Bỏ qua nội dung chính

Địa chí Đồng Nai

Tìm kiếm
Trang chủ
Tra cứu
Thư viện số
Thư viện Koha
Bộ sưu tập
Video
Văn bản
Youtube
  

Thư viện Tỉnh Đồng Nai > trangtin > Địa chí Đồng Nai > Danh mục
Di sản chữ Hán ở Biên Hòa

Công trình Di sản chữ Hán ở Biên Hòa do GS. Huỳnh Minh Đức (Đại học sư phạm TP.Hồ Chí Minh) chủ trì, thực hiện theo yêu cầu của UBND TP.Biên Hòa chuẩn bị được xuất bản để giới thiệu đến với bạn đọc.



Công trình Di sản chữ Hán được GS.Huỳnh Minh Đức và các cộng sự thực hiện từ năm 1997 - 1998 (trong dịp 300 năm Biên Hòa - Đồng Nai). Hầu hết những di sản chữ Hán nơi các đình, chùa, miếu ở Biên Hòa đều đã được nhóm tác giả thực hiện hết sức công phu: sưu tầm, phiên âm, dịch nghĩa... gần như đầy đủ. Bản dịch cũng đã được GS.Lý Việt Dũng, nhà nghiên cứu Hán Nôm góp ý chỉnh sửa.

                                                                              

                                                          Khảo sát chữ Hán ở đình Bình Thiền   

   

                                                             

                                                                  Chữ Hán ở chùa Đại Giác

   

Để công trình xuất bản được hoàn chỉnh, tránh những hạn chế nhất định, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã chỉ đạo Bảo tàng Đồng Nai phối hợp với Phòng Văn hóa - thể thao Biên Hòa khảo sát, chỉnh lý, sưu tầm bổ sung di sản chữ Hán trong các đình, đền, chùa, miếu, nhà cổ, lăng mộ cổ ở TP.Biên Hòa. Nhiệm vụ của đoàn khảo sát lần này là: khảo sát, vẽ sơ đồ vị trí các chữ Hán (tiền điện, chánh điện, hậu điện, các cơ sở tín ngưỡng kèm theo...); đối chiếu kiểm chứng những chữ Hán sai sót về thứ tự và chữ nghĩa; bổ sung các chữ Hán mới; bổ sung thông tin cơ bản về lịch sử, quá trình xây dựng, trùng tu, kiến trúc, những giá trị văn hóa nghệ thuật tiêu biểu của di tích...

Qua một thời gian thực hiện, nhóm khảo sát bước đầu nhận thấy, ngoại trừ một số di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh, còn lại đa phần những di tích khác, di sản chữ Hán vẫn chưa được khai thác hết do tiêu chí được đặt ra ban đầu là chỉ sưu tầm những chữ Hán tương đối cũ, mang tính lịch sử, còn những chữ Hán mới được thực hiện sau này thì không sưu tầm. Do vậy, công việc của nhóm khảo sát, chỉnh lý lần này gần như sưu tầm bổ sung phần còn lại rất lớn còn khiếm khuyết mà lần trước chưa thực hiện. Mặt khác, những công trình chữ Hán mới được sưu tầm lần này là do 10 năm trước chưa có (một số do các cơ sở tín ngưỡng tôn giáo cho tu sửa, gia cố, bổ sung các hạng mục trong toàn bộ hệ thống công trình, kèm theo việc bổ sung những chữ Hán chưa có ở các hạng mục mới xây dựng).

Qua đối chiếu chỉnh lý chữ Hán đã thực hiện trước đây, đoàn khảo sát cũng nhận thấy còn có những nhầm lẫn về chữ nghĩa hoặc chưa đúng về thứ tự của chữ Hán làm cho việc phiên âm và dịch nghĩa thay đổi nhất định.

UBND TP.Biên Hòa đã lựa chọn khảo sát khoảng gần 80 đình, đền, chùa, miếu trong tổng số hàng trăm cơ sở tín ngưỡng tôn giáo trên địa bàn Biên Hòa. Công trình còn mở rộng ra đối với một vài cơ sở tín ngưỡng ở vùng ven Biên Hòa là các huyện Long Thành và Vĩnh Cửu.

Chữ Hán là một trong những di sản văn hóa của cha ông ta để lại. Trải qua 310 năm hình thành và phát triển, Biên Hòa - Đồng Nai có một vị trí đáng tự hào về lịch sử hào hùng của cha ông ta trong quá khứ và tiềm năng phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập. Việc sưu tầm và bảo tồn di sản chữ Hán trong các đình, chùa, miếu ở Biên Hòa là góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa phi vật thể, là tinh hoa trí tuệ của dân tộc; thể hiện được tư tưởng, khát vọng, đề cao đạo đức, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo... của quần chúng nhân dân.

Công việc của nhóm khảo sát vẫn còn nhiều khó khăn, cần phải có nhiều thời gian, công sức và tâm huyết để thận trọng hơn trong việc khảo sát vị trí, đối chiếu công trình đã có và sưu tầm, bổ sung những chữ Hán còn khiếm khuyết. Đối tượng của nhóm khảo sát cũng không dừng lại ở đình, đền, chùa, miếu mà còn mở rộng ra đối với những di sản chữ Hán ở nhà cổ, lăng mộ cổ... Do vậy, công việc của đoàn sẽ còn cần rất nhiều thời gian và công sức hơn nữa để hoàn thành công việc này.

Nguyễn Thị Nguyệt (Theo baodongnai.com.vn)

Dấu ấn người Hoa ở Đồng Nai

Sự có mặt của nhóm người Hoa đến Biên Hòa sinh sống được sử sách chép với mốc thời gian định vị rõ ràng là vào tháng 5-1679.



Gần 330 năm kể từ khi đặt chân đến vùng đất Đồng Nai "xứ sở lạ lùng, con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh", người Hoa đã tạo lập cuộc sống trên vùng đất mới. Họ cùng với người Việt - số di dân đến định cư trước, cần mẫn khai khẩn, mưu cầu về một cuộc sống ấm no hơn, hạnh phúc hơn nơi họ đã ra đi. Bao thế hệ người Hoa từ đoàn di dân đầu tiên, đến những đợt di cư về sau đến Đồng Nai đã khai khẩn, xây dựng vùng "tị địa" trước xa lạ trở thành "quê hương" thân quen, bao dung họ.

                                                    

                              Trường học người Hoa ở Biên Hòa sau trận lụt năm Thìn (1952)

   

Cộng đồng người Hoa đã để lại những dấu ấn trong diễn trình lịch sử Đồng Nai nói riêng, Nam bộ nói chung. Ngày nay, đi trên những nhánh sông chảy ngang địa phận Biên Hòa (Phước Long giang xưa), ôm trọn cù lao Phố êm ả, nếu không có sách sử chép, chúng ta khó nhận diện được một thương cảng sầm uất của xứ Đồng Nai - Gia Định cách nay hàng mấy thế kỷ mà công đầu tạo dựng của nhóm người Hoa do Trần Thượng Xuyên lãnh đạo. Một số làng nghề của cộng đồng người Hoa từng phát triển trên vùng đất này như nghề làm gốm, làm lu ở Tân Vạn, nghề đá ở Bửu Long..., hay những phố chợ buôn bán ở Phước Thiền, Bến Gỗ... đã minh chứng cho sự thích ứng, năng động của người Hoa trên vùng đất mới.

Hành trang đến với vùng đất phương Nam của nhóm lưu dân người Hoa ngoài sự cần cù, khéo léo trong buôn bán để mưu cầu cuộc sống no ấm, họ còn mang trong tâm thức mình hình ảnh của tổ tiên, thần thánh, tập tục tín ngưỡng. Khi đã ổn định và thành công trong cuộc sống, người Hoa xây dựng nhiều ngôi chùa, đền miếu để tỏ lòng thành, ghi nhớ công lao đối với tổ tiên, phúc thần trên hành trình đầy hiểm nguy và con đường lập nghiệp nơi vùng đất mới. Người Hoa đã xây dựng những cơ sở tín ngưỡng với kiến trúc khá độc đáo.

Gắn với những thiết chế tín ngưỡng là những giá trị văn hóa tạo nên những sắc thái văn hóa phong phú cho vùng Đồng Nai. Một số công trình tín ngưỡng với những giá trị lịch sử, kiến trúc được nhà nước xếp hạng. Những lễ hội ở các di tích, tiêu biểu như lễ hội Miếu Tổ sư, chùa Bà (phường Bửu Long), các lễ hội Tả tài phán trở thành những nét sinh hoạt văn hóa mang tính đặc thù, đáp ứng nhu cầu tâm linh không chỉ đối với người Hoa mà còn cho các cộng đồng cư dân cùng cộng cư.

Không chỉ có những thế mạnh về kinh tế, người Hoa còn có tinh thần ham học hỏi, cầu tiến nên một số người tài giỏi đã được các chúa Nguyễn tin dùng, ban phong những chức vị quan trọng, trở thành sứ thần, trọng thần của triều đình, gánh vác những trọng trách của xã hội như: Trịnh Hoài Đức, Trần Thượng Xuyên... Nhiều thế hệ của cộng đồng người Hoa đã đem sức tài của mình giúp nước trong nhiều thời kỳ lịch sử. Nhân vật lịch sử Trần Thượng Xuyên được xem là bậc có công nhất trong việc dẫn đoàn người Hoa đến định cư ở Đồng Nai được suy tôn, ngưỡng vọng không chỉ riêng của người Hoa mà còn cả người Việt. Như ngôi chùa làng Thanh Lương khiêm tốn đối diện phía tây cù lao Phố là nơi thờ Phật nhưng vẫn còn lưu thờ bài vị về vị tướng quân có công khai phá vùng đất này.

Thế hệ những người Hoa thuở ban đầu đến Biên Hòa đã ra đi. Những gì họ tạo dựng mai một nhiều với thời gian, âu cũng là lẽ thường tình. Nhưng cái còn lại chính là những hình ảnh, giá trị tốt đẹp của cuộc sống luôn được khắc ghi trong lòng của các thế hệ nối tiếp nhau, hòa trong mạch nguồn của văn hóa Biên Hòa xưa - Đồng Nai nay.

            Phan Đình Dũng

            Theo baodongnai.com.vn

Cứu lấy xóm nồi đất

Cả cái "xóm nồi đất" náo nhiệt ngày xưa, với trên 10 hộ, gần 100 lao động chuyên sản xuất vật dụng bằng đất nung giờ đây lại lặng lẽ, yên ắng vì chỉ còn… 1 hộ hoạt động.



 

Một người thợ nặn nồi đất ở Biên Hòa vẫn còn bám cái nghề tay lấm chân bùn

Tìm đến "xóm nồi đất" ở phường Bửu Long (thành phố Biên Hòa, Đồng Nai), tôi cữ ngỡ sẽ thấy cảnh người dân lao động sản xuất, tất bật như bao làng nghề thủ công truyền thống khác. Thế nhưng, thật ngỡ ngàng! Cả cái xóm náo nhiệt ngày xưa, với trên 10 hộ, gần 100 lao động chuyên sản xuất các vật dụng bằng đất nung giờ đây lại lặng lẽ, yên ắng vì cả xóm chỉ còn 1 hộ hoạt động:

Đất sét Bửu Long đãi người xa xứ

Xóm nồi đất ở ấp Tân Lại, làng Bửu Long của tỉnh Biên Hòa xưa, được hình thành từ thập niên 40 của thế kỷ trước. Khởi đầu chỉ vài hộ, vài năm sau tăng lên hơn 10 hộ, với gần 100 lao động: Hầu hết dân nặn nồi đất ở đây đều đến từ Quảng Ngãi, nơi có truyền thống làm vật gia dụng bằng đất nung. Với giọng trầm buồn, ông Tám, 68 tuổi, gia đình có 4 đời sinh sống bằng nghề làm nồi đất ở đây, kể lại: "chiến tranh Việt - Nhật bùng nổ, ông nội tôi dắt dìu con cháu, rời bỏ quê hương Quảng Ngãi vào đất Biên Hòa tha phương cầu thực. Khi đến Bửu Long, ông nhận thấy đất sét vùng này rất phù hợp để làm các vật dụng bằng đất nung. Sẵn có tay nghề, kinh nghiệm, cộng với tính cần cù, kiên nhẫn, từ 2 bàn tay trắng, ông nội và cha mẹ tôi đã cho ra đời hàng loạt sản phẩm gia dụng bằng đất sét nung đầu tiên tại vùng đất Biên Hòa. Sản phẩm dần được tiêu thụ mạnh, nhu cầu lớn, nguồn nguyên liệu tại chỗ tốt, dồi dào đã thu hút nhiều bà con cùng quê Quảng Ngãi đến Bửu Long lập nghiệp bằng nghề truyền thống này".

Sản phẩm đất nung ở đây gồm nồi niêu nhiều kích cỡ, ấm, siêu, bếp lò, mâm đổ bánh xèo, bánh khọt... Khác với đất sét làm gạch ngói, đất làm sản phẩm này phải có xơ, nghĩa là đất có pha lẫn cát mịn. Đất thô trước khi sử dụng phải lọc, lựa hết tạp chất như đá, sỏi, rễ cây, sau đó nhồi với nước cho thật dẻo, mịn rồi thực hiện sản phẩm trên bàn xoay bằng đôi tay khéo léo của thợ nặn. Vật dễ nặn nhất là nồi, niêu, bếp lò, khó nhất là ấm, siêu và chỉ dùng chà cây nhỏ để chụm lửa lò nung. Lửa phải có ngọn áp đều sản phẩm đem nung. Mỗi kỳ ra lò, nếu có từ 70 - 80% sản phẩm đạt yêu cầu là thành công, có lời. Thời gian nung khoảng 48 giờ.

Phải vài lần đến "xóm nồi đất", tôi mới gặp được anh Sơn, 57 tuổi, chủ hộ sản xuất nồi đất từ năm 1957, nhưng đã ngưng hoạt động gần 1 năm nay. Anh Sơn nhớ lại: "gia đình tôi quê gốc Quảng Ngãi, làm nồi đất là nghề truyền thống. Khi khi mới lập ghiệp ở Bửu Long, ban đầu, mỗi kỳ ra lò chỉ cho vài gánh sản phẩm, cha mẹ tôi phải chở đi bán dạo ở các chợ. Về sau do nhu cầu ngày càng tăng, mở rộng thị trường, các thành viên trong gia đình chia nhau đem sản phẩm xuống ghe, tỏa đi các vùng sông nước ở đồng bằng sông Cửu Long để tiêu thụ. Vài ba tuần, mọi người mới về nhà. Thế mà đến đời tôi, giờ đành phải ngưng hoạt động".

Đồ đất nung và món ăn đặc sản.

Ngày nay, vật gia dụng trong nhà bếp như nồi niêu, xoong chảo, nồi lẩu bằng nhôm, inox được sản xuất hàng loạt. Chúng vừa có mẫu mã đẹp, bền, vừa là hàng "thời trang" của các bà nội trợ. Tuy nhiên, các vật dụng bằng đất nung vẫn có chỗ đứng khá vững trong các nhà hàng, quán ăn đặc sản, cao cấp. Bởi theo gu của thực khách sành ăn bây giờ, một số món đặc sản phải được chứa, nấu trong các vật dụng đất nung.

Cá kho bằng nồi đất, lẩu bò, lẩu dê cũng nấu bằng nồi, niêu đất. Nếu đặt nồi trên bếp lò đất nữa mới sành điệu, có hương vị đặc trưng, đậm đà hơn so với các vật đựng bằng kim loại. Việc nấu lá thuốc xông hơi, sắc thuốc Nam, thuốc Bắc cũng cần đến nồi, siêu đất nấu mới nên thuốc. Anh Dương, chủ quán thịt cầy Nhật Tân ở phường Tân Mai (thành phố Biên Hòa), tâm đắc nói: "Món cầy nấu trong niêu đất, đặt trên bếp lò đất than hồng là món độc đáo của quán cầy Nhật Tân. Món này, nếu nấu bằng các vật dụng bằng kim loại thì chẳng còn hương vị đặc biệt nữa".

Xem ra, ở những năm đầu của thế kỷ này, các vật dụng bằng đất nung vẫn còn ''đất'' cho đầu ra. Theo lời ông Tám, phường Bửu Long: "Hiện nay, ra lò đến đâu, sản phẩm đều được tiêu thụ đến đó. Mối lái từ các vùng như TP.HCM, Vũng Tàu, Bình Dương... thường đến tận lò để gom hàng. Mỗi tháng, riêng cơ sở của tôi phải giao vài ngàn sản phẩm các loại". Giờ đây, việc sản xuất vật dụng đất nung ở ''xóm nồi đất'' không còn phải chạy chợ nữa mà đang chạy vốn, chạy tìm nguồn nguyên liệu đất xơ, chạy tìm thợ nặn... Nguyên nhân là các vùng nguyên liệu trước đây giờ đang dần được đô thị hóa. Hơn nữa, giới trẻ ở xóm này giờ đây không còn mặn mà với nghề truyền thống của cha ông, suốt ngày phải tay lấm, mặt bùn.

Tự cứu…

Điều đáng buồn hiện nay là ở ''xóm nồi đất'', chỉ còn duy nhất hộ ông Tám hoạt động. Bởi lẽ đầu vào không có sự hỗ trợ vốn, nguồn nguyên liệu tại chỗ cạn kiệt và nguồn nhân lực biết nghề, theo nghề ngày càng hạn chế. Sản phẩm tiêu thụ mạnh, nhưng trước đây hộ này phải sản xuất theo dạng "ăn đong", mỗi kỳ đều phải vay vốn, có khi vay nóng với lãi suất từ 10-15%/tháng. Anh Sơn, phường Bửu Long, cho biết: "Sở dĩ hộ của tôi ngưng hoạt động vì ngày nào tôi cũng phải rong ruổi khắp nơi để tìm nguồn nguyên liệu, có khi phải tận dụng cả lớp đất sét dạt ở các mỏ khai thác đá. Do vậy, chất lượng nguyên liệu thường không ổn định. Ra lò, sản phẩm chỉ đạt từ 50-60%, không đủ trả tiền lãivay mượn và sở hụi. Vốn đầu tư cho một kỳ sản xuất không quá 8 triệu đồng. Nếu không-gặp trục trặc, trừ hết chi phí, mỗi kỳ tiền lãi khoảng 2 triệu đồng. Mùa nắng, mỗi tháng làm được 2-3 kỳ lò, mùa mưa ít hơn. Hàng ra lò không đủ bán. Nhưng vì khó khăn này nên không chỉ hộ của tôi mà nhiều hộ làm nồi đất ở đây đành phải ngưng hoạt động có người vốn là chủ lò, giờ phải đi làm thuê cho hộ ông Tám".

Còn ông Tám thì khẳng định: "Nghề làm đồ gia dụng bằng đất nung chỉ cần số vốn khoảng 20 triệu đồng là có thể ổn định, duy trì sản xuất và phát triển mạnh. Sau khi lò của anh Sơn ngưng hoạt động, thị trường nồi đất ''nóng'' lên, mối lái nhiều nơi đổ về lò của tôi. Để đủ hàng cung ứng, không ít mối lái đã hỗ trợ vốn, có người còn tìm giúp nguồn nguyên liệu và đầu tư cả máy móc cho cơ sở của tôi qua hình thức trả góp bằng sản phẩm''.

Hình thức liên kết đôi bên đều có lợi này đã cứu vãn được một lò nồi đất. Nếu nhận được sự hỗ trợ, khuyến khích của chính quyền địa phương, đồng thời nhân rộng được mô hình ''liên kết đôi bên cùng có lợi'' này thì ''xóm nồi đất'' ở Bửu Long sẽ có thể tái sinh.

Lê Hoàng - tạp chí Nhịp cầu đầu tư 17/11/2008

Các di tích được trùng tu

Năm nay, ngành văn hóa - thể thao và du lịch có các dự án trùng tu, tôn tạo một số di tích gắn với lịch sử địa phương để thiết thực kỷ niệm 310 năm hình thành và phát triển vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai.



* Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Tọa lạc tại xã Hiệp Hòa, TP. Biên Hòa, đền thờ đã được Bộ Văn hóa - thông tin (VHTT) xếp hạng là di tích lịch sử năm 1991. Đền do nhân dân sở tại xây dựng vào giữa thế kỷ XVIII thờ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh - người có công lớn trong việc phụng lệnh Chúa Nguyễn vào vùng đất Nông Nại (nay là Biên Hòa - Đồng Nai) xây dựng, thiết lập bộ máy hành chính phương Nam và sáp nhập vùng đất mới này vào bản đồ Đại Việt năm Mậu Dần (1698).

     Theo thời gian, nhiều hạng mục xuống cấp và được trùng tu, sửa chữa nhiều lần. Hiện Ban quản lý di tích - danh thắng (BQLDTDT) tỉnh phối hợp với Phân viện Khoa học công nghệ miền Trung lập dự án trùng tu tôn tạo các hạng mục: sửa, chống dột mái ngói, sửa chữa hàng rào; phục chế lại toàn bộ hệ thống cửa ra vào, xử lý mối mọt, nấm mốc; sửa chữa, sơn phết lại ngôi mộ vọng của Nguyễn Hữu Cảnh ở khu đất phía sau đền... Tổng kinh phí đầu tư hơn 1 tỷ đồng bằng nguồn ngân sách của tỉnh. Dự án đang trình các cơ quan thẩm quyền phê duyệt, dự kiến sẽ được khởi công vào tháng 12-2008 và hoàn thành vào đầu năm 2009.

     * Lăng mộ Trịnh Hoài Đức

     Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825) là danh nhân văn hóa nổi tiếng xứ Đồng Nai - Gia Định. Ông là bậc công thần triều Nguyễn, tác giả của bộ sách quý "Gia Định thành thông chí".

 Khu lăng mộ Trịnh Hoài Đức và chánh thất phu nhân cùng với hơn 10 ngôi mộ của dòng tộc họ Trịnh tọa lạc ở phường Trung Dũng (TP. Biên Hòa), đã được xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia năm 1990. Mộ Trịnh Hoài Đức được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX với lối kiến trúc kiểu voi phục, vật liệu xây dựng là ô dước (vôi, cát, mật đường, vỏ sò và vỏ nhựa cây ô dước).

 Khu di tích đã được TP. Biên Hòa trùng tu vào năm 1998 nhưng do nguồn kinh phí hạn hẹp nên mới chỉ trùng tu, sửa chữa được mộ của Trịnh Hoài Đức và phu nhân, còn hơn 10 ngôi mộ khác của dòng tộc họ Trịnh nằm xen kẽ với nhà dân đang bị xuống cấp trầm trọng vẫn chưa được nâng cấp, sửa chữa.

 Năm 2007, UBND Biên Hòa tiếp tục cho triển khai lập dự án trùng tu tôn tạo khu lăng mộ Trịnh Hoài Đức và dòng tộc họ Trịnh với tổng kinh phí dự tính trên 20 tỷ đồng, gồm các hạng mục: giải tỏa đền bù, xây cổng Tam quan, nhà bia, đền thờ, sân lễ và trùng tu, tôn tạo các ngôi mộ bằng vật liệu ô dước, khôi phục các hoa văn, họa tiết và văn bia khắc trên mộ.

     Dự án đang ở giai đoạn hoàn chỉnh hồ sơ trình các cấp thẩm quyền phê duyệt. Trước mắt, để kịp chào mừng kỷ niệm Biên Hòa - Đồng Nai 310 năm, BQLDTDT tỉnh sẽ tiến hành làm bia, biển giới thiệu, chỉnh trang khu mộ, dọn dẹp vệ sinh đường vào di tích để đón khách tham quan.

 * Di tích đình An Hòa

     Tọa lạc tại xã An Hòa, huyện Long Thành. Đình được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVIII thờ Thần Thành hoàng bổn cảnh của làng. Đình An Hòa đã được xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 1989.

     Năm 2007, UBND tỉnh cho chủ trương trùng tu tôn tạo di tích này. Theo đó, BQLDTDT đã phối hợp với đơn vị tư vấn thiết kế lập dự án trùng tu tôn tạo các hạng mục: sửa chữa, sơn phết, chống mối mọt, nấm mốc ở chánh điện, nhà võ ca, nhà khách, cổng tam quan, sân đường nội bộ, hệ thống thoát nước và chống sét... với tổng kinh phí dự tính hơn 4 tỷ đồng (trong đó 700 triệu đồng từ chương trình mục tiêu quốc gia, 500 triệu đồng từ nguồn xã hội hóa, còn lại là ngân sách của tỉnh). Hiện dự án đã hoàn thành thủ tục hồ sơ đưa ra đấu thầu, dự tính tháng 12-2008 sẽ khởi công và hoàn thành vào năm 2009.

     * Di tích chùa Ông (miếu Quan Đế)

 Tọa lạc tại xã Hiệp Hòa, TP. Biên Hòa, được Bộ VHTT xếp hạng là di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vào năm 2001.

     Chùa Ông do cộng đồng người Hoa ở Biên Hòa - Đồng Nai xây dựng vào năm 1684, thờ Quan Công (còn gọi là Quan Vũ, Quan Vân Trường) và hệ thống phúc thần của người Hoa. Chùa được bố trí mặt bằng kiến trúc theo kiểu "nội công ngoại quốc", không kể công trình Quan Âm Các được xây tách biệt ở phía sau chùa. Chùa Ông là một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc trưng của Trung Hoa với vì kèo kiểu "chồng rường giá chiêng", đặc biệt là quần thể tiểu tượng sành cứng men màu của lò gốm Cây Mai - Gia Định trang trí trên nóc mái chùa.

     Chùa Ông gắn với quá trình di dân của tập đoàn người Hoa Trần Thượng Xuyên sau thất bại của phong trào "phản Thanh phục Minh" đã vượt biển xin Chúa Nguyễn tỵ nạn ở nước ta vào năm 1679.

 Trải qua thời gian dài, ngôi chùa đã được trùng tu, sửa chữa nhiều lần. Lần gần đây nhất năm 2006, Ban trị sự Chùa Ông đã tiến hành trùng tu Quan Âm Các với tổng kinh phí gần 1,8 tỷ đồng bằng nguồn vốn xã hội hóa.

     Năm 2008, chùa được tiếp tục trùng tu chánh điện và các hạng mục Đông lang, Tây lang, nhà khách, nhà bếp, cổng tam quan, sân đường nội bộ, hệ thống thoát nước, chống sét với tổng kinh phí ước tính trên 3 tỷ đồng cũng từ nguồn vốn xã hội hóa. Công trình đang được trùng tu, dự tính sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng trong tháng 12-2008.

Hiện toàn tỉnh có hơn 1.500 di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, kiến trúc nghệ thuật, mộ cổ và hơn 400 ngôi nhà ở truyền thống, trong đó có 24 di tích xếp hạng cấp quốc gia và 12 di tích cấp tỉnh.

Thúy Nga

Danh xưng Đồng Nai qua ca dao

Năm 1698 trở thành một mốc lịch sử quan trọng đối với vùng đất Nam bộ nói chung và Đồng Nai nói riêng. Đó là khởi điểm cho một vùng đất được chính thức hóa trong sự quản lý của một thể chế nhà nước thời các chúa Nguyễn.



Sự có mặt của lưu dân Việt trước năm 1698 ở vùng đất Đồng Nai - Gia Định là cơ sở quan trọng cho việc các chúa Nguyễn thực hiện những kế hoạch của mình khi mở mang quốc gia về phía Nam.

Trong những lớp di dân đến khai khẩn, người Việt đến Đồng Nai khá sớm. Trong vốn văn hóa dân gian của người Việt, vùng đất Đồng Nai được nhắc đến trong nhiều ca dao. Tùy thuộc vào nội dung bài hay câu ca dao mà những thế hệ di dân thuở đầu phản ánh vùng đất Đồng Nai qua nhiều góc nhìn khác nhau, gắn liền với những sự kiện, chuyện tích liên quan...

Có lẽ, câu ca dao quen thuộc nhất, được nhiều người hay nhắc đến là:

Nhà Bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.

Câu ca dao này nhắc đến địa danh Nhà Bè - chuyện tích cảm động về nhân vật Thủ Huồng xưa làm bè ở ngã ba sông để làm từ thiện, tích đức. Nơi ngã ba sông ấy chia đôi đường để đi đến Gia Định hay Đồng Nai. Đất Đồng Nai như mời gọi những ai muốn đến, muốn về.

Xứ sở Đồng Nai của một thời, muôn ngàn khó khăn đối với những người di dân thuở khai khẩn, được thể hiện trong câu ca:

Đồng Nai xứ sở lạ lùng

Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um.

Thế nhưng, vùng đất rộng người thưa ấy qua một thời được khai khẩn đã trở thành vùng đất mới đầy hứa hẹn. Người di dân đến đây tìm được nguồn lợi và mưu cầu về một cuộc sống tốt hơn. Không những thế, xứ sở này được họ khai phá trở thành một nơi danh tiếng:

Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai

Ai về xin nhớ cho ai theo cùng.

hay:

Hết gạo thì có Đồng Nai

Hết củi thì có Tân Sài chở vô.

hoặc:

Đồng Nai gạo trắng nước trong

Ai đi đến đó thời không muốn về.

Vùng Đồng Nai trở nên danh tiếng khi trở thành vùng có nước ngon, gạo nhiều. Đồng Nai trở thành một nơi sản xuất lúa gạo lớn của cả vùng đất phương Nam, được nhắc đến trong câu: "Cơm Nai Rịa, cá Rí Rang". Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (năm 1820) có viết: "Bà Rịa là đầu trấn Biên Hòa, là đất có danh tiếng, nên các phủ phía Bắc có câu ngạn rằng: cơm Nai Rịa, cá Rí Rang, ấy là xứ Đồng Nai và Bà Rịa đứng đầu...".

Đồng Nai có con sông lớn, nước ngọt, trong xanh. Phát tích từ cao nguyên Langbian, sông Đồng Nai vượt qua bao thác ghềnh, núi đồi để hòa biển Đông. Những nơi dòng sông đi qua để lại nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú từ Cát Tiên đến thác Trị An, làng Tân Triều...

Đồng Nai nguồn mọi cao sang

Chảy xuống hai hàng, hàng Đại, hàng Sâm.

Hàng Sâm là một địa danh của thác Trị An, ngọn thác cuối cùng trên dòng chảy sông Đồng Nai. Thác Trị An gắn liền với những truyền thuyết lý thú.

Danh xưng Đồng Nai còn được nhắc đến như một đối sánh với đất kinh kỳ "Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai". Hình ảnh của sông Đồng Nai đi với chùa Thiên Mụ vang danh xứ Huế như một điều thề hứa vững chắc:

Bao giờ cạn nước Đồng Nai

Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền.

Hơn ba trăm năm có lẻ, Biên Hòa xưa - Đồng Nai nay, trải qua bao biến thiên lịch sử đã ghi lại nhiều dấu ấn trong diễn trình hình thành và phát triển. Trên vùng đất này, nhiều địa danh, di tích, vùng đất, con sông, bến nước, làng quê, cù lao... với tên gọi, đặc điểm riêng được nhắc đến nhiều trong những bài ca dao thân thuộc.

- Nước Đồng Nai sóng dồi lên xuống

Cửa Đồng Môn mây cuốn cánh buồm xuôi.

- Ngó lên Châu Thới có đám mây bạch

Ngó xuống Rạch Cát thấy con cá trạch đỏ đuôi.

- Trà Phú Hội, nước Mạch Bà

Sầu riêng An Lợi, chuối già Long Tân

Cá buôi sầu huyết Phước An

Gạo thơm Phước Khánh, tôm càng Tam An...

Những bài ca dao ấy là một phần trong di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc sinh sống trên mảnh đất này giúp chúng ta hiểu biết thêm về Đồng Nai hiện nay.

Theo Báo Đồng Nai

   

105 năm trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai: Đào tạo nhiều thế hệ có trình độ tay nghề cao
Trải qua 105 năm hình thành và phát triển, Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai ngày nay thuộc Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch được tuyển sinh cả nước, hàng năm cho ra trường nhiều thế hệ sinh viên, học sinh có tay nghề cao.

Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai là trường có bề dày lịch sử, gắn liền với 310 năm hình thành và phát triển vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai. Năm 1903, khi mới thành lập, Trường dạy nghề Biên Hòa (tên gọi lúc ban đầu) đã có 6 ban nghề, gồm: đan lát, gốm, đúc đồng, tiện, chạm khắc, vẽ. Đến năm 1931, đây vẫn là một trường mạnh trong số 5 trường dạy nghề của xứ Nam kỳ, nhưng số ban đào tạo và sĩ số học trò giảm (ban đúc: 14 học trò, ban gốm: 9 và ban mộc: 4). Từ 1964, trường được đổi tên thành Trường kỹ thuật Biên Hòa, cũng chỉ có 3 ban nghề.
            Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, trường được đổi tên thành Trường phổ thông công nghiệp Đồng Nai, thuộc Ty Giáo dục Đồng Nai. Là một trường đào tạo học sinh có năng khiếu mỹ thuật nên từ tháng 1-1978, trường được đổi tên thành Trường trung học mỹ thuật trang trí Đồng Nai và từ năm 1998 nâng cấp thành trường cao đẳng.
Kể từ khi được nâng cấp hệ cao đẳng, quy mô đào tạo của trường đã ngày càng mở rộng. Hàng năm tuyển sinh, có khoảng 2.000 thí sinh từ khắp mọi miền đất nước về dự tuyển, nhưng chỉ tiêu tuyển sinh có hạn, do nhà trường chú trọng tuyển sinh đầu vào phải có năng khiếu hội họa.
            Hiện nay, Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai có 8 khoa đào tạo, gồm 51 lớp với 1.210 sinh viên. Các khoa được duy trì đào tạo gồm: gốm mỹ nghệ, trang trí nội thất, điêu khắc, đồ họa. Những khoa mới có từ khi lên hệ cao đẳng gồm: đồ họa đa truyền thông, thiết kế thời trang, nhiếp ảnh quảng cáo, vừa học vừa làm.
            Trước yêu cầu rất lớn về lực lượng lao động là họa sĩ thiết kế mẫu mã, sản phẩm phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa trong nước và xuất khẩu, Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai luôn đổi mới phương pháp, chỉnh lý chương trình giảng dạy cho phù hợp với thực tế trong nước, hòa nhập với trình độ các nước trong khu vực và quốc tế. Ban giám hiệu thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo chuyên đề, trao đổi thực tiễn với các công ty, doanh nghiệp, nhằm thống nhất chi tiết cho các môn chuyên ngành lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng, tạo mối quan hệ để sinh viên thực tập tại các đơn vị, doanh nghiệp. Do đó, khi ra trường, hầu hết sinh viên đều có việc làm và đáp ứng nhiệm vụ được giao.
Trong 5 năm gần đây, đa phần các giảng viên đứng lớp đã sử dụng phương tiện nghe nhìn, nâng cao chất lượng giảng dạy và khả năng tiếp thu của sinh viên. Là trường chuyên ngành mỹ thuật trang trí, nhà trường luôn quan tâm nâng cao chất lượng về hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Đứng chân trên địa bàn Đồng Nai, trường đã thực hiện nhiều công trình, sản phẩm văn hóa có giá trị cho tỉnh, như: tượng đài chiến thắng sân bay Biên Hòa; cổng chào Văn miếu Trấn Biên bằng chất liệu gốm; công trình phục dựng Văn miếu Trấn Biên với các đầu hồi, rồng, phụng chất liệu gốm; 5 bức phù điêu gốm đất nung tại trụ sở UBND tỉnh... Hàng năm, nhiều sinh viên của trường tham gia giải thiết kế thời trang toàn quốc, được vào vòng chung kết và đoạt giải. Nhiều thế hệ sinh viên ra trường đã có đóng góp thiết thực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
            Kỷ niệm 105 năm hình thành và phát triển Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai (1903 - 2008) hòa chung không khí kỷ niệm 310 năm Biên Hòa - Đồng Nai, tập thể nhà trường đã được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng ba.
 1903 - 1913: Trường dạy nghề Biên Hòa (còn gọi là Trường bá nghệ Biên Hòa).
 1913 - 1944: Trường mỹ nghệ bản xứ Biên Hòa.
 1944 - 1964: Trường mỹ nghệ thực hành Biên Hòa.
 1964 - 1976: Trường kỹ thuật Biên Hòa.
 1977: Trường phổ thông công nghiệp Đồng Nai (thuộc Ty Giáo dục Đồng Nai).
 1977 - 1998: Trường trung học mỹ thuật trang trí Đồng Nai (Bộ Văn hóa - thông tin).
 1998 đến nay: Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai (Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch).
Đỗ Hiếu (Theo báo Đồng Nai)
Di tích Nhà Xanh: 310 năm Biên Hoà-Đồng Nai (1698-2008)
Di tích Nhà Xanh gắn liền với sự kiện đấu tranh cách mạng của quân dân Biên Hòa những năm đầu kháng chiến chống Mỹ. Hiện nay, di tích tọa lạc trong khuôn viên Trường cao đẳng nghề Đồng Nai thuộc TP.Biên Hòa.

     Từ năm 1912 đến năm 1945, Nhà Xanh là một biệt thự Pháp xây dựng làm văn phòng của Công ty kỹ nghệ và lâm nghiệp Biên Hòa (gọi tắt là BIF: Bien Hoa Industrielle et Forestière). Năm 1907, Nhà máy BIF được thành lập trên cơ sở trại cưa của Blonded (Blông-den) - là một cơ sở công nghiệp đầu tiên ở tỉnh Biên Hòa. Đây là một kiến trúc kiểu Pháp có hai tầng. Toàn bộ khung kiến trúc được xây dựng bằng vật liệu kiên cố; mái lợp ngói mới móc vảy cá; sơn tường toàn màu xanh nên người dân địa phương đặt tên là Nhà Xanh.
    Trong giai đoạn 1945 - 1954, Nhà Xanh được quân Pháp sử dụng làm Sở chỉ huy tiểu khu Biên Hòa. Chính quyền Sài Gòn sử dụng biệt thự Nhà Xanh làm cư xá cho đoàn cố vấn quân sự Mỹ (MAAG: Mission Army American Group) tại Biên Hòa vì chúng cho rằng đây là địa điểm được bảo vệ kỹ.
    Từ năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm thi hành nhiều hoạt động khủng bố phong trào cách mạng miền Nam . Đặc biệt, tháng 5-1959, khi luật 10/59 "đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật" được ban hành, phong trào cách mạng được xem như "bị dìm trong biển máu". Đế quốc Mỹ đã lộ rõ bản chất xâm lược ở miền Nam , tăng cường viện trợ kinh tế, quân sự và đưa cố vấn quân sự làm nhiệm vụ huấn luyện quân đội Sài Gòn.
    Trước tình hình đó, Liên Tỉnh ủy miền Đông quyết định tổ chức mặt trận tập kích vào đoàn cố vấn Mỹ đóng tại Biên Hòa. Qua gợi ý của Thị ủy Biên Hòa, mục tiêu được chọn để tấn công vào địch là Nhà Xanh, cư xá đoàn   cố vấn quân sự Mỹ (MAAG).
    Công tác điều nghiên mục tiêu, chuẩn bị mọi mặt cho trận đánh được tiến hành chu đáo. Thực hiện trận đánh là phân đội đặc công gồm 6 đồng chí: Hoa, Huề, Phú, Bé, Sắc, Hưng, do đồng chí Nguyễn Văn Hoa (Năm Hoa) - Đại đội phó Đại đội C250 chỉ huy. Địa điểm ém quân tại Gò Me, cách khu cư xá hơn 200 mét. Ngày tiến công được chọn là 7-7-1959 - ngày Ngô Đình Diệm tổ chức lễ kỷ niệm 5 năm chấp chính.
   19 giờ ngày 7-7, phân đội đặc công hóa trang lính đi tuần từ Gò Me tiến về khu cư xá. Sau khi diệt tên gác cổng, phân đội chia làm ba mũi (mỗi   mũi 2 đồng chí) tấn công vào khu biệt thự. Cuộc tấn công diễn ra chớp nhoáng khiến những cố vấn quân sự Mỹ trong khu biệt thự trở tay không kịp. Trong trận đánh, đồng chí Huề chấp nhận hy sinh, ôm quả mìn lao vào trong để đồng đội kích điện cho nổ tiêu diệt địch. Đội biệt động thị xã Biên Hòa kịp thời phối hợp khống chế kho súng và trại gia binh.
Năm đồng chí trong phân đội sau trận đánh chớp nhoáng được cơ sở cách mạng giúp đỡ đã rút về căn cứ an toàn. Kết quả trận đánh táo bạo này, lực lực võ trang   cách mạng diệt hai cố vấn Mỹ là thiếu tá Bael Buis và trung sĩ Chester Ovmand, bắn bị thương đại úy Howard B. Boston.
    Trận đánh Nhà Xanh đã gây tiếng vang trong và ngoài nước, khiến báo chí Sài Gòn, báo chí phương Tây đưa tin. Chính quyền Sài Gòn tung lực lượng cảnh sát, mật vụ truy tìm nhưng vẫn không điều tra được gì. Cố vấn Mỹ Buis và Ovmand là hai người lính Mỹ "đầu tiên chết trong kỷ nguyên Việt Nam ". (Từ dùng của nhà báo Staley Karnod đăng trên tạp chí Tribune Internationale Hevald ngày 11-7-1983).
    Di tích Nhà Xanh là nơi ghi dấu ấn đậm nét sự can thiệp của đế quốc Mỹ vào miền Nam Việt Nam , đồng thời đây còn là di tích thể hiện tinh thần, ý chí cách mạng táo bạo, quả cảm của quân dân Biên Hòa - Đồng Nai   trong công cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược. Người chiến sĩ Nguyễn Văn Huề hy sinh anh dũng trong trận đánh được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng võ trang nhân dân. Đây là trận tấn công đầu tiên của quân ta vào quân đội Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam .
Đinh Huyền Phan
Theo Báo Đồng Nai (22/7/2008)
Làng Bến Cá

Bến Cá là địa danh văn hóa của vùng đất được người Việt định cư khá sớm, nay thuộc xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu. Tên Bến Cá có từ bao giờ thật khó mà khảo chứng, nhưng khi nhắc đến địa danh này, mọi người đều hiểu nó đồng nghĩa với vùng Tân Triều - một nơi nổi tiếng về bưởi Biên Hòa.



Từ thế kỷ XIX, địa danh Bến Cá là huyện lỵ huyện Phước Chánh, tỉnh Biên Hòa khi hàng loạt các tên của chợ, phố, cầu gắn liền với nó. Sách "Đại Nam nhất thống chí" cho biết: chợ Bình Thảo, thôn Bình Thảo, huyện Phước Chánh có tên nữa là chợ Ngự Tân - tức Bến Cá, người buôn tấp nập, đường thủy, đường bộ giao thông, hàng ngoài và thổ sản, giang vị sơn hào không thiếu thứ gì, là một chợ lớn ở miền núi. Vùng Tân Bình còn dấu vết của một con rạch mang tên Bến Cá, được sử sách chép rằng: do lụt lội vào năm 1774 làm xói lở, cù lao Ngô và cù lao Tân Triều chia làm hai, ở giữa là con sông nhỏ, nước cạn và hẹp, nước sông nhỏ chảy ngược ra sông lớn không theo tiết. Người dân địa phương có câu ca dao "Nước sông trong sao lại chảy hoài/ Thương người đáo xứ lạc loài tới đây..." để lý giải hiện tượng này.

Ở Bến Cá đã phát hiện một số di vật cổ bằng đá của người tiền sử nhưng là những phát hiện ngẫu nhiên, lẻ tẻ chưa thể chứng minh đây là vùng đất con người cổ đã sinh sống. Có chăng, ở đây có sự liên hệ với di chỉ thời đại đồ đá ở vùng Đại An cách khoảng mấy cây số về hướng Bắc.

Bến Cá xưa - Tân Bình nay là địa phận có nhiều đình chùa. Hầu hết các đình ở đây đều có sắc phong nhưng qua thời gian, một số không còn lưu giữ được. Đình Bình Ý còn giữ được sắc phong thời Tự Đức và một số châu bản liên quan đến việc đo đạc ruộng đất thời Minh Mạng. Lễ hội Kỳ yên là lễ lớn, ở các đình - một nét sinh hoạt văn hóa của người dân địa phương. Vùng Tân Bình có sáu ngôi chùa và một di tích chùa cổ có tên là Kim Cang bị phá hủy do chiến tranh. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: Bến Cá là một trung tâm Phật giáo của Nam bộ với sự hiện diện của chùa Kim Cang và bảo tháp Tổ sư Nguyên Thiều dòng Lâm Tế đời thứ 38. Bên cạnh đạo Phật, đạo Công giáo cũng được truyền bá vào đây khá sớm. Họ đạo Tân Triều là một trong những họ đạo được hình thành sớm ở miền Đông Nam bộ. Sự phát triển của họ đạo Tân Triều có liên quan đến những hoạt động của Nguyễn Ánh trước đây trên vùng đất này. Trong truyền thống đấu tranh cách mạng, vùng Tân Triều - Bến Cá là cái nôi của phong trào cách mạng Biên Hòa. Năm 1935, Chi bộ Đảng Cộng sản Bình Phước - Tân Triều đầu tiên của Biên Hòa được thành lập, là hạt nhân lãnh đạo phong trào đấu tranh ở Biên Hòa trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược.

Bến Cá nổi danh về bưởi Tân Triều với nhiều loại như: bưởi đường, bưởi thanh, bưởi cam, bưởi ổi, bưởi long, bưởi xiêm... Đất Tân Triều màu mỡ phù sa, nguồn nước dồi dào nên thích hợp với cây bưởi phát triển nhanh, sản lượng cao, chất lượng tuyệt hảo. Vào mùa thu hoạch, vườn bưởi cây trái xum xuê, trái vàng rực trên cành, oằn nặng dưới tàng cây, sà trên mặt đất, đong đưa trong gió. Nhiều vườn bưởi trở thành địa điểm quen thuộc của du khách đến tham quan. Hiện nay, phần lớn diện tích Bến Cá và các vùng phụ cận được quy hoạch phát triển cho giống bưởi, từng bước trở thành khu du lịch sinh thái hấp dẫn.

Người dân Bến Cá rất say mê với công việc và có lòng hiếu khách, chân tình. Đến nơi đây, con người như hòa trong hương đồng cỏ nội, chốn quê yên lành, thưởng thức hương bưởi danh tiếng một vùng.

Đinh Huyền Phan

Theo Báo Đồng Nai

Biên Hùng Liệt Sử : Địa Lý Phong Thủy
Việt Nam xưa đã từng gián tiếp chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc, dân tộc ta tin tưởng vào phong thủy địa lý, mà xét đoán sự thạnh suy của đời sống gia đình, của sinh hoạt xã hội trong cộng đồng quốc gia.


Miền Đồng Nai, Biên trấn được phước quả nằm trong một thế đất (thuộc khu vực ảnh hưởng của sao Dực và sao Chẩn, vị thứ sao Thuần vĩ, chiếu dương), là nơi tụ khí tàng phong, có khí hòa gió thuận).
Các nhà phong thủy thâm nho, các sử gia thường gọi xứ Biên Hùng là vùng đất linh; nhờ địa linh, mới sanh xuất nhiều bậc hiền tài, nhơn kiệt, được lưu danh trong quốc sử.
           Ngoài đất địa linh vì khí thế oai hùng, nay nghiên cứu lại địa thế Biên-Hòa theo sử sách góp nhặt và nhận xét cá nhân, đất thiêng Đồng Nai có phần lớn ẩn hình: Long, Lân, Qui, Phụng.
          Bốn thú nầy được thần thoại Trung Quốc liệt vào bộ Tứ Linh, vì có những siêu tính xuất chúng: Theo sử gia Lương Văn Lựu thì đệ nhứt linh là:
           Long :
          Tức là con sông lớn uốn khúc chảy từ bắc xuống nam, rưới nguồn tươi mát lên đất Biên hùng, giống hình con long ẩn thủy. Dưới thời các chúa Nguyễn, có danh xưng là Phước Long giang (về sau kinh lược sứ Nguyễn Hữu Cảnh di dân từ Quảng Bình vào lập cư, đặt là sông Đồng Nai). Đúng là con sông rồng đem phước quả vào lãnh địa Biên Hoà.
          Nơi bờ sông Long Sơn, Long Đại, Cù lao Cái Giắt (kinh châu Phước long thôn) xưa, có đền thờ Long Vương Tam Lang, rất linh ứng, được giới thương hồ tôn kính, khi thuyền qua, đều ghé cúng bái cầu an.
         Tác giả Bình Nguyên Lộc trong tác phẩm Câu Dầm có kể một ngư phủ ở Tân Uyên câu được con cá lạ là con của Long Vương, ngư ông đem thả nên sau được đền ơn mời xuống Long điện làm thượng khách của Long Vương.
         Hai ngọn núi Long Ẩn (lấy đá) và Bình Điện (có ngôi Bửu Phong cổ tự) tại xã Bửu Long (Đức Tu) kết hợp cùng các gò nổng uốn quanh, lồi lên lõm xuống, chạy qua các xã Tân Ba, An Thành, Tân Hiệp, Bình Trị, Hoá An, Võ Sa và ngọn núi Chiêu Thái (Châu Thới, có giả thuyết cho Châu Thới là trái châu?), vì có Long mạch nên thầy địa lý Tàu mới chôn Chú Hỏa tên thiệt là Hui Bon Hỏa. Ở đó, giốc Chú Hỏa xưa làm ngoại cảnh quay cuốn phim "Con Ma Nhà Họ Hứa", có phải nhờ đó mà con cháu một người bán ve chai sau trở nên đại kỹ nghệ gia bên Pháp ? ) ; gân đất cấu thành các bộ phận một con rồng khổng lồ, nằm vắt ngang dưới lưu vực sông Phước Long (ấp Tân Lại xã Tân Thành). Núi Long Ẩn là đầu, chuỗi gò nổng nối dài kể trên là mình rồng lượn khúc, núi Châu Thới phía nam là đuôi vảnh lên cao. Núi Bình Điện là trái ngọc châu.
        Tư thế rồng nằm quay đầu về hướng bắc, ngậm trái châu Bình Điện.
        Rồng đây là rồng quý, phần đầu là một vị trí tôn nghiêm, được quí trọng xem như bảo vật, xưa được lấy làm hậu bình cho Văn miếu tại thôn Tân Lại, thờ đức Khổng Phu Tử và các Á thánh Văn thần, điạ danh Bửu Long xuất phát trong khung cảnh nầy.
       Biên Hoà xuất xứ từ cốt rồng nằm. Một số địa phương được mang tên với phụ danh "Long" như: Phước Long, Long Phước, Long Khánh, Long An, Long Tân, Bình Long, Long Hưng, Long Bình Tân, Long Bình (sau làm căn cứ quân đội Mỹ trấn đóng). Một tên lạ địa phương hay gọi là Cây Đào để chỉ Tân Uyên mà tôi chưa tìm ra xuất xứ.
       Vốn đất rồng và có người tin rồng lấy nước, nên Biên Hoà, cùng nhằm năm rồng giậy (Bính Thìn 1916 và Nhâm Thìn 1952) đã hai lần hứng chịu nạn lụt to, bão lớn.
       Rồng là thú của thần thoại, loại rắn khổng lồ, mình có 4 chân, lưng đuôi viền kỳ, miệng rộng, mũi to, râu cọng dài, đầu hai sừng, sống dưới nước, trong biển sâu.
       Rồng ở trên trời cao, lấy nước biển làm mưa cho thế nhân hưởng, ám chỉ nơi tôn nghiêm, tinh khiết, chỗ an vị của đức Văn Thù Bồ Tát, được gọi là Long Nhiểu. Việt tộc chúng ta rất hãnh diện dưới nguồn gốc con Rồng cháu Tiên.
        Lân:
       Đệ nhị linh là lân, thú cùng loại sư tử, hình thù cổ quái bởi sừng đuôi trâu, chân ngựa, nhưng tính tình rất hiền, không ăn sinh vật, khi xuất hiện, báo điềm lành.
       Cuộc đất ấp Lân Thành thuộc xã Bình Trước (tỉnh lỵ) nhưng ở vào vị trí của đồng quê. Tương truyền địa danh Tân Thành do thế đất nên được mệnh danh Lân Thành, do lân mà thành.
       Để tìm hình thế, nhà địa lý nhận thấy con lân nằm mọp trong phần đất của ấp, đầu là Núi Đất, quay về hướng bắc, lưng trải ra làm trung tâm ấp, vùng ở dưới thấp là mình oằn xuống, Gò Me cạnh sông Sa Hà (Rạch Cát) là chóp đuôi vảnh lên ở hướng nam. Núi Đất ở sau câu lạc bộ hồ tắm Biên Hoà, nay đã bị san bằng, nhưng vẫn giữ được danh xưng. Núi Đất đặt cho một ấp hành chánh có đền thờ dũng tướng kháng Pháp Trương Công Định.
      Giữa thân con Lân, dựng đền thờ Thần hoàng bổn xứ và chùa Thiên Long, đặc biệt, có hai ngôi mộ của cố Hồ Văn Rạng là nội tổ và cố Trần Thị, là bà dì của Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu, vợ vua Minh Mạng.
     Cũng từ gốc Kỳ lân, thú lành, mà Biên trấn, đã phát xuất tục múa lân nhân dịp Tết Nguyên đán và Tết Nhi đồng Trung Thu, chủ xướng bởi nhóm quan binh Tàu di cư đến lập ấp, vào khoảng năm 1700.
     Về sau, hai nhóm lân vũ thành lập tại Bình Trị Hóa An và Bửu long, để hiện gìờ, được tiếp nối, do hội Tân Bình Đường và xóm đình Tân Lân và chùa Một Cột, Phật bốn tay (đền Tân Lân thờ đức Trần Thượng Xuyên gốc Hoa có công lớn di dân lập ấp, phát triển Biên Hoà, sinh tiền ông rất ghét màu đỏ nên xe đò Liên Hiệp muốn tránh tai họa phải sơn màu xanh).
      Lân nhi là quí tướng, nên có câu: "Kỳ lân xuất hiện, thánh nhân ra đời", câu này ứng với đức Khổng Tử, khi bà Nhan Thị thấy con Kỳ lân hiện ra nhả tờ ngọc thơ có đề: Thủy tinh chi tử, kế suy Châu vị Tố vương, bà vội lấy dây lụa buộc vào sừng, Kỳ lân biến mất, bà mang thai, sau sanh Khổng Châu tự Trọng Ni, thành bậc thánh triết Á đông, được nhân dân ta suy tôn là "Vạn thế sư biểu".

       Qui:

       Đệ tam linh là qui tức con rùa: là loài sinh vật có mai, bò sát, đầu đen, cổ rút, có thể nhịn ăn mà vẫn sống.
       Cù Lao Rùa tại xã Thạnh Hội còn gọi là cù lao Nhựt Thạnh, nơi mà tôi đã chạy giặc Pháp rồi giặc Nhật về đó hồi mới 4 tuổi, ngó qua Tân Triều là quê ngoại của tôi, và cũng là quê ngoại của Nam Phương Hoàng Hậu, hiện tại ngôi nhà thờ từ đường còn miếng đá có khắc tên gia đình ông ngoại của bà là ông Lê Phát Đạt. Biên Hoà nổi tiếng nhờ bưởi Tân Triều, Cù lao Rùa có lò che do trâu kéo (lò đường) mà nơi đó, tôi tập trận cờ lau, thưởng thức mía lùi và kẹo kéo từ đường mật ngay tại cây cột bóng lưởng của lò che. Ở phía Bồng Giang (Sông Cái) thuộc quận Tân Uyên, được chánh sử ghi là đảo Qui Dự, nguyên là một gò đất nổi, trên có huyền vũ gồm một rừng cổ thọ, mà ngọn cây họp thành hai chòm như hai cái vung úp, cái lớn cao, cái nhỏ thấp, gần nhau, ở xa trông rõ là hình con linh qui khổng lồ, có đủ mai và quay đầu về hướng tây bắc nằm trên sông Phước Long. Hiện giờ hai chòm cây hình rùa không còn, vì đã bị đốn mất vào khoảng năm 1948, khi quân đội Pháp đến đóng đồn.
        Phía bắc đảo Qui Dự (đối diện ấp Tân Llương xã Phước Thành) là gò Thạch hHa, có loại đá đen, khi nắng chiếu, bắn ra tia hỏa quang, lấp lánh như sao bay. Thêm nữa, dưới gò đất là bụng rùa, đồng bào Thạnh Hội đào được rất nhiều đá bén, và Cồn Gáo, đá hình lưỡi tầm sét có khả năng trị sốt và làm kinh, mà huyền thoại mê tín cho rằng thần qui giữ kho vũ khí của Lôi Thần.
       Một ngọn núi ở vào mạn bắc, trên ngọn Tiểu Giang (Sông Bé), dưới chân có hai tảng đá thật lớn, nằm khít nhau, trông giống hình rùa trong lòng sông.
       Vị thế nằm của đá, tùy mực nước lên xuống và phía đứng, mà trông thấy rùa nằm ngang hay xuôi. Tương truyền rùa di chuyển để cản nước hoặc cho xuôi dòng. Thổ dân và các nhà khai thác lâm sản xem hiện tượng đó mà chiêm nghiệm, dự đoán nạn nước tràn ngập dưới đồng bằng.
       Được sử ghi với danh xưng "Thần qui sơn" và "Thọ sơn" (rùa sống lâu). Người địa phương gọi là Núi Ba Ba.

Linh vật thứ ba được phó cho đội kinh và đội bia trong các đền thờ.
       Rùa nghe kinh, tuổi rùa, hạc cưỡi rùa, mai rùa có bát quái đồ dược dùng để xủ quẻ, bói toán.
       Rùa linh thiêng nên mới có truyện Thần Kim Quy cho An Dương Vương nỏ thần dẹp giặc ngay trong lịch sử Việt nam. Ngày nay, chính phủ Cộng Sản không tin phong thủy nên cho khai thác cát bừa bãi nên Cù Lao Rùa gần bị sạt lở đứt gần cái cổ rùa. Với mục đích xóa bỏ tên làng Tân Tịch, chúng đã sát nhập vào làng Thượng Lảng gọi là làng Thượng Tân.
        Phụng:
       Đệ tứ linh là phụng, loài chim quí (con mái gọi là Hoàng hoặc Loan), lông đuôi dài, khi xoè lên, ửng hoa sao ngũ sắc, là chúa của thượng cầm).
       Đất các xã ở Biên Hoà vùng Long Thạnh Mỹ (Thủ Đức), xưa thuộc huyện Long thành, có chất đá ong thích hợp loại thổ sản dưa, đậu được cấu thành bởi hình dáng con phụng xòe cánh. Nơi đó là một cửa quan hiểm yếu, sử gia đặt "Khổng tước quan" là cửa ải Điểu Công (cùng loại với Phụng). Người Biên-hòa gọi nôm na "Khổng Tước Nguyên" là Gò Công.
       Quanh vùng Gò Công có một con rạch mang tên Trau Trảu (cũng là loại điểu thú).
Trên quốc lộ 15, dẫn đi Vũng Tàu (tên xưa Thuyền Úc), nơi trụ số 46, ranh giới xả Tân Phước và Phước Tân, có một chiếc cầu, sử ghi là Phụng Kiều.
      Gò dốc 47, Núi Chùa (ngả vào ngọn Sông Buông) và núi đất đỏ (Hòn Máu), có tháp canh cạnh khúc đường cua, nơi đầu ấp Tân Mai II, họp thành giống hình thể một con phụng có đầu mình và đuôi.
      Miệt Võ Su, Võ Đắt nổi tiếng là ông Võ Văn Trạng và con gái chuyên săn cọp, nơi mà hồi còn trẻ, tôi, anh Trần Ngọc Ca (Năm Tân) và Đỗ Cao Phước thường đi săn con minh (trâu rừng).
      Dân quê địa phương đơn giản gọi là Cầu Vạc (loài chim ăn đêm xưa thường đến đậu). Cầu Vạc chính là địa điểm này, chớ không phải là xã Bùi Tiếng và lò gạch Tân Mai (Bình Trước).
      Miền đông bắc Tân Uyên, là nê địa, sình lầy, không cần cày trâu, mà chỉ cuốc tay để làm ruộng, được mang tục danh là "Đất Cuốc" (xã Tân hòa) và Sình (Tân Nhuận). Có làng đồng bào thượng tên Cát Tiên.
      Nơi mà đồng bào tản cư năm 1945, đã lưu nhiều kỷ niệm, người Pháp đặt là chiến khu Đ.
      Vùng đất thiêng nầy đã phát xuất nhiều huyền thoại. Tương truyền đây nguyên là một Phượng Trì (xã Chánh Hưng), vì vùng ao to rộng nầy, xưa có chim phượng tới tắm nước, rỉa lông (Phượng hoàng ẩm thủy). Do đó nhân dân địa phương đặt là Bàu Phụng (chớ không phải là bà Phụng).
      Năm Bính Dần 1806, vua Gia Long và Thuận Thiên Hoàng Hậu tuyển con gái các quan đại thần trong triều để nạp làm phi cho Thái tử Đảm, tức là vua Minh Mạng sau này. Con gái của Phúc Quốc Công Hồ Văn Bôi, quê ở làng Bình An, tỉnh Biên Hoà, sinh năm Tân Hợi 1791, cùng tuổi với Thái tử Đảm, tên húy là Hồ Thị Hoa trúng tuyển vào cung, sau chính là Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu, là người đoan trinh, hiền thục. Vua Gia Long cho là chữ "Hoa" như tên của bà chiết tự ra có nghĩa là "một chút hương thơm" thì e không tốt cho vận số, chi bằng đổi chữ "Hoa" thành chữ "Thực", có nghĩa là "quả" hay " quả phúc" thì tốt hơn. Sau sanh Nguyễn Phúc Tuyền Minh Tông thành vua Thiệu Trị. Bởi cung cách và phẩm hạnh của bà, vua Gia Long cấm gọi phạm húy tên bà, nên người trong Nam mới gọi là "bông", như bông sen thay vì hoa sen.
      Biên Hoà có sông, có núi, nước không cần sâu nhưng cần có rồng, thì hóa linh; núi không cần cao, nhưng có tiên, nên thành thiêng, hồn thiêng sông núi hun đúc nhiều nhân tài, chí sĩ yêu nước.
Đất Biên Hoà có Long mạch, nên phát sinh khí thế hồn thiêng. Một cuộc đất, nói theo phong thủy địa lý, có tiên thánh (núi Tiên Cước phía nam Long Thành) mà còn Long Lân Qui Phụng họp thành bộ "Tứ Linh", nên được linh thiêng, danh bia thanh sử.
      Nguồn vnthuquan.net

Một số nét văn hoá của Đồng Nai

1. Tôn giáo: Ngoài tín ngưỡng dân gian, Đồng Nai còn có một số tôn giáo lớn: Ðạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, đạo Hồi, đạo Cao Ðài và đạo Hoà Hảo. Trong đó, thờ cúng Ông Bà, đạo Phật và đạo Thiên Chúa có nhiều ảnh hưởng trong đời sống xã hội và sinh hoạt của nhân dân, đồng thời cũng để lại nhiều dấu ấn trong lĩnh vực văn hóa và kiến trúc.



2. Trang phục:

Trang phục Việt Nam nói chung, Đồng Nai và Nam Bộ nói riêng có một ít thay đổi theo quá trình phát triển của lịch sử. Hiện nay, bộ âu phục dần thay thế cho bộ đồ truyền thống của đàn ông. Trong khi đó, phụ nữ vẫn mặc áo dài và đội nón lá (với một số cải tiến). Áo dài Việt Nam là trang phục độc đáo của Việt Nam.

3. Âm nhạc cổ truyền:

Đó là một dòng chảy từ xa xưa...Âm nhạc Việt Nam có truyền thống khá lâu đời. Ngay từ thời cổ, cư dân ở Việt Nam đã coi âm nhạc là một nhu cầu không thể thiếu. Bởi vậy tiếp nối quá trình phát triển lịch sử, cư dân Nam Bộ đã sáng tạo nên rất nhiều loại nhạc khí và thể loại ca nhạc để bộc lộ tâm tư tình cảm, để có thêm sự phấn chấn và sức mạnh trong lao động, chiến đấu, để giáo dục cho con cháu truyền thống của ông cha, đạo lý làm người, để giao tiếp với thế giới thần linh trong tâm tưởng và để bay lên với những ước mơ về một cuộc sống tươi đẹp, hạnh phúc trong hiện tại và trong tương lai...

Tại Đồng Nai, đàn đá Bình Đa được biết đến như một di chỉ khảo cổ học, cho thấy việc chế tác đàn đá đã xuất hiện từ trên dưới 3.000 năm trước. 

Đó là loại nhạc khí tự thân vang, thuộc loại xylophone, metallophone. Mỗi bộ đàn gồm nhiều thanh đá hợp thành. Mỗi thanh đá có kích thước và hình dáng khác nhau, được chế tác bằng phương pháp ghè đẽo thô sơ. Vật liệu để làm đàn là những loại đá sẵn có ở vùng núi Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. (Bộ đàn đá đầu tiên tìm được tại Việt Nam vào năm 1949 hiện được bảo quản tại viện bảo tàng "Con người" ở Paris)

4. Lễ hội truyền thống:

Tết Nguyên đán nhằm ngày mùng 1 tháng 1 âm lịch, là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống Việt Nam. Tết Nguyên đán Việt Nam từ buổi "khai thiên lập địa" đã tiềm tàng nhiều giá trị nhân văn thể hiện mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ.Tết còn là dịp để mọi người Việt Nam tưởng nhớ, tri ân tổ tiên, nguồn cội; giao cảm nhân sinh trong quan hệ đạo lý (ăn quả nhờ kẻ trồng cây) và tình nghĩa xóm làng...

Ngày Tết, mọi người trang hoàng nhà cửa, treo tranh, trưng bày hoa quả, rước tổ tiên về cùng ăn Tết. Hoa Mai ở Đồng Nai là loại hoa không thể thiếu trong mọi nhà ngày đầu năm.

Tết, trên bàn thờ tổ tiên của mọi gia đình, ngoài các thứ bánh trái cũng không thể thiếu mâm ngũ quả. Mâm ngũ quả ở Đồng Nai cũng như nhiều tỉnh thành Nam Bộ gồm dừa xiêm, mãng cầu, đu đủ, xoài xanh, nhành sung hoặc một loại trái cây khác. Ngũ quả là lộc của trời, tượng trưng cho ý niệm khát khao của con người vì sự đầy đủ, sung túc. Ngày Tết, người Đồng Nai cũng còn duy trì các mỹ tục cổ truyền như khai bút, hái lộc, chúc tết, du xuân, mừng thọ...

Rằm tháng Bảy theo tín ngưỡng là ngày xá tội vong nhân, nghĩa là bao nhiêu tội nhân ở âm phủ ngày này đều được tha tội. Bởi vậy trên dương thế mọi gia đình đều làm cỗ bàn, đốt vàng mã cúng gia tiên và đồng thời cúng những linh hồn bơ vơ không được ai chăm sóc. Người ta cũng thả chim lên trời, thả cá xuống sông, để làm điều phúc đức.

Tết Trung thu như tên gọi đến với mọi nhà vào đúng giữa mùa thu tức là vào rằm tháng Tám âm lịch. Tết Trung Thu là tết của trẻ em.

Một loại bánh đặc biệt thơm ngon chỉ được sản xuất và bày bán trong dịp này gọi là bánh trung thu. Trẻ em đón tết Trung Thu có đèn xếp, đèn lồng, đèn ông sao... sặc sỡ thắp sáng kéo nhau đi thành từng đoàn ca hát vui vẻ ngoài đường, ngoài ngõ, cùng với những đám múa lân, múa Ông Địa với tiếng trống, tiếng thanh la náo nhiệt. Trong dịp này, để thưởng trăng có rất nhiều cuộc vui được bày ra. Người lớn có cuộc vui của người lớn, trẻ em có cuộc vui của trẻ em.

5. Ẩm thực dân gian:

Do thời tiết hai mùa mưa nắng, sản vật biển, rừng, sông nước, vườn ruộng phong phú, cách ăn uống của người Đồng Nai vừa thể hiện nét chung của văn hóa Việt Nam, vừa có sắc thái mang dấu ấn Nam Bộ.

Các món ăn quen thuộc của người Biên Hòa - Đồng Nai trong thói quen ngày ăn ba bữa thông thường: cháo đậu ăn với cá lóc kho tiêu, cháo đậu nước cốt dừa, canh bầu nấu với cá trê vàng, cá lóc kho thơm, canh chua cá lóc, mắm kho ghém rau sống, mắm đồng chưng trứng, canh khổ qua dồn thịt…

Kỹ thuật làm món của người Đồng Nai cũng khá chăm chút, nhiều kiểu cách.

- Món hầm là một cách nấu thật nhừ thịt heo, thịt bò, với một ít nước, tương tự như món tiềm của người Trung Hoa.

- Canh là món có nhiều nước, thường nấu hỗn hợp thịt cá với các loại rau vị mát, mà phổ biến và đặc trưng nhất là canh chua cá lóc với me làm chua và các loại bạc hà, giá, đậu bắp, bắp chuối, rau om, ớt sừng…

- Luộc là kiểu nấu chín đơn giản các loại thực phẩm chỉ bằng nước sôi, nhưng cũng có nhiều cách: luộc chín, luộc nhừ, luộc sơ, trụng, nhúng, tái…

- Món xào, chiên là kỹ thuật dùng mỡ làm chín thức ăn khô hay có ít nước. Có nhiều loại: chiên mềm, chiên dòn, xào chua, xào chua ngọt, xào mặn…

- Rang là cách làm chín thực phẩm không dùng mỡ. Cua, tôm, ghẹ… rang me, rang muối là các món ăn đặc sản của vùng ven sông rạch. Để thưởng thức loại món này, du khách có thể tự nhiên dùng tay cầm trực tiếp thực phẩm để ăn thì mới thưởng thức được hết cái ngon trong nét mộc mạc ngọt ngào của nó.

- Um, riêm, khìa là những kiểu làm chín với thực phẩm có ướp gia vị trước. Riêng món khìa thường dùng trong các tiệc nhậu cho những người sành điệu.

- Món kho là nấu thực phẩm với mắm, muối làm mặn, là món dễ thực hiện nhưng cũng có nhiều cách: kho thường, kho tàu, kho khô, kho quéo, kho quệt, kho tộ, kho riêm, kho ngót, kho nước cốt dừa…

- Nướng là món rất dân dã nhưng cũng rất sang trọng và có nhiều loại. Thức nướng luôn phải thật tươi và thường có ướp một ít gia vị. Ngày nay, các nhà hàng ở Đồng Nai thường phục vụ thực khách với nhiều kiểu nướng: nướng lụi, nướng mọi, nướng đất sét, nướng rơm, nướng trui, nướng giấy bạc, nướng sa tế… Đặc biệt là với một số món nướng, thực khách có thể yêu cầu để được tự nướng tại bàn, để tận hưởng hương thơm của thịt chín và sự sốt dẻo của món ăn.

- Gỏi thông thường là món trộn nhiều loại rau với thịt, gà vịt, hoặc tôm cá. Người Đồng Nai thích ăn gà trộn gỏi (gà xé phay) với vị chua của chanh, cay của tiêu ớt, nồng của rau răm, giòn tươi của bắp chuối, vị ngọt của gà tơ… Gỏi bưởi là một đặc sản nổi tiếng của Đồng Nai. Gỏi bưởi gồm bưởi Biên hòa, loại vừa chín tới, còn hơi chua, xé nhỏ trộn với đu đủ, tép khô và rau thơm. Các loại gỏi sống, thường là cá sống, tôm sống, với kỹ thuật của đồng bằng Bắc Bộ lưu truyền vào Đồng Nai cũng đang là thứ đặc sản thu hút nhiều thực khách.

Đất Đồng Nai cũng rất giàu hoa trái, gần như quanh năm đều có trái cây, trong đó bưởi là thứ trái cây nổi tiếng nhất.

Biên Hòa có bưởi thanh trà; Thủ Đức nem nướng, Điện Bà Tây Ninh; Bưởi Đồng Nai nhiều nhất ở làng Tân Triều (huyện Vĩnh Cửu). Bưởi Tân Triều nổi tiếng trong nước và cả một số nước trên thế giới với vị chua ngọt dễ chịu, múi nhỏ mọng nước, có tác dụng tốt cho tim mạch. Ngày nay, du khách có thể theo tour, hoặc tự đến làng Tân Triều ( tỉnh lộ 24, qua khỏi Trung tâm Văn hóa Du lịch Bửu Long 10km) để được nằm nghỉ, cắm trại hay picnic ngay trong vườn bưởi, và tự tay chọn hái những quả bưởi trĩu cành, để tận hưởng vị ngọt thanh của đường hòa tan trong múi bưởi – một vị ngọt mát nhẹ nhàng giúp cho tinh thần sảng khoái..

Không thể không nhắc đền chôm chôm, sầu riêng – hai thứ đặc sản của các vườn cây Long Thành, Long Khánh.

Quả chôm chôm vỏ dày, thịt trắng trong, ngọt mát. Sầu riêng là loại đắt tiền nhất trong các loại hoa quả Việt nam. Tên của loại quả này gắn liền với truyền thuyết về mối tình không thành của chàng hoàng tử láng giềng và cô gái Nam Bộ Việt Nam. Sầu riêng vỏ dày, cứng, có gai nhọn lởm chởm. Khi chín, chỉ cần dùng lưỡi dao tách nhẹ vào đường rãnh vỏ là thấy ngay những múi sầu riêng vàng ngà, óng ánh như được phết bơ. Hương sầu riêng rất đậm, quyến rũ đến lạ kỳ, bay rất xa và rất lâu tan trong không khí. Sầu riêng đã được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới.

      Theo nguồn dongnai.gov.vn

1 - 10 Tiếp theo