Bỏ qua nội dung chính

Địa chí Đồng Nai

Tìm kiếm
Trang chủ
Tra cứu
Thư viện số
Thư viện Koha
Bộ sưu tập
Video
Văn bản
Youtube
  

Thư viện Tỉnh Đồng Nai > trangtin > Địa chí Đồng Nai > Danh mục
Mẹ Nguyễn Thị Đởm (1906 - )

        Chúng tôi đến trại nuôi dưỡng cha mẹ liệt sĩ ở xã Hiệp Hòa vào một buổi sáng tháng mười, bên bờ sông Đồng Nai quanh năm lặng lẽ bồi đắp phù sa. Gặp lại mẹ Nguyễn Thị Đởm trong niềm vui và xúc động. Mẹ đã ở vào tuổi 89 (1906), nhưng dáng người vẫn thẳng thắn như thời mẹ còn trẻ. Vẫn giọng nói sang sảng của những ngày mẹ làm công tác tuyên truyền, vận động anh em binh lính buông súng về với cách mạng, của những năm tháng kêu gọi đấu tranh chống áp bức, bóc lột, đòi tăng lương, đòi cải thiện đời sống công nhân cạo mủ ở đồn điến cao su Suối Tre, Bàu Hàm... Riêng đôi mắt mẹ đã bao lần ngóng trông người con trai của mẹ trở về... nhưng con mẹ đã không trở về, và đôi mắt thì mỗi ngày một mờ đi...

 

             Mẹ đón chúng tôi thân tình như con cháu lâu ngày gặp lại. Mẹ hồn nhiên, dẫn tay chúng tôi chỉ cho xem những tấm huy chương mà nhà nước đã phong tặng cho mẹ, cho chồng, con mẹ
 - " Và cả vòng hoa này nữa, các con xem có đẹp không ?" (Và khi chúng tôi chụp ảnh lưu niệm thì mẹ nhất định đòi đeo vòng hoa ấy cho kỳ được !)
Đang vui, chợt cái nhìn của mẹ thoáng xa xăm. Đôi mắt mờ dõi về một nơi như con mẹ vẫn đang hiện hữu...
 - Đấy ! Các con xem, anh Dần con có giống mẹ không ? Mẹ chỉ có mình anh con, thế mà mẹ cũng không giữ được nó ! Trong cảnh đất nước tang thương, nếu người mẹ nào cũng chỉ muốn giữ con ở nhà với mình, thì đất nước này sẽ về đâu ? ! Biết bao người mẹ đã hy sinh cái riêng để được cái chung ! Nào đâu phải chỉ mình mẹ. Mấy mươi năm rồi còn gì ? ! - Mẹ lấy khăn chậm nước mắt, giọt nước mắt hiếm muộn của tuổi già làm chúng tôi nao nao trong dạ. Rồi mẹ lặng im như đang lục tìm trong ký ức những dấu ấn của một thời đã qua.
             Quê mẹ ở Thụy Anh, Thái Bình. Năm 1926, mẹ theo những người mộ phu vào Nam và chọn Đồng Nai làm quê hương thứ hai. Là một công nhân cạo mủ, phải chịu bao cảnh áp bức, bóc lột của bọn cai, bọn tổng đồn điền, mẹ đã sớm được giác ngộ cách mạng và làm công tác tuyên truyền. Mẹ lấy ông Nguyễn Văn Biên ở Bầu Lâm - Xuyên Mộc - Bà Rịa. Những tưởng cuộc đời sẽ đổi khác, nhưng mẹ đã âm thầm xót xa với cảnh lẻ mọn, Năm 1935, anh Nguyễn Văn Dần ra đời, niềm vui chưa trọn vẹn, thoắt đã ly tan, chồng mẹ bị Pháp bắt và giết chết vì tội "tham gia cách mạng", còn lại mình mẹ côi cút nuôi con. Năm 1950, anh Dần tham gia cách mạng và làm du kích ở xã An Lộc - Xuân Lộc - Đồng Nai, và khi đến tuổi 20 thì anh thoát ly hoạt động bí mật. Ngày chia tay, anh nói với mẹ : "Con muốn ở nhà làm rẫy nuôi mẹ, nhưng giặc không để chúng ta yên ổn làm ăn... Mẹ hãy để con đi... Con còn phải trả thù cho cha nữa !"
             Dứt ruột đưa tiễn con vào kháng chiến, những lần gặp mặt vội vã qua những lần tiếp tế cho con, còn lại mình mẹ, mẹ tiếp tục công tác hậu phương. Tảo tần với đủ mọi nghề, mọi việc, dành dụm được ít tiền, vàng, mẹ cũng bán đi để gửi cho con và cho anh em cách mạng.
             Trong những năm tháng làm công tác hậu phương, mẹ cũng đã từng ra khám vào tù (có năm mẹ bị tù tới bốn lần), bị đánh đập tra khảo, nhưng không moi được chứng cớ gì ở mẹ, chúng đành thả mẹ ra. Mẹ lại tiếp tục công việc của mình. Một đặc điểm nổi bật ở mẹ là sự nhanh trí và khéo léo, mẹ đã nhiều lần qua mặt được kẻ thù giúp cho những cuộc họp, những cuộc hành quân bí mật của anh em cách mạng được an toàn... Lắm khi nhớ lại, mẹ bật cười : "Nghĩ hồi ấy, mình cũng gan !..."
             Những tưởng mẹ con sẽ có một ngày gặp lại, nhưng anh Dần đã vĩnh viễn nằm lại ở ấp Núi Tung, xã An Lộc - Xuân Lộc - Đồng Nai ngày 2-9-1969 khi bám đánh địch ở núi Tung bị vướng mìn của địch gài, anh hy sinh tại chỗ. Chiến tranh qua đi, hòa bình lập lại, con của mẹ chỉ còn trở về với tấm di ảnh nơi đầu giường của mẹ. Vắng sự chăm sóc của con nhưng mẹ lại được sống trong sự yêu thương đùm bọc của các cấp, các ngành... dẫu cho đó là sự bù đắp rất nhỏ.
            Mẹ được nhà nước phong tặng danh hiệu : "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" tháng 11 -1994.
 

Mẹ Nguyễn Thị Đẹt (1901-?)

        Mẹ Ba Đẹt ( Nguyễn Thị Đẹt ) sinh năm 19... ở xóm Gò Tre làng Bình Dương ( nay thuộc phường Long Bình Tân, TP Biên Hòa ) nhưng cư ngụ lâu dài ở phường Tân Vạn. Đời mẹ là chuỗi dài lo toan việc nhà, việc nước chất chồng thương nhớ mỏi mòn và đau đớn xé lòng từ khi các đế quốc xâm lược kéo vào. Mẹ có năm con : ba trai đầu rồi tới hai gái. Anh Hai Hoành     ( sinh năm 1924 ) hăng hái tham gia phong trào Thanh niên Tiền Phong hồi Cách mạng tháng Tám 1945. Tiếng súng Nam Bộ kháng chiến thôi thúc anh gia nhập Vệ quốc đoàn, làm lính trinh sát chi đội 306 chiến đấu trên đất Gia Định - Ninh ( tức tỉnh Gia Định - Tây Ninh lập năm 1951 ). Tiễn con lên đường, mẹ tuy buồn nhớ nhưng rất phấn khởi tự hào. Anh Nguyễn Văn Ba ( sinh năm 1926 ) - bà con kêu là Ba Bụng - tham gia Quốc gia Tự vệ cuộc ( sau đổi là công an ), công tác tại địa phương. Địch đóng bót Bến Gỗ, song làng Bình Dương nhỏ bé vẫn thuộc vùng độc lập một thời gian dài. Bộ đội về làng, do đó lính bót Bến Gỗ thường càn quét gom dân về quanh bót chúng. Mặt khác, kẻ địch tiến hành chiến tranh gián điệp, cho tay sai đi dò la tin tức của ta. Quốc gia tự vệ cuộc là công cụ sắc bén của cách mạng, góp phần ngăn chặn và tiêu diệt bọn gián điệp, bảo vệ kháng chiến. Anh công an Ba Bụng cơm nhà việc nước như tất cả các cán bộ cơ sở hồi đó. Mẹ Ba Đẹt nhỏ thó tần tảo công việc ruộng đồng, nuôi con và các đồng chí của con, coi đó là lẽ đương nhiên. Cuối tháng 8-1948, anh Ba Bụng đi công tác ở ấp Phước Châu ( Long Hưng ) thì bị lính biệt kích của Pháp côm-măng-đô ( commando) đột vào bắt được. Chúng giải về bót Bến Gỗ, đánh đập dã man hòng bắt anh khai lực lượng cán bộ, du kích đang bám địa phưong. Chúng bỏ đói anh, chị Ba Lợi bị giam cùng phòng lén bẻ một miếng cơm tuồn cho anh. Tên lính gác trông thấy, giật phắt, vứt đi. Không khai thác được gì ở anh Ba, bọn giặc đem anh về Vàm Ông Yêu ( Long Hưng ) chặt đầu ngày 3-9-1948 ( Mùng 1 tháng 8 Mậu Tý ). Bà con trong xóm chôn cất anh ở ven sông. Mẹ Ba Đẹt vô cùng đau xót khi nghe về cái chết thảm của con mình. Một thời gian sau, mẹ cùng con gái út Sanh - mới 10 tuổi - xuống Bến Gỗ, dò hỏi tìm gặp tên ác ôn. Má bình tĩnh, tỉnh táo nhìn thẳng mặt hắn : - Tôi nghe nói ông chặt đầu nhiều người lắm, phải không ? Y hoảng sợ, chối bằng cách nói năng lảm nhảm như một thằng điên. Sau ngàu giải phóng, mẹ xuống Bến Gỗ lần nữa, nhung y trốn biệt nơi nào, chắc sợ ta trừng trị những tội lỗi man rợ khi y cam tâm làm tay sai cho giặc.

            Nguyễn Văn Bốn ( sinh năm 1940 ) gia nhập du kích xã để trả thù cho anh ruột. Anh cùng đồng đội nhiều phen chống càn bảo vệ nhân dân, bảo vệ căn cứ du kích Bình Đa. Mẹ và hai con gái lo việc ruộng đồng, lo chạy càn, lại lo tiếp tế cho anh và số du kích xã. Trưa 11-6-1951, bộ đội cùng du kích địa phương kỳ tập hạ bót Long Điềm, thu nhiều vũ khí. Địch chiếm lại bót, bắt một số dân, trong đó có út Sanh mới 12 tuổi. Anh Bốn thấy mẹ và hai em không thể yên thân ở xóm Gò Tre, một mặt nhờ người nói với linh mục Thiên xin tha cho em, một mặt thuyết phục mẹ về Tân Vạn làm ăn sinh sống. Khi út Sanh được tha, gia đình đi luôn. Bót Bến Gỗ thông báo cho bót Tân Vạn : mẹ Ba Đẹt có một con đi bộ đội, một con làm công an đã chết, một con là du kích ở Bình Đa. Chúng gọi lên dụ : - Có con đi Việt Minh thì kêu nó ra, các quan sẽ cho nhiều tiền... - Gia đình tôi có mấy mẹ con từ Bình Dương qua đây mong sống yên ổn...
            Lâu lâu, mẹ cùng con gái lén bơi xuồng qua Bình Đa tiếp tế cho anh Bốn : gạo, thuốc hút. quần áo... Có lần út Sanh đi một mình, mang gói mắm hơn một ký bị lính xét thấy, chúng tịch thu và tát mấy cái về tội "tiếp tế cho Việt Minh". Ngày 6-11-1952, ( 19 tháng 9 Nhâm Thìn ) anh Bốn lọt ổ phục kích, bị bắn chết trong khi đi trinh sát bót Bình Đa vừa dựng sau trận bão lụt lịch sử. Nghe tin dữ, mẹ Ba Đẹt ngất xỉu rồi phát điên, xé nát quần áo, ngày ngày đi rong suốt dọc xã Tân Vạn khóc con, chửi giặc hàng tháng liền. Khi mẹ tỉnh lại, chúng gọi lên bót Tân Vạn : - Trước đây chúng tôi đã biểu bà kêu con về, bà chối, sao bây giờ bà còn la khóc ầm ĩ ?... Đến hiệp nghị Giơ-ne-vơ ( Genève ) tháng 7-1954, mẹ và út Sanh chỉ thoáng gặp anh Hai Hoành cùng đoàn bộ đội hành quân ngang chân núi Châu Thới lên đường tập kết. Từ đó, mẹ cũng như bao bà mẹ miền Nam, van vái Trời Phật, mong có ngày gặp lại người con trai còn lại. Anh là niềm hy vọng to lớn cuối cùng của mẹ. Thời chánh quyền Sài Gòn, mẹ và út Sanh đã đi tìm mộ anh Ba và anh Bốn. Nhưng do vật đổi sao dời, mưa nắng đã xóa hết vết tích cả hai ngôi mộ.
Sau ngày đất nước thống nhất, mẹ chờ mãi ngày anh Hai Hoành trở về. Một trong các mong ước của người già là trông cậy và sống cùng con cháu. Một đồng đội của Hai Hoành ở sư đoàn 325 tìm về thăm mẹ và báo tin : trong đợt ba Mậu Thân, đơn vị anh đánh vào Sài Gòn bị tổn thất nặng, anh bị vây chặt, đã nổ mìn diệt giặc và hy sinh ngày 9-8-1968 ( không rõ nơi chôn cất). Bao nhiêu nước mắt đã cạn khô qua hơn ba mươi năm lo âu, đau khổ, thương nhớ, buồn tủi. Mẹ kịp đón nhận huân chương Độc lập cao quý. Cách nay gần một chục năm, mẹ đã về với chồng và ba con trai thân yêu ở cõi vĩnh hằng. Mẹ Nguyễn Thị Đẹt sống mãi trong đội ngũ những Bà Mẹ VIỆT NAM ANH HÙNG.
Mẹ Nguyễn Thị Cúc (1922-1991)

        Mẹ Nguyễn Thị Cúc, người dân tộc Xtiêng, sinh năm 1922 tại một sóc hẻo lánh ở Thủ Dầu Một (nay thuộc tỉnh Sông Bé). Thuở còn là thiếu nữ, cô gái Thuợng này duyên dáng, xinh tươi như bông hoa rừng. Theo tục lệ, cô bắt chồng là một chàng trai ở sóc lân cận. Chồng cô được các chủ đồn điền cao su người Pháp mộ vào làm cho sở. Thế là cô Cúc trở thành phu cạo, xa rời rừng núi, suối, sông quen thuộc. Năm 1944, cô sinh hạ một con trai kháu khỉnh, hai vợ chồng đặt tên là Phạm Văn Sanh - một cái tên rất Việt như tên của mẹ -

            Thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Các đồn điền cao su Pháp đình đốn từ ngày Nhật đảo chánh, nay được mở lại. Chủ Pháp lại quay về làm chúa tể vùng đất bazan mênh mông. Gia đình cô Cúc có đột biến : chồng cô lấy vợ nhỏ, người vợ sau xua đuổi mẹ con cô khỏi tổ ấm xây dựng từ năm xưa. Nếu sống trong cộng đồng Xtiêng, cô được luật tục bảo vệ, chồng cô không được ly dị cô ; nếu muốn ly dị vì lý do chính đáng, anh ta phải đền vạ một con heo, một vò rượu trả tiền tambu (tiền trinh tiết), trả tiền nuôi con... Nhưng sống tách khỏi sóc từ lâu, cô Cúc ngậm ngùi ra đi với hai bàn tay trắng. Cô về xã Minh Đức (Hớn Quản) tiếp tục làm phu cạo mủ.
            Ngày ngày, cô Cúc địu "mặt trời của mẹ" ra lô cao su dù trời nắng lửa, hoặc mưa dầu. Sinh ra từ vùng núi, Sanh thừa hưởng tố chất khỏe khoắn dẻo dai của cha mẹ. Sanh lớn lên từng ngày và khi đến tuổi tới trường, mẹ Cúc làm khai sinh cho con lấy quê quán là xã Minh Đức, quận Hớn Quản (nay là huyện Bình Long, tỉnh Sông Bé). Nhà có một mẹ, một con, mẹ trút tất cả tình thương yêu trìu mến vào giọt máu duy nhất của mình. Tuy nghèo, mẹ cố cho con đến trường học chữ cho đời đỡ khổ.
            Khi Sanh trở thành thanh niên, miền Nam đang trong thời kỳ "chiến tranh đặc biệt", quân đội Sài Gòn hầu như bên bờ vực sụp đổ. Sau các chiến thắng vang dội : Bình Giã, Plei Me, Đồng Xoài... của quân giải phóng. Cán bộ mật xã Lộc Quang gặp gỡ, giáo dục Sanh, anh được giác ngộ liền đi theo giải phóng. Đầu năm 1965, anh làm du kích mật rồi thoát ly vào rừng làm nhân viên kinh tài huyện Hớn Quản. Sanh đi thoát ly, mẹ Cúc theo con vào căn cứ vì không thể xa con. Mẹ mò cua, bắt ốc, hái rau rừng, lấy củi, nấu ăn... đỡ đần cho anh em trong đơn vị để luôn luôn được gần con. Mẹ thương Sanh chịu đựng bom đạn, càn quét của giặc, trong khi mẹ cũng gian khổ tương tự.
            Tháng 7-1970, anh Sanh thu thuế xe be khai thác gỗ trong vùng ta làm chủ thì bị địch phục kích bắn chết ở suối Bà Nồm, xã Lộc Quang. Mẹ Cúc đau đớn muốn chết cùng con. Mẹ trải qua nhiều ngày vật vã, xót thương, trong lúc địch tiến hành đánh phá căn cứ ta ác liệt.
            Tháng 3-1972, quân dân miền Nam mở đợt tiến công chiến lược trên khắp các chiến trường Trị - Thiên, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Bộ binh và xe tăng ta đột phá Bình Long, gây cho địch nhiều thiệt hại nặng. Theo dòng người di tản, mẹ Cúc chạy về đồn điền Cuôctơnay (Cẩm Mỹ) tiếp tục làm nghề cạo mủ kiếm ăn.
            Mẹ Nguyễn Thị Cúc được tặng Huân chương Độc lập. Mẹ được nuôi dưỡng ở trại cha mẹ liệt sĩ Long Khánh rồi được đưa về sống ở nhà nuôi cha mẹ liệt sĩ Đồng Nai bên Cù Lao Phố. Mẹ rất ít nói, hay uống rượu, hình như lúc nào cũng chỉ nhớ Phạm Văn Sanh ở tuổi 21 đầy sức sống non tơ. Anh mãi mãi tươi trẻ trong tâm trí của mẹ. Mẹ Nguyễn Thị Cúc qua đời năm 1991 trong niềm ưu ái của những bậc cha mẹ liệt sĩ cùng trại. Cuối năm 1994, mẹ được truy tặng danh hiệu cao quý "Bà mẹ Việt Nam anh hùng".
Mẹ Nguyễn Thị Cội (1903-1933)

       Mẹ Nguyễn Thị Cội sinh năm Quý Mão (1903), tại làng An Thuận, xã Thuận Giao, quận Lái Thiêu, tỉnh Thủ Dầu Một (nay là huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé) trong một gia đình nông dân. Theo phong tục xưa, mẹ lập gia đình sớm, sinh hạ nhiều con, nhưng chỉ dăm người sống đến tuổi trưởng thành. Nhà đông con, mẹ vất vả hai sương một nắng cùng chồng nuôi đàn con nhỏ. Do ăn uống đạm bạc, thiếu thốn, sinh đẻ dày nên sức khỏe mẹ hao mòn suy kiệt nhanh chóng. Mẹ lâm bệnh - bà con thường gọi là hậu sản - do không có thuốc men nên qua đời ở tuổi ba mươi, vào năm 1933. Mẹ không được thấy các con khôn lớn, không được chứng kiến ngày hội trọng đại của dân tộc : Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi... Khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa thành lập, con út của mẹ Nguyễn Thị Cội cũng vừa 15 tuổi. Trần Thị Liên (sinh năm1922), Trần Thị Hẩu (sinh năm 1925), Trần Văn Cạp (sinh năm 1930), Trần Văn Liềm (sinh năm 1931) đều gia nhập đội ngũ Thanh niên Tiền Phong làng An Thạnh. ít lâu sau, các chị Năm Liên, Sáu Hẩu tham gia hoạt động phụ nữ. Các anh Bảy Cạp và Tám Liềm vào dân quân du kích xã.
      Cuối tháng 10-1945, quân Pháp từ Sài Gòn kéo lên tái chiếm tỉnh lỵ Thủ Dầu Một. Chúng nông ra càn quét, bình định các làng xóm chung quanh với ý đồ chiếm Nam Kỳ trong vài ba tháng. Xã Thuận Giao và hai xã bạn An Phú, Bình Hòa nằm ở vùng gò huyện Lái Thiêu ; nơi đây ruộng nương xen kẽ một số sở cao su dựa lưng vào rừng Cò Mi rộng hàng trăm hecta. Do đó, ngay từ đầu thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tỉnh ủy Thủ Dầu Một và huyện ủy Lái Thiêu chủ trương xây dựng căn cứ địa Thuận - An - Hòa. Anh Bảy Cạp đi thoát ly, vào bộ đội huyện tháng 10-1945. Hai tháng sau, chị Năm Liên trở thành liên lạc cho bộ đội. Địch lấn chiếm các xã chung quanh căn cứ Thuận - An - Hòa. Bộ đội và du kích liên tục chống càn, đánh bót Võ Lầu, bót CâyMe... Đêm 20-10-1947, ta đánh bót Cầu Mới (Bình Chuân), chiến sĩ Trần Văn Cạp anh dũng hy sinh. Nghe tin anh chết, Tám Liềm xin đi thoát ly để trả thù cho anh. Đơn vị bộ đội địa phương mà chị Năm Liên phục vụ và du kích xã Thuận An có nhiệm vụ chủ yếu bám trụ địa phương để bảo vệ các cơ quan chỉ đạo của tỉnh và huyện.
      Tháng 9-1951, địch mở cuộc càn quy mô lớn, sử dụng hỏa lực mạnh, âm mưu xóa chiến khu Thuận - An - Hòa. Chúng đổ quân đóng ba bót : Chợ Miễu, An Phú, Ký Vĩnh trong ruột căn cứ địa ; ngoài ra chúng còn đóng nhiều tua trên các trục lộ phía Bắc và Nam khu Thuận - An - Hòa. Vùng căn cứ xưa bị địch xẻ dọc ngang, phần lớn trở thành vùng trắng, nhưng lực lượng ta vẫn đeo bám rừng Cò Mi. Địch dùng những tên đầu hàng phản bội lập thành các toán biệt kích áo đen, thường xuyên đánh phá những nơi chúng nghi có anh em ta đóng. Công việc giao liên trở nên vất vả, nguy hiểm. Ngày 18-9-1953, chị Năm Liên đi công tác đụng giặc phục kích và hy sinh. Như vậy, trong chín năm kháng chiến chống Pháp, hai người con của mẹ Nguyễn Thị Cội hiến dâng cuộc sống thanh xuân cho sự nghiệp giải phóng Tổ quốc. Sau hiệp định Giơ-ne-vơ (Genève) tháng 7-1954, anh Tám Liềm không đi tập kết. Anh ở lại tham gia đấu tranh chính trị tại địa phương. Trong cao trào đồng khởi ở tỉnh Bình Dương (nay là Sông Bé), anh được rút đi lực lượng vũ trang chủ lực, trong đơn vị C.30 / D.302. Đơn vị anh chiến đấu liên tục trên địa bàn Tam giác sắt. Trong một cuộc chống càn, anh bị thương nặng, sau đó hy sinh ngày 22-2-1962 ở Bến Súc.
      Mẹ Nguyễn Thị Cội qua đời lúc còn rất trẻ, nhà không khá giả nên không có di ảnh. 62 năm đã trôi qua từ ngày mẹ mất ; mẹ không bị quặn lòng khi quân xâm lược trở lại dày xéo quê hương Thuận Giao, mẹ không phải chịu những cơn đau đớn xé ruột khi các con mẹ hy sinh. Tổ quốc không quên ơn mẹ đã hiến dâng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc ba người con mà mẹ từng mang nặng đẻ đau, đã truy tặng mẹ danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng cao quý.

Mẹ Huỳnh Thị Bèo (1912-1965)

             Mẹ Huỳnh Thị Bèo sinh năm 1912 trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (nay là Sông Bé). Đây là vùng đất gò (chiếm 80% diện tích) kém màu mỡ ; ruộng ít, chỉ khoảng 20% ở nơi trũng và dọc khe suối, phần lớn nằm trong tay các nhà khá giả. Tân Phước Khánh bị nhà cầm quyền thực dân đánh giá là vùng đất nghịch vì năm 1916 hội kín trại Lâm Trung nổi dậy đốt nhà hội, giải thoát một số thanh niên sắp bị đưa qua Châu Âu làm bia đỡ đạn ; thời kỳ Mặt trận bình dân, chi bộ Đảng Cộng Sản ra đời và hoạt động khá mạnh. Mẹ Huỳnh Thị Bèo làm mướn kiếm ăn, lập gia đình với một ông họ Trần ở cù lao Mỹ Quới nên về quê chồng sinh sống. Năm 1944, mẹ sinh hạ Trần Văn Bé, hai ông bà tuy nghèo nhưng cưng con trai hơn cưng trứng mỏng.

            Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, ông tham gia Thanh niên Tiền Phong và dân quân du kích xã. Cuối năm 1945, giặc Pháp tràn lên chiếm tỉnh lỵ Tân Uyên và nống ra càn quét, bình định các làng xóm ven sông Đồng Nai. Chạy giặc quá gian nan, vợ chồng mẹ đưa nhau về Tân Phước Khánh sinh sống. Hồi đó, cả vùng còn nhiều rừng, suốt một dải từ ngã tư Nhà Thơ kéo dài qua Khánh Vân lên chiến khu Đ. Mỗi khi địch càn, phần lớn dân Tân Phước Khánh ở xa bót chợ đều tránh vào rừng. Chồng mẹ qua đời khoảng năm 1948, mẹ gắng làm lụng nuôi con. Sau trận bão lụt Nhâm Thìn năm 1952, mẹ đi bước nữa để có người rèn cặp con trai, do người em trai ruột - Năm Chang - chắp nối.
            Sau cao trào đồng khởi 1960, địch chỉ kiểm soát được một khu vực nhỏ hẹp ở quanh chợ Tân Phước Khánh. Nhà mẹ Bèo ở vùng do lực lượng cách mạng làm chủ. Trần Văn Bé sống trong không khí sôi sục diệt ác phá kềm, đã tham gia tự vệ mật địa phương, nhiều đêm đi mít tinh, rải truyền đơn, treo khẩu hiệu, góp phần làm bọn hội đồng xã hoảng sợ, co thủ. Tháng 2-1962, anh đi thoát ly, do bí thư chi bộ Hai Rén móc nối ,làm tổ trưởng giao liên của xã. Mẹ Huỳnh Thị Bèo vui vì con mình hăng hái công tác, được các anh chị và cô bác cán bộ yêu mến. Tuy nghèo, mẹ cũng đóng góp phần nhỏ bé với cách mạng mỗi khi anh em về gặp.
            Tháng 5 - 1962, một buổi sáng sớm anh Bé đi đưa thư và tài liệu lọt ổ phục kích của lính ở bìa ấp Hóa Nhật (Tân Hóa), hy sinh. Mẹ Huỳnh Thị Bèo vô cùng đau xót. Núm ruột duy nhất không còn, mẹ tưởng có thể chết theo con. Từ đó, mẹ sinh đau yếu, nhưng khi người em ruột là Năm Chang ghé về, mẹ vẫn cố cho em chút đỉnh.
            Mẹ Huỳnh Thị Bèo qua đời khoảng năm 1965, giữa lúc đế quốc Mỹ ào ạt đổ quân vào miền Nam. Mẹ dâng hiến người con trai duy nhất cho công cuộc giải phóng dân tộc, do đó mẹ được truy tặng danh hiệu cao quý Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng.
Những Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Không có bà mẹ anh hùng thì không có những người con anh hùng. Chân lý đơn giản ấy ngời sáng và trường tồn trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt nam, nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đảng và Nhà nước ta, nhân dân ta đời đời nhớ ơn các bà mẹ Việt nam đã có những hy sinh thầm lặng, cao cả. Mỗi bà mẹ là một cảnh đời khác nhau: có ngọt bùi nhưng không ít đắng cay, gian khổ, thậm chí rất éo le; song đều giống nhau ở phẩm chất: thương chồng, quí con, vừa đóng góp tâm sức mình và cả xương máu mình cho cách mạng; vừa sinh thành, nuôi dưỡng, cống hiến đất nước những người con ưu tú, đặc biệt có cả mẹ và con đều là bà mẹ Việt nam anh hùng như ở xã Phú Hội (Nhơn Trạch), góp phần to lớn vào công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để tôn vinh những giá trị thiêng liêng ấy, từ cuối năm 1994 đến nay, Nhà nước đã phong tặng và truy tặng danh hiệu cao quí: bà mẹ Việt nam anh hùng cho 37.154 bà mẹ Việt nam đã có chồng, con hy sinh trong các cuộc kháng chiến vệ quốc; trong đó, ở Tỉnh Đồng nai qua 4 đợt tuyên dương có 265 mẹ xứng đáng được đón nhận danh hiệu vẻ vang nêu trên. Thư Viện tỉnh Đồng Nai trích tư liệu từ ''Địa chí Đồng Nai'' để giới thiệu với bạn đọc về các bà Mẹ Việt Nam anh hùng của đất Đồng Nai được sắp xếp theo A,B,C... theo tên các Mẹ ở từng đơn vị huyện, thành phố.
Các bà Mẹ Việt Nam anh hùng đất Đồng Nai
Thành phố Biên Hòa
Huyện Định Quán
Thị Xã Long Khánh
Huyện Long Thành
Huyện Nhơn Trạch
Huyện Tân Phú
Huyện Thống Nhất
Huyện Vĩnh Cửu
Huyện Xuân Lộc

Thành phố Biên Hòa:

1. Huỳnh Thị Bèo (1912-1965)

2. Nguyễn Thị Cội (1903-1933)

3. Nguyễn Thị Cúc (1922-1991)

4. Nguyễn Thị Đẹt (1901-?)

5. Nguyễn Thị Đởm (1906-?)

6. Bùi Thị Dìa (1904-1984)

7. Nguyễn Thị Én (1928-1952)

8. Lê Thị Giang (1913-)

9. Trần Thị Hai (1922-)

10. Trần Thị Hoa (1912-1975)

11. Lê Thị Khánh (1903-)

12. Huỳnh Thị Khương (1910-)

13. Ngô Thị Ký (1904-1982)

14.Lê Thị Lầu (1924-)

15. Võ Thị Liếu (1914-1937)

16. Phan Thị Mão (1916-1937)

17. Hoàng Thị Mến (1913-1977)

18. Lê Thị Mùi (1904-)

19. Nguyễn Thị Mười (1895-1947)

20. Lê Thị Năm (1917-)

21. Nguyễn Thị Ngôn (1922-)

22. Nguyễn Thị Sảnh (1898-1987)

23. Võ Thị Sáu (1912-)

24. Nguyễn Thị Tám (1911-1981)

25. Võ Thị Tám (1878-1949)

26. Lê Thị Thà (1906-1978)

27. Đỗ Thị Thì (1904-)

28. Lương Thị Thìn (1896-1946)

29. Vũ Thị Tin (1896-1958)

30. Trần Thị Tình (1917-)

31. Hồ Thị Tỏ (1900-1985)

32. Phan Thị Trẻ (1920-1980)

33. Lê Thị Vân (1902-)

34. Trần Thị Vườn (1922-)