. - Tr.6.

Ngày 26 - 4, huyện Long Thành tổ chức lễ khánh thành giai đoạn 2 công trình nhà bia và tượng đài truyền thống tiểu đoàn 240 (D240) tại xã Bình Sơn. Nhân dịp này, phóng viên báo Đồng Nai đã gặp ông Nguyễn Văn Bảo (Tám Bảo), nguyên đại đội trưởng đại đội 240 (C240)- đơn vị tiền thân của D240 để nghe ông kể về những ngày đầu thành lập đơn vị lực lượng vũ trang đầu tiên trực thuộc tỉnh Biên Hòa trong thời kỳ chống Mỹ.
Năm 1961, trước tình hình cấp thiết của địa phương, tỉnh uỷ Biên hòa cho phép thành lập đơn vị lực lượng vũ trang đầu tiên trực thuộc tỉnh là đại đội C240. Một trong những người chỉ huy vào thời kỳ đầu xây dựng C240 là ông Tám Bảo. Sau khi củng cố lực lượng gần một năm, ông Tám Bảo được bổ nhiệm làm đại đội trưởng C240 (gọi là đại đội nhưng thực chất quân số thời kỳ này chỉ có 36 người). Hồi ấy, đơn vị đóng quân trên địa bàn xã Thiện tân (huyện Vĩnh Cửu). Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của C240 là ác liệt, phá kìm, bảo vệ Tỉnh uỷ, bảo vệ các lực lượng dân quân và nhân dân. Do vào thời điểm đó C240 là đơn vị lực lượng vũ trang duy nhất trực thuộc tỉnh Biên Hòa nên địa bàn hoạt động là trên phạm vị toàn tỉnh. Ông tám Bảo hồi tưởng. “Chúng tôi vừa làm nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân nhưng cũng phải chăm lo đến việc phát triển lực lượng, đào tạo cán bộ, chiến sĩ. Nguồn chiến sĩ mà chúng tôi tập hợp được chủ yếu từ các đơn vị dân quân địa phương thuộc các huyện trên địa bàn tỉnh”. Trưởng ban liên lạc D240 là ông Nguyễn Văn Thuỷ, nguyên chính trị viên D240, kể lại: “Anh Tám Bảo dẫn quân đến đâu là dân quý, dân thương đến đó. Bà con bảo vệ, che chở các cán bộ chiến sĩ và tiếp tế lương thực, thực phẩm. Đặc biệt là sau những trận đánh thu về thắng lợi lớn của đại đội, bà con còn hạ trâu, mổ heo đãi anh em cán bộ, chiến sĩ”. Để được dân quý, dân thương, đại đội trưởng Tám Bảo đã giáo dục toàn lực lượng phải trung thành với lý tưởng của Đảng, của cách mạng, không tơ hào của dân, đại đội trưởng Tám Bảo cùng các cán bộ, chiến sĩ của đại đội còn giúp dân lao động sản xuất, thu hoạch mùa màng, xây dựng nhà cửa. Một trong những cấp phó của ông Tám Bảo là ông Năm Chiến cũng từng dạy quân là phải biết cách “ở dân quý, đi dân nhớ”. Chỉ gần 2 năm làm đại đội trưởng, ông Tám Bảo đã xây dựng đủ quân số một đại đội (khoảng 120 chiến sĩ). Đại đội trưởng Tám Bảo cùng các chỉ huy đại đội còn trực tiếp đứng ra huấn luyện, giáo dục, rèn luyện chiến sĩ, trong số đó nhiều người sau này đã trở thành những cán bộ, chỉ huy cốt cán của các đơn vị bộ đội địa phương. Gần 2 năm với vai trò đại đội trưởng, ông Tám Bảo đã trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh Mỹ - ngụy thu lại những thắng lợi vẻ vang. Trận đánh đầu tiên là trận đánh chiếm gọn đồi Trị An, tạo uy tín trong tổ chức cách mạng, trong nhân dân. Tuy nhiên, trận đánh vào năm 1962 tại huyện Trảng Bom mới thật sự là trận chứng tỏ “binh hùng tướng mạnh” của đại đội 240. Đó là trận đánh chuyến xe lửa của ngụy quyền chở lương thực từ sài Gòn ra tiếp tế cho các tỉnh miền Trung. Nhờ làm tốt công tác trinh sát, cộng với sự gan dạ của chỉ huy trưởng Tám bảo cùng các chiến sĩ trên trận đánh đó là bảo toàn được lực lượng, còn địch bị thiệt hại hoàn toàn. Trận đánh này ta diệt toàn bộ trung đội bảo vệ và thu toàn bộ vũ khí của địch trên xe lửa. Quan trọng không kém là ta còn thu được chiếm lợi phẩm gồm 14 toa xe chở gạo và các nhu yếu phẩm cần thiết khác. Còn trận đánh “để đời” do đại đội trưởng Tám Bảo đích thân trinh sát và trực tiếp cầm quân ra trận cũng thu về thắng lợi vang dội, đó là trận diệt ác phá kìm ở xã Phước Thọ (huyện Nhơn trạch). Thời điểm đó, các đơn vị dân quân trong huyện. Nhơn Trạch thường tổ chức đào phá đường, ngăn cản việc hành quân, tuần tra của các đơn vị dân vệ, bảo an địch. Thế nhưng, điều đó chưa đủ để ngăn chặn, đẩy lùi các hoạt động của bọn ngụy quân càng lúc càng tàn ác giết hại đồng bào, đánh phá các cơ sở cách mạng của ta. Trước tình hình đó, được phép của cấp trên, đại đội trưởng Tám Bảo cùng một cận vệ đã thị sát địa bàn và quyết định tổ chức trận đánh bất ngờ vào đầu não của các cơ quan quân sự địch trên địa bàn Nhơn Trạch. Trận đó, ta tiêu diệt toàn bộ trung đội dân vệ và đại đội bảo an địch.
Sau này ông Tám Bảo được tỉnh điều về giữ chức vụ huyện đội trưởng huyện Vĩnh Cửu, rồi tham gia công tác chính quyền cho đến năm 1988 thì nghỉ hưu.
 
Những chiến công long trời lở đất
LÊ BÁ ƯỚC. Những chiến công long trời lở đất / Lê Bá Ước, Nguyễn Hữu Minh kể; T.T ghi // Đồng Nai. - 2004. - Ngày 15 tháng 4. - Tr.8

CÓ THỂ NÓI, NHỮNG TRẬN ĐÁNH LONG TRỜI LỞ ĐẤT CỦA ĐOÀN 10 ĐẶC CÔNG RỪNG SÁC (ĐCRS) LUÔN LÀM KHIẾP ĐẢM QUÂN THÙ. CHẲNG HẠN TRẬN ĐÁNH VÀO THÁNG 8-1966 TRONG THỜI ĐIỂM MỸ ĐỔ QUÂN Ồ ẠT VÀO MIỀN NAM VIỆT NAM. TRẬN NAY, BỘ ĐỘI ĐCRS ĐÃ SỬ DỤNG 1,5 TẤN THUỐC NỔ ĐÁNH CHÌM TÀU BA-TON RU-GIƠ VIC-TO-RY CỦA MỸ CHỞ ĐẦY VŨ KHÍ VÀ PHƯƠNG TIỆN CHIẾN TRANH HẠNG NẶNG. TIẾNG NỔ GIỮ DỘI CỦA HÀNG TẤN THUỐC NỔ LÀM DÂNG LÊN CỘT NƯỚC CAO TRÊN 20 MÉT, NHẤN CHÌM CON TÀU HÀNG CHỤC NGÀN TẤN CỦA ĐỊCH.
Trong chiến tranh chống Mỹ, đặc khu quân sự Rừng Sác do cố Thiếu tướng Lương Văn Nho (Hai Nhã) làm Tư lệnh kiêm Chính ủy với lực lượng võ trang là Đoàn 10 ĐCRS. Khu rừng ngập nước mặn này rộng khoảng 1.000km, trải dài từ Long Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu) qua Long Thành – Nhơn Trạch (Đồng Nai) đến Cần Giờ (TP.HCM). Địa hình chằng chịt sông rạch nơi đây đã giúp lực lượng đặc công thủy an toàn trong những cuộc đụng đầu không cân xứng với quân xâm lược Mỹ. Do đó, bọn xâm lược mặc dù được hỗ trợ bằng bom đạn dồi dào và trang bị “đến tận răng”, trong khi bộ đội Rừng Sác thiếu thốn mọi bề (thiếu từng lít nước ngọt) vẫn  làm cho kẻ địch không lúc nào yên ổn.
Mùa khô năm 1965-1966, đế quốc Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam Việt Nam. Chúng sử dụng đường thủy để vận chuyển được nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh. Ngã bảy Thiềng Liềng là nơi giáp ranh giữa Bà Rịa Vũng Tàu và Cần Giờ. Các tàu lớn của Mỹ không vào cảng được, Phải neo đậu ở đây để trung chuyển vũ khí, đạn dược vào kho bom Thành Tuy Hạ và tổng kho Long Bình. Ngày 20-5-1966, đồng chí Hai Nhã chỉ đạo 4 bộ đội đặc công đi đánh chiếc tàu Vic-to-ry đang neo đậu ở đó. Theo tin tình báo thì chiếc tàu này có tải trọng hàng chục ngàn tấn, chở đầy vũ khí và có cả máy bay, xe tăng, đại bác. Bốn bộ đội đặc công, trong đó có đồng chí Nguyễn Hữu Minh đã dùng trái nổ tự tạo nặng l.500 kg để đánh tàu. Tổ đặc công xuất kích vào 19 giờ tối 22-8-1966, đến 3 giờ sáng ngày hôm sau đến vị trí tập kết. Mặc dù kẻ địch rất cảnh giác, luôn cho tàu tuần tra chung quanh và bắn pháo sáng liên tục để cảnh giới, nhưng tổ đặc công vẫn bí mật tiếp cận được mục tiêu. Sau khi hỗ trợ nhau cột thả hai trái nổ có cài thiết bị hẹn giờ dưới gần khoang buồng máy, các chiến sĩ đặc công liền rút êm ra khoảng cách an toàn để quan  sát. Đúng 8 giờ 8 phút sáng ngày 23-8-1966, hai tiếng nổ long trời làm nổ tung tàu Vic to-ry. Chiếc tàu mang đầy vũ khí và phương tiện giết người của địch đã bốc cháy và từ từ chìm nghỉm.
Trong khi địch đang còn hoang mang về sự ẩn hiện của bộ đội ĐCRS làm cho chúng tiêu hao lực lượng thì đến ngày 1-11-1966, “Việt cộng rừng Sác” lại làm cho chúng một phen kinh hoàng. Trong ngày đó, địch đang làm lễ gọi là “mừng quốc khánh” ở Sài Gòn thì bất ngờ bị “ăn” một loạt đạn pháo ĐKZ 75 của bộ đội ĐCRS. Vụ pháo kích này đã làm địch phải bỏ chạy hoảng loạn, làm dở dang cả buổi lễ long trọng của chúng.
Vào những năm cuối của cuộc chiến tranh giải phóng, bộ đội đoàn 10 Rừng Sác lại lập nên những chiến công vang dội. Cuối năm 1972, để trả thù cho nhân dân miền Bắc bị Mỹ dội bom, Đoàn 10 đã tổ chức đánh hai trận nền trong một tháng vào kho đạn Thành Tuy Hạ. Hai trận đánh này phá hủy toàn bộ kho đạn bom của địch, trong đó có 2 trái bom CBU là loại có sức công phá cực kỳ to lớn. Đến cuối năm 1973, trận đánh vào kho xăng nhà Bè của bộ đội Đoàn 10 thiêu hủy khoảng 250 triệu lít xăng của địch, càng làm cho quân xâm lược và quyền tay sai khiếp sợ mỗi khi nghe đội ĐCRS.
Trên đây chỉ là những chiến công nổi bật. Trải qua 9 năm chiến đấu khốc liệt thời kỳ chống Mỹ, bộ đội Đoàn 10 đánh chìm trên 500 tàu giặc, tiêu diệt hàng ngàn tên địch. Cán bộ, chiến sĩ của Đoàn 10 là con em của nhân dân khắp 30 tỉnh, thành cả nước. Lực lượng này quy tụ dưới ngọn cờ vinh quang của Tổ quốc được sự đùm bọc, che chở và tích cực tiếp tế của nhân dân phương thuộc các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, TP.HCM và Long An nên đã đương đầu được với kẻ địch lớn mạnh hơn bội phần. Những chiến công của Đoàn 10 đã góp phần đáng kể đẩy nhanh cuộc giải phóng miền Nam mau tiến tới thắng lợi.
 
Người mang bí số TX120
PHẠM THẾ HÙNG. Người mang bí số TX120 / Phạm Thế Hùng // Đồng Nai. - 2001. - Ngày 24 tháng 4. - Tr.6

Đó là chị Lê Thị Lệ tức Thọ đội viên đội trinh sát vũ trang Long Khánh, người bạn chiến đấu thân thiết nhất của anh hùng liệt sĩ Hồ Thị Hương. Tham gia cách mạng năm 1971 khi vừa mới 13 tuổi, Lê Thị Lệ được đồng chí Lương Hoàng nay là Phó ban nội chính Tỉnh ủy Đồng Nai giao nhiệm vụ nắm tình hình địch trong nội ô thị xã Long Khánh. Tuy tuổi nhỏ nhưng với bản tính nhanh nhẹn, dũng cảm chị luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Năm 1973, chị được chuyển qua làm đội trinh sát vũ trang( TSVT) Long Khánh dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Nguyễn Huệ nguyên Phó giám đốc Công an Đồng Nai lúc đó là Trưởng Ban an ninh Long Khánh và đồng chí Lương Văn Thọ, Đội trưởng Đội TSVT. Tổ của chị ở cánh B1 phần lớn là những cô gái trẻ trung hiền thục nhưng tên tuổi của họ đã gắn liền với những chiến công oanh liệt của Công an tỉnh Đồng Nai và là niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân Long Khánh anh hùng. Chiến tranh đã lùi xa hơn một phần tư thế kỷ, chị đang sống với mái ấm gia đình chồng con. Khoảng thời gian trôi qua khá dài cho một cuộc đời nhưng mỗi khi nhắc lại những kỷ niệm về thời kỳ hoạt động đầy khó khăn ác liệt, chị vẫn không tránh khỏi những bồi hồi, xúc động. Chị kể:
“Tôi nhớ lần ra quân đầu tiên, tôi cùng chị Hồ Thị Hương (H25) được giao nhiệm vụ đánh trái nổ vào toán thám sát E52 sư đoàn 18 ngụy. Công việc hết sức khó khăn, nguy hiểm nhưng ai nấy đều háo hức vui mừng. Sau nhiều lần quan sát nắm chắc tình hình chúng tôi quyết định hành động. Đêm 5-12-1974, tôi chở trái nổ định giờ hóa trang thành hộp sữa Meiji để trong giỏ xe đạp đi thẳng vào quán - nơi tụi binh lính ngụy đang ăn nhậu. Gọi ly kem ăn chưa xong thì chị Hương cũng vừa xuất hiện, tôi vội tính tiền rồi lên chiếc xe Hon da Dame của chị Hương chạy thẳng, để chiếc xe đạp lại "kỷ niệm" cho chúng. Nghe đâu, trận ấy ta diệt được gần 10 tên địch. Lần khác, tôi cùng chị Hồ Thị Hương( H25) và chị Phùng Thị Thận (C8T) được lệnh đánh vào quán Ngọc Hương, nơi tụ tập ăn chơi của bọn sĩ quan, binh lính ngụy. Kế hoạch được vạch ra và tập dợt khá tỉ mỉ. Trái mìn định giờ được bí mật ém sẵn ở một quầy bán sách báo gần quán Ngọc Hương. Cũng bằng phương thức cũ, tôi cho cái “hộp sữa” vào giỏ xe và ung dung đạp tới quán Ngọc Hương. Lúc này chị Hương và Thận đang ngồi ăn kem trong quán. Thấy tôi, hai chị gọi vào. Tôi dựng chiếc xe đạp chỏng chơ trước quán, cả ba vẫn ăn uống thản nhiên vui vẻ. Hường và Thận đứng dậy ra về trước, nhưng cố tình đạp xe không nổ máy để nhờ tôi đẩy dùm. Đẩy được một quãng khá xa, tôi nhảy lên xe luôn và cả ba phóng đi trong đêm tối, để lại sau lưng một tiếng nổ kinh thiên động địa. Kết quả hơn 16 tên sĩ quan, binh lính ngụy bị tiêu diệt. Tiếp tục phát huy tinh thần chiến thắng, ngày 7-1-1975, cũng bằng phương thức tiếp cận mục tiêu để đánh địch bằng mìn hẹn giờ, tôi và chị Hồ Thị Hương đã thực hiện thành công trận đánh vào quán Hoàng Diệu giữa ban ngày buộc 40 tên cảnh sát đặc biệt và cảnh sát dã chiến địch phải đền tội...”.
Còn rất nhiều trận đánh lớn nhỏ khác chị không có thời gian để kể lại hết nguyên vẹn mọi tình tiết éo le, gay cấn mà chị đã cùng đồng đội tham gia, để viết lên những trang sử vẻ vang của đội trinh sát vũ trang Long Khánh anh hùng, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước. Đã 26 năm trôi qua, đồng đội của chị tuy kẻ còn người mất nhưng mỗi năm cứ đến dịp kỷ niệm ngày giải phóng Long Khánh 21-4, các chị các anh lại về đây cùng nhau ôn lại một thời chiến đấu gian khổ nhưng đầy oanh liệt của mình, thắp nén nhang tưởng nhớ những người đồng chí đã vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất Long Khánh thân yêu. Chị Lê Thị Lệ đưa cho tôi xem rất nhiều bằng khen, giấy khen, huân, huy chương cao quý của Nhà nước trao tặng. Thấy chị tôi cứ băn khoăn một điều về chị, một cô thiếu nữ chưa đầy 17 tuổi mà đã tham gia hàng chục trận đánh đầy nguy hiểm, tiêu diệt hơn 65 tên địch giữa một thị xã được mệnh danh là “cánh cửa thép” phía Đông của chế độ Sài Gòn, lẽ ra chị phải được phong tặng danh hiệu cao quý hơn! Chị mỉm cười: “Tôi được nhìn thấy thành quả đấu tranh cách mạng của mình, có cuộc sống như ngày hôm nay là điều vinh hạnh lắm rồi, còn bao nhiêu đồng chí khác đã hy sinh không kịp nhìn thấy quê hương được giải phóng. Chiến công là nhờ sự lãnh đạo tài tình của cấp trên, sự phối hợp kết hợp của toàn thể đồng đội chứ cá nhân tôi thì có gì đáng nói đâu. Hồi đó chúng tôi đi làm cách mạng chỉ mong muốn có một điều là được phục vụ cho Đảng, cho dân, góp phần đấu tranh chống kìm kẹp, áp bức tiến tới đấu tranh giải phóng quê nhà, thống nhất Tổ quốc”. Cảm động và kính phục biết bao trước những lời bộc bạch hết sức chân tình, giản dị của một người phụ nữ đã từng vào sinh ra tử nhưng chứa đựng bao khí phách anh hùng! Được biết sắp tới Công an tỉnh Đồng Nai sẽ phối hợp với hãng phim truyền hình Trung ương tiến hành xây dựng bộ phim về người anh hùng LLVT Hồ Thị Hương, đội viên Đội TSVT Long Khánh. Chị cho rằng đây là việc làm cần thiết nhằm giáo dục truyền thống cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Tôi thấy trong đôi mắt chị ánh lên một niềm vui.
Người chỉ huy mở “Cánh cửa thép” Xuân Lộc
BÙI THUẬN. Người chỉ huy mở “Cánh cửa thép” Xuân Lộc / Bùi Thuận // Đồng Nai. - 2002. - Ngày 23 tháng 4. - Tr. 8-9.

   Có một sự trùng hợp khá lý thú. Ngày 30-4-1920 ở vùng quê nghèo khổ của xã Cao Sơn, huyện Ứng Hoà (tỉnh Hà Tây) có cậu bé Đỗ Văn Cầm cất tiếng khóc chào đời. Khi cậu bé Cầm vừa được 4 tuổi thì người mẹ thiếu đói kiệt  sức qua đời. Năm Cầm đựợc 12 tuổi thì người cha gục chết. Gia đình chỉ còn 4 anh em nay phải sống cảnh ly tán. Thế nhưng đúng 55 năm sau, vào ngày 30-4-1975, cậu bé Cầm nghèo đói ngày xưa giờ được biết đến là tướng Hoàng Cầm - Tư lệnh Quân đoàn 4 đĩnh đạc đưa đại quân vào tiếp quản dinh Độc Lập. Đối với vị tướng lúc đó mới 55 tuổi mà đã có trên 30 năm xông pha trận mạc thì đoạn đời ông vừa trải qua quả là một giấc mơ - giấc mơ lớn, gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng...
Sau khi cả 4 anh em đều phiêu bạt, Cầm phải đi ở đợ và làm thuê, làm mướn kiếm cơm tự nuôi thân. Đến năm 20 tuổi, Cầm quyết định bỏ làng ra đi. Lưu lạc từ Hà Đông ra đến Hà Nội với nhiều nghề lặt vặt nhưng anh nhà quê vô gia cư vẫn không kiếm được một đồng dính túi. Túng cùng quá, Cầm xin đi lính khố xanh cho Pháp. Được Việt Minh tuyên truyền, anh lính khố xanh này chuyên sang tham gia hoạt động cách mạng.
Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945, Đỗ Văn Cầm trở thành Cứu quốc quân và sau đó là Vệ quốc đoàn rồi trở thành Giải phóng quân. Dù ở bất cứ danh xưng nào, những thanh niên tham gia vào lực lượng vũ trang vào thời kỳ này đều đánh giặc bằng cách cướp vũ khí của giặc. Suốt những năm từ 1946 đến 1949, chiến sĩ giải phóng quân Đỗ Văn Cầm tham gia mặt trận Sơn La, đánh nhau với Quốc dân Đảng. Cuối năm 1949, Hoàng Cầm (lúc này Đỗ Văn Cầm đã lấy tên là Hoàng Cầm) được điều sang làm tiểu đoàn phó của trung đoàn Sông Lô nổi tiếng đang đánh quân Pháp ở Đông Khê. Chiến công nối tiếp những chiến công, Hoàng Cầm từng bước trở thành trung đoàn trưởng Trung đoàn Sông Lô. Năm 1954, chính  trung đoàn Sông Lô do Hoàng Cầm chỉ huy đã bắt Sống tướng De Castrie ở Điện Biên Phủ. Cuộc đời binh nghiệp của Hoàng Cầm trở nên rực sáng. Sau đó, ông làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 312 rồi trở thành Sư đoàn trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy của đơn vị lừng danh này.
Cuối năm l964, Hoàng Cầm được lệnh vào Nam chiến đấu. Và ở chiến trường miền Đông bắt đầu biết đến một vị chỉ huy quân sự đầy tài năng thao lược có bí danh là Năm Thạch. Năm Thạch được giao xây dựng đơn vị chủ lực đầu tiên của Quân giải phóng miền Nam là Sư đoàn 9. (Đây là sư đoàn đàn anh trong cuộc đối đầu với quân Mỹ - về sau được tuyên dương anh hùng). Sau khi tướng Trần Văn Trà thay tướng Hoàng Văn Thái làm Tư lệnh Miền, Năm Thạch được cử làm Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Miền. Ngày 20-7-1974, tướng Năm Thạch được cử làm Tư lệnh Quân đoàn 4. Quân đoàn này hợp thành bởi Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 cùng một số tiểu đoàn độc lập để tạo thành cú đấm thép chuẩn bị cho kế hoạch “làm ăn lớn”. Tư lệnh phó là Đại tá Bùi Cát Vũ. Vừa ra đời, Quân đoàn 4 dưới sự chỉ huy của Tướng Hoàng Cầm đã làm nên những chiến dịch vang dội: Đồng Xoài, Bàu Bàng, Dầu Tiếng, đường 13, Lộc Ninh... Đặc biệt là giải phóng toàn bộ Phước Long - tỉnh đầu tiên ở miền Nam để Bộ chính trị và Quân ủy trung ương thấy rõ được thời cơ đề ra sách lược mới. Nhưng với trận Xuân Lộc, tên tuổi của Quân đoàn 4 và tướng Hoàng Cầm đã chính thức đi vào quân sử thế giới.
Thượng tướng Hoàng Cầm nhớ lại: “… Địch quyết giữ Xuân lộc, vì nó được ví như chiếc xoáy ốc cuối cùng quyết định số phận ngụy quân, ngụy quyền. Tướng Wayan, Tham mưu trưởng lục quân Mỹ đã lệnh cho quân đội ngụy “phải giữ cho được Xuân Lộc mất Xuân lộc là mất Sài Gòn”. Cả Mỹ và ngụy còn tính toán xa hơn, phải bảo vệ Xuân Lộc bằng mọi giá, hy vọng chận đứng được bước tiến của đối phương ở đây, kéo dài thời gian đến mùa mưa, tìm kiếm một giải pháp chính trị nào đó, có cơ may cứu vãn được tình thế, tránh khỏi thất bại hoàn toàn. Do đó, Bộ Tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn đã tăng cường việc phòng thủ cho Xuân Lộc bằng một lực lượng quân sự tương đương với 2 sư đoàn. Ngoài Sư đoàn 18 bộ binh lúc ấy còn nguyên vẹn còn có 1 tiểu đoàn biệt động quân, trung đoàn 5 thiết giáp, 8 tiểu đoàn bảo an, 202 đại đội địa phương, 42 khẩu pháo... Trước một thế trận phòng thủ vững chắc như vậy nên xông vào mặt trận Xuân Lộc bằng đòn vỗ mặt trực diện, Quân đoàn 4 bị phản công quyết liệt. Chỉ trong 3 ngày đầu chiến đấu đã có 1.500 cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn 341 và Sư đoàn 7 thuộc quân đoàn 4 bị thương vong. Ngoài ra còn có 3 xe tăng bị bắn cháy, 3 xe bị bắn hỏng. Nghiêm trọng hơn là toàn bộ pháo 85 và 57 ly đều hỏng. Đã thế địch còn điều lên Xuân lộc lữ đoàn 1 nhảy dù, liên đoàn 33 biệt động quân, trung đoàn 8 của Sư đoàn 5 bộ binh, hai lữ đoàn thủy quân lục chiến “trâu điên” và rầm rộ nhất là các thiết đoàn 315, 318, 322... cùng lời hứa của chuẩn tướng Lê Minh Đảo Tư lệnh Sư đoàn 18 bộ binh ngụy với Nguyễn Văn Thiệu là “quyết tử thủ Xuân Lộc”. Thượng tướng Hoàng Cầm cho rằng đây là “một trận đánh gay go quyết liệt chưa từng có từ trước đến nay” và ông hết sức băn khoăn, lo lắng. Đang ngồi vắt óc suy tính bỗng ký ức về chiến dịch biên giới Việt – Trung năm 1950 là giải phóng thị xã Cao Bằng mà đánh Đông Khê buộc quân lực mạnh của Pháp đang đồn trú thị xã này phải co cụm lại đã lóe ra một giải pháp quân sự. Cùng lúc chỉ thị của Đại tướng Văn Tiến Dũng là “khi địch đã dồn quân vào để cố thủ cứu nguy thị xã Xuân Lộc, thì ta không cần tập trung lực lượng trực tiếp đánh thẳng vào đây nữa, mà chuyển lực lượng đánh vào các đơn vị đến phản kích đứng chân chưa vững ở vòng ngoài đang thiếu cộng sự và thiếu sự hợp đồng chặt chẽ với nhau, đồng thời dùng pháo tầm xa bắn phá và khống chế liên tục ngày đêm vào sân bay Biên Hoà, không cho máy bay chiến đấu cất cánh đã giúp cho Tư lệnh Hoàng Cầm nhanh chóng hoạch địch phương án chuyển hướng tiến công. Tướng Trần Văn Trà - Tư lệnh Bộ chỉ huy Miền từ lộc Ninh đã hối hả đến Xuân Lộc để nghe tướng Hoàng Cầm trình bầy kế hoạch chuyển hướng tiến công. Nghe xong, tướng Trà hết sức phấn khởi và nhấn mạnh thêm: “Đánh vỗ mặt vào Xuân Lộc lúc này là không có lợi. Việc chuyển hướng đánh chiếm ngã ba Dầu Giây, bao vây cô lập Xuân lộc để mục đích cuối cùng là tiêu diệt địch, giải phóng Xuân Lộc là hoàn toàn đúng và có điều kiện thực hiện. Vì địch ở khu vực Dầu Giây yếu và bị bất ngờ. Nếu Dầu Giây bị ta đánh chiếm thì Xuân Lộc tự nhiên mất hết tác dụng của một cứ điểm then chốt vì nó nằm ngoài tuyến phòng thủ rồi… Miền sẽ lệnh cho lực lượng pháo binh và đoàn đặc công 113 thuộc quyền khống chế có hiệu lực sân bay Biên Hoà trước và trong quá trình Quân đoàn thực hiện kế hoạch tác chiến mới…”
Rạng sáng ngày 15-4-1975, khi hành loạt đạn pháp 130 ly bắt đầu bắn phá sân bay Biên Hoà thì cũng là lúc các đơn vị tăng viện cho Quân đoàn 4 hợp đồng tiến công tiêu diệt chiến đoàn 52 của Sư đoàn 18 và một chi đoàn thiết giáp địch, giải phóng ngã ba Dầu Giây và đoạn cuối đường 20 từ Túc Trưng đến Kiệm Tân. Lúc này, Sư đoàn 7, Sư đoàn 341 của Quân khu 4 cũng đồng loạt nổ súng hướng Dầu Giây - Núi Thị tiêu diệt hai chiến đoàn 43, 48 và gây thiệt hại cho Lữ đoàn 1 nhảy dù của địch.
Sáng 21-4-1975, “cánh cửa thép” Xuân Lộc - tuyến phòng thủ cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hoà sụp đổ tan tành, chuẩn tướng Lê Minh Đảo – Tư lệnh Sư đoàn 18 leo lên chiếc trực thăng rời khỏi đống đổ nát. Tướng Wayen – tác giả của công trình lập tuyến phòng thủ Xuân lộc nghe tin kêu lên: “Thế là hết! Tình hình quân sự là tuyệt vọng”. Tối đó, Thiệu lên truyền hình từ chức…
1 - 10 Tiếp theo