Bỏ qua nội dung chính

Địa chí Đồng Nai

Tìm kiếm
Trang chủ
Tra cứu
Thư viện số
Thư viện Koha
Bộ sưu tập
Video
Văn bản
Youtube
  

Thư viện Tỉnh Đồng Nai > trangtin > Địa chí Đồng Nai > Danh mục
LỄ THÀNH HẦU - NGUYỄN HỮU CẢNH
Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700), là 1 tướng lĩnh tài ba, một nhà quản lý hành chính xuất sắc; người mở nước về phía Nam và cũng là người có công xây dựng nền móng cho Sài Gòn.

Nguyễn Hữu Cảnh sinh năm Canh Dần (1650) tại vùng đất nay thuộc xã Chương Tín, Huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình. Theo các nhà nghiên cứu thì tổ tiên của Nguyễn Hữu Cảnh là Đinh quốc công Nguyễn Bặc -1 vị tướng tài ba xuất sắc của vua Đinh Tiên Hoàng; ông cũng là cháu mấy đời của nhà chính trị đại tài của nước ta - Nguyễn Trãi. Cha ông là Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Đạt - người đã đóng góp nhiều công sức cho chúa Nguyễn trong cuộc đối đầu với chúa Trịnh.

           Lớn lên trong thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, Nguyễn Hữu Cảnh chuyên tâm luyện võ nghệ để có thể theo cha đi chinh chiến. Tuy còn trẻ tuổi nhưng ông đã lập được nhiều chiến công và đã được chúc Nguyễn Phúc Tần phong chức cai cơ (một chức quan võ thuộc bậc cao) vào lúc tuổi đôi mươi.

          Năm 1681 cha mất, ông cùng anh ruột là Nguyễn Hữu Hào nối nghiệp cha. Trong công việc và trong quan hệ xử thế, Nguyễn Hữu Cảnh rất cẩn trọng nên được lòng mọi người.

          Đầu xuân Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn Phúc Chu cử Nguyễn Hữu Cảnh làm thống suất vào Nam kinh lược và thiết lập bộ công quyền, đặt nền pháp trị và xác định cương thổ quốc gia. Theo đường biển, quân của Nguyễn Hữu Cảnh đi ngược dòng Đồng Nai đến cù lao Phố (1 cảng sầm uất nhất của miền Nam bấy giờ). Sau đó, Nguyễn Hữu Cảnh thanh tra vùng đất Sài Gòn và đặt hai đơn vị hành chính đầu tiên tại Nam Bộ là huyện Phước Long và huyện Tân Bình, dưới quyền của phủ Gia Định. Theo Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí thì "đất đai mở rộng hơn ngàn dặm, dân số có thêm 4 vạn hộ". Nguyễn Hữu Cảnh đặt các bộ phận trông coi mọi việc như ký lục (trông coi về hành chính, thuế khóa), lưu thủ (trông coi về quân sự) và cai bộ (trông coi về tư pháp). Giúp việc cho các quan là các xá ty và một số đơn vị vũ trang. Đối với người Hoa, Nguyễn Hữu Cảnh tập hợp họ thành những tổ chức hành chính riêng như xã Thành Hà (Trấn Biên), xã Minh Hương (Phiên Trấn). Ông cho chiêu mộ nhân dân đi khẩn hoang lập ấp. Đại Nam liệt truyện (tiền biên quyển 1) ghi rõ Nguyễn Hữu Cảnh đã "chiêu mộ" dân phiêu tán từ từ châu Bố Chánh (nay là Quảng Bình) trở vào Nam vào đất ấy (tức là đất Trấn Biên và Phiên Trấn), rồi đặt xã thôn, phường ấp, định ngạch tô thuế và ghi tên vào sổ đinh". Như vậy biên giới nước ta đã mở rộng đến vùng này. Năm 1700, Nguyễn Hữu Cảnh cầm quân tiến xuống vùng biên giới Tây Nam ngày nay. Nhờ uy danh, Nguyễn Hữu Cảnh đã nhanh chóng giải quyết tình hình bất an của vùng này. Nhưng sau đó do bị bệnh nặng Nguyễn Hữu Cảnh qua đời, lúc ấy ông mới tròn 50 tuổi.
                                                                                             Theo www.suutap.com
ANH HÙNG NGUYỄN THANH TÙNG

Anh hùng Nguyễn Thanh Tùng sinh năm 1933, dân tộc Kinh, quê ở xã Hảo Đước, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung tá, chỉ huy phó Đoàn đặc công 429, Quân khu 7. 

Từ năm 1961 đến tháng 4 năm 1975, Nguyễn Thanh Tùng liên tục chiến đấu ở chiến trờng Nam Bộ. Đồng chí đã chỉ huy đơn vị diệt hàng ngàn tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh khác. Đặc biệt, đêm 15 tháng 5 năm 1969, Nguyễn Thanh Tùng trực tiếp chỉ huy 1 tiểu đoàn đặc công tiến công mãnh liệt căn cứ Tếch-ních, diệt và làm bị thương 800 tên Mỹ, 2 sở chỉ huy lữ đoàn, phá hủy, phá hỏng 22 khẩu pháo, 96 xe quân sự (có 43 xe tăng), 8 kho vũ khí, quân trang, quân dụng. Chưa đầy một tháng sau đó, Nguyễn Thanh Tùng lại chỉ huy đơn vị đánh căn cứ Tếch-ních lần thứ hai, diệt và làm bị thương 500 tên Mỹ, phá hủy 10 máy bay, 6 khẩu pháo, 41 xe quân sự (có 21 xe tăng), 35 lô cốt, 92 nhà lính, hơn 100 hầm ngầm, 3 kho đạn. Tháng 11 năm 1971, đồng chí chỉ huy 2 tiểu đoàn đặc công đánh thiệt hại nặng căn cứ Trảng Lớn do 1 trung đoàn địch đóng giữ. Năm 1972, Nguyễn Thanh Tùng chỉ huy đơn vị đánh 3 trận xuất sắc, thu nhiều hiệu quả: diệt 240 tên địch, phá hủy 6 khu thông tin tại trận đánh căn cứ Bà Dơn; trận đánh tổng kho Long Bình, đốt cháy và phá hủy 15.000 tấn bom, đạn; trận đánh sân bay Biên Hòa, phá hủy 90 máy bay. Trong Tổng tiến công, nổi dậy mùa Xuân 1975, Nguyễn Thanh Tùng chỉ huy đơn vị đánh chiếm căn cứ ra-đa Phú Lâm và chi khu Tân Trào hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Đồng chí được tặng thưởng 5 Huân chương Chiến công giải phóng, 3 lần là Dũng sĩ. Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Nguyễn Thanh Tùng được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

       Theo dongnai-industry.gov.vn 

ANH HÙNG TRẦN VĂN TRUNG
Anh hùng Trần Văn Trung sinh năm 1927, dân tộc Kinh, quê ở thị xã Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung tá, cán bộ tình báo thuộc Bộ Tham mưu Miền.


Từ năm 1952 đến tháng 4 năm 1975, do yêu cầu nhiệm vụ tình báo, suốt 23 năm cùng ăn, ở, làm việc với địch, phải thường xuyên tiếp xúc với bọn đầu sỏ gian ác nhất. Công tác của đồng chí đòi hỏi che mắt địch mọi nơi, mọi lúc, phải bám chắc địa bàn để dễ dàng hoạt động mà không bị lộ. Trần Văn Trung đã cung cấp kịp thời nhiều tài liệu nguyên bản của địch có giá trị lớn cho cách mạng, lập nhiều thành tích xuất sắc. Để có ngày chiến thắng, bên những chiến công vẻ vang của đồng đội cầm súng chiến đấu, còn có biết bao chiến công thầm lặng của những người con ưu tú như Trần Văn Trung – những cán bộ tình báo. Anh luôn giữ nếp sống giản dị, trong sạch, có ý thức tổ chức kỷ luật cao. Sống và làm việc với địch, Trần Văn Trung vẫn luôn luôn giữ vững lòng trung thành với Đảng, kiên định tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng, tin tưởng vào tương lai ngày mai của đất nước.

Đồng chí được tặng thưởng 4 Huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng nhất, 2 hạng nhì, 1 hạng ba), 6 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua. Ngày 15 tháng 1 năm 1976, Trần Văn Trung được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

ANH HÙNG TRỊNH XUÂN THIỀU

Anh hùng Trịnh Xuân Thiều sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, chính trị viên đại đội đặc công, đại đội 11, tiểu đoàn 3, trung đoàn 316, Quân khu 7.

 



Từ tháng 3 năm 1968 đến cuối năm 1974, Trịnh Xuân Thiều làm nhiệm vụ đánh tàu địch ở Trị Thiên, Nam Bộ và giúp cách mạng Cam-pu-chia. Đồng chí đã chỉ huy tổ đánh chìm 7 tàu, có 1 tàu trọng tải 8.000 tấn. Đêm 18 tháng 5 năm 1972, Trịnh Xuân Thiều và 1 đồng chí nữa đánh tàu tại cảng Phnôm Pênh (Cam-pu-chia). Ở đây địch phòng thủ rất chặt chẽ, tuần tiễu, bắn pháo sáng liên tục, anh vẫn động viên đồng đội cùng mình tìm cách lọt vào cảng, lựa thế đặt khối thuốc nổ đánh chìm 2 tàu địch (1 tàu vận tải, 1 tàu tuần tiễu). Ngày 4 tháng 8 năm 1972, Trịnh Xuân Thiều đánh cảng Phnôm Pênh lần thứ hai, tuy gặp khó khăn hơn lần trước vì địch tăng cường phòng thủ, phải bơi xa 20 km mới tới mục tiêu. Anh đã đưa cả tổ vào đúng như phương án, riêng Thiều cùng 1 đồng đội đánh chìm chiếc tàu 8.000 tấn. Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đến năm 1978, Trịnh Xuân Thiều là chính trị viên đại đội 11, anh đã góp phần tích cực xây dựng đơn vị làm tốt công tác truy quét tàn binh địch, bảo vệ trị an, tuyên truyền vận động quần chúng chấp hành nghiêm túc các chính sách, kỷ luật được nhân dân tín nhiệm.

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, nhiều bằng và giấy khen. Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Trịnh Xuân Thiều được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

         Theo dongnai-industry.gov.vn

ANH HÙNG LÊ DUY CHÍN

Anh hùng Lê Duy Chín sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Xuân Thành, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại úy, tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 76 công binh, bộ đội địa phương tỉnh Đồng Nai.

 Từ năm 1964 đến Xuân 1975, Lê Duy Chín chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, anh đã qua các chức vụ: đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng công binh. Trong những năm 1969 và nửa năm 1970, tiểu đoàn do Lê Duy Chín chỉ huy đã diệt và làm bị thương hơn 2.000 tên địch (có 1.400 tên Mỹ và chư hầu), phá hủy, phá hỏng 720 xe quân sự (có hơn 200 xe tăng, xe bọc thép), 18 đồn bốt, 36 cầu, 9.000 mét đường sắt, 540 mét đường bộ, bắn rơi 2 máy bay… Tháng 8 năm 1968, Lê Duy Chín chỉ huy 1 đại đội phục kích 1 đoàn xe địch, đồng chí đã kiên trì chờ cho chúng lọt vào trận địa mới cho đơn vị đồng loạt nổ súng xung phong. Kết quả diệt 12 xe chở 60 lính Mỹ, phá sập 1 cầu, làm tắc giao thông của địch 2 ngày. Tháng 9 năm 1968, Lê Duy Chín chỉ huy đơn vị phá 1 chiếc cầu gần nơi đóng quân của 1 đơn vị lính Thái Lan. Anh khôn khéo nhử địch ra vừa phá sập cầu vừa diệt 6 xe tăng cùng một số lính địch trên xe, đơn vị an toàn. Tháng 8 năm 1972, Lê Duy Chín chỉ huy 1 liên đội công binh nằm trong đội hình trung đoàn 4 đánh 2 tiểu đoàn bảo an địch. Trận đánh này diễn ra ác liệt, anh bị thương nhưng vẫn tiếp tục chỉ huy đơn vị diệt 50 tên địch, bắt 7 tên, thu 15 súng, tạo điều kiện thuận lợi cho trung đoàn diệt gọn 2 tiểu đoàn địch.

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 10 lần đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua. Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Lê Duy Chín được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

           Theo dongnai-industry.gov.vn

ANH HÙNG TỐNG VIẾT DƯƠNG

 

Anh hùng Tống Viết Dương sinh năm 1924, dân tộc Kinh, quê ở xã Phong Lạc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung tá, trung đoàn trưởng trung đoàn 367, đặc công, Quân khu 7. 

 

Từ tháng 2 năm 1962 đến Xuân 1975, Tống Viết Dương hoạt động tại địa bàn Đông Nam Bộ và Cam-pu-chia. Đầu năm 1965, Tống Viết Dương chỉ huy đơn vị đánh sân bay và trường huấn luyện cảnh sát địch ở Rạch Dừa (Vũng Tàu), diệt và làm bị thương 500 tên địch, phá hủy 37 máy bay. Trận đánh sân bay Pô-chen-tông (Cam-pu-chia) ngày 22 tháng 1 năm 1971, đồng chí trực tiếp đi nghiên cứu, điều tra, lập phương án tác chiến. Đơn vị của anh đã phá hủy nhiều máy bay, diệt nhiều tên giặc lái và nhân viên kỹ thuật, phá hủy 1.000 tấn bom đạn. Trận đánh sân bay Bát-tam-băng tháng 4 năm 1973, khi sắp nổ súng thì địch phát hiện được, nếu đánh theo chiến thuật đặc công kết hợp bộ binh thì khó thắng, Tống Viết Dương chuyển hướng đánh bằng pháo, kết quả đã phá hủy 18 máy bay và hàng trăm tấn bom đạn. Ngày 26 tháng 6 năm 1974, trong trận đánh căn cứ biệt kích Nước Trong ở Núi Đất, anh chỉ huy tiểu đoàn diệt 200 tên, trong đó có nhiều sĩ quan cấp tá. Đêm 22 tháng 8 năm 1974, Tống Viết Dương đã chỉ huy tiểu đoàn tập kích căn cứ 1 chiến đoàn ngụy diệt 500 tên, phá hủy nhiều xe tăng. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, anh đã chỉ huy đơn vị đặc công đánh vào Sài Gòn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Từ tháng 8 năm 1976 đến tháng 11 năm 1978, Tống Viết Dương là chủ tịch quận 5 thành phố Hồ Chí Minh.

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì. Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Tống Viết Dương được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.                   

                                                                                     Theo dongnai-industry.gov.vn

 

ANH HÙNG NGUYỄN QUYẾT CHIẾN

Anh hùng Nguyễn Quyết Chiến sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Phú Hữu, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, xã đội trưởng xã Phú Hữu. Năm 1965 Nguyễn Quyết Chiến vào du kích, đã đánh và chỉ huy du kích đánh trên 100 trận, diệt hàng trăm tên địch, thu trên 20 súng các loại. 

 Ngày 5 tháng 6 năm 1967, Nguyễn Quyết Chiến bám sát theo dõi chặt chẽ hoạt động của 1 đại đội Mỹ càn vào xã, ban đêm anh bò vào đặt mìn giữa đội hình trú quân của địch, thấy địch sơ hở, anh lấy 8 khẩu súng chuyển ra ngoài xong quay lại điểm hỏa mìn, diệt 1 trung đội Mỹ. Ngày 18 tháng 12 năm 1967, Nguyễn Quyết Chiến bí mật đột nhập nơi địch đóng quân dã ngoại, sau khi lấy được 4 khẩu súng chuyển ra ngoài thì bỗng nhiên địch sục sạo xung quanh, anh bình tĩnh, táo bạo, mưu trí vào hẳn bên trong trà trộn nằm cạnh địch vờ ngủ, chờ yên tĩnh mới đánh mìn diệt 20 tên địch. Trận ngày 20 tháng 8 năm 1968, Nguyễn Quyết Chiến chỉ huy 1 tổ du kích tập kích địch đang trú quân trong xã. Sau khi bố trí mìn xong, thấy thời gian còn thuận lợi. Chiến xung phong vào lấy khẩu đại liên của địch, dặn lại nếu bị lộ thì anh em cứ điểm hỏa mìn, còn anh tìm cách đánh địch. Kết quả, vẫn lấy được khẩu đại liên, vẫn nổ mìn diệt 40 tên Mỹ, ta an toàn. Nguyễn Quyết Chiến luôn chăm lo xây dựng đội du kích lớn mạnh, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị, luôn chủ động, tích cực phục vụ cho các đơn vị chủ lực vào đánh các căn cứ quân sự của Mỹ ngụy, tạo địa bàn vững chắc cho bộ đội hoạt động ở phía đông thành phố Sài Gòn.

Đồng chí đã được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 1 hạng ba). Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Nguyễn Quyết Chiến được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Theo dongnai-industry.gov.vn

ANH HÙNG NGUYỄN TRỌNG TÂM

 

Anh hùng Nguyễn Trọng Tâm sinh năm 1927, dân tộc Kinh, quê ở xã Yên Quang, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ nghỉ hưu.

Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Trọng Tâm là Trưởng ban binh vận thành phố Nam Định. Năm 1954, đồng chí được điều vào Nam hoạt động hợp pháp, làm công tác binh vận. Tháng 10 năm 1955, Nguyễn Trọng Tâm bị địch bắt, chúng tra tấn rất dã man, nhưng Nguyễn Trọng Tâm vẫn giữ vững ý chí tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ nghỉ hưu.

Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Trọng Tâm là Trưởng ban binh vận thành phố Nam Định. Năm 1954, đồng chí được điều vào Nam hoạt động hợp pháp, làm công tác binh vận. Tháng 10 năm 1955, Nguyễn Trọng Tâm bị địch bắt, chúng tra tấn rất dã man, nhưng Nguyễn Trọng Tâm vẫn giữ vững ý chí cách mạng. Trong tù, đồng chí đã móc nối với bên ngoài để hoạt động, đã tổ chức, chỉ huy anh em cướp súng, phá nhà tù Tân Hiệp – Biên Hòa giành thắng lợi, giải thoát được gần 500 cán bộ ta bị địch bắt. Nguyễn Trọng Tâm đã góp phần xây dựng lực lượng vũ trang đầu tiên của miền Đông Nam Bộ. Đồng chí đã chiến đấu và chỉ huy chiến đấu nhiều trận, diệt được nhiều địch, thu nhiều vũ khí đạn dược và phương tiện chiến tranh của chúng. Trận đánh đầu tiên của đơn vị tiêu diệt chi khu Hiếu Lâm đã diệt và làm bị thương hàng trăm tên địch, thu gần 100 súng, trên 20 máy bộ đàm và hơn 10 tấn đạn. Đồng chí còn xây dựng cơ sở đầu tiên cho phong trào binh vận miền Đông Nam Bộ và chỉ đạo thí điểm thành công phá ấp chiến lược bằng 3 mũi giáp công. Công tác binh vận đã phục vụ cho việc xây dựng cơ sở ém lực lượng vũ trang xuống vùng sâu hoạt động sau tết Mậu Thân (1968). Tháng 3 năm 1974, Nguyễn Trọng Tâm là Ủy viên kinh tài phụ trách thương nghiệp khu miền Đông.

Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Trọng Tâm được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

                                                                                                                      Theo dongnai-industry.gov.vn


ANH HÙNG TRẦN VĂN DANH

 

Anh hùng Trần Văn Danh (tức Ba Trần) sinh năm 1923, dân tộc Kinh, quê ở huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, nguyên Trưởng ban chỉ đạo xây dựng công trình thủy điện Trị An.



Năm 1945, Trần Văn Danh tham gia cách mạng. Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trên nhiều cương vị công tác, đồng chí luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó. Trần Văn Danh luôn trăn trở trước tình hình đất nước gặp nhiều khó khăn. Đồng chí đã đề ra phương án xây dựng nhà máy Thủy điện Trị An và được chấp nhận. Sau đó, Trần Văn Danh được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Điện lực, kiêm Trưởng ban chỉ đạo xây dựng công trình Thủy điện Trị An. Đây là công trình thủy diện có tác dụng to lớn trong việc phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế văn hóa và phục vụ đời sống nhân dân nhiều địa phương thuộc các tỉnh, thành phố phía Nam. Đồng chí đã dày công nghiên cứu, lặn lội khắp nơi vận động, tập hợp sức người, sức của trong nhân dân, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế nhất là Liên Xô cũ. Trần Văn Danh luôn thể hiện phẩm chất của người đảng viên Cộng sản lão thành, không quản ngại tuổi cao, sức yếu, có tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình công tác, gần gũi và cảm thông với mọi thành viên trên công trình, trở thành tấm gương cho mọi người học tập.

Đồng chí được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Lao động hạng nhất. Ngày 30 tháng 10 năm 1990, Trần Văn Danh được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lao động.

1 - 10 Tiếp theo