Bỏ qua nội dung chính

BacHo

Tìm kiếm
Trang chủ
Tra cứu
Thư viện số
Thư viện Koha
Văn bản
Youtube
Tài Liệu Số
  

Blogs khác
Không có khoản mục nào trong danh sách này.
Liên kết
Không có khoản mục nào trong danh sách này.

Thư viện Tỉnh Đồng Nai > trangtin > BacHo > Danh mục
Chuyến đi lịch sử Tết Canh Dần của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890, tuổi Canh Dần. Ít người được biết Bác Hồ của chúng ta đã có một chuyến đi rất bí mật qua Trung quốc, sang Liên Xô đúng vào những ngày Tết Nguyên Đán năm Canh Dần - 1950, khi Bác vừa tròn 60 tuổi.



Sáng ngày 29-12-1949, đích thân Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến trao cho đồng chí Trần Đăng Ninh (thành viên trong đoàn tháp tùng Bác) 50 đồng tiền vàng để làm quà tặng cho bạn, với ý nghĩa đây là đồng tiền Việt Nam đầu tiên được ta đúc sau khi thành lập Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Chiều hôm đó đoàn lên đường. Hành trình có nhiều ngày đi bộ gian nan. Bác cùng đoàn công tác gồm đồng chí Trần Đăng Ninh, bác sĩ Chánh, cận vệ Nhất khởi hành từ phủ Chủ tịch, ở châu Tự Do (Tuyên Quang) nhằm hướng bắc thăng tiến. Từ Trùng Khánh (Cao Bằng) sang Thủy Khẩu (Vân Nam - Trung Quốc) khoảng 40 km. Bác cùng đoàn tùy tùng phải xuống ngựa đi bộ. Đoạn đường này không dài nhưng rất khó đi và nguy hiểm vì thời điểm dó Trung Quốc mới được giải phóng. Tưởng Giới Thạch đã chạy ra đảo Đài Loan nhưng còn những nhóm nhỏ tàn quân biến thành thổ phỉ. Tới Long Châu. Bác Hồ bắt được liên lạc với Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Mao Chủ tịch phái người và xe đón đoàn về Nam Ninh, nghỉ ở đó hai ngày rồi lên xe lửa, đi Bắc Kinh. Bác dừng chân và làm việc ở Bắc Kinh hơn một tuần. Ngày 1/2/1950 Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc làm Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hôm đó Bác Hồ quyết định để bác sĩ Chánh và cận vệ Nhất về nước. Ngày 3/2 Bác cùng đồng chí Trấn Đăng Ninh áp xe lửa liên vận đi Mát -xcơ-va.

Ngày 16-2-1950, ngày 30 Tết Việt Nam, Xta-lin mở đại tiệc tại diện Kremli để mừng Hiệp ước hữu nghị tương trợ Xô - Trung vừa được ký, cũng là để chúc mừng năm mới nhân dịp Tết cổ truyền của các dân tộc hai nước Trung Quốc và Việt Nam. Xtalin ngồi bên Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chi Minh.

Trong bầu không khí đồng chí, anh em thắm thiết, Bác Hồ nói với Stalin:

- Thưa đồng chí Stalin, tôi xin đề nghị đồng chí! Xtalin cười, đáp :

- Sao đồng chí lại đề nghị tôi! Đồng chí là Chủ tịch Việt Nam, tôi là Chủ tịch Lên Xô, chúng ta trao đổi.

Bác Hồ nửa đùa nửa thật:

- Đồng chí đã ký với đồng chí Mao Trạch Đông Hiệp ước Xô-Trung, vậy nhân dịp này chúng ta cùng ký Hiệp Xô - Việt

- Xtalin biết Người hay hài hước nên cười vui và nói:

- Nhưng đồng chí Hồ ơi! Đồng chí sang thăm chúng tôi lần này là chuyến đi bí mật. Vì vậy mà tôi và đồng chí chưa thể ký một hiệp ước. Tuy nhiên, chúng ta có thể "ký" với nhau một bản "khẩu ước" ngay tại đây, trước sự chứng kiến của các quan khách và bạn bè, rằng ...

Bác Hồ tiếp ngay lời Xtalin :

- Lên Xô với mọi khả năng của mình ủng hộ Việt Nam chiến thắng thực dân Pháp. Việt Nam sẽ độc lập.

Phòng tiệc vang lên tiếng vỗ tay và tiếng reo: hu-ra, chứng kiến bản "khẩu ước'' của hai lãnh tụ.

8 giờ tối ngày 11/3/1950 (tức 23 tháng giêng năm Canh Dần) Bác cùng đồng chí Trần Đăng Ninh rời Mát-xcơ-va về Bắc Kinh. Giữa tháng 4, Người về tới Tuyên Quang. Ngày 16/9 năm đó, chiến dịch Biên giới mở màn từ Đông Khê (Cao Bằng).

Một chuyến đi gian khổ và bí mật từ Á sang Âu giữa Tết cổ truyền của dân tộc - Tết Canh Dần cách đây 60 năm. Chuyến đi lịch sử ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành công cả hai mặt chính trị và ngoại giao, đặt nền móng cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa việt Nam với Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN khác sau này.

QUỲNH LIÊN

Doanh nghiệp và hội nhập, Số tháng 2/2010, Tr. 9

..."Cán bộ "gầy", nhân dân "béo" mới là vinh hạnh”...

Năm mươi năm trước, ngày 23-9-1958, Bác Hồ lên thăm tỉnh Lào Cai. Khi đó, tôi là cán bộ bảo vệ chính trị của Ty Công an được cấp trên giao nhiệm vụ cùng đồng chí Phạm Quế phối hợp với các đồng chí tiếp cận của bộ bảo vệ tuyệt đối an toàn cho chuyến đi.



Đúng 10g30, đoàn tàu hỏa đặc biệt mang số hiệu 424 do tài xế Nguyễn Văn Thêm lái đưa Bác tới ga Làng Giàng. Từ đây Bác Hồ lên ôtô sang sông để thăm công nhân mỏ apatit Cam Đường (thường gọi là apatit Lào Cai). Thấy giữa sông một chiếc canô đang chạy rẽ sóng với tốc độ rất cao, Bác quay lại đồng chí Hoàng Trường Minh, bí thư tỉnh ủy, hỏi: "Các chú biểu dương lực lượng đón Bác đấy à?". Đồng chí Hoàng Trường Minh thật thà thưa: "Thưa Bác, đó là chiếc canô kiểm tra trên sông trước lúc đoàn qua đấy ạ!".

    Lúc đó, đồng chí cảnh vệ bảo vệ Bác đứng cạnh tôi, nói nhỏ: Năm trước, Bác lên thăm tỉnh Cao Bằng, tỉnh ủy cho kết hoa thật đẹp lên chiếc xe mui trần để Bác đi. Khi đồng chí bí thư tỉnh ủy mời Bác lên xe kết hoa, Bác nhất định không đi và nói với đồng chí bí thư: "Chú nào ra lệnh kết hoa lên xe thì chú đó đi". Lời phê bình nhẹ nhàng mà nghiêm khắc về bệnh phô trương hình thức đã để lại cho Cao Bằng một bài học thấm thía.

    Địa chỉ và người được Bác đến thăm và tặng quà đầu tiên trong chuyến lên thăm Lào Cai là ông Trần Văn Nỏ. Ông Nỏ là một nông dân người Tày ở xã Cam Đường. Năm 1924, khi còn là một cậu bé, trên đường lên nương, mệt và khát nước, cậu chặt một ống nứa đun nước uống. Bỗng dưng ba hòn đá kê bếp bốc cháy phừng phừng, tỏa ra ngọn lửa xanh lè. Đá cháy và lửa xanh là điều chưa từng thấy làm Nỏ hoảng sợ, nghi là hòn đá ma, sợ ma báo thù vì gia đình Nỏ có làm nghề thầy cúng. Nỏ liền báo với lý trưởng, lý trưởng báo quan Tây... Từ đó, thực dân Pháp đã thăm dò và khai thác apatit ở Lào Cai. Cách mạng rồi kháng chiến chín năm, mỏ không hoạt động. Đến ngày 29-9-1955 ta bắt đầu khôi phục và mở rộng diện khai thác. Ông Nỏ được coi là người đầu tiên phát hiện mỏ apatit và được ghi vào lịch sử của mỏ.

    Sáng hôm sau, Bác nói chuyện với cán bộ các cơ quan dân chính đảng, đại diện các dân tộc tại sân tỉnh ủy.

    Buổi chiều, Bác xuống thăm công trường xây dựng Nhà máy thủy điện Lào Cai.

    Buổi chiều đó nắng nóng, khi Bác nói chuyện với công nhân, đồng chí bí thư Đảng ủy công trường che ô cho Bác. Người gạt đi và nói mọi người cũng như Bác, mượn cho Bác cái mũ là được.

    Sau buổi mittinh ở sân nhà tỉnh ủy, Bác gọi đồng chí Hoàng Trường Minh (bí thư kiêm chủ tịch tỉnh Lào Cai lúc đó) và một số cán bộ chủ chốt của tỉnh về đời sống và phong tục của đồng bào các dân tộc. Trong khi đồng chí Hoàng Trường Minh loay hoay tìm chỗ ngồi cho Bác thì Bác đã tháo dép ngồi ngay xuống thềm nhà mát mẻ, sạch sẽ. Thế là tất cả đều ngồi xuống thềm quây quần quanh Bác.

    Riêng một đồng chí mặc comlê đi giày tây bóng loáng cứ loay hoay mãi. Bác hỏi: "Chú ngồi xuống. Chú béo đấy. Chú làm công tác gì?". Đồng chí Hoàng Trường Minh thưa: "Thưa Bác, đây là chú Tiến, trưởng Ty Thương nghiệp". Bác nói ngay: "Làm thương nghiệp lúc này là phải xắn quần lên, mang muối, vải và dầu hỏa lên vùng cao cho đồng bào miền núi và thu mua lương thực, thực phẩm cung cấp cho bộ đội và nhân dân... Cán bộ mà "gầy", nhân dân mà "béo" đó là điều vinh hạnh cho Đảng ta...".

    Hai ngày 23 và 24-9-1958 là hai ngày hạnh phúc nhất của đời tôi khi được ở bên Bác, bảo vệ Bác và nghe những lời dặn dò thân thiết mà sâu sắc của Người. Đó là những lời nói giản dị, bình thường mà có ý nghĩa khai sáng, nghiêm giới suốt cả cuộc đời, khiến tôi không bao giờ sai lầm và làm được một số điều có ích cho sự nghiệp chung, có ý nghĩa trong cuộc đời tôi và gia đình tôi.

    NGUYỄN SĨ ĐẠI

    (Theo lời kể của đồng chí Phạm Ngọc Minh, cán bộ công an hưu trí, phường Pom Hán, TP Lào Cai)

..."Người mình nên hát tiếng mình thì Bác và các chú ở đây mới hiểu, mới hay chứ"...

Sau chiến dịch Điện Phủ toàn thắng ngày 7 tháng 5 năm 1945, tôi và một số đồng chí thuộc E98 - F316 được cấp trên cho đi làm nhiệm vụ "đặc biệt". Ai cũng hồi hộp. Đến khi cấp trên tuyên bố: "Các đồng chí được vinh dự lớn, bổ sung làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan Trung Ương và Bác Hồ" thì lòng tôi vỡ òa sung sướng...



Tiếp quản Thủ đô ngày 10 tháng 10 năm 1954, ngày 11-10-1954 anh em chúng tôi trong trang phục gọn gàng, súng đạn sẵn sàng tiến quân vào Hà Nội nhận nhiệm vụ cao quí mới. Những ngày đầu, cơ quan Trung ương đóng tại nhà thương Đồn Thủy (nay là Quân y viện 108), về sau chuyển về khu Ba Đình.

Năm đó Bác rất khỏe và đi đứng nhanh nhẹn, ánh mắt Bác thật ấm áp trìu mến. Thường ngày Bác hay mặc bộ bà ba màu nâu và đi dép cao su. Lúc rảnh rỗi, Bác tập trung anh em cảnh vệ lại, bằng giọng nói rõ ràng và ấm áp, Bác chỉ bảo cho chúng tôi biết phong tục tập quán riêng của đồng bào Hà Nội, cách đi đứng và những việc thông thường rất cần thiết như vào nhà tắm, nhà vệ sinh, uốn nắn chúng tôi từng lời ăn tiếng nói…

Với tấm lòng yêu mến lãnh tụ, nhân dân trong nước và kiều bào nước ngoài thường hay tặng Bác những món quà đặc biệt quí hiếm. Một lần, có người dân chài lặn lội từ miền biển lên, biếu Bác mấy cân bong bóng cá. Bác giao cho đồng chí Cẩn mang đến tặng đơn vị chúng tôi. Bác còn cẩn thận nhờ đồng chí Cẩn, là người lo cơm nước cho Bác chế biến để anh em chúng tôi được thưởng thức đặc sản.

Một lần khác, có tiền nhuận bút từ Liên Xô (cũ) gởi về, Bác đem đến tặng đại đội chúng tôi trước lễ Quốc Khánh 2-9 khoảng hai, ba tháng. Bác dặn: "Nhiều no ít đủ, Bác không có nhiều tiền cho các chú. Số tiền này, các chú mua con giống tăng gia thêm để đến ngày Quốc Khánh các chú có đủ thịt, cá, rau mà liên hoan cùng nhau".

Ngày lễ lớn những năm đầu tiếp quản Thủ đô, nhân dân Hà Nội và các cơ quan đoàn thể tham dự mit tinh thả bồ câu trắng tung bay rợp trời, tượng trưng cho khát vọng hòa bình. Hàng đàn bồ câu trắng ở lại quanh lễ đài, quanh nhà khách Chủ tịch và quanh nhà Bác ở. Đất lành chim đậu, Bác rất vui. Những lúc rảnh rỗi, Bác thường cho bồ câu ăn. Vậy mà có một vài đồng chí bộ đội vô ý thức bắt bồ câu làm thịt. Bác không vui, phê bình thật nhẹ nhàng, thấm thía: "Nhân dân thả bồ câu để cầu nguyện hòa bình, sao các chú nỡ giết thịt?".

Nhớ một ngày hè, Bác dạo quanh vườn bắt gặp tổ 3 người chúng tôi là anh Hạnh, anh Thái và tôi đang trèo cây hái nhãn. Sợ quá, tưởng Bác sẽ quở trách, ai ngờ Bác vui vẻ dặn dò: "Hái nhãn ăn cũng được nhưng phải hết sức cẩn thận, kẻo ngã thì khốn".

Những việc làm của Bác, những lời của Bác dạy bảo chúng tôi chỉ là những chuyện thông thường, rất giản dị nhưng đã làm chúng tôi nhớ mãi như những điều thiêng liêng, bởi những điều đó xuất phát từ tình thương bao la của Bác, thắm đượm tình cảm của Bác – như tình cảm một người cha dành cho những đứa con thân yêu của mình.

    Những lần đại tiệc, tiếp khách nước ngoài, Bác đều dặn dò bộ phân giao tế nhớ để phần cho bộ đội bảo vệ. Những hôm có đoàn ca kịch hoặc chiếu phim, ngoài những người đang làm nhiệm vụ còn tất cả chúng tôi đều được quây quần quanh Bác cùng xem. Một lần đoàn kinh kịch của Trung Quốc biểu diễn tích xưa có vai các tướng đấu kiếm với nhau, buổi biểu diễn kết thúc, các đại sứ nước ngoài đua nhau tặng hoa cho vị tướng đóng vai thắng trận. Riêng Bác, Bác tặng hoa cho viên tướng đóng vai thua trận. Bác cười vui: "Ăn cho đều, kêu cho khắp, phải động viên họ để lần sau đánh thắng chứ".

Có lần đoàn tuồng Ái Liên biểu diễn phục vụ cơ quan Chính phủ vở Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, diễn viên trình diễn xuất sắc làm rung động lòng người, khán giả hoan nghênh nhiệt liệt. Xong buổi diễn Bác có vẻ không được vui, Người bước lên sân khấu và đọc mấy vần thơ:

    "Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài
    Chữ tình nên trọng, chữ tài nên thương
    Lão già dở dở ương ương.
    Làm đôi anh chị dở duyên không thành
    Đánh cho phong kiến tan tành,
    Cho trăm ngàn Sơn Bá – Anh Đài thành đôi"

    Bác dạy chúng tôi những bài học thật tế nhị, trong lúc chờ phim, chúng tôi quây quần bên Bác vui văn nghệ, một cô gái xung phong hát bằng tiếng nước ngoài, Bác đề nghị: "Người mình nên hát tiếng mình thì Bác và các chú ở đây mới hiểu, mới hay chứ". Lại một đồng chí bộ đội xung phong: "Tôi ra đây hát mừng Cụ Hồ sống lâu muôn tuổi", Bác bảo: "Chú hát bài khác, bài này cũ lắm rồi!".

    Có một đêm chiếu phim ở Liên Xô (cũ) không có người thuyết minh chính, một cán bộ học ở Nga về có lẽ chưa quen nên dịch nghe không được rõ. Bác cười bảo để Bác thuyết minh cho. Chúng tôi lắng nghe từng đoạn, từng ý, Bác dịch thật mạch lạc, gãy gọn, dễ hiểu… Ở Bác, điều gì cũng thật giản dị, và hình như điều gì Bác cũng có thể làm được!...

           HOÀNGVĂNHIỂN
            ( Theo TuoiTre )

“Giữ cái phúc cho dân”

Bác coi người cán bộ là đầy tớ của dân. Dân có phúc khi gặp người cán bộ biết lo cho dân. Còn cán bộ mà tha hóa về đạo đức thì đó là cái họa cho dân.



Bác Hồ là một tấm gương sáng về thực hành tiết kiệm. Với Bác tiết kiệm không có nghĩa là kiệt sỉ. Tiết kiệm phải phù hợp với tình hình thực tế, chi tiêu phải đúng lúc, đúng chỗ, phải đạt được hiệu quả cao!
    Trong thời kì hoạt động cách mạng ở Trung Quốc, Bác vẫn thường mặc chiếc áo len vừa cũ kĩ lại vừa bị rách. Bà Tống Khánh Linh khuyên Bác nên đổi chiếc áo khác nhưng Bác từ chối với lí do áo còn tốt. Cảm động quá, bằng bàn tay khéo léo của mình, bà Tống Khánh Linh đã mạng lại chiếc áo bị rách cho Bác.

Rõ ràng trong hoàn cảnh đó, tiết kiệm của Bác là đúng chỗ, và hiệu quả cao. Những người phục vụ khi thấy Bác vẫn mặc chiếc áo bông đã có nhiều miếng vá, ái ngại muốn Bác thay chiếc khác. Bác nói "Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy, đừng bỏ cái phúc ấy đi". Hội phụ nữ cứu quốc Hà Động tặng Bác tấm áo lụa, trên ngực có thêu dòng chữ "Kính dâng Hồ Chủ tịch". Bác cất đi không dùng, để tặng cho người có công với Tổ quốc!

Đến thăm làng Lỗ Khê (Đông Anh – Hà Nội), nơi có phong trào thi đua sản xuất giỏi, Bác căn dặn đồng bào: "Làm giỏi nhưng phải tiết kiệm giỏi". Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta vẫn thấy hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với bộ quần áo ka-ki màu sáng, cùng chiếc mũ cát-két và đôi dép cao su đã đi vào huyền thoại! Những người phục vụ vẫn thường thấy Bác mặc chiếc quần đùi cũ và chiếc áo may ô sờn vai...

Sáng ngày 24/7/1957, lúc đó Bác đang ở thăm Ba Lan, tại phòng lễ tân vào khoảng 9 giờ sáng, khi mặt trời đã lên cao mà ba chùm đèn với hàng trăm ngọn sáng trưng, Bác Hồ đã yêu cầu gặp Vụ trưởng lễ tân. Bộ trưởng Bộ ngoại giao nước bạn liền có mặt. Bác hỏi: "Chỗ tắt điện ở đâu?". Lập tức mấy chiến sĩ bảo vệ đi tắt điện. Chủ tịch Ba Lan Zawasdzki nói giọng nghiêm trang: "Xin cảm ơn đồng chí Hồ Chí Minh. Tôi thành thật nhận khuyết điểm chưa nghiêm túc thực hiện chỉ thị tiết kiệm của Lênin".

Khi nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà J.Xtin-sơn, nhà sử học Mỹ đã viết: "Tôi xin ca ngợi lời ca đẹp nhất về Người, tôi ngưỡng mộ Người bằng cả đầu óc khoa học của tôi, đồng thời bằng cả trái tim của người con gái hậu thế…. Hồ Chí Minh là một người cộng sản vĩ đại, là một siêu nhân. Người càng vĩ đại hơn ở chỗ Người là một con người bình dị…".

Soi tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào thực tế hiện nay mà thấy chạnh lòng. Nhiều cơ quan đoàn thể thi nhau sắm xe hơi sang trọng đắt tiền, đập nhà cũ xây nhà mới. Nhiều lãnh đạo cũng thi "xem xe ai hơn xe ai" để bằng mọi cách mua xe đắt tiền, với tư tưởng "con gà tức nhau tiếng gáy". Chính vì thế mới sinh ra tham ô, tham nhũng.

Có xe rồi phải biết ăn sang! Tôi từng chứng kiến nhiều hội nghị, tiệc tùng thấy có những vị lãnh đạo cứ nâng li liên tục, mồm hét lớn "Dzô! Dzô! Dzô!". Họ uống rượu ngoại, bia hảo hạng, thứ ăn ê hề, thừa mứa... Như thế không chỉ là lãng phí mà còn thậm lãng phí.

    Có thủ trưởng đứng trước cơ quan thì nói hay lắm, "tiết kiệm" lắm, nhưng thực tế là một người lãng phí có hạng. Lãng phí về sức khoẻ do chơi bời nhậu nhẹt; lãng phí về thì giờ do nói nhiều, bởi vì không có chuẩn bị trước; lãng phí tiền bạc của cơ quan vì "tiếp khách"… Cán bộ xa hoa lãng phí, chắc chắn là phải phải dính tới gian trá, tham ô … Vậy, lớp trẻ, người dân học gì ở họ ? Hy vọng gì ở họ?
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đặc biệt về thực hành tiết kiệm thật đáng để mọi người (trong đó có tôi) phải suy ngẫm...

ĐÀO SỸ QUANG

    GV Trường Cao đẳng nghề Đồng Nai, P. Thống Nhất, TP. Biên Hòa.

Phải thật lòng yêu thương đồng bào

Khi mới giành được chính quyền về tay nhân dân, Đảng và Chính phủ phát động phong trào toàn dân tham gia diệt giặc đói.



Hũ gạo tình thương (hũ gạo cứu đói) ra đời và được mọi gia đình hưởng ứng; khi chuẩn bị bữa ăn, trước khi cho gạo vào nồi nấu, người nấu tự bốc bớt một phần gạo cho vào hũ. Gạo trong hũ được định kỳ gửi đến chính quyền cách mạng để ủng hộ (cứu đói) những người dân thiếu đói.

Bác cũng tự nguyện thực hiện bằng việc mỗi tuần Bác báo cho bộ phận hậu cần cắt khẩu phần ăn không nấu, để Bác nhịn ăn một bữa, Bác thực hiện rất đều đặn và thường nhịn ăn vào bữa trưa. Biết chuyện, nhiều đồng chí Trung ương khuyên Bác làm như vậy ảnh hưởng đến sức khỏe, Bác cười hiền hậu nói: "Mình có đói mới hiểu nỗi khổ của người đói" và Bác kiên quyết thực hiện. Tiêu chuẩn khẩu phần ấy hằng tháng được chuyển đến cơ sở cứu đói của địa phương.

Năm 1946, khi dẫn đầu đoàn Chính phủ của ta sang Pháp đàm phán, biết người dân Pháp cũng còn rất nhiều người đói khổ, kể cả những nhân viên phục vụ nhà hàng cũng gom nhặt đồ ăn thừa của thực khách. Đoàn ta được đón tiếp và chiêu đãi trọng thị, đến bữa ăn Bác nhắc các thành viên trong đoàn: Ăn món nào thì ăn cho hết, thấy ăn không hết thì nên để lại nguyên món ăn đó, để cho người đói như thế cũng là một cách tự tôn trọng mình. Biết được thành tâm của Bác, không chỉ cán bộ trong đoàn ta xúc động mà các nhân viên phục vụ của Pháp rất cảm kích. Những việc như trên chính là đạo đức cách mạng, Bác luôn làm gương tiêu biểu nhất. 

Đất nước ta trong những năm qua đã cơ bản giúp người dân xóa được nạn đói, giảm bớt nghèo, đây là thành tựu của toàn Đảng, toàn dân ta, các nước nghèo khác đang phải học tập cách làm của ta. Tuy nhiên người dân ta còn nghèo, nhiều gia đình còn rất khó khăn, rất cần những tấm lòng thương yêu, chia sẻ của những người có cuộc sống đầy đủ. Dân tộc ta có câu ngạn ngữ "Miếng khi đói bằng gói khi no", sự giúp đỡ, ủng hộ dành cho người nghèo rất đáng trân trọng ghi nhận. Đồng thời với thực hành tiết kiệm, phải cùng chống lãng phí, chống ở tất cả mọi nơi, mọi việc làm, mọi sinh hoạt. Làm được như thế là góp phần giúp dân ta bớt nghèo, đó chính là hành động học tập và làm theo tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

(Kim Hoa sưu tầm)

Theo nvhtn.org.vn

Chuyện nhỏ của Bác

Với vĩ nhân, từ chuyện nhỏ có thể nghĩ tới chuyện lớn. Và quan tâm chiu chắt những việc nhỏ cũng là để làm những việc lớn...



VTV1 vừa phát một phim tài liệu rất hay về thời gian Bác Hồ ở Pháp năm 1946. Những nhân chứng còn sống như Raymond Aubrac hay Raymonde Dien đã kể những kỷ niệm "thật nhỏ" về Bác Hồ mà sau hơn 60 năm họ còn nhớ.

Raymond Aubrac năm nay đã 93 tuổi nhưng vẫn còn rất minh mẫn. Ông đã kể lý do vì sao Hồ Chí Minh khi sang Pháp đàm phán đã không ở một khách sạn sang trọng dành cho nguyên thủ quốc gia trên đại lộ "Ngôi sao", mà chỉ muốn được ở nhà ông - một ngôi nhà có vườn cây xanh thoáng đãng nhưng ở cách xa trung tâm. Ông Aubrac nói: "Ông Hồ nói với tôi là ông chỉ muốn ở một ngôi nhà nhỏ nhưng có vườn cây. Nhà tôi đúng là như thế, và tôi đã đón Hồ Chí Minh về ở suốt thời gian Người làm việc ở Paris".

Và, thật thú vị, ông Aubrac ngay hồi đó đã chụp được một bức ảnh có một không hai: Bác Hồ nằm ngủ trên bãi cỏ vườn nhà ông như một người nông dân thanh thản ngay trong thời điểm căng thẳng nhất của hòa đàm Pháp - Việt, khi Hồ Chí Minh tìm mọi khả năng có thể để chiến tranh Pháp - Việt không nổ ra. Ông Aubrac đã kể rằng Bác Hồ là người rất hòa đồng khi sống trong nhà ông. Bác đã không quên bất cứ thành viên nào trong nhà, nhất là các cháu bé, và với những người láng giềng bình thường Bác cũng luôn hỏi han chuyện trò thân mật cùng họ.

Không phải tặng những món quà đắt tiền mới chứng tỏ sự quan tâm hay tình cảm, những món quà nhiều khi rất nhỏ của Bác Hồ tặng đúng lúc và đúng cách đã khiến những người được tặng ngạc nhiên, cảm động và nhớ mãi. Người ta nói vĩ nhân thường không hoặc ít quan tâm tới những tiểu tiết, những "chuyện nhỏ", tôi không nghĩ như vậy. Người càng "lớn" thì lại càng quan tâm tới chuyện nhỏ, dù chuyện nhỏ hay tiểu tiết không bao giờ là mục đích của họ.

Không phải mục đích lớn nhưng luôn khiến họ quan tâm. Với bà Raymonde Dien - người phụ nữ Pháp anh hùng đã dám xả thân chống chiến tranh xâm lược Pháp ở Việt Nam ngay tại nước Pháp, bà vẫn còn giữ hai kỷ vật Bác Hồ tặng bà khi bà lần đầu tiên sau chiến tranh sang thăm Việt Nam: một chiếc vòng bằng ngà và một chiếc đồng hồ đeo tay. Ông Aubrac còn nhớ mãi những món quà nhỏ và cử chỉ âu yếm mà Hồ Chí Minh dành cho đứa con gái mới sinh của ông mà Bác Hồ đã nhận làm con nuôi...

Tất cả những cử chỉ, những thái độ, những tình cảm ấy có thể chỉ là nhỏ trong cuộc đời mỗi con người bình thường, dĩ nhiên cũng nhỏ trong cuộc đời mỗi vĩ nhân. Vậy mà với Bác Hồ, tôi cảm thấy Người luôn để rất nhiều mối bận tâm, rất nhiều những chiu chắt và quan tâm tới từng việc nhỏ như vậy.
    Thực ra, vào lúc sống ở nhà người bạn Pháp khuất nẻo tận ngoại ô như thế, là Bác muốn được hoàn toàn thanh thản để nghĩ những việc lớn, để quyết những điều lớn. Có thể, vĩ nhân chỉ hơn người thường ở chỗ đó: với người thường, chuyện nhỏ luôn là chuyện nhỏ. Còn với vĩ nhân, từ chuyện nhỏ có thể nghĩ tới chuyện lớn. Và quan tâm chiu chắt những việc nhỏ cũng là để làm những việc lớn. 

(Theo Thanh Niên)

Bác Hồ với ngày khai trường đầu tiên

Trong buổi ban đầu mới giành được chính quyền cách mạng, nền kinh tế kiệt quệ, thiên tai cùng nạn đói hoành hành, cả thù trong lẫn giặc ngoài câu kết hòng tiêu diệt cách mạng, đất nước ta lúc đó như "ngàn cân treo sợi tóc". Tuy bận trăm công nghìn việc, nhưng Bác vẫn dành cho việc học hành của các cháu thiếu nhi sự chăm sóc đặc biệt.



Nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam mới, Bác đã có thư cho học sinh. Trong thư, Bác nhấn mạnh, ngày khai trường đầu tiên là ngày hết thảy vui mừng vì sau mấy tháng trời nghỉ học, sau bao nhiêu chuyển biến khác thường, các em đã gặp lại thầy, gặp lại bạn, nhưng sung sướng hơn là "Từ giờ phút này giở đi các em bắt đầu nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam".

Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam mà Bác căn dặn ở đây là nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập, nền giáo dục sẽ đào tạo các em trở thành người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, nền giáo dục phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em. Sở dĩ các em được hưởng cái may mắn đó là nhờ biết đồng bào đã hy sinh, không tiếc thân, tiếc của để giành độc lập cho nước nhà. Do vậy, Bác khuyên các em: "Phải làm thế nào để đền bù lại công lao của người khác".

Ðể làm việc đó, Bác nhắc nhở trong năm học mới, các em phải: "Cố gắng, siêng năng học tập, ngoan ngoãn, nghe thầy, yêu bạn" để khi lớn lên góp phần xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên để lại, theo kịp với các nước trên toàn cầu. Bác đặc biệt nhấn mạnh: "Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em".

Những lời Bác dạy quả là di sản vô cùng quý báu, mở đầu cho "sự nghiệp trồng người" của đất nước ta.

Ðừng bỏ áo quần dân tộc mình (*)
Trung tuần tháng ba năm 1961, sau mười bảy năm xa cách, Bác Hồ trở về thăm lại tỉnh Tuyên Quang.

Ra đón Bác, có đại biểu Tỉnh hội phụ nữ. Ðồng chí là người dân tộc Tày nhưng lại chọn bộ quần áo dài trắng tân thời.
 
Biết vậy, Bác hỏi:
 
- Cô người dân tộc gì?
 
Ðồng chí nọ lúng túng thưa:
 
- Thưa Bác, cháu dân tộc Tày trắng ạ.
 
Bỗng    Bác   chỉ   đúng   một   đại   biểumặc quần áo dân tộc Tày hỏi:
 
- Thế chú này là dân tộc Tày đỏ à?
 
Rồi Bác nói vừa đủ nghe:
 
- Bác đã ở Việt Bắc, không thấy có người phụ nữ dân tộc ít người nào ăn mặc như cháu. Phải biết quý trọng, đừng bỏ áo quần dân tộc mình.
 
Khi đến thăm Trường Bổ túc văn hóa tỉnh, thấy chỗ ăn, chỗ nghỉ đâu cũng ngăn nắp, sạch sẽ. Bác khen:
 
- Sạch thế này là tốt. Nhưng chớ để Bác đi rồi thì lại bẩn nhé.
 
Cuối cùng Bác dặn: Người dân tộc này phải học tiếng nói của người dân tộc khác, để hiểu biết nhau hơn. Sau này ra công tác nếu phải ở vùng không phải dân tộc mình thì làm việc sẽ tốt hơn.
 
-------------------
(*) Trích trong cuốn sách Chuyện ngày thường về Bác Hồ, NXB Văn hóa dân tộc, trang 99.
Theo báo nhân dân
Bác đã dạy tôi yêu thương con trẻ
Vào cuối tháng tư nǎm 1964, Đại hội Liên hoan Phụ nữ "5 tốt" toàn miền Bắc họp tại Thủ đô. Tất cả đại biểu về dự phần lớn là rất trẻ, nhiều cô còn trẻ hơn con dâu út của tôi, duy chỉ tôi là đầu đã bạc.


Hội trường Ba Đình bữa đó bỗng náo nhiệt hẳn lên khi nghe tin Bác đến.

Bác đến vào giữa lúc họp. Thật quá bất ngờ. Tiếng hô "Bác Hồ muôn nǎm" vang lên bắt đầu từ những hàng thế trên cùng, phút chốc loan đi khắp cả phòng họp rộng lớn này. Tôi mừng vui và cảm động đến chảy nước mắt. Nhất là khi Bác lên bàn nói chuyện thân mật, Bác lại nhắc đến tên tôi. Tôi run lên, thú thật tôi không còn tin ở tai mình nữa. Tôi cứ tưởng mình đang nằm mơ! Bên cạnh tôi, cháu Trương Thanh Trúc, diễn viên đoàn vǎn công quân đội ghé sát vào tai tôi nói khẽ : "Mẹ Hoan, Bác nhắc đến tên mẹ!". Lúc đó tôi mới tin là không phải trong mơ, mà là sự thật. Trong đời tôi, đây là một vinh hạnh quá lớn, một điều mà chưa bao giờ tôi dám nghĩ đến. Tôi là một người phụ nữ bình thường ở một khu phố nhỏ, một người thợ thủ công già, thế mà Bác lại quan tâm đến công việc làm của tôi!

Thì ra nãy giờ tôi mải ngắm Bác... Giờ đây, tiếng Người vẫn bên tai. Mãi mãi trong đời tôi ghi tạc lời dạy của Người:
"Tǎng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là con đường đi đến xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân, tǎng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết kiệm là tay trái của hạnh phúc".
Rồi Bác giải thích điều thứ 5 trong phong trào "5 tốt" vấn đề xây dựng gia đình nuôi dạy con cái, Bác nói: "Gia đình có nghĩa cũ và nghĩa mới, nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Rộng ra nữa là đồng bào cả nước đều là anh em trong một đại gia đình. Ta có câu hát:

Nhiễu diều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng

Rộng hơn nữa chúng ta có đại gia đình xã hội chủ nghĩa:

Lọ là thân thích ruột rà
Công nông thế giới đều là anh em.

Đã là đại gia đình, thì sự sǎn sóc dạy dỗ cũng không chỉ nhằm làm cho con cháu mình khỏe và ngoan. Mà phải cố gắng giúp đỡ cho tất cả các cháu đều ngoan và khỏe. Về việc này chúng ta có những gương mẫu như cụ Lê Thị Hoan (Bác nhắc đến tên tôi). Cụ Hoan đã có công giáo dục mấy chục cháu xấu trở thành những cháu tốt. Nếu tất cả chị em phụ nữ ta đều cố gắng làm được như cụ Hoan thì chắc rằng con cháu của chúng ta đều sẽ ngoan và tốt.

Hội trường hướng về phía tôi vỗ tay ầm vang. Lúc này tôi lúng túng quá, chẳng biết làm gì. Tôi cúi mặt xuống, không dám ngẩng lên. Bác lại cǎn dặn các cấp Đảng bộ, chính quyền cần thiết thực giúp đỡ phong trào 5 tốt không ngừng tiến lên, để phụ nữ được đóng góp nhièu cho cuộc chống Mỹ cứu nước.

Sau cùng với giọng nói đầm ấm, Bác vui vẻ hỏi:
Già như cụ Hoan, sao cụ Hoan làm được? Tại sao các cô chưa làm được? Thế các cô có làm không? 
Mọi người đều đáp:
- Có ạ? Bác lại hỏi:
- Bao giờ làm?
- Dạ, họp xong về làm ngay.
Làm được bao nhiêu?
- Thưa Bác làm khắp nơi ạ!
Tôi liếc mắt nhìn Bác, thấy Bác gật đầu tỏ vẻ hài lòng.
Thế rồi, Bác bước xuống bục. Các cô trẻ chạy tràn ra cả lối đi để đón Bác. Bỗng chị Hà Quế đi đến chỗ tôi ngồi, chị gọi:
- Cụ Hoan ơi? Cụ Hoan lên gặp Bác.
Lúc đó tôi bàng hoàng cả người. Vừa mừng vui, vừa lo lắng. Tôi cố nhấc bước lên nhưng chân tay cứ run rẩy vì quá mừng. Tôi chưa đi được mấy bước, cũng vừa Bác đến. Bác cầm tay tôi. Luýnh quýnh tôi chẳng biết nói gì, thưa gì.
Nhưng tôi toát mồ hôi, ác một nỗi các anh quay phim lại chĩa những ngọn đèn sáng rực vào phía tôi.
Như biết tôi đang lúng túng. Bác chỉ vào chiếc ghế:
- Cụ ngồi xuống đây
Tôi mạnh dạn ngồi bên cạnh Bác. Bác ân cần thǎm hỏi gia đình tôi. 
- Cụ ông có khỏe không?
Thưa có ạ!
- Cụ dạy bao nhiêu cháu, các cháu hiện có ngoan không?
Tôi rất kinh ngạc, thế ra mọi việc làm của tôi và của các cháu Bác đều biết. Tôi lần lượt thưa cùng Bác số cháu nơi tôi đỡ đầu có 30 cháu. Đó là những cháu chưa ngoan. Các cháu mảng học, ham chơi bời, trèo cây, đánh nhau, có cháu ǎn cắp làm mất trật tự trị an đường phố. Mẹ cha thì buồn phiền, nhà trường lo lắng. Tôi cũng thưa với Bác những khó khǎn bước đầu trong việc tập hợp các cháu lại, tổ chức cho các cháu vui chơi, lao động và học tập. Và đến nay tôi đã có một đóng góp nhỏ đã là giáo dục được 180 cháu trở thành những đội viên thiếu niên tốt, những cháu ngoan của Bác. Có 8 cháu được chọn đến Phủ Chủ tịch liên hoan cùng thiếu nhi Thủ đô, hè nǎm 1962. nhiều Cháu đã được đeo huy hiệu Đoàn.
Bác lại hỏi thêm.
- Các cháu đối với cụ thế nào?
- Rất thương ạ! Chúng đều gọi bằng "bà nội". Và hôm nay các cháu đều cố gắng thực hiện "5 điều Bác Hồ dạy".
Bác nhìn sang phía chị Nguyễn Thị Thập và các đại biểu rồi Bác hỏi tiếp:
- Đảng ủy, chính quyền, đoàn thể có giúp gì cụ không?
- Dạ có ạ!
- Cụ còn nguyện vọng gì nữa không?
Thưa Bác, được gặp Bác, biết Bác khỏe, là điều sung sướng nhất, và ước mong cho miền Nam giải phóng để chị em phụ nữ và đồng bào miền Nam được đón Bác, đó là nguyện vọng duy nhất của tôi, cùng là nguyện vọng của mọi người ạ.
Bác quay sang các đại biểu trẻ, vui cười nói:
- Muốn Bác mạnh khỏe, muốn miền Nam giải phóng, thì phải ra sức thi đua.
Thế là tất cả chúng tôi đều hô to: "Bác Hồ muôn nǎm?" và cứ vây lấy Người, không muốn rời Người nửa bước.

Hôm ấy về nhà, tôi đem chuyện gặp Bác kể cho các cháu nghe, thuật lại lời dặn dò của Người cho chị em phụ nừ trong khu Hội phụ nữ Đấng Đa. Ai nấy đều vui mừng, nhất là các cháu chưa ngoan phải suy nghĩ nhiều. Tôi cũng lại nói cho mọi người ở khu phố tôi nghe. Lời kêu gọi thi đua của Bác đã được đǎng lại trên báo Đảng ngay ngày hôm sau "Trong lúc miền Nam chúng ta đang ra sức thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống mới thì phụ nữ ở phía bên kia sông Bến Hải đang cùng toàn thể đồng bào miền Nam anh dũng, hy sinh anh dũng chống đế quốc Mỹ cướp nước và bọn Việt gian bán nước. Tôi đề nghị Đại hội hoan hô đồng bào miền Nam anh hùng và chúc đồng bào miền Nam giành nhiều thắng lợi hơn nữa! Chính vì chúng ta đang xây dựng trong hoàn cảnh hòa bình, còn đồng bào miền Nam đang phải ngày đêm chiến đấu nên nhân dân miền Bắc chúng ta cần phải thi đua mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp cho đồng bào miền Nam ruột thịt". Thế là thành một cao trào thi đua "vì miền Nam" trong các cháu. Các cháu vừa học vừa làm tǎng giờ lấy tiền mua sách, xây dựng tủ sách kết nghĩa với các bạn thiếu niên Huế, Sài Gòn, kết nghĩa anh em và góp tiền mua vũ khí ủng hộ đồng bào miền Nam đánh thắng giặc Mỹ. Nhiều cháu đã trở thành những công nhân, cán bộ trong các cơ quan, xí nghiệp. Nhiều cháu đã lên đường giết giặc, như cháu Quách Vǎn Long cùng anh em bắn rơi máy bay Mỹ được Bác tặng huy hiệu.

Cháu Phạm Vǎn Phương, Nguyễn Vǎn ý lái xe cho bộ đội pháo binh, cháu Nguyễn Vǎn Thanh, Nguyễn Vǎn Thao là học sinh giỏi toàn huyện. Nhiều cháu đi học xa tận các nước đã về làm thợ, làm cán bộ như các cháu Hoàng Đình Nội, Cao Đắc Quý... các cháu cùng chúng tôi có chút ít thành tích nhỏ như vậy là nhờ công ơn dạy bảo của Bác, cửa Đảng. Và chính Bác là người dạy cho tôi tình yêu trẻ, cách giáo dục trẻ. Lúc sinh thời, người là "ông cụ trồng cây giỏi nhất nước". Và cũng vì yêu cây yêu người, Bác đã từng nói "Vì lợi ích mười nǎm trồng cây, vì lợi ích trǎm nǎm trồng người cho thế hệ mai sau.

Ghi sâu lời Di chúc của Bác "bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết", tôi xin hứa trước anh linh Người còn được ngày nào, tôi ra sức làm việc "bằng hai" để cho miền Nam chóng được giải phóng và để Bác vui lòng nơi chín suối.

Những điều này đã được ghi lại từ 1969 - một ngày thu mưa sầu gió thảm lưu luyến tiễn Bác đi xa...

Cụ Lê Thị Hoan vẫn còn sống, nǎm nay gần 90 tuổi. Tuổi cao, sức yếu, mắt kém, cụ không còn đủ sức dạy bảo các cháu nữa. Nhưng đã có người thay thế cụ. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội liên hiệp phụ nữ tiếp tay cùng cụ nhân hạt giống tình thương yêu của Bác gieo trồng khắp cả cánh đồng từ Bắc chí Nam. Cây tình thương yêu con trẻ của Bác Hồ mãi mãi lên xanh nay đã trở thành cây cổ thụ.

Nguồn hanoi.vnn.vn

Bác Hồ tăng gia rau cải Nghệ An
Mùa đông năm 1952, lúc đó tôi đang công tác ở Văn phòng Trung ương Đảng. Trụ sở cơ quan đóng tại đèo Re (núi Rồng). Cơ quan Phủ Chủ tịch cũng ở sát ngay cạnh đó. Sau Hội nghị chính quyền lần thứ 5 (tháng 3-1952), Chính phủ đã phát động phong trào tăng gia, sản xuất, tiết kiệm trong toàn quốc.

Ở Trung ương, cơ quan này thi đua tăng gia với cơ quan khác. Vì hai cơ quan gần nhau, tôi được công đoàn cử ra thi đua với cơ quan bên Phủ Chủ tịch. Bên Văn phòng Phủ Chủ tịch lại cử Bác là đại diện cá nhân thi đua tăng gia với cơ quan Văn phòng Trung ương.
Buổi lễ phát động thi đua diễn ra thật sôi nổi. Tôi đang sức trẻ nên thay mặt anh em đứng lên thách thức thi đua: cùng một khoảng đất như nhau 36m2, trong một thời gian nhất định, tôi xin trồng rau ăn với sản lượng cao nhất. Bác cũng đứng lên: Bác nhận thách thức thi đua tăng gia với chú Thông, với mảnh đất 36m2 trong một thời gian bằng nhau, đạt sản lượng rau nhiều hơn chú Thông. Mọi người vỗ tay hoan hô. Một số đồng chí xì xào: một cuộc thi đua không cân sức. Bác vừa già, vừa bận nhiều việc, địch sao được với cậu Thông khỏe như voi, trồng rau đã quen. Có người nêu: “Giải thưởng thi đua là một con gà trống 2 kg”. Mọi người lại hoan hô tán thưởng. Mấy đồng chí ở Văn phòng Trung ương nói to: “Nhất định chuyến này chúng ta được ăn thịt gà của Phủ Chủ tịch”. Bác nói vui: “Các chú muốn ăn gà của Chủ tịch thì phải tích cực tăng gia để có nhiều rau xanh cung cấp cho nhà bếp cơ quan”.
Tôi về suy nghĩ: để chắc ăn và có năng suất cao thì trồng cải củ, vì cải củ ở vùng này củ rất to, rất nặng. Tôi trao đổi với anh em công đoàn, mọi người ủng hộ, cho là sáng kiến.
Sau một tuần, tôi đã làm đất và trồng xong 36m2 cải củ. Ngay sát mảnh đất của tôi, Bác và anh em bên Phủ Chủ tịch làm rất kỹ, đất nhỏ, mịn và sạch cỏ. Hơn một tuần thì Bác gieo hạt cải mào gà (cải xanh lá xoan). Anh em Văn phòng Phủ Chủ tịch làm chỗ đi tiểu gần nhà và mua một nồi hông lớn để hứng nước tiểu. Phía Văn phòng Trung ương tôi cũng huy động anh em làm nhà tiêu để lấy phân bón.
Sau một tuần các cây cải mọc đều và đẹp. Bác lấy nước tiểu pha loãng tưới. Còn tôi lấy phân bắc tươi hòa ra tưới. Mỗi lần tưới cả cơ quan bịt mũi.
Sau một tháng, hai vạt rau tốt ngang nhau. Nhiều người ủng hộ tôi cho rằng tôi sẽ thắng vì củ cải lớn rất nhanh.
Một hôm Bác nhổ rau bán cho nhà bếp chỉ được 15kg. Bác để lại những cây to, khỏe, mỗi cây cách nhau chừng hai gang. Một số anh em lo lắng vì thấy vườn rau Bác nhổ đi xơ xác mà chỉ được có 15kg rau cải con. Ba buổi chiều liền, sau giờ làm việc Bác đều ra vườn dùng chiếc dầm xới đất cho cải và tưới nước giải đều.
Sau hai tháng 10 ngày thì củ cải của tôi đã to bằng bắp tay và có cây đã có nụ. Tôi nhổ và cân cho nhà bếp được 60kg. Tôi vui mừng vì thắng lợi. Nhưng cũng lúc đó, cây cải mào gà của Bác đã to bằng cái nơm, cứ 5 ngày một lần Bác tỉa tàu cân cho nhà bếp khoảng 10kg. Kỳ lạ thay cải mào gà càng tỉa cây càng lớn, tàu càng to và càng trẻ lâu. Sau 2 tháng rưỡi cải mới có ngồng. Lúc đó Bác nhổ cả cây cho nhà bếp muối dưa. Bác còn đem biếu cụ già dân tộc gần đó 2 cây rất to làm giống. Cụ già sung sướng khoe với mọi người: “Rau cải Cụ Hồ tốt thật”.
Mở sổ nhà bếp ra cộng
- Cải con: 15kg
- Tàu cải canh: 14 lần x 10kg = 140kg
- Cây cải làm dưa nén: 20kg
Cộng: 175kg
Vậy tôi thua đã rõ ràng. Công đoàn Văn phòng Trung ương phải nộp con gà trống nuôi được cho công đoàn Văn phòng Phủ Chủ tịch. Nhờ có rau tăng gia mà cả mùa đông nhà bếp đủ rau nấu, không phải ra dân mua. Buổi tổng kết thật vui vẻ. Tôi đứng dậy xin nhận thua. Bác nói chuyện với anh em: khi tăng gia, các cô, các chú phải lưu ý bốn điều kiện: giống, cần, phân, nước. Giống: nên chọn loại rau trồng một lần, ăn nhiều lần, củ cải dễ trồng, năng suất cao, nhưng chỉ được ăn một lần thì không bằng cải mào gà, trẻ lâu, tỉa ăn được nhiều lần. Cần: người trồng rau phải chăm chỉ, chọn đúng thời vụ trồng loại rau cho hợp khí hậu, rau mới tốt. Vun xới phải đúng cách. Cải mào gà khi tốt cứ 10 ngày xới một lần cho rễ con đứt, chúng ra nhiều nhánh rễ hơn và hút được nhiều phân bón, muối khoáng trong đất. Phân: phải chọn loại phân bón thích hợp. Cải canh rất hợp nước tiểu pha loãng. Thứ phân tươi chú Thông bón cũng tốt đấy nhưng mất vệ sinh lắm. Nước: phải tưới đều và tưới đủ độ ẩm rau mới trẻ lâu và xanh tốt.
Lần ấy thua Bác, tôi hết chủ quan và rút được bài học mới về tăng gia.
Theo: Hồ Vũ
Nguồn: Website điện tử Cần Thơ
1 - 10 Tiếp theo