﻿<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<!--RSS generated by Windows SharePoint Services V3 RSS Generator on 21/08/2026 4:05:22 CH-->
<?xml-stylesheet type="text/xsl" href="/100bacho/_layouts/RssXslt.aspx?List=78a705f5-bd75-4abd-b260-d077eadb24d7" version="1.0"?>
<rss version="2.0">
  <channel>
    <title>Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước: Bài đăng</title>
    <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    <description>Liên kết nạp tin tự động RSS cho Bài đăng danh sách.</description>
    <lastBuildDate>Fri, 21 Aug 2026 09:05:22 GMT</lastBuildDate>
    <generator>Windows SharePoint Services V3 RSS Generator</generator>
    <ttl>60</ttl>
    <image>
      <title>Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước: Bài đăng</title>
      <url>/100bacho/_layouts/images/homepage.gif</url>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    </image>
    <item>
      <title>Con đường Bác Hồ ra đi cứu nước</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=4</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass9685597227A34B0EB653AA91F7E48956><p>&lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Cụ Phan Chu Trinh chỉ y&amp;ecirc;u cầu người Ph&amp;aacute;p thực hiện cải lương. Anh nhận điều đ&amp;oacute; l&amp;agrave; sai lầm, chẳng kh&amp;aacute;c g&amp;igrave; xin giặc rủ l&amp;ograve;ng thương.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Cụ Phan Bội Ch&amp;acirc;u hy vọng Nhật gi&amp;uacute;p đỡ để đuổi Ph&amp;aacute;p. Điều đ&amp;oacute; rất nguy hiểm, chẳng kh&amp;aacute;c g&amp;igrave; &amp;ldquo;đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau&amp;rdquo;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Cụ Ho&amp;agrave;ng Hoa Th&amp;aacute;m c&amp;ograve;n thực tế hơn, v&amp;igrave; trực tiếp đấu tranh chống Ph&amp;aacute;p. Nhưng theo lời người ta kể th&amp;igrave; cụ c&amp;ograve;n nặng cốt c&amp;aacute;ch phong kiến.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Nghi&amp;ecirc;n cứu những b&amp;agrave;i học lịch sử của c&amp;aacute;c bậc cha, anh v&amp;agrave; khảo nghiệm trong thực tiễn, anh Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh thấy rằng mọi c&amp;aacute;ch thức tiến h&amp;agrave;nh ở trong nước, hay đi ra nước ngo&amp;agrave;i, sang Trung Quốc, hay Nhật Bản đều kh&amp;ocirc;ng thể th&amp;agrave;nh c&amp;ocirc;ng. Những con đường m&amp;agrave; c&amp;aacute;c bậc sĩ phu đ&amp;atilde; đi đều bị kết th&amp;uacute;c bằng những thất bại đau đớn. Phải t&amp;igrave;m con đường kh&amp;aacute;c, con đường mới; phải đi ra nước ngo&amp;agrave;i nhưng theo một hướng kh&amp;aacute;c. Đ&amp;oacute; l&amp;agrave; kết luận rất quan trọng của anh thanh ni&amp;ecirc;n Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh với l&amp;ograve;ng y&amp;ecirc;u nước m&amp;atilde;nh liệt v&amp;agrave; một c&amp;aacute;ch suy nghĩ t&amp;aacute;o bạo, một tr&amp;iacute; tuệ hết sức minh mẫn quyết kh&amp;aacute;m ph&amp;aacute; bằng được con đường đi đến giải ph&amp;oacute;ng cho đồng b&amp;agrave;o.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Tư tưởng quyết hướng sang nước Ph&amp;aacute;p t&amp;igrave;m đường cứu nước sớm nảy sinh ở anh Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh. Nhưng anh cần c&amp;oacute; thời gian chuẩn bị, suy nghĩ ch&amp;iacute;n chắn hơn, để ph&amp;aacute;c họa con đường sẽ đi, &amp;iacute;t ra l&amp;agrave; chặng đầu.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Th&amp;aacute;ng 5 năm 1909, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh từ gi&amp;atilde; Huế theo cha v&amp;agrave;o huyện B&amp;igrave;nh Kh&amp;ecirc; thuộc tỉnh B&amp;igrave;nh Định (nay l&amp;agrave; huyện T&amp;acirc;y Sơn, tỉnh B&amp;igrave;nh Định) nh&amp;acirc;n &amp;ocirc;ng Nguyễn Sinh Sắc được cử nhận chức tri huyện ở đ&amp;oacute;. Để tiếp tục việc học tập, từ th&amp;aacute;ng 9 năm 1909, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh được cha gửi đến Quy Nhơn để học th&amp;ecirc;m tiếng Ph&amp;aacute;p với thầy gi&amp;aacute;o Phạm Ngọc Thọ dạy tại Trường tiểu học Ph&amp;aacute;p - bản xứ Quy Nhơn theo chương tr&amp;igrave;nh lớp cao đẳng. &amp;Ocirc;ng Phạm Ngọc Thọ k&amp;iacute;nh trọng quan thừa biện Nguyễn Sinh Huy v&amp;agrave; rất mến Tất Đạt, Tất Th&amp;agrave;nh. Tất Th&amp;agrave;nh rất y&amp;ecirc;u qu&amp;yacute; Phạm Ngọc Thạch, con trai &amp;ocirc;ng Thọ. (Tr&amp;ecirc;n đường từ Huế v&amp;agrave;o S&amp;agrave;i G&amp;ograve;n, để đ&amp;aacute;p t&amp;agrave;u ra nước ngo&amp;agrave;i t&amp;igrave;m &amp;ldquo;con đường gi&amp;uacute;p đồng b&amp;agrave;o tho&amp;aacute;t khỏi &amp;aacute;ch thống trị của Ph&amp;aacute;p&amp;rdquo;, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh, sau n&amp;agrave;y l&amp;agrave; Nguyễn &amp;Aacute;i Quốc, tức l&amp;agrave; Chủ tịch Hồ Ch&amp;iacute; Minh mu&amp;ocirc;n v&amp;agrave;n k&amp;iacute;nh y&amp;ecirc;u, đ&amp;atilde; dừng ch&amp;acirc;n lại tỉnh B&amp;igrave;nh Định một thời gian đ&amp;aacute;ng kể. Khoảng thời gian đ&amp;oacute; nếu t&amp;iacute;nh đến đầu th&amp;aacute;ng 8-1910 l&amp;agrave; hơn 12 th&amp;aacute;ng, từ 18-5-1909 đến 30-7-1910).&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;V&amp;agrave;o một ng&amp;agrave;y đầu thu (th&amp;aacute;ng 8-1910), Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh tạm biệt Quy Nhơn, đi v&amp;agrave;o S&amp;agrave;i G&amp;ograve;n.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Phong cảnh tươi đẹp, đất đai m&amp;agrave;u mỡ, rừng v&amp;agrave;ng biển bạc, nhưng đ&amp;acirc;u đ&amp;acirc;u cũng thấy c&amp;oacute; những con người lam lũ, r&amp;aacute;ch rưới.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Lần theo ven biển đi đến Phan Rang, anh thấy một cảnh tượng đau l&amp;ograve;ng m&amp;agrave; mấy năm sau, anh c&amp;ograve;n nhắc lại với một người bạn: Những người Ph&amp;aacute;p ở Ph&amp;aacute;p phần nhiều l&amp;agrave; tốt. Song những người Ph&amp;aacute;p thực d&amp;acirc;n rất hung &amp;aacute;c, v&amp;ocirc; nh&amp;acirc;n đạo. Ở đ&amp;acirc;u ch&amp;uacute;ng n&amp;oacute; cũng thế. Ở ta, t&amp;ocirc;i cũng thấy chuyện như thế xảy ra ở Phan Rang. Bọn Ph&amp;aacute;p cười sặc sụa trong khi đồng b&amp;agrave;o ta chết đuối v&amp;igrave; ch&amp;uacute;ng n&amp;oacute;. Đối với bọn thực d&amp;acirc;n, t&amp;iacute;nh mạng của người thuộc địa da v&amp;agrave;ng hay da đen cũng kh&amp;ocirc;ng đ&amp;aacute;ng một đồng xu.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Từ nửa sau th&amp;aacute;ng 9-1910 đến trước th&amp;aacute;ng 2-1911, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh dạy học ở Trường Dục Thanh (Phan Thiết). Thời gian đầu, thầy Th&amp;agrave;nh ở nhờ nh&amp;agrave; cụ Hồ T&amp;aacute; Bang, sau chuyển ra ở c&amp;ugrave;ng với học sinh nội tr&amp;uacute; của trường tại nh&amp;agrave; Ngư trong vườn cụ Nguyễn Th&amp;ocirc;ng.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Thầy Th&amp;agrave;nh được ph&amp;acirc;n c&amp;ocirc;ng dạy chữ H&amp;aacute;n v&amp;agrave; chữ quốc ngữ cho học sinh lớp nh&amp;igrave;. Thầy dạy rất tận t&amp;acirc;m, hết l&amp;ograve;ng thương y&amp;ecirc;u, chăm s&amp;oacute;c học sinh. Thầy đ&amp;atilde; trao đổi t&amp;acirc;m tư về th&amp;acirc;n phận người d&amp;acirc;n mất nước nhiệm vụ cứu nước của mỗi người d&amp;acirc;n Việt Nam, trước hết l&amp;agrave; thanh ni&amp;ecirc;n c&amp;oacute; học thức với c&amp;aacute;c thầy gi&amp;aacute;o v&amp;agrave; học sinh. Vấn đề thầy Th&amp;agrave;nh đặt ra cũng l&amp;agrave; nỗi băn khoăn chung của thầy v&amp;agrave; tr&amp;ograve;, n&amp;ecirc;n đ&amp;atilde; c&amp;oacute; ngay được sự đồng cảm s&amp;acirc;u sắc, c&amp;ugrave;ng nhau đ&amp;agrave;o s&amp;acirc;u ch&amp;iacute; căm th&amp;ugrave; v&amp;agrave; bồi dưỡng l&amp;ograve;ng tự h&amp;agrave;o về truyền thống y&amp;ecirc;u nước của d&amp;acirc;n tộc, b&amp;agrave;y mưu t&amp;iacute;nh kế đ&amp;aacute;nh đuổi qu&amp;acirc;n th&amp;ugrave;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Sau mấy th&amp;aacute;ng dạy học ở Trường Dục Thanh, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh rời trường đi v&amp;agrave;o S&amp;agrave;i G&amp;ograve;n, thực hiện ho&amp;agrave;i b&amp;atilde;o từng nung nấu l&amp;agrave; t&amp;igrave;m c&amp;aacute;ch đi sang Ph&amp;aacute;p v&amp;agrave; c&amp;aacute;c nước phương T&amp;acirc;y để xem &amp;ldquo;họ l&amp;agrave;m như thế n&amp;agrave;o rồi trở về gi&amp;uacute;p đồng b&amp;agrave;o ch&amp;uacute;ng ta&amp;rdquo;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Trước ng&amp;agrave;y 2 th&amp;aacute;ng 6 năm 1911, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh b&amp;agrave;n với một số người bạn th&amp;acirc;n về chuyến đi ra nước ngo&amp;agrave;i. Anh n&amp;oacute;i: t&amp;ocirc;i muốn đi ra ngo&amp;agrave;i, xem nước Ph&amp;aacute;p v&amp;agrave; c&amp;aacute;c nước kh&amp;aacute;c. Sau khi xem x&amp;eacute;t họ l&amp;agrave;m như thế n&amp;agrave;o, t&amp;ocirc;i sẽ trở về gi&amp;uacute;p đồng b&amp;agrave;o ch&amp;uacute;ng ta. Nhưng nếu đi một m&amp;igrave;nh, thật ra cũng c&amp;oacute; điều mạo hiểm, v&amp;iacute; như khi đau ốm... Anh muốn đi với t&amp;ocirc;i kh&amp;ocirc;ng?&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Khi người bạn hỏi lấy đ&amp;acirc;u ra tiền m&amp;agrave; đi, anh Th&amp;agrave;nh vừa n&amp;oacute;i vừa giơ hai b&amp;agrave;n tay:&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;- Đ&amp;acirc;y, tiền đ&amp;acirc;y... ch&amp;uacute;ng ta sẽ l&amp;agrave;m việc. Ch&amp;uacute;ng ta sẽ l&amp;agrave;m bất cứ việc g&amp;igrave; để sống v&amp;agrave; để đi.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Ng&amp;agrave;y 2 th&amp;aacute;ng 6 năm 1911, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh xin l&amp;agrave;m việc ở t&amp;agrave;u Amiran Latusơ Tơr&amp;ecirc;vin, một t&amp;agrave;u lớn vừa chở h&amp;agrave;ng vừa chở kh&amp;aacute;ch của h&amp;atilde;ng Năm Sao đang chuẩn bị rời Cảng S&amp;agrave;i G&amp;ograve;n đi M&amp;aacute;c X&amp;acirc;y, Ph&amp;aacute;p.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Ng&amp;agrave;y 3 th&amp;aacute;ng 6 năm 1911, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh bắt đầu l&amp;agrave;m việc ở t&amp;agrave;u Amiran Latusơ Tơr&amp;ecirc;vin, nhận thẻ nh&amp;acirc;n vi&amp;ecirc;n của t&amp;agrave;u với t&amp;ecirc;n mới: Văn Ba.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Ng&amp;agrave;y 5 th&amp;aacute;ng 6 năm 1911, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh từ cảng Nh&amp;agrave; Rồng, th&amp;agrave;nh phố S&amp;agrave;i G&amp;ograve;n (nay l&amp;agrave; th&amp;agrave;nh phố Hồ Ch&amp;iacute; Minh) rời Tổ quốc. Người thanh ni&amp;ecirc;n 21 tuổi ấy ra đi với mục đ&amp;iacute;ch g&amp;igrave;? Để kiếm kế sinh nhai, hay để thỏa m&amp;atilde;n một ước mơ xa lạ n&amp;agrave;o đ&amp;oacute; của tuổi trẻ. Điều đ&amp;oacute;, hơn mười năm sau ch&amp;iacute;nh anh đ&amp;atilde; trả lời nh&amp;agrave; b&amp;aacute;o, nh&amp;agrave; thơ Nga &amp;Ocirc;Xip Mandenstan rằng: V&amp;agrave;o trạc tuổi mười ba, lần đầu ti&amp;ecirc;n t&amp;ocirc;i được nghe những từ TỰ DO - B&amp;Igrave;NH ĐẲNG - B&amp;Aacute;C &amp;Aacute;I. Đối với ch&amp;uacute;ng t&amp;ocirc;i, người da trắng n&amp;agrave;o cũng l&amp;agrave; người Ph&amp;aacute;p. Người Ph&amp;aacute;p đ&amp;atilde; n&amp;oacute;i thế v&amp;agrave; từ thuở ấy, t&amp;ocirc;i muốn l&amp;agrave;m quen với nền văn minh Ph&amp;aacute;p, muốn t&amp;igrave;m xem những g&amp;igrave; ẩn giấu đằng sau những từ ấy.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Một lần kh&amp;aacute;c, trả lời nh&amp;agrave; văn Mỹ Anna luy Xtir&amp;ocirc;ng, Người n&amp;oacute;i: Nh&amp;acirc;n d&amp;acirc;n Việt Nam, trong đ&amp;oacute; c&amp;oacute; &amp;ocirc;ng cụ th&amp;acirc;n sinh ra t&amp;ocirc;i, l&amp;uacute;c n&amp;agrave;y thường hỏi nhau ai l&amp;agrave; người gi&amp;uacute;p m&amp;igrave;nh tho&amp;aacute;t khỏi &amp;aacute;ch thống trị của Ph&amp;aacute;p. Người n&amp;agrave;y nghĩ l&amp;agrave; Nhật, người kh&amp;aacute;c nghĩ l&amp;agrave; Anh, c&amp;oacute; người lại cho l&amp;agrave; Mỹ. T&amp;ocirc;i thấy phải đi ra nước ngo&amp;agrave;i xem cho r&amp;otilde;. Sau khi xem x&amp;eacute;t họ l&amp;agrave;m ăn ra sao, t&amp;ocirc;i sẽ trở về gi&amp;uacute;p đồng b&amp;agrave;o t&amp;ocirc;i.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Sau 30 năm b&amp;ocirc;n ba t&amp;igrave;m đường cứu nước, trước y&amp;ecirc;u cầu mới của t&amp;igrave;nh h&amp;igrave;nh v&amp;agrave; được Quốc tế Cộng sản chấp nhận, ng&amp;agrave;y 28 th&amp;aacute;ng 1 năm 1941, Nguyễn &amp;Aacute;i Quốc l&amp;ecirc;n đường về nước. Khi bước tới cột mốc 108 tr&amp;ecirc;n bi&amp;ecirc;n giới Việt - Trung (thuộc x&amp;atilde; Trường H&amp;agrave;, huyện H&amp;agrave; Quảng, tỉnh Cao Bằng), Người đứng lặng hồi l&amp;acirc;u, x&amp;uacute;c động.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Ng&amp;agrave;y 8 th&amp;aacute;ng 2 năm 1941, Nguyễn &amp;Aacute;i Quốc ở hang Cốc B&amp;oacute; (hang Cốc B&amp;oacute; thuộc địa phận l&amp;agrave;ng P&amp;aacute;c B&amp;oacute;, x&amp;atilde; Trường H&amp;agrave;, huyện H&amp;agrave; Quảng, tỉnh Cao Bằng, với b&amp;iacute; danh Gi&amp;agrave; Thu). Từ đ&amp;acirc;y, Người trực tiếp l&amp;atilde;nh đạo c&amp;aacute;ch mạng Việt Nam.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Từ ng&amp;agrave;y 10 đến ng&amp;agrave;y 19 th&amp;aacute;ng 5 năm 1941, Nguyễn &amp;Aacute;i Quốc chủ tr&amp;igrave; Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đ&amp;ocirc;ng dương. Tr&amp;ecirc;n cơ sở đ&amp;aacute;nh gi&amp;aacute; t&amp;igrave;nh h&amp;igrave;nh giai cấp v&amp;agrave; x&amp;atilde; hội Việt Nam trong ho&amp;agrave;n cảnh chiến tranh thế giới, với quan điểm l&amp;yacute; luận gắn với thực tiễn c&amp;aacute;ch mạng, Hồ Ch&amp;iacute; Minh n&amp;ecirc;u cao vấn đề giải ph&amp;oacute;ng d&amp;acirc;n tộc, coi đ&amp;oacute; l&amp;agrave; nhiệm vụ h&amp;agrave;ng đầu của c&amp;aacute;ch mạng. Người k&amp;ecirc;u gọi: &amp;ldquo;Trong l&amp;uacute;c n&amp;agrave;y quyền lợi d&amp;acirc;n tộc giải ph&amp;oacute;ng cao hơn hết thảy. Ch&amp;uacute;ng ta phải đo&amp;agrave;n kết lại đ&amp;aacute;nh đổ bọn đế quốc v&amp;agrave; bọn Việt gian đặng cứu giống n&amp;ograve;i ra khỏi nước s&amp;ocirc;i lửa n&amp;oacute;ng&amp;rdquo;. Tiếp thu tư tưởng chỉ đạo của Người, Nghị quyết Hội nghị lần thứ t&amp;aacute;m của Trung ương Đảng Cộng sản Đ&amp;ocirc;ng Dương ghi r&amp;otilde;: &amp;ldquo;Trong l&amp;uacute;c n&amp;agrave;y nếu kh&amp;ocirc;ng giải quyết được vấn đề d&amp;acirc;n tộc giải ph&amp;oacute;ng, kh&amp;ocirc;ng đ&amp;ograve;i được độc lập, tự do cho to&amp;agrave;n thể d&amp;acirc;n tộc th&amp;igrave; chẳng những to&amp;agrave;n thể quốc gia d&amp;acirc;n tộc c&amp;ograve;n chịu m&amp;atilde;i kiếp ngựa tr&amp;acirc;u m&amp;agrave; quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng kh&amp;ocirc;ng đ&amp;ograve;i lại được&amp;rdquo;. Đồng thời, Hồ Ch&amp;iacute; Minh s&amp;aacute;ng lập ra Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh gọi tắt l&amp;agrave; Mặt trận Việt Minh, nhằm đo&amp;agrave;n kết mọi lực lượng y&amp;ecirc;u nước, chống đế quốc, gi&amp;agrave;nh độc lập d&amp;acirc;n tộc, kh&amp;ocirc;ng ph&amp;acirc;n biệt d&amp;acirc;n tộc, giai cấp, đảng ph&amp;aacute;i, t&amp;ocirc;n gi&amp;aacute;o... Nhằm ph&amp;aacute;t huy sức mạnh của ba d&amp;acirc;n tộc Việt, Mi&amp;ecirc;n, L&amp;agrave;o dưới sự l&amp;atilde;nh đạo của Đảng Cộng sản Đ&amp;ocirc;ng Dương, theo sự chỉ đạo của Hồ Ch&amp;iacute; Minh, Hội nghị chủ trương: ở L&amp;agrave;o v&amp;agrave; ở Campuchia th&amp;agrave;nh lập mặt trận thống nhất ri&amp;ecirc;ng của hai d&amp;acirc;n tộc: Ai Lao độc lập đồng minh v&amp;agrave; Cao Mi&amp;ecirc;n độc lập đồng minh. Sau khi c&amp;aacute;ch mạng thắng lợi, mỗi quốc gia sẽ th&amp;agrave;nh lập một ch&amp;iacute;nh phủ ri&amp;ecirc;ng v&amp;agrave; độc lập. Đối với nước ta, Hội nghị chủ trương th&amp;agrave;nh lập nước Việt Nam D&amp;acirc;n chủ Cộng h&amp;ograve;a, lấy cờ đỏ với ng&amp;ocirc;i sao v&amp;agrave;ng năm c&amp;aacute;nh ở giữa l&amp;agrave;m quốc kỳ. Để đo&amp;agrave;n kết to&amp;agrave;n d&amp;acirc;n một c&amp;aacute;ch rộng r&amp;atilde;i, thực hiện chủ trương cứu nước do Hội nghị Trung ương lần thứ t&amp;aacute;m n&amp;ecirc;u ra, trong bản Chương tr&amp;igrave;nh h&amp;agrave;nh động, Việt Minh đ&amp;atilde; đề ra những ch&amp;iacute;nh s&amp;aacute;ch cụ thể nhằm đo&amp;agrave;n kết c&amp;aacute;c tầng lớp nh&amp;acirc;n d&amp;acirc;n, tiến l&amp;ecirc;n Tổng khởi nghĩa gi&amp;agrave;nh ch&amp;iacute;nh quyền trong cả nước.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;C&amp;ugrave;ng với K&amp;iacute;nh c&amp;aacute;o đồng b&amp;agrave;o của Nguyễn &amp;Aacute;i Quốc (Hồ Ch&amp;iacute; Minh), ng&amp;agrave;y 6 th&amp;aacute;ng 6 năm 1941, những ch&amp;iacute;nh s&amp;aacute;ch cụ thể, hợp l&amp;ograve;ng d&amp;acirc;n của Việt Minh đ&amp;atilde; quy tụ to&amp;agrave;n d&amp;acirc;n dưới ngọn cờ của Đảng do Hồ Ch&amp;iacute; Minh l&amp;atilde;nh đạo, đưa C&amp;aacute;ch mạng th&amp;aacute;ng T&amp;aacute;m 1945 đến thắng lợi.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Ng&amp;agrave;y 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Ch&amp;iacute; Minh thay mặt quốc d&amp;acirc;n đọc bản Tuy&amp;ecirc;n ng&amp;ocirc;n Độc lập tại Quảng Trường Ba Đ&amp;igrave;nh (H&amp;agrave; Nội), tuy&amp;ecirc;n bố nước Việt Nam D&amp;acirc;n chủ Cộng h&amp;ograve;a ra đời - Nh&amp;agrave; nước d&amp;acirc;n chủ nh&amp;acirc;n d&amp;acirc;n đầu ti&amp;ecirc;n ở Đ&amp;ocirc;ng Nam &amp;Aacute;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Thắng lợi của C&amp;aacute;ch mạng th&amp;aacute;ng T&amp;aacute;m l&amp;agrave; thắng lợi của &amp;yacute; ch&amp;iacute; độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của d&amp;acirc;n tộc Việt Nam v&amp;agrave; l&amp;agrave; thắng lợi vĩ đại đầu ti&amp;ecirc;n của tư tưởng Hồ Ch&amp;iacute; Minh ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;C&amp;aacute;ch mạng th&amp;aacute;ng T&amp;aacute;m th&amp;agrave;nh c&amp;ocirc;ng, nước Việt Nam bước v&amp;agrave;o kỷ nguy&amp;ecirc;n độc lập tự do v&amp;agrave; chủ nghĩa x&amp;atilde; hội. Hồ Ch&amp;iacute; Minh được to&amp;agrave;n d&amp;acirc;n bầu l&amp;agrave;m Chủ tịch của nước Việt Nam mới. Với cương vị cao qu&amp;yacute; ấy, tư tưởng c&amp;aacute;ch mạng v&amp;agrave; khoa học của Người được thể chế bằng Hiến ph&amp;aacute;p v&amp;agrave; ph&amp;aacute;p luật hiện h&amp;agrave;nh của nước Việt Nam D&amp;acirc;n chủ Cộng h&amp;ograve;a (1946).&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Nhưng nh&amp;acirc;n d&amp;acirc;n Việt Nam gi&amp;agrave;nh được độc lập chưa bao l&amp;acirc;u th&amp;igrave; th&amp;ugrave; trong giặc ngo&amp;agrave;i c&amp;acirc;u kết với nhau đẩy nước l&amp;acirc;m v&amp;agrave;o cảnh &amp;quot;ngh&amp;igrave;n c&amp;acirc;n treo sợi t&amp;oacute;c&amp;quot;. Dưới sự l&amp;atilde;nh đạo của Hồ Ch&amp;iacute; Minh, nh&amp;acirc;n d&amp;acirc;n Việt Nam bước v&amp;agrave;o cuộc kh&amp;aacute;ng chiến chống thực d&amp;acirc;n Ph&amp;aacute;p lần thứ hai.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Đường lối kh&amp;aacute;ng chiến đ&amp;uacute;ng đắn của Hồ Ch&amp;iacute; Minh v&amp;agrave; của Đảng đ&amp;atilde; dẫn dắt nh&amp;acirc;n d&amp;acirc;n ta l&amp;agrave;m n&amp;ecirc;n chiến thắng Điện Bi&amp;ecirc;n Phủ chấn động địa cầu, lập lại h&amp;ograve;a b&amp;igrave;nh ở Đ&amp;ocirc;ng Dương.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;H&amp;ograve;a b&amp;igrave;nh được lập lại, nhưng đất nước tạm thời bị chia cắt th&amp;agrave;nh hai miền. Hồ Ch&amp;iacute; Minh c&amp;ugrave;ng Trung ương Đảng đ&amp;atilde; sớm x&amp;aacute;c định r&amp;otilde; kẻ th&amp;ugrave; ch&amp;iacute;nh của c&amp;aacute;ch mạng Việt Nam trong giai đoạn mới l&amp;agrave; đế quốc Mỹ, v&amp;agrave; vạch ra đường lối c&amp;ugrave;ng một l&amp;uacute;c thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Nam tiếp tục thực hiện nhiệm vụ c&amp;aacute;ch mạng d&amp;acirc;n tộc, d&amp;acirc;n chủ; miền Bắc đ&amp;atilde; được ho&amp;agrave;n to&amp;agrave;n giải ph&amp;oacute;ng, từng bước tiến dần l&amp;ecirc;n chủ nghĩa x&amp;atilde; hội. Lần đầu ti&amp;ecirc;n trong lịch sử, một nước thuộc địa, nửa phong kiến, được một Đảng Cộng sản l&amp;atilde;nh đạo đ&amp;atilde; c&amp;ugrave;ng một l&amp;uacute;c tiến h&amp;agrave;nh hai nhiệm vụ chiến lược v&amp;agrave; qu&amp;aacute; độ l&amp;ecirc;n chủ nghĩa x&amp;atilde; hội kh&amp;ocirc;ng qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong điều kiện ấy, tư tưởng Hồ Ch&amp;iacute; Minh ng&amp;agrave;y c&amp;agrave;ng ph&amp;aacute;t triển v&amp;agrave; thấm s&amp;acirc;u v&amp;agrave;o thực tiễn c&amp;aacute;ch mạng Việt Nam.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Ch&amp;iacute; Minh đ&amp;atilde; để lại cho to&amp;agrave;n Đảng, to&amp;agrave;n qu&amp;acirc;n v&amp;agrave; to&amp;agrave;n d&amp;acirc;n ta bản Di ch&amp;uacute;c thi&amp;ecirc;ng li&amp;ecirc;ng. Trong Di ch&amp;uacute;c, Người đ&amp;atilde; n&amp;oacute;i l&amp;ecirc;n niềm tin tất thắng ở sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước; tổng kết s&amp;acirc;u sắc những b&amp;agrave;i học đấu tranh v&amp;agrave; thắng lợi của c&amp;aacute;ch mạng Việt Nam; đồng thời đề ra những phương s&amp;aacute;ch lớn để x&amp;acirc;y dựng lại đất nước sau chiến tranh nhằm thực hiện mục ti&amp;ecirc;u: &amp;quot;X&amp;acirc;y dựng một nước Việt Nam h&amp;ograve;a b&amp;igrave;nh, thống nhất độc lập, d&amp;acirc;n chủ v&amp;agrave; gi&amp;agrave;u mạnh, v&amp;agrave; g&amp;oacute;p phần xứng đ&amp;aacute;ng v&amp;agrave;o sự nghiệp c&amp;aacute;ch mạng thế giới&amp;quot;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Bản Di ch&amp;uacute;c l&amp;agrave; những lời căn dặn cuối c&amp;ugrave;ng đầy t&amp;acirc;m huyết, thắm đượm t&amp;igrave;nh người của Chủ tịch Hồ Ch&amp;iacute; Minh; một di sản v&amp;ocirc; c&amp;ugrave;ng qu&amp;yacute; b&amp;aacute;u của d&amp;acirc;n tộc v&amp;agrave; nh&amp;acirc;n loại.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Với l&amp;ograve;ng k&amp;iacute;nh y&amp;ecirc;u v&amp;agrave; thương tiếc v&amp;ocirc; hạn, to&amp;agrave;n Đảng, to&amp;agrave;n d&amp;acirc;n, to&amp;agrave;n qu&amp;acirc;n ta đ&amp;atilde; thực hiện nghi&amp;ecirc;m chỉnh Di ch&amp;uacute;c thi&amp;ecirc;ng li&amp;ecirc;ng của Người &amp;quot;đ&amp;aacute;nh cho Mỹ c&amp;uacute;t, đ&amp;aacute;nh cho ngụy nh&amp;agrave;o&amp;quot;, giải ph&amp;oacute;ng ho&amp;agrave;n to&amp;agrave;n miền Nam, h&amp;ograve;a b&amp;igrave;nh, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước c&amp;ugrave;ng tiến l&amp;ecirc;n chủ nghĩa x&amp;atilde; hội.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Ngu&amp;ocirc;̀n &lt;span style=&quot;font-family: Arial; color: black; font-size: 10pt&quot;&gt;&lt;a href=&quot;http://www.baobinhdinh.com.vn/&quot;&gt;&lt;span style=&quot;color: black; text-decoration: none; text-underline: none&quot;&gt;http://www.baobinhdinh.com.vn&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;. -2005. &amp;ndash;Ngày 2 tháng 3 &lt;/span&gt;&lt;span lang=&quot;EN-US&quot; style=&quot;font-family: Arial; color: black; font-size: 10pt; mso-ansi-language: EN-US&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;&lt;b style=&quot;mso-bidi-font-weight: normal&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; color: black; font-size: 10pt&quot;&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style=&quot;mso-bidi-font-weight: normal&quot;&gt;&lt;span lang=&quot;EN-US&quot; style=&quot;font-family: Arial; color: black; font-size: 10pt; mso-ansi-language: EN-US&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;</p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần I: 1890 - 1911</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/06/2011 3:15 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người thiếu niên 15 tuổi. Người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ anh đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh đã tham gia công tác bí mật, nhận công việc liên lạc. Anh khâm phục các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu, nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào. Vì:</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.851</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần I: 1890 - 1911</category>
      <pubDate>Mon, 06 Jun 2011 08:22:26 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=4</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Bác Hồ với lực lượng vũ trang thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=34</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass02C00FE2EDD54131B1BD3D15EC54F88A><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sáng lập lực lượng vũ trang là một trong những cống hiến vĩ đại của Bác đối với cách mạng Việt Nam. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân, như nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 5-1941 đã xác định, cùng với đẩy mạnh xây dựng lực lượng chính trị, Bác và Trung ương Đảng rất quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngay từ khi mới về Pác Bó (đầu 1941), Bác Hồ đã chọn lựa một số cán bộ gửi ra nước ngoài học tập quân sự. Người chủ trương hễ tổ chức Việt Minh phát triển đến đâu thì xây dựng lực lượng vũ trang đến đó.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuối năm 1941, Người chỉ thị thành lập tiểu đội du kích thoát ly đầu tiên của tỉnh Cao Bằng (1). Người còn biên soạn, biên dịch một số tài liệu quân sự để cán bộ và quần chúng học tập<span style="">  </span>như Cách đánh du kích, <i>Cách huấn luyện cán bộ quân sự, Kinh nghiệm Tàu,... đã viết về vấn đề quân sự trong tập Nhật ký trong tù</i> - Người chỉ thị tổ chức các lớp quân chính để đào tạo cán bộ quân sự, thực hiện chỉ thị này, đầu 1942, lớp quân chính khóa 1 được tổ chức ở Pác Bó.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuối năm 1944, từ Trung Quốc vừa về tới Pác Bó, Bác Hồ đã ra hai chỉ thị quan trọng quyết định tới sự phát triển của lực lượng vũ trang và phong trào cách mạng nước ta. Đó là chỉ thị hoãn chủ trương “phát động chiến tranh du kích” (thực chất là khởi nghĩa) của Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng và chỉ thị thành tập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng trong cuộc họp tháng 7-1944 đã nhận định: căn cứ vào tình hình thế giới, tình hình trong nước tình hình Cao - Bắc - Lạng, điều kiện để phát động chiến tranh du kích trong Liên tỉnh đã chín muồi và chuẩn bị &quot;phát động chiến tranh du kích&quot;. Ngày giờ phát động sẽ chờ cuộc họp sau quyết định.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau khi nghe báo cáo về tình hình và nghi quyết của Liên tỉnh ủy, đồng chí Hồ Chí Minh quyết định hoãn việc phát động chiến tranh du kích trong liên tỉnh. Người phân tích: Nghị quyết mới căn cứ vào tình hình Cao - Bắc – Lạng, chưa căn cứ vào tình hình toàn quốc, tức là thấy bộ phận mà không thấy toàn thể, trong nước, nhiều nơi chưa sẵn sàng khởi nghĩa; cán bộ, vũ khí đều phân tán, thiếu hẳn một lực lượng nòng cốt.<span style="">  </span>Trong điều kiện ấy, nếu phát động chiến tranh du kích theo qui mô quá rộng tất nhiên sẽ thất bại vì bọn đế quốc sẽ tập trung toàn lực để đàn áp. Người nhận định: Bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ tổng khởi<span style="">  </span>nghĩa toàn dân chưa đến. Cho nên, nếu chúng ta chỉ hoạt động trong vòng chính trị thì không đủ để đẩy phong trào tiến tới. Nhưng nếu phát động chiến tranh du kích ngay thì sẽ bị quân địch làm cho nguy khốn. Đã đến lúc cuộc đấu tranh phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự, cần phải tìm mọi hình thức thích hợp thì mới có thể đi tới thành công. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Bác Hồ đã đề ra phương châm kết hợp hai hình thức đấu tranh chính trị và quân sự để đẩy mạnh phong trào, tạo điều kiện tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền. Người nhấn mạnh: muốn xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, chủ yếu phải dựa vào nhân dân muốn tiến hành đấu tranh vũ trang phải dựa vào và kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị của quần chúng. Các đoàn thể cách mạng của quần chúng càng được củng cố và phát triển, quần chúng đấu tranh chính trị càng mạnh thì càng có cơ sở vững chắc để tổ chức lực lượng vũ trang và tiến hành đấu tranh vũ trang.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chủ trương sáng suốt của Bác Hồ để tránh cho Cao - Bắc - Lạng những tổn thất lớn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngay sau đó, Người đề ra chủ trương thích hợp để đẩy mạnh công tác chuẩn bị khởi nghĩa - lập <i>Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân</i> (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) với nhiệm vụ chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến, thực hành vũ trang tuyên truyền, kêu gọi và tổ chức toàn dân đứng dậy, chuẩn bị cơ sở chính trị và quân sự cho cuộc khởi nghĩa sau này, làm đòn bảy cho cao trào cách mạnh toàn quốc. Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân chủ lực dân anh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ban chỉ thị thành lập đội &quot;là một tài liệu ngắn gọn, súc tích, có tính chất cương lĩnh quân sự của Đảng ta, bao gồm những vần đề chủ yếu về đường lối quân sự của Đảng, như kháng chiến toàn dân động viên và vũ trang toàn dân, nguyên tắc xây đựng lực lượng vũ trang và phương châm xây dựng ba thứ quân của lực lượng vũ trang, phương thức hoạt động kết<span style="">  </span>hợp quân sự với chính trị của lực lượng vũ trang nhân dân,<span style="">  </span>nguyên tắc tác chiến và chiến thuật du kích của lực lượng vũ trang nhân dân&quot; <sup>(1).</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là một chủ trương sáng suốt của Bác Hồ trong tình hình thực tế ở Việt Nam lúc bấy giờ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thực hiện chỉ thị của Người, ngày 22-12-1944, tại Cao Bằng, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp tổ chức và lãnh đạo được thành lập <sup>(2)</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Vài ngày sau, để thực hiện lời căn dặn của Nguời: <i>“Trận đầu phải thắng!”</i> đội đã liên tiếp lập hai chiến công oanh liệt: Ngày 25-12-1944 hạ đồn Phai Khắt, ngày 26-12-1944 hạ đồn Nà Ngần, mở đầu tuyên truyền trăm trận trăm thắng của quân đội ta.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chiến thằng của đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân có ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào cách mạng chung. Phong trào Việt Minh càng sôi nổi, lực lượng vũ trang được xúc tiến thành lập và nhanh chóng phát triển, quần chúng hăng hái, bọn phản động hốt hoảng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Qua nội dung bản <i>Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, </i>những tài liệu quân sự, chính trị, do Người biên soạn, qua những chủ trương Bác đã đề ra để xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang và những lời dặn dò của Bác đối với cán bộ, chiến sĩ, Bác Hồ là người đầu tiên nêu rõ những quan điểm quân sự của Đảng ta một cách có hệ thống, là người đã đặt cơ sở cho nền lý luận quân sự hiện đại Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Về chiến lược, tư tưởng vũ trang toàn dân, khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh nhân dân là tư tưởng cơ bản trong đường lối quân sự của đồng chí Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó được quán triệt trong tất cả các tài liệu tuyên truyền, huấn luyện do người biên soạn. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang cũng là sự nghiệp của quần chúng. Người chỉ rõ: “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân, cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”<sup>(3)</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người còn nói:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">“Hễ có lòng yêu nước, hễ có lòng hy sinh thì bất kể đàn ông, đàn bà, người già hay con trẻ đều có thể đánh quân thù, đều có thể cứu tổ quốc”(1)</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người thiết tha kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân, mọi lứa tuổi, sử dụng mọi thứ vũ khí có trong tay để đánh Pháp, đuổi Nhật. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">&quot;Già nào,</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trẻ nào,</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lính nào,</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Dân nào,</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đàn ông nào,</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đàn bà nào,</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Kẻ có súng dùng súng,</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Kẻ có dao dùng dao,</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Kẻ có cuốc dùng cuốc,</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thấy Tây cứ chém phứa,</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thấy Nhật cứ chặt nhào,</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chúng nhiều là mấy vạn,</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Mình mấy triệu đồng bào&quot;(2)</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hào khí &quot;bài ca du kích&quot;. Người viết năm 1942, thể hiện sinh động tư tưởng của Người về khởi nghĩa toàn dân, vũ trang toàn dân, toàn dân đánh giặc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong mối quan hệ giữa lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang. Bác Hồ phân tích: Trước hết phải xây dựng lực lượng chính trị; trên cơ sở lực lượng chính trị hùng hậu, xây dựng lực lượng vũ trang, phát triển cả hai lực lượng đó, phối hợp chặt chẽ giữa hai lực lượng, hai hình thức đấu tranh chính trị và quân sự, tùy từng nơi, từng lúc. Người nói: </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">&quot;Muốn có đội quân vũ trang phải có đội quân tuyên truyền vận động, đội quân chính trị trước đã (3)</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Về mối quan hệ giữa lực lượng vũ trang cách mạng với nhân dân. Bác Hồ vạch rõ: Phải dựa vào nhân dân, như cá dựa vào nước. Lực lượng vũ trang chiến đấu vì dân cho nên sẽ được nhân gân nuôi dưỡng, bảo vệ. Lực lượng vũ trang cách mạng từ nhân dân mà ra, từ nhân dân mà trưởng thành, vì nhân dân mà chiến đấu. Sức mạnh của lực lượng vũ trang cách mạng bắt nguồn từ sức mạnh vô địch và khả năng tiềm tàng của nhân dân. Người thường căn dặn cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang cách mạng: <i>&quot;Phải lấy dân làm gốc, như cá dựa vào nước&quot;</i>.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Bác Hồ chủ trương phải xây dựng lực lượng vũ trang với ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Ba thứ quân đó quan hệ chặt chẽ với nhau, giúp đỡ nhau, cùng đánh địch và cùng thắng địch. Buổi đầu, Người chủ trương trong khi tập trung lực lượng để lên một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang của các địa phương; đội quân chủ lực có nhiệm vụ dìu dắt các đội vũ trang của địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí, làm cho các đội này trưởng thành.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Về mỗi quan hệ giữa con người và vũ khí, Bác Hồ phân tích: vũ khí rất quan trọng, nhưng con người là quyết định. Đó là con người đã giác ngộ, con nguời cách mạng, con người có lòng yêu nước nồng nàn, căm thù địch sâu sắc, chiến đấu dũng cảm và quan hệ tốt với nhân dân. Cho nên, công việc đầu tiên là tuyên truyền, giác ngộ, tổ chức quần chúng. Khi quần chúng đã giác ngộ cách mạng thì sẽ tìm ra vũ khí: tự sản xuầt ra vũ khí hoặc cướp vũ khí của giặc để giết giặc... Người nói: <i>“Có người thì sẽ có súng. Hãy tổ chức quần chúng. Có quần chúng thì có tất cả”(4)</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rút kinh nghiệm trong đấu tranh của cách mạng Việt Nam và thế giới, Người đi đến một kết luận quan trọng:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết! Đó là cái nền cứu quốc của chúng ta”(5)</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Về chiến thuật, đồng chí Hồ Chí Minh cũng vạch ra những hình thức tác chiến cơ bản khi lực lượng vũ trang cách mạng còn nhỏ bé. Người chủ trương phải <i>“vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông, mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung”(6).</i> Về các vấn đề tổ chức, kỷ luật, kế hoạch, mệnh lệnh, Người căn dặn: Tổ chức cần chặt chẽ, thống nhất; kỷ luật cần nghiêm minh; kế hoạch phải tỉ mỉ, mệnh lệnh phải rõ ràng; hành động phải nhanh chóng, chính xác.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người hướng dẫn cán bộ và chiến sĩ các kiểu đánh: phục kích, đánh tỉa, đánh lén, đánh úp…</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tư tưởng quân sự của Bác Hồ là sự phát triển sáng tạo học thuyết Mác – Lênin về khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh và quân đội cách mạng trong điều kiện cụ thể của nước ta; là sự kế thừa, phát triển truyền thống quân sự của dân tộc ta.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tiến theo đường lối quân sự đúng đắn của Đảng và đồng chí Hồ Chí Minh, được sự chăm sóc, giáo dục, lãnh đạo của Người, được sự đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam đã phát triển nhanh chóng, chiến đấu dũng cảm và lập công vẻ vang, xứng đáng là “mũi mác”, “quả đầm thép” của lực lượng cách mạng. Trung đội <i>Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân</i> đã nhanh chóng phát triển thành đại đội, nhiều đại đội, cùng với các đơn vị <i>Cứu quốc dân</i> phát triển thành <i>Quân giải phóng Việt Nam</i>, anh dũng đi đầu trong cuộc tổng khởi nghĩa long trời, chuyển đất vào tháng Tám năm 1945.</span></p>
<p><strong>Nguồn </strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Lịch sử đảng. – 1990. – Số 6 (34). – Tr. 23-26</strong></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 11:00 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trong 60 năm hoạt động, quá nửa thời gian Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo khởi nghĩa và chiến tranh. Lịch sử đòi hỏi lãnh tụ, những người lãnh đạo chủ chốt của Đảng đồng thời phải là nhà quân sự. Bác Hồ, lãnh tụ vĩ đại của Đảng, là một nhà quận sự thiên tài.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.907</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 04:02:06 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=34</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổ chức, lãnh đạo cách mạng tháng Tám thắng lợi và sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1930 – 1945)</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=37</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassABBFC82EAA7147EEA7ED7BE26309FB0E><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></p>
<p>
<table class=MsoNormalTable border=0 cellspacing=0 cellpadding=0 align=right style="">
    <tbody>
        <tr style="">
            <td style="border-bottom:#ece9d8;border-left:#ece9d8;padding-bottom:0cm;background-color:transparent;padding-left:0cm;padding-right:0cm;border-top:#ece9d8;border-right:#ece9d8;padding-top:0cm">
            <p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
            </td>
        </tr>
        <tr style="">
            <td style="border-bottom:#ece9d8;border-left:#ece9d8;padding-bottom:0cm;background-color:transparent;padding-left:0cm;padding-right:0cm;border-top:#ece9d8;border-right:#ece9d8;padding-top:0cm">
            <p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><img width=128 height=200 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-6/thu762011_14557.jpg"></span></i></p>
            <p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa <br>
            Tháng Tám 1945</span></i></p>
            </td>
        </tr>
    </tbody>
</table>
</p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuối nǎm 1933, Nguyễn Ái Quốc rời Hồng Kông. Đầu nǎm 1934 Người trở lại Liên Xô. Tại đây Người vào học trường Quốc tế Lênin, nghiên cứu ở Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, đồng thời tiếp tục theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước trong tình hình chủ nghĩa phát xít đã công khai đàn áp mọi phong trào dân chủ và hoà bình. Trong nhiều tài liệu Nguyễn Ái Quốc nêu lên sách lược của Đảng Cộng sản Đông Dương trong thời kỳ 1936-1939, nhấn mạnh vấn đề tập hợp mọi tầng lớp nhân dân và thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi đấu tranh đòi tự do, dân chủ và hoà bình.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước những chuyển biến của tình hình thế giới, tháng 10 nǎm 1938, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô về Trung Quốc. Tháng 9 nǎm 1940 phát xít Nhật chiếm đóng Đông Dương. Cuối nǎm 1940</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người về sát biên giới Việt - Trung, bắt liên lạc với tổ chức Đảng, chuẩn bị về nước. Người đã mở lớp huấn luyện chính trị để chuẩn bị cán bộ đáp ứng yêu cầu tình hình nhiệm vụ mới. Người nêu rõ trong tài liệu huấn luyện: “Sự nghiệp giải phóng dân tộc là sự nghiệp chung của các dân tộc, các giai cấp bị bóc lột ở Đông Dương. Toàn thể nhân dân Đông Dương không phân biệt dân tộc nào, giai cấp nào đều phải đồng tâm hiệp hội đoàn kết cùng nhau mới làm nổi”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 28 tháng 1 nǎm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, Người chọn Cao Bằng làm cǎn cứ địa xây dựng tổ chức, phát động phong trào cách mạng. Vùng Khuổi Nậm Pác Bó là nơi họp Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương (tháng 5 nǎm 1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, nơi ra báo Việt Nam độc lập, mở các lớp huấn luyện xây dựng lực lượng cách mạng. Pác Bó có hang Cốc Bó, nơi Nguyễn Ái Quốc chọn làm chỗ ở và làm việc của mình.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 6 tháng 6 nǎm 1941, Nguyễn Ái Quốc gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng... Việc cứu quốc là việc chung, ai là ngườiViệt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài nǎng góp tài nǎng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dẫu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 8 nǎm 1942, lấy tên là Hồ Chí Minh và với tư cách là đại diện Mặt trậnViệt Minh và phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội quốc tế chống xâm lược, Người sang Trung Quốc. Ngày 29-8-1942 Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam, sau đó bị giải qua gần 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian ở tù, Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm thơ nổi tiếng “Nhật ký trong tù”. Đến nay “Nhật ký trong tù” đã được dịch ra hơn 10 thứ tiếng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 9 nǎm 1943, Hồ Chí Minh được trả lại tự do. Tháng 3 nǎm 1944, Người tham dự Hội nghị các lực lượng cách mạng Việt Nam ở Liễu Châu (Trung Quốc). Tại Hội nghị này Người đã đọc báo cáo về hoạt động của Mặt trận Việt Minh và Đảng Cộng sản, nêu rõ tiền đồ của sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam, mối quan hệ mật thiết và lâu đời giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Tháng 9 nǎm 1944, Hồ Chí Minh trở lại Cao Bằng. Người gửi thư cho đồng bào toàn quốc kêu gọi chuẩn bị triệu tập Quốc dân đại hội. Tháng 12 nǎm 1944, Người quyết định thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của quân đội nhân dânViệt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 9 tháng 3 nǎm 1945, phát xít Nhật đảo chính hất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dương. Cuộc chiến tranh thế giới thứ I cũng bước vào giai đoạn cuối với những thắng lợi của Liên Xô các nước Đồng minh. Ngày 4 tháng 5 nǎm 1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang) sau sự kiện Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản (ngày 9 tháng 8 nǎm 1945) và ồ ạt tiến công đạo quân Quan Đông của chúng, Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hirôsima (6-8), và Nagadaki (9-8), ngày 10 tháng 8 phe Đồng minh đã gửi công hàm yêu cầu Nhật Bản đầu hàng không điều kiện. Chớp thời cơ ấy, ngày 12 tháng 8 nǎm 1945, Hồ Chí Minh cùng Ban thường vụ Trung ương Đảng quyết định Tổng khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Theo đề nghị của Người, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã họp tại Tân Trào ngày 13 tháng 8 nǎm 1945. Hội nghị thông qua quyết định Tổng khởi nghĩa, thành lập ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ngày 16 tháng 8 nǎm 1945 Quốc dân đại hội Tân Trào đã hoàn toàn nhất trí với chủ trương phát động khởi nghĩa của Đảng. Đại hội đã bầu ra ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong bức thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến; toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên”. Ngày 19-8, khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội, ngày 23-8 thắng lợi ở Huế, ngày 25 tháng 8 thắng lợi ở Sài Gòn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 2 tháng 9 nǎm 1945, tại Quảng trường Ba Đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Người tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Nguồn <span style="font-family:Arial;font-size:10pt">http://bacho.camau.gov.vn</span></strong></span></p>
<p> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 1:55 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Sau cao trào 1930-1931, sự khủng bố của thực dân Pháp càng gắt gao hơn, nhiều chiến sĩ cách mạng bị bắt bớ, tù đày, giết hại. Ngày 6 tháng 6 nǎm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Anh bắt giam trái phép tại Hồng Kông (Trung Quốc).</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.892</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 07:06:14 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=37</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chủ tịch Hồ Chí Minh thời niên thiếu</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=2</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassA38C33C3706241A4BF7A0D142CD7B0BE>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Thân phụ là Nguyễn Sinh Sắc, sinh năm 1862, quê ở làng Kim Liên (thường gọi là làng Sen), cùng thuộc xã Chung Cự, cách Hoàng Trù 2km (nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Xuất thân từ gia đình nông dân, sớm mồ côi cha, mẹ, từ nhỏ đã chịu khó lao động và ham học. Vì vậy, được cụ Hoàng Đường ở làng Hoàng Trù xin họ Nguyễn Sinh đem về nuôi. Ông vừa lao động vừa tiếp tục học tập. Khi trưởng thành ông thành hôn với người con gái đầu của cụ.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Thân mẫu là Hoàng Thị Loan, sinh năm 1868. Bà là một phụ nữ cần mẫn, đảm đang, đôn hậu, sống bằng nghề làm ruộng và dệt vải, hết lòng chăm lo cho chồng con ăn học.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nguyễn Sinh Cung là con thứ ba trong gia đình.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chị là Nguyễn Thị Thanh, còn có tên là Nguyễn Thị Bạch Liên, sinh năm 1884.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Anh là Nguyễn Sinh Khiêm, còn có tên là Nguyễn Tất Đạt, sinh năm 1888.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Gia đình Nguyễn Sinh Cung sống trong một căn nhà nhỏ ba gian, lợp tranh, trên đất vườn của ông bà ngoại tại Hoàng Trù.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Năm 1890 - 1895, Nguyễn Sinh Cung sống ở làng Hoàng Trù trong tình thương yêu và chăm sóc của bố mẹ và ông bà ngoại. Ông ngoại là Hoàng Đường, dạy chữ Hán ngay tại nhà cho một số trẻ em trong làng. Bà ngoại là Nguyễn Thị Kép, làm ruộng để nuôi gia đình.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ngày 22 tháng 5 năm 1893, Nguyễn Sinh Cung chịu tang ông ngoại.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Khoảng tháng 6 năm 1894, Nguyễn Sinh Cung đón nhận tin vui: Cha đậu cử nhân, khoa thi giáp Ngọ năm thành Thái thứ 6 tại trường thi Nghệ An.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Khoảng gần cuối năm 1895, Nguyễn Sinh Cung cùng anh theo cha mẹ vào Huế. Thời kỳ này từ Nghệ An đi Huế chưa có đường xe lửa và ô tô. Mọi người phải đi bộ, trẻ em thường ngồi trong quang gánh của người lớn. Tới Huế, lúc đầu gia đình Nguyễn Sinh Cung phải ở nhờ những người quen, sau ở tạm trong một gian trại lính gần Viện đô sát (ngày nay là nhà số 114, đường Mai Thúc Loan).</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Gần cuối năm 1898, Nguyễn Sinh Cung cùng anh theo cha đến ở nhà ông Nguyễn Sĩ Khuyến, làng Dương Nổ, xã Phú Dương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Lúc này, ông Nguyễn Sinh Sắc mở lớp dạy chữ Hán cho một số học sinh trong làng, Nguyễn Sinh Cung cũng theo học.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ngày 10 tháng 2 năm 1901, Nguyễn Sinh Cung chịu tang lớn trong tuổi thiếu niên: bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu lâm bệnh qua đời tại Huế. Bà đã được những người láng giềng thân thiết lo việc mai táng, vì lúc này ông Nguyễn Sinh Sắc và Nguyễn Sinh Khiêm đang ở quê nhà.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sau khi mẹ mất, Nguyễn Sinh Cung và Nguyễn Sinh Xin (em trai Nguyễn Sinh Cung, sinh vào cuối năm 1900 tại Huế; sau khi bà Hoàng Thị Loan mất, Nguyễn Sinh Xin được ông Nguyễn Sinh Sắc đưa về Hoàng Trù gửi bà ngoại trông nom, nhưng yếu sức nên mấy tháng sau thì chết) về quê.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Tại quê, Nguyễn Sinh Cung học chữ Hán với thầy Hoàng Phan Quỳnh, lớp học mở tại xóm Vang, làng Hữu Biệt, cách Hoàng Trù 3km (nay thuộc xã Nam Giang, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Tháng 5 năm 1901, một tin vui đến với gia đình Nguyễn Sinh Cung và dân làng: Ông Nguyễn Sinh Huy (Nguyễn Sinh Sắc) đậu Phó bảng khoa thi Hội, Tân Sửu, năm Thành Thái thứ 13.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Dân trong xã ai cũng biết rằng, nhờ công lao cụ Hoàng Đường cùng gia đình bên vợ ở Làng Trùa, ông Sắc mới thành đạt. Song theo tập tục địa phương và ý nguyện bà con họ Nguyễn Sinh, ông Sắc đã vinh quy tại Làng Sen quê nội (khoảng tháng 9 năm 1901). Trước khi ông Sắc được đón về, làng Kim Liên đã cấp đất công, xuất quỹ làm cho một ngôi nhà (đó là ngôi nhà và khoản vườn hiện nay còn được bảo tồn ở Kim Liên).</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nhân dịp này, ông Nguyễn Sinh Sắc làm lễ &quot;Vào làng&quot; cho hai con trai, với tên mới là Nguyễn Tất Đạt (Sinh Khiêm) và Nguyễn Tất Thành (Sinh Cung).</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cũng như nhiều vùng khác ở nông thôn Nghệ An, Làng Sen vốn đã nghèo lại càng nghèo thêm từ khi mất nước. Tại đây, ngoài nghề làm ruộng, bà con nông dân còn làm nhiều nghề khác như dệt vải, đan lát hoặc nghề sơn tràng, kiếm củi, đốt than...</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Xưa kia, vùng này gọi là Trại Sen với những địa danh toàn sen: nào Đồng Sen Cạn, Đồng Sen Sâu, Giếng Sen, Đầm Sen; nào Vực Sen, Bàu Sen, Chợ Sen, Cồn Sen...</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sen góp phần tạo nên cảnh trí thiên nhiên đặc sắc ở đây nên mới gọi là Làng Sen. Nhân dân Làng Sen tự hào vì làng mình đẹp, lại có nhiều nho sĩ thường hay lui tới đàm đạo văn chương, thời thế.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Với tâm hồn thơ mộng, rất yêu thiên nhiên, Nguyễn Tất Thành tự hào với cảnh đẹp của làng quê mình. Nhưng điều đáng tự hào hơn cả là làng Kim Liên có nhiều di tích lịch sử và anh hùng hào kiệt. Ngay trước ngõ nhà cậu, chếch về phía phải là Giếng Cốc, nơi bọn thực dân Pháp đã ra lệnh tát cạn nước để tìm vũ khí của &quot;chung nghĩa binh&quot;, khi chúng đã đàn áp được cuộc khởi nghĩa Vương Thúc Mậu (năm 1886). Hình ảnh người anh hùng của quê hương, <a name=VNS0002>người</a> bạn dạy học của ông ngoại cậu đã hy sinh ngay tại làng để bảo toàn khí tiết đã từng gây xúc động mạnh trong lòng Nguyễn Tất Thành.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sau tháng 9 năm 1901, một vinh dự lớn cho Nguyễn Tất Thành là được cha gửi sang học chữ Hán với thầy Vương Thúc Quý và thầy Trần Thân ở ngay trong làng Kim Liên. Thầy <a name=VNS0003>Vương</a> Thúc Quý vốn là nhà nho, giàu lòng yêu nước cho nên Nguyễn Tất Thành và bạn học đều chịu ảnh hưởng chí hướng của thầy. Nguyễn Tất Thành là một học trò nhanh trí và có trí nhớ tốt, được thầy yêu mến. Học với thầy Vương Thúc Quý, Tất Thành cảm thấy thoải mái, dễ hiểu vì thầy thức thời, không nệ cổ, không bắt học trò nhồi sọ cổ văn theo lối &quot;tầm chương trích cú&quot;. Là tấm gương sáng cho học trò noi theo, thầy gợi cho Nguyễn Tất Thành những vấn đề mà trong bước trưởng thành, anh còn phải tìm hiểu cho đến nơi đến chốn.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Khoảng năm 1901-1902, Nguyễn Tất Thành <a name=VNS0004>bước</a> đầu tiếp thu tư tưởng yêu nước của các bậc cha chú thông qua mối quan hệ giữa cha với các sĩ phu trong vùng. Phan Bội Châu, trong tác phẩm <i>Phan Bội Châu niên biểu</i>, kể lại rằng: Nguyễn Tất Thành thường nghe cụ ngâm hai câu thơ và sau này anh vẫn nhắc lại:</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch</span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"></span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Lập thân tối hạ thị văn chương</span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"></span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nghĩa là:</span><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"> </span></i></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Mỗi bữa (ăn) không quên ghi sử sách</span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"></span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Lập thân hèn nhất ấy (là) văn chương</span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"></span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Mùa xuân năm 1903, Nguyễn Tất Thành theo cha đến ở xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, Nghệ An và tiếp tục học chữ Hán. Thời gian này, ông Nguyễn Sinh Sắc (thân phụ) dạy tại nhà ông Nguyễn Thế Văn.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ngày 13 tháng 4 năm 1904, Nguyễn Tất Thành chịu tang bà ngoại. Đây là cái tang lớn của cả gia đình. Sở dĩ ông Nguyễn Sinh Sắc học hành và đỗ đạt được chủ yếu là nhờ sự bù trì, giúp đỡ của gia đình phía vợ. Bà ngoại cũng đã giành cho Thành và những người cháu sớm mồ côi mẹ lòng yêu thương sâu sắc. Bà mất, Tất Thành đau xót, nghẹn ngào. Hình ảnh ông ngoại, mẹ và em Xin lại hiện lên rõ nét trong trí nhớ của Tất Thành. Thế là trong tuổi thiếu niên, Tất Thành phải chịu bốn cái tang của gia đình. Nhìn lên bàn thờ bà ngoại, Tất Thành xót xa, nhớ tiếc với bao kỷ niệm thân thương của hai bà cháu quanh góc sân, mảnh vườn.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sau kỳ đại tang đó, Nguyễn Tất Thành theo cha sang làng Du Đồng, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh (nay thuộc xã Đức Đồng, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Thời gian này, ông Nguyễn Sinh Sắc dạy học ở nhà ông Nguyễn Bá Uy.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ngoài giờ học tập, Nguyễn Tất Thành thường theo cha đến các vùng trong tỉnh thăm các nhân sĩ yêu nước (đến làng Đông Thái - quê hương của Phan Đình Phùng, làng Trung Lễ - quê hương của của Lê Ninh, v.v...) hoặc thăm các di tích lịch sử như thành Lục Niên, miếu thờ La Sơn phu tử, v.v...</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Tháng 7 năm 1905, Nguyễn Tất Thành theo cha đến huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình trong dịp ông Nguyễn Sinh Sắc đi gặp các sĩ phu ở vùng đó.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Theo cha đi khắp đó đây, tầm mắt Tất Thành được mở rộng, quả là &quot;đi một đoạn đàng, học một sàng khôn&quot;. Anh thấy đâu đâu cảnh nghèo đó cũng phơi bày ra trước mắt. Nhan nhản người ăn xin ở khắp mọi nơi. Hầu như làng quê nào cũng chỉ nổi lên vài ba ngôi nhà đồ sộ bên cạnh hàng trăm túp lều xơ xác, tiêu điều. Mùa đông giá lạnh càng nhiều cảnh thê thảm hơn. Không đủ manh áo che thân, nhiều người phải quấn tơi, chiếu hoặc bao tải rách. Bọn đế quốc và địa chủ phong kiến đang hút tủy, rút xương dân chúng bằng hàng trăm thứ thuế nặng nề và phu đài, tạp dịch. Từ người lớn đến trẻ con ai ai cũng sợ &quot;ông Tây&quot;. Anh Thành cảm thấy nỗi nhục mất nước hằn rõ trên gương mặt mỗi người Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Tháng 9 năm 1905, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt được thân phụ xin cho theo học lớp dự bị Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh, cách Kim Liên khoảng 14 km.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Hai anh em trọ ở một gia đình nghèo mạn Cầu Rầm (Vinh) và thường thường chiều thứ bảy đi bộ về thăm nhà, sáng thứ hai lại xuống Vinh.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chính tại Trường tiểu học này, Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên tiếp xúc với khẩu hiệu TỰ DO - BÌNH ĐẲNG - BÁC ÁI.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cái nôi quê hương giàu truyền thống bất khuất với bản sắc riêng của xứ Nghệ đã tạo cho Nguyễn Tất Thành sớm có lòng yêu nước, thương dân, căm thù giặc và ý chí &quot;Làm trai cho đáng nên trai&quot;. Những tấm gương của các thầy giáo và những hoạt động sôi nổi của các bậc cha chú như Phan Bội Châu... đã kích thích cao độ chí làm trai của anh. Thái độ bất hợp tác, ngầm chống đối thực dân, phong kiến và nhận thức được thời cuộc, lòng thương dân, yêu nước của thân phụ có ảnh hưởng sâu xa đến sự hình thành nhân cách của anh.</span><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt" lang=EN-US></span></p>
<p>Nguồn <span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"><a href="http://www.baobinhdinh.com.vn/"><span style="color:black;text-decoration:none;text-underline:none">http://www.baobinhdinh.com.vn</span></a></span><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt" lang=EN-US>. -2005. -Ngày</span><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"> 1</span><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt" lang=EN-US> tháng </span><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">3</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần I: 1890 - 1911</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/06/2011 2:30 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Chủ tịch Hồ Chí Minh (sinh ngày 19-5-1890), thời niên thiếu tên là Nguyễn Sinh Cung, ra đời tại quê mẹ là làng Hoàng Trù (thường gọi là làng Trùa), xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.046</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần I: 1890 - 1911</category>
      <pubDate>Mon, 06 Jun 2011 07:33:16 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=2</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1911-1930)</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=22</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass8A5C28360268408D970F42D9ABF3B3B9><p><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">1. Xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Việt Nam</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuối thế kỷ XIX, sau khi cơ bản kết thúc giai đoạn vũ trang xâm lược, thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa. Để bóc lột được lợi nhuận thuộc địa tối đa, thực dân Pháp duy trì phương thức sản xuất phong kiến, thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chúng thực hiện chính sách độc quyền kinh tế về các mặt: xuất nhập khẩu, khai thác mỏ, giao thông vận tải, ngân hàng, tài chính, thuốc phiện, muối, rượu, chiếm đất lập đồn điền, lập ra hàng trăm thứ thuế vô lý và vô nhân đạo. Chúng bóc lột dân ta đến tận xương tuỷ, khiến cho dân ta càng nghèo khổ, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng thực hành chính sách chuyên chế vềchính trị, làm cho dân ta không có một chút tự do, dân chủ nào. Để ngăn chặn tình đoàn kết của dân tộc ta, chúng thực hiện chính sách &quot;chia để trị&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cùng với độc quyền về kinh tế, chuyên chế về chính trị, về văn hoá, thực dân Pháp thi hành chính sách ngu dân, nhằm giam hãm dân tộc ta trong vòng nô lệ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những chính sách trên của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam thay đổi, từ một xã hội phong kiến độc lập, Việt Nam trở thành một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Về cơ cấu xã hội, bên cạnh giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân đã tồn tại từ lâu, xuất hiện giai cấp công nhân, giai cấp tiểu tư sản thành thị và giai cấp tư sản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhân dân ta bị bần cùng hoá, công nhân, nông dân nghèo đói, tiểu tư sản phá sản, trí thức thất nghiệp, tư sản dân tộc, địa chủ nhỏ và vừa bị chèn ép.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chính sách thống trị của Pháp và bọn tay sai đã tạo ra hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam thuộc địa, nửa phong kiến: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, chủ yếu là giữa nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến. Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với bọn thực dân Pháp và bè lũ tay sai. Độc lập dân tộc và người cày có ruộng là hai yêu cầu cơ bản của xã hội Việt Nam thuộc địa, nửa phong kiến, nhưng độc lập dân tộc là yêu cầu chủ yếu trước mắt, phản ánh nguyện vọng bức thiết của các tầng lớp, giai cấp trong dân tộc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">2. Phong trào giải phóng dân tộc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">a) Phong trào yêu nước của nông dân và sĩ phu yêu nước</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân lên đất nước ta, với tinh thần yêu nước nồng nàn, bất chấp chủ trương đầu hàng của triều đình phong kiến, nhân dân cả nước đã vùng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Chúng đã vấp phải một phong trào đấu tranh vũ trang quyết liệt và kéo dài, hễ phong trào này bị dập tắt, thìphong trào khác tiếp theo, không hề ngưng nghỉ, thật đúng với lời tuyên bố đanh thép của Nguyễn Trung Trực trước giờ xử tử: &quot;Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 5-7-1885, phái kháng chiến còn sót lại trong triều đình Huế do Tôn Thất Thuyết dẫn đầu đánh đồn Mang Cá và toà khâm sứ Trung Kỳ. Bị thất bại, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi ra vùng núi Quảng Trị. Ngày 13-7-1885, nhà vua xuống chiếu &quot;Cần Vương&quot;. Phong trào &quot;Cần Vương&quot; nhanh chóng lan ra nhiều địa phương ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ và cả Nam Kỳ. Ngày 1-11-1888, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt. Phong trào &quot;Cần Vương&quot; còn kéo dài cho đến khi cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng thất bại (1896). Trong thời gian đó, các cuộc khởi nghĩa của nông dân chống Pháp không ngừng bùng nổ ở khắp các miền của đất nước. Cuộc khởi nghĩa lớn nhất tiêu biểu cho ý chí chiến đấu bất khuất, kiên cường, bền bỉ của nông dân Việt Nam là cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Thực dân Pháp đã bốn lần dùng lực lượng lớn tiến công Yên Thế, nhưng đều bị nghĩa quân đánh bại. Chỉ sau khi Hoàng Hoa Thám hy sinh (10-3-1913), cuộc khởi nghĩa Yên Thế (kéo dài 30 năm từ 1883-1913) mới kết thúc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">b) Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau khi phong trào &quot;Cần Vương&quot; thất bại, nhiều sĩ phu yêu nước hướng ra nước ngoài tìm con đường cứu nước mới.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đầu thế kỷ XX, trào lưu dân chủ tư sản qua sách báo của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, gương Duy Tân của Nhật Bản, cuộc vận động hiến pháp của Trung Quốc (1898), cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (1911) đã lôi cuốn nhiều sĩ phu yêu nước, tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Là ngọn cờ của phong trào yêu nước chống Pháp hồi đầu thế kỷ, lúc đầu Phan Bội Châu chủ trương lập chế độ quân chủ lập hiến, năm 1904 đã lập Duy Tân hội để khôi phục độc lập dân tộc. Tuy vậy, ông vẫn chưa thấy vai trò chủ lực của nông dân. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1912, ông cùng một số nhà yêu nước lập raViệt Nam Quang phục hội, từ bỏ lập trường quân chủ lập hiến, chuyển sang lập trường dân chủ tư sản với chủ trương: đánh đuổi giặc Pháp, thành lập Cộng hoà dân quốc Việt Nam. Năm 1924, ông quyết định cải tổ Việt Nam Quang phục hội thành Việt Nam Quốc dân Đảng, vạch đường lối chính trị phỏng theo cương lĩnh Trung Hoa Quốc dân Đảng do Tôn Dật Tiên lãnh đạo. Ông cũng có cảm tình với nước Nga Xôviết, chủ nghĩa xã hội và có ý đặt hy vọng vào Nguyễn Ái Quốc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hạn chế lớn của ông là chủ trương dựa vào Nhật để đuổi Pháp. Sau này, trong tác phẩm Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Trần Dân Tiên đã nhận xét con đường đó chẳng khác gì &quot;đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Con đường cứu nước của Phan Bội Châu đã không thành công. Trong bản hồi ký cuối đời ông viết: &quot;Than ôi! Cuộc đời của tôi là một trăm thất bại mà không một thành công&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Phan Châu Trinh là nhà yêu nước dân chủ nhiệt thành. Ông kịch liệt tố cáo bọn quan lại phong kiến sâu mọt, kết tội tên vua bù nhìn Khải Định và tố cáo tội ác của thực dân Pháp. Ông chủ trương &quot;khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh&quot;. Hạn chế lớn của Phan Châu Trinh là đường lối cải lương phản đối bạo động (&quot;bạo động tắc tử&quot;) và muốn dựa vào Pháp để chống phong kiến. Dù là cải lương, ông vẫn bị thực dân Pháp bắt giam, đày đi Côn Đảo. Con đường cứu nước của Phan Châu Trinh đã thất bại, đúng như nhận xét của Trần Dân Tiên, vì sai lầm chẳng khác gì &quot;xin giặc rủ lòng thương&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lòng yêu nước và gương hoạt động của hai cụ Phan đã cổ vũ nhân dân ta qua nhiều thế hệ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh có điểm giống nhau là chưa tiếp cận được xu thế của thời đại mới, do đó không tìm ra con đường cứu nước mới, con đường giành độc lập triệt để do nhân dân lao động làm chủ đất nước, lấy sức ta mà tự giải phóng cho ta.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thất bại của phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đã nói lên một sự thật: con đường dân chủ tư sản cũng không cứu được nước. Ở nước thuộc địa, nửa phong kiến Việt Nam, giai cấp tư sản dân tộc có vai trò nhất định trong sự nghiệp cứu nước, nhưng họ chỉ có thể phát huy vai trò đó với sự giúp đỡ của Đảng, của giai cấp công nhân.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), tính chất thời đại thay đổi, đòi hỏi con đường giải quyết mâu thuẫn xã hội phải thay đổi và giai cấp lãnh đạo cách mạng cũng phải thay đổi.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Vào những năm đầu thế kỷ XX, cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước đã diễn ra sâu sắc, trầm trọng trên đất nước ta. Việc tìm lối ra cho cuộc khủng hoảng là nhu cầu nóng bỏng nhất của dân tộc ta lúc bấy giờ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">II. NGUYỄN ÁI QUỐC TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">1.Quá trình tìm tòi con đường cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19-5-1890, quê ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Lúc nhỏ có tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học lấy tên là Nguyễn Tất Thành. Lớn lên giữa lúc nước mất nhà tan, đau xót trước cảnh lầm than của đồng bào, Nguyễn Tất Thành sớm có chí đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành rời đất nước ra đi tìm đường cứu nước, xem các nước làm thế nào rồi trở về giúp đồng bào.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trên lộ trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã trải qua những bước ngoặt lớn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một là: Nhận ra hạn chế của các nhà yêu nước đương thời.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc rất khâm phục tinh thần yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám, nhưng không đồng ý đi theo con đường của một người nào. Trong khi nhiều người còn ngưỡng mộ cách mạng tư sản, Người đã vượt qua sự hạn chế tầm nhìn của họ, đi tìm con đường cứu nước khác.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hai là: Tìm ra chỗ hạn chế của cách mạng dân chủ tư sản là những cuộc cách mạng không giải phóng được công nông và quần chúng lao động.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một cuộc khảo sát có một không hai ở Mỹ, Anh và Pháp đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhận ra là ở đâu cũng có hai loại người: người giàu và người nghèo, người áp bức và người bị áp bức. Càng ngày Người càng hiểu sâu sắc bản chất của chủ nghĩa đế quốc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 6-7-1911, Nguyễn Tất Thành đến cảng Mácxây, thấy nhiều phụ nữ nghèo khổ, Nguyễn Tất Thành nói với người bạn &quot;Tại sao người Pháp không &quot;khai hóa&quot; đồng bào của họ trước khi đi &quot;khai hóa&quot; chúng ta?&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Làm thuê trên chiếc tàu đi vòng quanh châu Phi, tận mắt trông thấy những cảnh khổ cực, chết chóc của người da đen dưới roi vọt của bọn thực dân, Nguyễn Tất Thành nghĩ: Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Giữa tháng 12-1912, Nguyễn Tất Thành tới nước Mỹ, Người dành một phần thời gian để lao động kiếm sống, còn phần lớn thời gian dành cho học tập, nghiên cứu Cách mạng tư sản Mỹ năm 1776. Khi thăm pho tượng Thần Tự do, Nguyễn Tất Thành không để ý đến ánh hào quang quanh đầu tượng mà xúc động trước cảnh những nô lệ da đen dưới chân tượng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuối năm 1913, Nguyễn Tất Thành từ Mỹ sang Anh và cuối năm 1917 trở lại Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) giết hại biết bao sinh mạng, phá huỷ vô vàn của cải. Qua đó, Nguyễn Ái Quốc càng hiểu thêm bản chất của chủ nghĩa tư bản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Quá trình nghiên cứu, xem xét Cách mạng tư sản Mỹ (1776) và Cách mạng tư sản Pháp (1789) đã giúp Nguyễn Ái Quốc học hỏi được nhiều điều. Tuy vậy, Người vẫn đánh giá những cuộc cách mạng tư sản là &quot;những cuộc cách mạng không đến nơi&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chiến tranh kết thúc, các nước thắng trận họp Hội nghị hoà bình ở Vécxây (Pháp) để chia phần. Thay mặtHội những người Việt Nam yêu nước, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị bản yêu sách 8 điểm. Trong khi chờ đợi giải quyết vấn đề dân tộc tự quyết, Người chỉ đề cập những yêu sách &quot;tối thiểu&quot; và &quot;cấp thiết&quot;. Tổng thống Mỹ Uynxơn (Wilson), tác giả chương trình 14 điểm với chiêu bài dân tộc tự quyết cũng có mặt ở Hội nghị. Nhưng những yêu sách dù khiêm tốn của Người không được Hội nghị đáp ứng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sự kiện này đã giúp Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ &quot;chủ nghĩa Uynxơn chỉ là một trò bịp bợm lớn...&quot;. Những lời tuyên bố tự do của nhà chính trị tư sản trong lúc chiến tranh thực ra chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc. Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình. Đầu năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một đảng tiến bộ hồi bấy giờ, Người có dịp tiếp xúc, hoạt động với nhiều nhà chính trị nổi tiếng ở Pháp. Nguyễn Ái Quốc tìm hiểu và hoạt động trong phong trào công nhân, liên lạc và cùng hoạt động với nhiều nhà cách mạng ở nhiều thuộc địa Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ba là: Đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, đi theo Quốc tế Cộng sản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi là sự kiện chính trị lớn nhất của thế kỷ XX, mở ra thời đại mới trong lịch sử loài người, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, thời đại thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đặt ra sự lựa chọn mới đối với những người cách mạng Việt Nam: Độc lập dân tộc cho một số ít người hay cho đại đa số người? Độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa tư bản hay độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội?</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Khi được biết thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc ngưỡng mộ cuộc cách mạng đó, kính phục Lênin. Người đã tham gia nhiều cuộc vận động ủng hộ nhân dân Nga bảo vệ thành quả cách mạng. Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ ba) ra đời, có ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng thế giới. Năm 1920, cuộc đấu tranh giữa hai con đường diễn ra quyết liệt trong nhiều đảng công nhân và ngay trong Đảng Xã hội Pháp: tiếp tục theo Quốc tế thứ hai tức là tiếp tục con đường cải lương hay đi theo Quốc tế thứ ba, con đường cách mạng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộcđịa của Lênin. Luận cương đã giải đáp trúng những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở tìm hiểu, giúp Người thấy rõ con đường thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, nhận rõ lập trường của Lênin và Quốc tế thứ ba khác hẳn với những lời tuyên bố suông của Quốc tế thứ hai. Luận cương của Lênin đã có ảnh hưởng quyết định đến lập trường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc: Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tán thành Quốc tế thứ ba, đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo cách mạng vô sản, trở thành một trong những nhà sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Qua mười năm sống và làm việc ở những nước tư bản phát triển, Nguyễn Ái Quốc không choáng ngợp trước sự giàu có của giai cấp tư sản mà lại nhận thấy chế độ tư bản có nhiều khuyết tật. Người khẳng định dứt khoát chủ nghĩa tư bản không cứu được nước, không cứu được dân. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhanh chóng nhận ra chân lý thời đại: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Khác với các nhà yêu nước đương thời, Nguyễn Ái Quốc có một phương pháp nghiên cứu độc lập, tự chủ, sáng tạo, đem lý luận đối chiếu với thực tiễn, lấy mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội làm tiêu chuẩn đánh giá các học thuyết, tiếp thu kinh nghiệm cách mạng thế giới có chọn lọc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc đã được thể hiện nổi bật trong việc vận dụng học thuyết Mác - Lênin, vạch ra đường lối cứu nước đúng đắn cho dân tộc ta.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">2. Truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin và chuẩn bị thành lập Đảng</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">a) Tố cáo tội ác của bọn thực dân Pháp, liên kết cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa với cách mạng vô sản ở các nước đế quốc</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trở thành người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc bắt tay vào truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về nước. Quá trình đó cũng là quá trình Người từng bước vạch đường lối chiến lược cho cách mạng Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 4-1921, khi còn ở Pháp, trong bài báoĐông Dương, Người phê phán sai lầm của một số đảng cộng sản ở các nước tư bản phát triển &quot;chưa quan tâm đến vấn đề thuộc địa&quot;. Tháng 5 năm đó cũng trong bài báo Đông Dương, Người cho rằng &quot;chế độ cộng sản có áp dụng được ở châu Á nói chung và ở Đông Dương nói riêng&quot;. Người dự đoán &quot;ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 7-1921, Nguyễn Ái Quốc cùng một số chiến sĩ cách mạng ở nhiều nước thuộc địa Pháp lập Hội liên hiệp thuộc địa. Tuyên ngôn của Hội do Người khởi thảo đã nêu bật tư tưởng tự lực tự cường: &quot;Công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hội đã ra tờ báoNgười cùng khổ (Le Paria).Trong truyền đơn cổ động mọi người mua báo, Nguyễn Ái Quốc đã phát triển lời kêu gọi đoàn kết quốc tế của Mác và Lênin: &quot;Lao động tất cả các nước đoàn kết lại!&quot;. BáoNgười cùng khổ đã tạo &quot;một luồng gió mới thổi đến nhân dân các nước bị áp bức&quot;, &quot;đã làm cho nước Pháp chân chính biết rõ những việc xảy ra trong các thuộc địa&quot;, &quot;đã thức tỉnh đồng bào chúng ta&quot;, &quot;khiến cho đồng bào chúng ta nhận rõ nước Pháp, nước Pháp tự do, bình đẳng, bác ái&quot;. Ngoài việc viết bài cho báo Người cùng khổ, Nguyễn Ái Quốc còn viết bài cho các báoNhân đạo, Đời sống công nhân. Người đã dự Đại hội lần thứ nhất và thứ hai của Đảng Cộng sản Pháp. Người tiếp tục chỉ ra sai lầm của Đảng Cộng sản Pháp về vấn đề thuộc địa.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu viết tác phẩm nổi tiếngBản án chế độ thực dân Pháp nhằm vạch trần bản chất chủ nghĩa đế quốc và kêu gọi &quot;Dân bản xứ không cam chịu nhục được mãi, phải vùng lên&quot;. Người nêu lên mối quan hệ giữa cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc qua hình ảnh chủ nghĩa đế quốc là một con đỉa hai vòi. Muốn giết con vật ấy &quot;người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra&quot;. Tác phẩmBản án chế độ thực dân Pháp có giá trị lớn về mặt lý luận, thực tiễn, đồng thời có giá trị về văn học.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1922, Nguyễn Ái Quốc phê phán vua Khải Định khi ông ta sang Pháp dự hội chợ thuộc địa. Qua truyện ngắnLời than vãn của Bà Trưng Trắc, vở kịch Con rồng tre, Người lên án ông ta là &quot;đớn hèn, bất lực và ngu dốt&quot;, cam tâm làm tôi tớ cho thực dân Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Giữa năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Pêtơrôgrát (Liên Xô). Ở đó, Người có điều kiện học tập, nghiên cứu sâu sắc hơn chủ nghĩa Mác - Lênin. Người phát triển thêm những quan điểm chính trị của mình đã hình thành ở Pháp. Người tiếp tục tố cáo tội ác của chủ nghĩa đế quốc. Qua bài Hành hình kiểu Linsơ, Người coi tội ác đó &quot;chiếm vị trí vinh dự trong toàn bộ những tội ác của nền văn minh Mỹ&quot;.Người vạch trần&quot;chính sách thực dân trá hình&quot; của đế quốc Anh muốn chiếm cả Trung Quốc, phê phán đế quốc Ý đồng lõa với đế quốc Pháp đàn áp phong trào cách mạng ở Bắc Phi.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 10-1923, Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội lần thứ nhất Quốc tế Nông dân. Đại hội bầu Người vào Ban Chấp hành Quốc tế Nông dân và Ban Chấp hành cử Người làm uỷ viên Đoàn chủ tịch. Năm 1924, Người dự các Đại hội của Thanh niên, Phụ nữ quốc tế. Công hội đỏ và Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản. Người tiếp tục phê bình thiếu sót của nhiều đảng cộng sản ở Tây Âu về vấn đề thuộc địa và thẳng thắn nêu thiếu sót đó của cả Quốc tế Cộng sản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người rất chú ý nghiên cứu chế độ mới ở Liên Xô. Người nhận rõ lúc này dù thiếu thốn, nhân dân Liên Xô đã dành cho trẻ em những &quot;cái gì tốt nhất&quot;, nhà nước hết sức chăm lo việc giáo dục và y tế cho nhân dân. Người viết nhiều bài báo nêu cao công lao vĩ đại, đạo đức cao cả của Lênin.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 11-11-1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc) làm nhiệm vụ đặc phái viên của Quốc tế Cộng sản và trực tiếp chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người cùng với một số nhà cách mạng lậpHội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông, do ông Liêu Trọng Khải (Trung Quốc) làm Hội trưởng và Người làm Bí thư.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">b) Thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội)</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 6-1925, từ nhóm cách mạng đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, nhằm tập hợp những thanh niên yêu nước Việt Nam có xu hướng cộng sản chủ nghĩa, chuẩn bị thành lập Đảng. Người mở những lớp huấn luyện cán bộ và ra tờ báoThanh niên. Phần lớn những thanh niên đã được huấn luyện trở về nước hoạt động và số còn lại sang Liên Xô tiếp tục học tập. Hội đã truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối cứu nước của Nguyễn Ái Quốc vào công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1928, Hội đề ra chủ trương &quot;vô sản hoá&quot;, đưa hội viên vào các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền. Chủ trương này có tác dụng rèn luyện những người trí thức tiểu tư sản về lập trường giai cấp công nhân và bước đầu kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hội kết nạp ngày càng nhiều hội viên, năm 1928 có 300 hội viên, năm 1929 có 1.700 hội viên, nếu kể cả hội viên dự bị thì có gần 3.000 người. Từ năm 1926 đến năm 1929, Hội có cơ sở ở nhiều trung tâm kinh tế, chính trị trong cả nước, trở thành lực lượng chính trị yêu nước lớn mạnh nhất đất nước, hoàn thành ý định của người sáng lập hội là chuẩn bị tiền đề cho việc thành lập Đảng Cộng sản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">c) Phác thảo đường lối cứu nước</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc phác thảo đường lối cứu nước từ năm 1921 và thể hiện tập trung trong tập bài giảng ở lớp chính trị tại Quảng Châu, năm 1927 được in thành sách lấy tên là Đường Cách mệnh. Nội dung cơ bản của tác phẩm như sau:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một là: Chỉ có cách mạng vô sản là cách mạng triệt để, vì lợi ích của đại đa số dân chúng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc giới thiệu những cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, từ Cách mạng tư sản Mỹ năm 1776 đến Cách mạng tư sản Pháp năm 1789, từ Công xã Pari năm 1871 đến Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và sau khi so sánh cách mạng tư sản với cách mạng vô sản, Người khẳng định: &quot;Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa.Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người khẳng định: &quot;Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam&quot;. Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: &quot;làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc&quot;.Đây là điểm xuất phát và là điểm khác nhau cơ bản giữa con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc với các con đường cứu nước trước kia.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hai là:Mục tiêu và con đường đi lên của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa xã hội, muốn xoá bỏ chế độ người bóc lột người, muốn có tự do, hạnh phúc, bình đẳng thật sự thì phải qua hai cuộc cách mạng: cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai cuộc cách mạng này có quan hệ mật thiết với nhau.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ba là: Về lực lượng cách mạng, công nông là gốc của cách mệnh, học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ là bầu bạn của công nông. &quot;Ai mà bị áp bức càng nặng, thì lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết&quot;. Cách mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải là việc của một hai người.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Bốn là: Về phương pháp cách mạng.</span>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cùng với việc hoạch định đường lối cách mạng, Nguyễn Ái Quốc phác thảo cả phương pháp cách mạng. Người cho rằng giải phóng gông cùm nô lệ cho đồng bào, cho nhân loại là công việc &quot;to tát&quot;, cho nên phải &quot;dùng hết sức&quot;, phải &quot;quyết tâm làm thì chắc được&quot;, &quot;thà chết tự do hơn sống làm nô lệ&quot;. Nhưng phải &quot;biết cách làm thì mới chóng&quot;. &quot;Cách mệnh trước hết phải làm cho dân giác ngộ&quot;.</span></p>
<p><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nguồn <a href="http://dangbo.most.gov.vn/"><span style="color:black">http://dangbo.most.gov.vn</span></a>. </span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">–2010. –Ngày 3 tháng 2</span></p>
</span></p>
</p>
</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 8:55 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> I. CUỘC KHỦNG HOẢNG VỀ CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC ĐẦU THẾ KỶ XX
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả chuẩn bị công phu về tư tưởng, chính trị và tổ chức của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và của các chiến sĩ cách mạng tiền bối, đáp ứng nhu cầu lịch sử của đất nước ta đầu thế kỷ XX, phù hợp xu thế phát triển của thời đại.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 4.777</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 01:57:20 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=22</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Tìm hiểu vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến dịch Việt Bắc năm 1947</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=46</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass6F78C9AF0E2047AF8C195A3A5D7DE7AD><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chiến thắng Việc Bắc nhờ chủ trương đường lối sáng suốt của Đảng, tinh thần dũng cảm, kiên cường của quân và dân ta, đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì đấu tranh ngoại giao để vãn hồi hoà bình.</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> Mặc dù kháng chiến toàn quốc đã bùng nổ nhưng Người vẫn kiên trì tìm cách ngoại giao với Quốc hội và Chính phủ Pháp nhằm chấm dứt chiến tranh xâm lược của Pháp. Theo Người, nhân dân Việt Nam chỉ mong muốn: “Tự do, hoà bình và độc lập”. Người kêu gọi nhân dân và binh lính Pháp, nhân dân các nước đồng minh hãy tìm cách ngăn chặn bàn tay của bọn thực dân hiếu chiến Pháp. Trong thư gửi Chính phủ và nhân dân Pháp nhân dịp đầu năm mới 1947, Hồ Chí Minh viết: “Tôi kêu gọi nhân dân Pháp để chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn và năm 1947 mang lại nền hoà bình và tình hữu ái giữa nước<span style="">  </span>Pháp và nước Việt Nam”<sup>1</sup> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ ngày<span style="">  </span>1-1 đến ngày 1-10-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 21 lần trực tiếp hoặc gián tiếp đề nghị Chính phủ Pháp thương lượng để chấm dứt chiến tranh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 1-10-1947, Hồ Chí Minh lại gửi điện trả lời chi bộ Đảng Xã hội Pháp ở Sài Gòn, đề nghị Chính phủ Pháp giữ “tinh thần hữu hảo, sự tin cậy và sự hợp tác giữa hai dân tộc Việt – Pháp”. Đồng thời, chính phủ và nhân dân Việt Nam lúc nào cũng sẵn sàng chấm dứt cuộc xung đột”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đáp lại thực dân Pháp xua quân đánh vào căn cứ địa Việt Bắc. Vì vậy nhân dân Việt Nam buộc phải cầm súng chống lại. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn Việt Bắc làm căn cứ kháng chiến hậu phương của cả nước.</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> Trong lịch sử dân tộc ta có nhiều kinh nghiệm và xây dựng căn cứ địa hậu phương cho các cuộc khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Tháng 5-1945 từ Cao Bằng về Tuyên Quang, Người đã chọn Tân Trào (Tuyên Quang) làm căn cứ để lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngay sau cách mạng tháng Tám thành công Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự kiến trước thực dân Pháp sẽ quay lại xâm lược nước ta. Vì thế, trước khi về Thủ đô Hà Nội, Người đã chủ trương tiếp tục xây dựng, củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Tháng 11-1946, khi thực dân Pháp khiêu khích ở Hải Phòng và Hà Nội, Người gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp hỏi nếu địch mở rộng chiến tranh trên miền Bắc thì Hà Nội giữ được bao lâu? Đại tướng thưa rằng Giữ được một tháng, các thành phố khác ít khó khăn hơn, vùng nông thôn nhất định ta giữ được. Suy nghĩ trong giây lát, Người nói “Ta lại trở về Tân Trào”. Sau đó, Người đã cử đồng chí Nguyễn Lương Bằng trở lại Việt Bắc chuẩn bị căn cứ địa kháng chiến. Trong thời gian ngăn, các cơ sở chính trị của ta được củng cố, hoàn thiện. Hệ thống thông tin liên lạc, phòng gian bảo mật và lực lượng vũ trang cũng được xây dựng và củng cố đồng bộ. Hơn 42.000 tấn máy móc, nguyên liệu để sản xuất vũ khí và 20.000 tấn muối đã đưa lên Việt Bắc. Trước và sau ngày toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng cơ quan lãnh đạo của Đảng và Chính phủ di chuyển lên Việt Bắc an toàn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau khi vồ hụt cơ quan lãnh đạo của ta ở Hà Nội cuối năm 1946, thực dân Pháp vẫn nuôi mộng bắt bằng được cơ quan lãnh đạo cao nhất của cuộc kháng chiến. Ỷ vào binh hoả lực mạnh, sức cơ động cao thực dân Pháp định nhảy vào Việt Bắc bắt Chính phủ Hồ Chí Minh. Nhưng núi rừng Việt Bắc đã trở thành mồ chôn giặc Pháp. Đúng như Hồ Chí Minh nhận định: Căn cứ địa Việt Bắc có thế chiến lược lợi hại, tiến có thể đánh, lui có thể giữ. Nhờ vậy, mỗi chiến khu, mỗi tỉnh, thậm chí huyện cũng có thể xây dựng được căn cứ địa, căn cứ du kích. Tiêu biểu như các căn cứ Lang Tài (Bắc Ninh), Kim Môn (Hồng Quảng), Bác Ái (Ninh Thuận). Các làng chiến đấu như: Cự Nẫm, Cảnh Dương (Quảng Bình), Chi Lăng (Lạng Sơn), Xi Tơ (Tây Nguyên), Cao Pha (Tây Bắc), Nguyên Xá (Thái Bình). Căn cứ địa Việt Bắc là một đóng góp lớn của Hồ Chí Minh. Hậu phương Việt Bắc đã góp phần tạo lên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tư tưởng chiến lược chính trị, quân sự thiên tài Hồ Chí Minh toả sáng trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947.</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> Thiên tài đó đã được thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam kiêm nghiệm. Trước Cách mạng tháng Tám, Người đã quyết định nhiều vấn đề quân sự quan trọng như hoãn cuộc khởi nghĩa Cao - Bắc - Lạng, chỉ thị xây dựng Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và chỉ đạo tổng khởi nghĩa năm 1945. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong những năm củng cố chính quyền cách mạng sau tổng khởi nghĩa, Người lo tổ chức chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang và kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ. Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng BCHTƯ Đảng vạch ra đường lối Kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Lúc đầu thế địch mạnh muốn nhanh chóng bóp chết lực lượng vũ trang nhỏ bé, trang bị thô sơ của ta. Người chỉ đạo: Nhanh chóng tổ chức đánh du kích giam chân địch trong các thành phố, tiêu thổ kháng chiến tổ chức tản cư lên vườn không nhà trống; chuyển toàn bộ đất nước từ thời bình sang thời chiến. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Mùa hè 1947 từ khu V trở ra ta có 12 vạn quân trong đó chỉ có 1/4 chiến sĩ được trang bị súng. Riêng chiến trường Việt Bắc, ta chỉ có 20 tiểu đoàn quân chủ lực. Trong khi đó thực dân Pháp tập trung gần 30 tiểu đoàn tinh nhuệ có phi pháo mạnh yểm trợ. Người phân tích: Âm mưu của địch là hội quân ở Bắc Cạn tạo thành cái ô bọc lấy Việt Bắc, hai cánh quân tạo thành hai gọng kìm. Một theo đường số 4 ở phía Đông; hai theo đường sông Hồng, sông Lô ở phía Tây kẹp chặt lấy Việt Bắc. Chúng chỉ mạnh ở hai gọng kìm Đông và Tây. Nếu ra cùng lực lượng bao vây chặt và tiêu hao quân dù ở Bắc Cạn tập trung lực lượng kiên quyết phản công tiêu diệt các cánh quân địch ở Đông và Tây thì cái ô sẽ cụp xuống thành cái ô rách. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ta không chủ trương đem quân chủ lực ra chọi nhau với địch mà dùng lực lượng nhỏ thực hiện phương châm: “đại đội độc lập tiểu đoàn tập trung”, phục kích đánh địch trên các địa hình hiểm trở. Bằng phương thức đó, ta đã vô hiệu hoá sức mạnh phi pháo và đội quân vừa đông vừa thiện chiến của địch. Rừng Việt Bắc trở thành “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuộc tấn công lên Việt Bắc của Pháp bị thất bại nặng nề làm cho chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của chúng bị phá sản. Buộc chúng phải đánh theo cách đánh của ta – đánh lâu dài.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Kỷ niệm một năm ngày toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “…bọn quân phiệt thực dân khoe miệng rằng chóng thì dăm tuần, chậm th2i ba tháng chúng sẽ chinh phục được ta”. Đến nay, “Lực lượng của chúng cũng như mặt trời vào lúc hoàng hôn, hống hách lắm nhưng đã gần tắt nghỉ… lực lượng của ta ngày càng thêm mạnh, như suối mới chảy, như lửa mới nhóm, chỉ có tiến, không có thoái”<sup>2</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thắng lợi Việt Bắc, Thu – Đông 1947 là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện của Đảng ta, thể hiện rực rỡ nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh tài tình, sắc bén, sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thắng lợi này của quân và dân ta đã làm cho quân Pháp từ chủ động sang thế bị động.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tìm hiểu vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến thắng Việt Bắc, Thu – Đông 1947, chúng ta càng thấy: Tư tưởng quân sự của Người, một trong những nền tảng tư tưởng quân sự của Đảng ta, đã được phát triển trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954).</span></p>
<p><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">1, 2. Hồ Chí Minh Toàn tập, CTQG, H, 1995, T.5, tr.3, 313.</span></p>
<p><strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn</span></strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Lịch sử Đảng. -1997. –Số 11. –Tr. 25-26, 32.</strong></span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 2:50 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Khi thực dân Pháp mở cuộc tấn công vào căn cứ địa Việt Bắc (10-1947), dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chủ Minh bộ đội, dân quân, du kích và toàn thể đồng bào ta ra sức tiêu diệt địch. Sau hai tháng chiến đấu ngoan cường dũng cảm, quân dân Việt Bắc loại khỏi vòng chiến đấu hơn 7.000 tên địch. Thực dân Pháp phải rút chạy khỏi Việt Bắc.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 7.246</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 07:53:14 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=46</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nguyễn Ái Quốc - Người tạo dựng nền tảng phát triển của cách mạng Đông Dương</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=20</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass9B9857D3D9CD4171A73A8CDE69003A9D><p>
<table class=MsoNormalTable border=0 cellspacing=3 cellpadding=0 width=1 align=left style="width:0.75pt">
    <tbody>
        <tr style="">
            <td style="border-bottom:#ece9d8;border-left:#ece9d8;padding-bottom:1.5pt;background-color:transparent;padding-left:1.5pt;padding-right:1.5pt;border-top:#ece9d8;border-right:#ece9d8;padding-top:1.5pt">
            <p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><img width=250 height=192 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-6/NAQ762011_84211.jpg"></span></p>
            <p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (8-2-1966). Ảnh tư liệu</span></p>
            </td>
        </tr>
    </tbody>
</table>
</p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau nhiều năm nghiên cứu lý luận cách mạng và khảo sát đời sống chính trị, xã hội tại nhiều nước đế quốc và thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc không dừng lại ở con đường cách mạng tư sản và vẫn vươn tới khám phá chân lý cách mạng soi sáng con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa, giải phóng dân tộc Việt Nam và hai nước Lào, Campuchia. Tháng 7 năm 1920, khát vọng đó của Người được đáp ứng, khi Người phát hiện ở bản <i style="">Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin cái cẩm nang về giải phóng dân tộc thuộc địa</i>.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Điều quan trọng nhất trong nhận thức của Nguyễn Ái Quốc đối với chủ nghĩa Mác-Lênin được thể hiện nhất quán trong cuộc đời và hoạt động cách mạng của Người, là lập trường của giai cấp vô sản về giải phóng dân tộc thuộc địa, giải phóng các gaii cấp bị áp bức, giải phóng con người; quan điểm cách mạng triệt để “cách mạng rồi phải gioa quềyn cho dânc húng số nhiều”; phương pháp biện chứng duy vật; xử lý mối quan hệ anh em, đồng chí, đồng bào có lý, có tình. Người vận động những điều đó vào điều kiện cụ thể của các dân tộc bị áp bức để đưa ra những luận đi63m về cách mạng giải phóng thuộc địa, cách mạng Đông Dương và cách mạng Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Có thể thấy rõ những luận điểm của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng Đông Dương bao hàm những nội dung cốt yếu sau đây:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">1- Con đường giải phóng nhân dân Đông Dương là con đường cách mạng vô sản </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước hết, Nguyễn Ái Quốc vạch trần tội ác không thể dung tha do đế quốc Pháp gây ra cho nhân dân Đông Dương, từ chinh phục bằng lưỡi lê, đến áp bức, bóc lột tàn bạo. Người Đông Dương bị đầu độc bằng rượu cồn và thuốc phiện; bị giam hãm trong vòng ngu tối, cứ 10 trường học thì có 1000 đại lý thuốc phiện chính thức. Nhà tù của chính quyền thuộc địa chật ních người bản xứ bị giam giữ. Ở Đông Dương hoàn toàn không có tự do tư tưởng đúng như nhận xét của Nguyễn Ái Quốc: “Bất kỳ người bản xứ nào có tư tưởng xã hội chủ nghĩa đều bị bắt và đôi khi bị giết mà không cần xét xử”<a name="_ftnref2"></a><sup>1</sup>.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đáp ứng nguyện vọng thiết tha nhất của nhân dân Đông Dương là trút bỏ gông cùm nô lệ của tư bản Pháp, Nguyễn Ái Quốc đưa ra luận điểm quan trọng nhất về giải phóng Đông Dương là con đường cách mạng vô sản. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ năm 1921, trong bài “Đông Dương” đăng trên <i style="">La Revue Communiste (Tạp chí Cộng sản)</i> số 15, Nguyễn Ái Quốc dựa trên cứ liệu lịch sử để khẳng định rằng, chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á hơn là châu Âu. Người cho rằng, người Đông Dương đều bị thực dận Pháp đầu độc nhưng không thể làm cho tư tưởng cách mạng của họ bị tê liệt. Làn gió cách mạng thổi từ nước Nga Xô viết, từ Trung Quốc cách mạng, từ Ấn Độ chiến đấu đang thức tỉnh họ. Trên diễn đàn Đại hội Đảng Xã hội Pháp cuối tháng 12-1920 và các tổ chức của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đề nghị Đảng Xã hội phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội tại các thuộc địa của tư bản Pháp và đề xuất những hoạt động cần phải tiến hành tại địa bàn này, trong đó có Đông Dương và cử người tới Đông Dương nghiên cứu tình hình vì: “Nói rằng Đông Dương gồm hai mươi triệu người bị bóc lột, hiện nay đã chín muồi cho một cuộc cách mạng là sai, nhưng nói rằng Đông Dương không muốn cách mạng và bằng lòng với chế độ bây giờ như những ông chủ của chúng ta thường vẫn nghĩ như thế, thì lại càng sai hơn nữa”<a name="_ftnref3"></a><sup>2</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sự thật là người Đông Dương lúc bấy giờ chưa có những điều kiện cần thiết để hiểu biết lý luận, lại bị đầu độc, bị giam hãm trong tình trạng lạc hậu, cộng với sự đàn áp khốc liệt của chế độ thuộc địa. Nhưng Nguyễn Ái Quốc đã thấy rõ <i style="">sức sống mãnh liệt của người Đông Dương.</i> Từ đó, Nguyễn Ái Quốc đề nghị Quốc tế Cộng sản tăng cường giúp đỡ cách mạng Đông Dương về đào tạo cán bộ, xây dựng tổ chức cách mạng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">2- Cách mạng cần phải giảng giải lý luận cho dân hiểu để dân đoàn kết và đấu tranh</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ một nhà yêu nước, giác ngộ lý tưởng cách mạng của giai cấp vố sản, tại nước Pháp những năm đầu thập kỷ 1920, Nguyễn Ái Quốc đã ra sức tuyên truyền để nhân dân Pháp hiểu rõ bản chất xấu xa của chế độ thuộc địa mà ủng hộ sự nghiệp giải phóng dân tộc bị áp bức; đồng thời Người tham gia sáng lập và phát hành báo Le Paria<a name="_ftnref4"></a><sup>3</sup> (<i style="">Người cùng khổ),</i> một công cụ tuyên truyền, giác ngộ nhân dân các nước thuộc địa Pháp. Đông Dương là một địa chỉ tiếp nhận và lưu hành tờ báo này.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1923, đánh giá kết quả hoạt động của Hội Liên hiệp thuộc địa và báo Người cùng khổ, Nguyễn Ái Quốc viết trong <i style="">Thư gửi các bạn cùng hoạt động:</i> “Công việc chung của chúng ta “Hội Liên hiệp thuộc địa” và báo Người cùng khổ đã có những kết quả tốt. Nó đã làm cho nước Pháp, nước Pháp chân chính hiểu rõ những việc xảy ra trong các thuộc địa. Làm cho nước Pháp hiểu rõ bọn cá mập thực dân đã lợi dụng tên tuổi và danh dự nước Pháp để gây nên những tội ác không thể tưởng tượng được. Nó đã thức tỉnh đồng bào chúng ta. Đồng thời nó cũng giúp cho đồng bào chúng ta nhận rõ nước Pháp, nước Pháp tự do bình đẳng và bác ái”<a name="_ftnref5"></a><sup>4</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước khi rời nước Pháp lên đường về nước, Người đặt câu hỏi cho các bạn cùng hoạt động và tự nêu câu trả lời cho riêng mình:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">“Chúng ta phải làm gì?</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chúng ta không thể đặt vấn đề ấy một cách máy móc</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, <i style="">đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”<sup>5</sup> </i>(chúng tôi nhấn mạnh - NBS)<a name="_ftnref6"></a> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ở thời điểm khởi nguồn cho chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng cách mạng Nguyễn Ái Quốc đi đến với nhân dân Đông Dương, cuốn sách Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc, xuất bản năm 1925 tại Paris, được chuyển tới nhiều thuộc địa Pháp, đã giữ vai trò quan trọng giác ngộ thanh niên, học sinh, sinh viên, trí thức, về tư tưởng cách mạng giải phóng thuộc địa theo con đường cách mạng vô sản, bắt đầu từ đấu tranh kết liễu chế độ thực dân tàn bạo để mở hướng xây dựng một xã hội mới theo gương cách mạng Tháng Mười Nga.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc cho người đọc nhận thức rõ bản chất xấu xa của chế độ thực dân do tư bản Pháp tiến hành xâm lược và dựng lên tại các nước thuộc địa của nó. Dưới ngòi bút sắc sảo của tác giả, cảnh bắt lính, tước đoạt ruộng đất, tăng các loại thuế, mức thuế, đầu độc và ngu dân, tệ tham nhũng của bộ máy quan chức thuộc địa… bị phơi bày và kết án. Và điều quan trọng nữa là, Nguyễn Ái Quốc đưa ra luận điểm mới của mình về phương pháp đấu tranh thủ tiêu chế độ tư bản trên quy mô toàn thế giới bằng sự hợp lực giữa giai cấp vô sản ở chính quốc và giai cấp vô sản thuộc địa: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”<a name="_ftnref7"></a><sup>6</sup>. Hình tượng trên giúp người đọc thấu hiểu cách mạng thuộc địa là một bộ phận hữu cơ của cách mạng vô sản thế giới như Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”<a name="_ftnref8"></a><sup>7</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu, Trung Quốc, tháng 11 năm 1924. Đầu năm 1925, Người mở lớp huấn luyện cho những thanh niên Việt Nam yêu nước đang ham muốn tiếp nhận lý luận chính trị. Dựa trên cơ sở các bài giảng tại lớp huấn luyện, Nguyễn Ái Quốc viết tác phẩm <i style="">Đường cách mệnh</i><a name="_ftnref9"></a> nêu bật giá trị của lý luận cách mạng đối với sự thành công của cách mạng mà Lênin đã tổng kết: “Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động… chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, Đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong”<sup>8</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tác phẩm Đường cách mệnh rất xứng đáng là cuốn sách giáo khoa lý luận, chính trị và phương pháp hoạt động cách mạng; là tác phẩm giáo dục đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng, ý chí đấu tranh cho cán bộ và quần chúng nhân dân Việt Nam, Lào những địa bàn mà Nguyễn Ái Quốc đang dốc lòng, dốc sức gieo mầm cách mạng<a name="_ftnref10"></a><sup>9</sup>. Tác phẩm này còn giữ vai trò quan trọng trong tiến trình chuẩn bị về nhiều mặt cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và không lâu sau khi thành lập chuyển thành Đảng Cộng sản Đông Dương.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Giữa năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và sáng lập báo Thanh niên, cơ quan ngôn luận của tổ chức này. Người là cây bút quan trọng nhất của tờ báo. Đây là tờ báo cách mạng đầu tiên bằng chữ quốc ngữ, thực hiện chức năng giáo dục, tập hợp và thống nhất tư tưởng, hành động của các chiến sĩ cách mạng và trang bị kiến thức chính trị cho đội ngũ cán bộ vận động quần chúng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau những hoạt động trên, trong thời gian hoạt động tại Xiêm, Nguyễn Ái Quốc tới Bản Đông, Uđon, Noọng khai, Sacôn nơi cư trú của nhiều kiều bào Việt Nam, từ tháng 7-1928 đến tháng 10-1929 (tại Bản Đông, Người tự giới thiệu là Thọ, biệt hiệu là Nam Sơn, tại Uđon, Người lấy tên là Chín), Nguyễn Ái Quốc sinh sống và lao động chan hoà với kiều bào ta tại các địa bàn này. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong thời gian hoạt động tại Uđon, Nguyễn Ái Quốc dịch cuốn Nhân loại tiến hoá sử và Cộng sản ABC: Người sáng tác Bài ca Trần Hưng Đạo và vở kịch Hoàng Hoa Thám để giáo dục nâng cao lòng yêu nước của đồng bào Việt kiều. Đặc biệt, Người đã đến Noọng Khai gặp gỡ một số cán bộ hoạt động từ Viêng Chăn sang để nắm tình hình cách mạng Lào. Năm 1928, Người đã tới vùng Xiềng Vang thuộc lãnh thổ Lào để tuyên truyền trong kiều bào ta về chính trị, tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc…</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong hai năm 1928, 1929, Nguyễn Ái Quốc tự thể nghiệm phương pháp vận động quần chúng Việt kiều bằng cách đan xen, kết hợp nhiều hình thức hoạt động, vừa giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng nâng cao lòng yêu nước cho đồng bào vừa đào tạo cán bộ và củng cố, mở rộng tổ chức cách mạng, chỉ dẫn biện pháp thắt chặt quan hệ thân ái, đoàn kết với cư dân bản địa và nội bộ kiều bào. Đồng thời, bằng lối sống giản dị, gần gũi đồng bào, Người cũng nhận được sự tin yêu, kính trọng của họ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Kết quả dân vận của Nguyễn Ái Quốc tại Xiêm và Lào là nhân tố quan trọng tạo dựng <i style="">nền móng bền chắc của lực lượng hậu thuẫn cho cách mạng Việt Nam và Lào.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">3- Phải xây dựng đảng cách mạng</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng đã được Nguyễn Ái Quốc luận định sáng rõ trong tác phẩm <i style="">Đường cách mệnh</i> khi trả lời câu hỏi do Người nêu ra: “Cách mạng trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có Đảng cách mạng, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”<a name="_ftnref11"></a><sup>10</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 6-1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản như chủ đích mà Người gửi gắm ở tổ chức này: “Nó là quả trứng, mà từ đó nở ra con chim non cộng sản”. Tôn chỉ của Hội là: “phụ trách tổ chức và lãnh đạo cuộc cách mạng ở Việt Nam hết sức phấn đấu để thâu phục lấy đại bộ phận thợ thuyền, dân cày và binh lính, dẫn đạo cho quần chúng lao khổ bị áp bức ấy liên hiệp với vô sản giai cấp thế giới để một mặt đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, chế độ phong kiến và chủ nghĩa tư bản mà dựng ra chính quyền độc tài (tức chuyên chính - TG) của thợ thuyền, dân cày và binh lính; một mặt tham gia vào cuộc thế giới c.m (tức cách mạng - TG) san trừ (tức đánh đổ - NBS) tư bản chủ nghĩa cả thế giới đặng thực hiện chủ nghĩa cộng sản”<a name="_ftnref12"></a><i style=""><sup>11</sup></i>. Tổ chức và hoạt động của Hội phát triển rộng khắp toàn Đông Dương. Riêng tại Lào, từ năm 1928 tổ chức Hội đã được thành lập tại Viêng Chăn, Thà Khẹc, Phôn tịu, mỏ Thiếc, Xavănnakhệt, qua đó <i style="">Đường cách mệnh</i>, báo <i style="">Thanh niên</i> và nhiều tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc cũng được truyền bá tại Lào.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những hoạt động trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, đào tạo cán bộ xây dựng Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc tiến hành sâu rộng tác động trực tiếp tới sự chuyển biến của cách mạng Việt Nam và Lào, đưa tới sự ra đời của <i style="">Đông Dương Cộng sản Đảng </i>(tháng 6-1929), <i style="">An Nam Cộng sản Đảng </i>(tháng 11-1929), Đông Dương Cộng sản liên đoàn (cuối tháng 12-1929), xuất hiện một yêu cầu cấp bách là thành lập một Đảng Cộng sản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước tình hình đó, Nguyễn Ái Quốc chủ động tổ chức Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập <i style="">Đảng Cộng sản Việt Nam </i>tại Hồng Công, đầu năm 1930. Các văn kiện: <i style="">Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt </i>do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được Hội nghị thảo luận và nhất trí thông qua thể hiện rõ bản chất của Đảng là đảng vô sản kiểu mới, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, thực hiện cách mạng ruộng đất, xây dựng đất nước theo hướng đi lên chủ nghĩa cộng sản. Đảng chủ trương đoàn kết các giai cấp và tầng lớp yêu nước đoàn kết với các dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới. Nguyễn Ái Quốc đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc ở vị trí quan trọng nhất so với nhiệm vụ cách mạng ruộng đất và huy động sức mạnh cao nhất là lực lượng đại đoàn kết các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các đảng phái yêu nước để giành độc lập, tự do. Điều đó bắt nguồn từ tư tưởng Nguyễn Ái Quốc lấy tinh thần yêu nước chống đế quốc làm cơ sở xây dựng khối đoàn kết dân tộc, bao gồm công nông, tiểu tư sản trí thức, trung nông; và phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản “chia rõ mặt phản cách mạng” cùng các tổ chức đảng phái yêu nước. Mặt khác, điều này cũng là sự thể hiện quan điểm của Người đã viết trong cuốn Đường cách mệnh: “dân tộc cách mệnh thì chưa phân giai cấp, nghĩa là sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền”<a name="_ftnref13"></a><sup>12</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lời phát biểu của Hồ Chí Minh tại Đại hội II của Đảng, tháng 2-1951 đã nêu cao giá trị to lớn của sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam và góp phần thúc đẩy sự phát triển của cách mạng thế giới: “Tôi sung sướng vì tôi nhớ lại lúc Đảng Cộng sản Đông Dương (Đảng Cộng sản Việt Nam -NBS) thành lập. Thành lập như thế nào? Thành lập bí mật, Đảng ta lúc sinh ra cũng như một người con đẻ bí mật. Nó đẻ ở đâu? Trên một cái đồi tạm thời thuộc đế quốc. Nó đẻ ra ở đâu? Bên một sân bóng của đế quốc tư bản. Lúc đó chỉ có một nhóm nhỏ con con đồng chí. Số người tuy ít nhưng lòng kiên quyết rất to. Tuy số người con con nhưng đã tin tưởng Đảng sẽ giải phóng dân tộc và giúp vào cuộc giải phóng thế giới. Bây giờ chúng ta đang giải phóng dân tộc, đang giúp vào công cuộc bảo vệ hoà bình thế giới, cuộc giải phóng thế giới. Thế là cái mục đích, cái hy vọng nho nhỏ của một số ít đồng chí không những đã thành mục đích, hy vọng lớn của toàn dân tộc mà cũng là mục đích hy vọng lớn của đa số nhân dân thế giới. Thế là:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rằng bây giờ mới thấy đây</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Mà lòng đã chắc những ngày còn thơ<a name="_ftnref14"></a><sup>13</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đến tháng 10-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương, lãnh đạo cách mạng toàn Đông Dương.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">4- Cách mạng Đông Dương do nhân dân Đông Dương tự tiến hành, kết hợp với sự ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, nhân dân Đông Dương bị đầu độc và áp bức, bóc lột nặng nề dẫn tới tình trạng suy kiệt về thể chất, là điều dễ nhận biết. Nhưng có phải vì thế mà tiềm năng cách mạng của họ cũng bị vơi cạn? Giải đáp vấn đề đó, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Không! Người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi. Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương”<a name="_ftnref15"></a><sup>14</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến”<a name="_ftnref16"></a><sup>15</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người giải thích: “Đau khổ, nghèo đói và sự đàn áp tàn bạo là những người thầy duy nhất của họ”<a name="_ftnref17"></a><sup>16</sup>. Mặt khác, họ cũng chịu tác động tích cực của nhiều phong trào cách mạng trên thế giới như Cách mạng Tháng Mười Nga, cách mạng Trung Quốc và phong trào đấu tranh của nhân dân Ấn Độ. Nói như vậy không có nghĩa là vào thập niên 1920, cách mạng Đông Dương có thể bùng nổ và thu được thắng lợi là sai, nhưng nói rằng Đông Dương không muốn cách mạng và bằng lòng với chế độ bây giờ như các ông chủ của chúng ta thường vẫn nghĩ như thế, thì lại càng sai hơn nữa<a name="_ftnref18"></a><sup>17</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ý thức rõ sức mạnh của thế hệ thanh niên đối với sự thay đổi vận mệnh dân tộc và công tác giáo dục, thu hút họ vào con đường cách mạng, vượt qua sự đầu độc nặng nề của chủ nghĩa thực dân, Nguyễn Ái Quốc phải kêu gọi thống thiết thanh niên, nhằm giúp họ tự nhận rõ trách nhiệm đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp giải phóng Đông Dương khỏi hiểm hoạ diệt vong: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nêu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”<a name="_ftnref19"></a><sup>18</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hội Liên hiệp thuộc địa –</span></i><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> một trong những tổ chức mà Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập tại Pháp năm 1921 là để giúp nhân dân các nước thuộc địa, trong đó có Đông Dương, tiến hành sự nghiệp tự giải phóng. <i style="">Tuyên ngôn của Hội Liên hiệp thuộc địa </i>viết: “Vận dụng công thức của Các Mác<a name="_ftnref20"></a><sup>19</sup>, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hội Liên hiệp thuộc địa thành lập chính là để giúp đỡ anh em trong công cuộc ấy”<a name="_ftnref21"></a><sup>20</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nếu Hội Liên hiệp thuộc địa và tờ báo <i style="">Le Paria</i> của Hội đóng vai trò “thức tỉnh đồng bào chúng ta” như Nguyễn Ái Quốc đã viết, thì từ khi thành lập (năm 1925), Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và báo Thanh niên cũng thúc đẩy mạnh mẽ xu thế ấy phát triển lên trình độ mới: vừa giác ngộ người Đông Dương, vừa tổ chức họ thành lực lượng cách mạng ở khắp lãnh thổ xứ này, tạo điều kiện chín muồi cho sự thành lập chính đảng của giai cấp vô sản và phong trào cách mạng phát triển rầm rộ từ đầu năm 1930.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Vấn đề lý luận được Nguyễn Ái Quốc chú trọng làm sáng tỏ là quan hệ giữa con đường tự giải phóng và giá trị đoàn kết quốc tế. Người cho biết: “Miền Cận Đông và Viễn Đông, kể từ Xyri đến Triều Tiên - chỉ tính những nước thuộc địa và nửa thuộc địa thôi - có một diện tích rộng hơn 15 triệu km2, với số dân hơn 1.200 triệu người. Tất cả những nước rộng lớn ấy hiện đang ở dưới ách của chủ nghĩa đế quốc tư bản và mặc dầu dân số của họ đáng lẽ phải làm cho họ có sức mạnh, <i style="">các dân tộc bị áp bức đó vẫn chưa bao giờ ra sức tìm tòi thật đến nơi đến chốn con đường tự giải phóng, cho nên họ chưa hiểu được giá trị của sự đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế</i> (tác giả nhấn mạnh). Họ chưa có những mối liên hệ giữa các lục địa như các dân tộc châu Âu và châu Mỹ”<sup>21</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong thư gửi đồng chí Pêtơrốp, Tổng Thư ký ban phương Đông, Người còn nhấn mạnh nguyên nhân làm suy yếu sức mạnh đấu tranh của các nước phương Đông là tình trạng biệt lập. Người giải thích rõ thêm nguyên nhân và hậu quả của hiện tượng ấy: “Họ hoàn toàn không biết đến những việc xẩy ra ở các nước láng <a name=VNS0001>giềng</a> của họ, do đó họ THIẾU SỰ TIN CẬY LẪN NHAU, SỰ PHỐI HỢP HÀNH ĐỘNG VÀ SỰ CỔ VŨ LẪN NHAU”<sup>22</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nối tiếp hoạt động của Hội Liên hiệp thuộc địa (1921-1926), tháng 7-1925, Nguyễn Ái Quốc chủ động phối hợp với một số nhà cách mạng Trung Quốc thành lập <i style="">Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức</i>, một tổ chức quốc tế đoàn kết nhiều dân tộc thuộc địa, nửa thuộc địa như Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên, Inđônêxia. Tuyên ngôn của Đại hội thành lập Hội nêu rõ: “Con đường thoát duy nhất để xoá bỏ sự áp bức chỉ có thể là liên hiệp các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản toàn thế giới áp dụng những phương pháp cách mạng để lật đổ về căn bản chủ nghĩa tư bản đế quốc cực kỳ hung ác”<sup>23</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1927, Hội đã xuất bản cuốn Đường cách mệnh dùng làm tài liệu giáo dục, tuyên truyền cách mạng ở Đông Dương.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Với danh nghĩa là hội viên Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức, Nguyễn Ái Quốc đến gặp Uỷ ban bãi công Cảng Tỉnh (địa danh chỉ Hồng Kông và Quảng Châu) đề nghị tham gia Đội diễn thuyết. Người được Uỷ bản đồng ý mời đến một số cơ sở báo cáo về vấn đề <i style="">Quan hệ giữa công nhân Trung Quốc với các dân tộc bị áp bức và sự cần thiết phải liên hiệp lại đánh đổ đế quốc.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tại nhiều diễn đàn quốc tế, Người lên tiếng kêu gọi Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Cộng hội đỏ, Quốc tế Nông dân và các Đảng Cộng sản Anh, Pháp ủng hộ, giúp đỡ cách mạng Đông Dương.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đặt đúng tầm quan trọng <i style="">Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa</i> do Lênin trình bày tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản năm 1920, và yêu cầu của thực tiễn cách mạng giải phóng thuộc địa, tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản năm 1924, Nguyễn Ái Quốc kêu gọi: “Thưa các đồng chí, vì chúng ta tự coi mình là học trò của Lênin, cho nên chúng ta phải tập trung tất cả sức lực và nghị lực để thực hiện trên thực tế những lời di huấn quý báu của Lênin đối với chúng ta về vấn đề thuộc địa cũng như các vấn đề khác”<sup>24</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cũng ở tầm lý luận của vấn đề đoàn kết giữa cách mạng phương Tây và phong trào giải phóng thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc luận giải sáng rõ luận điểm của Lênin: “cách mạng ở phương Tây muốn thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với phong trào giải phóng, chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước bị nô dịch và vấn đề dân tộc... chỉ là một bộ phận của vấn đề chung về cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản”<sup>25</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ những quan điểm cách mạng đúng đắn trên, Người đưa ra những nhận định rất xác đáng về vị trí quan trọng nhất của vấn đề thuộc địa trong chính sách của Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Anh: “sẽ không phải là quá đáng nếu nói rằng chừng nào Đảng Pháp và Đảng Anh chúng ta chưa thi hành một chính sách thật tích cực trong vấn đề thuộc địa, thậm chí chưa đề cập đến quần chúng các nước thuộc địa, thì toàn bộ chương trình rộng lớn của hai đảng đó vẫn không có hiệu quả gì”<sup>26</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản, năm 1924, Người cho biết những thủ đoạn cướp đoạt ruộng đất kèm theo nhiều loại thuế đánh vào nông dân Việt Nam, một xứ thuộc địa lớn nhất tại Đông Dương, và các thuộc địa ở châu Phi, gây nên nạn bần cùng ngày càng gia tăng cùng nỗi phẫn uất cao độ và đương nhiên những phản ứng quyết liệt với chế độ thuộc địa đã diễn ra. Song họ đều bị đàn áp khốc liệt. Nguyên nhân của tình trạng đó là do nông dân “thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo”. Người đề nghị “Quốc tế Cộng sản cần phải giúp đỡ họ tổ chức lại, cần phải cung cấp cán bộ cho họ và chỉ cho họ con đường đi tới cách mạng và giải phóng”<sup>27</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc khái quát: Ở Đông Dương thực dân Pháp đã phục hồi chế độ nô lệ. Lúc bấy giờ, giai cấp vô sản Đông Dương chưa thể làm gì được để chống lại chế độ bóc lột đó, vì chưa xây dựng được tổ chức nào của họ. Nhưng Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra lối thoát: “với sự giúp đỡ của các tổ chức gần gũi của Quốc tế Công hội đỏ, chúng tôi quyết đập tan lực lượng của chủ nghĩa đế quốc châu Âu áp bức chúng tôi<a name="_ftnref29"></a>”<sup>28</sup> . Tiếp theo, Người kiến nghị giải pháp đưa tới kết quả của giai cấp vô sản Đông Dương: “các đồng chí chúng ta trong các tổ chức công nhân cách mạng Pháp phải tích cực giúp đỡ chúng tôi trong cuộc đấu tranh giải phóng của chúng tôi<a name="_ftnref30"></a>”<sup>29</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một kết quả hoạt động kịp thời của Nguyễn Ái Quốc là Tổng Công hội thống nhất (Pháp) cùng kiến nghị đưa vào Nghị quyết của Đại hội với những nhiệm vụ trước mắt: </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">“1- Tổ chức những người Đông Dương hiện làm việc ở Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">2- Tiến hành một chiến dịch mạnh mẽ vì quyền lợi công đoàn của người bản xứ song song với chiến dịch cho công chức.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">3- Cử những đại biểu thường trực (ít ra là 2) sang Đông Dương với sứ mệnh là tuyên truyền trong dân bản xứ và tổ chức họ<a name="_ftnref31"></a>”<sup>30</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trên đây là những luận điểm đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng Đông Dương được nêu ra trong khoảng thời gian 10 năm từ năm 1920 đến năm 1930, thể hiện kết quả nghiên cứu lý luận gắn kết chặt chẽ với hoạt động thực tiễn của Người. Đó là những nhân tố xác định hướng phát triển của cách mạng Đông Dương, hiện rõ phương pháp tư duy độc lập, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trên cơ sở vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><a name="_ftn1"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">1</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">,2,4,5,14,15,16,17,18,22,24,25,26,27,28,29. Hồ Chí Minh Toàn tập, CTQG, H, 1995, T.1, tr.22, 27, 191, 192, 118, 28, 28, 27 133, 236, 282, 277, 289, 292-293, 293.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><a name="_ftn4"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">3. </span></a><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Báo Le Paria: Cơ quan tuyên truyền của Hội Liên hiệp thuộc địa, do Nguyễn Ái Quốc làm chủ nhiệm kiêm chủ bút và quản lý, xuất bản từ tháng 4 năm 1922 đến tháng 4-1926, đình bản sau số 38.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><a name="_ftn5"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">6</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">, 7, 8, 10, 12, 20, 21. Hồ Chí Minh Toàn tập, CTQG, H, 2000, T.2, tr. 120, 124, 259, 267-268, 266, 128, 123</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">9. Nghị quyết chính trị của Đại biểu Đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 3-1935, cho biết, ở Lào, tác phẩm Đường cách mệnh được dùng làm tài liệu huấn luyện (xem Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, sđd, tập 5, tr. 20).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">11. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, sđd, tập 1, tr. 118.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">13. Biên bản Đại hội lần thứ II của Đảng, tr. 122. Lưu tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">19. Công thức này Mác viết trong Điều lệ của Hội Liên hiệp lao động quốc tế: “Sự nghiệp giải phóng của giai cấp công nhân phải là sự nghiệp của bản thân giai cấp công nhân”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">23. T. Lan, Vừa đi đường, vừa kể chuyện, Nxb Sự thật, H.1976, tr.27.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">30. Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, H.1993, tập 1, tr.199.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lịch sử Đảng. –2010. –Số 5. –Tr.13-20</span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 8:30 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trải qua nhiều con đường đấu tranh chống hoạ xâm lược và ách thống trị của thực dân Pháp từ cuối thế kỷ XIX đến 20 năm đầu thế kỷ XX, nhưng nhân dân Đông Dương chưa giành được độc lập, tự do và vẫn khát khao tìm đến một con đường mới để có thể đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc tới thành công. Nguyễn Ái Quốc là người đi tiên phong đảm đương sứ mệnh cao cả ấy.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 4.707</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 01:43:02 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=20</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Ba mùa xuân đáng nhớ trong cuộc đời cách mạng của Bác Hồ</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=11</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass8F75076B50ED4A4382B82DE038F660B5><p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">I. Xuân 1930: mùa xuân của Đảng</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Thái Lan thì được tin Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội đang bị tan rã. Người lập tức từ Thái Lan về Trung Quốc để chuẩn bị việc hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đến Thượng Hải, sau những buổi bàn luận kỹ càng, Người đã quyết định triệu tập Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng. Nhận được tin, các đoàn đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng lần lượt đến Hồng Kông vào những ngày giáp Tết. Hội nghị bắt đầu ngày mùng năm Tết Canh Ngọ (tức ngày 3/2/1930) khi không khí Tết ở Hồng Kông còn rộn ràng. Sau năm ngày thảo luận sôi nổi và khẩn trương. Hội nghị đã nhất trí tán thành hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị cũng đã nhất trí thông qua Chánh cương Sách lược, Chương trình và Điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo. Sự nhất trí cao và nhanh chóng của Hội nghị là nhờ vào vai trò lãnh đạo, hướng dẫn của Nguyễn Ái Quốc. Nhờ uy tín và công lao to lớn của Người, Đảng ta đã ra đời, đảm nhận sứ mệnh cao cả và thiêng liêng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Theo lời của T.Lan kể lại trong cuốn &quot;Vừa đi đường vừa kể chuyện&quot;, để mừng Đảng ra đời và mừng Xuân, Người đã đãi những người dự họp một bữa cơm Tết Nguyên đán trong không khí đầm ấm đầy tình đồng chí, đồng bào.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">II. Xuân 1993: Xuân Hương Cảng thoát khỏi tù ngục</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 6/1931, Nguyễn Ái Quốc lúc đó lấy tên là Tống Văn Sơ, bị cảnh sát Anh bắt tại số nhà 186 phố Tam Lung (Cửu Long) và giam ở nhà tù của thực dân Anh ở Hồng Kông. Được tin Nguyễn Ái Quốc bị bắt, thực dân Pháp ở Việt Nam rất vui mừng. Chúng phái cả bầy mật thám sang chầu chực ở Hồng Kông, tìm mọi cách vận động chính phủ, tòa án và cảnh sát Anh trao Nguyễn Ái Quốc cho chúng. Chúng đưa tàu thủy chực sẵn ở Hồng Kông, nếu tòa án Anh ký lệnh “trục xuất&quot; là chúng bắt ngay Nguyễn Ái Quốc và đưa về Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhưng thực dân Pháp đã thất bại, Nguyễn Ái Quốc đã được Lô-dơ-bai, một luật sư người Anh có thiện tâm, tìm mọi cách giúp đỡ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Giữa những ngày đầu xuân Quý Dậu, Nguyễn Ái Quốc đã thoát khỏi nhà tù của thực dân Anh. Đây là niềm vui, sự may mắn rất lớn cho cách mạng Việt Nam. Chúng ta biết rằng, tháng 11/1929, thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn đã xử Nguyễn Ái Quốc vắng mặt với mức án tử hình. Chúng chỉ chờ bắt được Người là thi hành án. Thực dân Pháp cũng đã treo giải thưởng 75 ngàn đồng tiền Đông Dương (một số tiền rất lớn hồi đó) cho ai bắt được Người (khi đó 1 tạ gạo chỉ 3 đồng).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thoát cảnh tù ngục, nhận lời mời của đồng chí và bầu bạn. Người đã lưu lại Hạ Môn (Trung Quốc) nhiều tháng, vừa tìm cách bắt liên lạc với tổ chức, vừa tránh sự theo dõi của mật thám. Sau đó Người đi Thượng Hải.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Vào một ngày đầu xuân năm 1934, Người lên một chiếc tàu hàng Xô viết ở Thượng Hải để đi Liên Xô. Sau khi tới cảng Vla-đi-vô-xtôc (Liên Xô), Người đến Mat-xcơ-va. Tại đây, Người đã gặp lại đông đảo đồng chí, bạn bè thân thiết, trong niềm vui lớn mà sau này được T.Lan diễn đạt lại bằng hai câu thơ:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ba năm lưu lạc lênh đênh</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nay đã trở lại trong đại gia đình công nông.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">III. Xuân 1941: Tổ quốc vào Xuân</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lúc Còn ở Quế Lâm (1940), Nguyễn Ái Quốc đã nhận định rằng thời cơ về nước đã tới. Đến cuối năm đó, Người cùng một số cán bộ Việt Nam rời Quế Lâm, đến Nam Ninh rồi đến Tỉnh Tây. Tại đây, Người đã cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên... mở lớp huấn luyện cán bộ trước khi về nước. Bốn mươi ba cán bộ cách mạng Việt Nam đã theo học lớp này tại làng Nậm Quang (Tỉnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc). Ngày 29 tháng Chạp năm Canh Thìn (tức ngày 26/1/1941), lớp học làm lễ bế mạc dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, trong khu rừng vắng vẻ rìa làng Nậm Quang. Hôm sau, ngày mùng Một Tết Tân Tỵ, Nguyễn Ái Quốc cùng với anh em cán bộ đi chúc tết bà con dân làng Nậm Quang. Người mặc bộ quần áo Nùng màu chàm, quần xắn cao, đầu vấn khăn, tay chống gậy. Người đi thăm hỏi từng gia đình, nói chuyện với người già bằng tiếng dân tộc. Theo phong tục người Nùng ở đây, Người tặng mỗi nhà một tờ giấy hồng điều, trên đó Người viết dòng chữ Hán “Cung chúc tân niên&quot; (Chúc mừng năm mới).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày mùng Hai tháng Giêng âm lịch, giữa lúc nhân dân Nậm Quang và khắp nơi đang vui vẻ ăn Tết thì Người rời Nậm Quang trở về nước, với sự tháp tùng của các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên và một số đồng chí khác.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau đó ít ngày, Người đến ở hang Pắc Bó, với bí danh già Thu. Cũng trong mùa xuân này, Người đã sáng tác bài thơ mô tả cảnh Pắc Bó hùng vĩ:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Non xa xa, nước xa xa,</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nào phải thênh thang mới gọi là...</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đây suối Lê-nin, kia núi Mác,</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hai tay xây dựng một sơn hà.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cũng tại đây, Người tiếp tục dịch cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Nga ra tiếng Việt để làm tài liệu huấn luyện đảng viên.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 5/1941, Người chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Hội nghị đã xác định rõ nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết của cách mạng Đông Dương. Hội nghị đã quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất. Từ đó, cách mạng Việt Nam chuyển hẳn sang một thời kỳ mới. Hơn 4 năm sau, Cách mạng Tháng Tám thành công. Tổng khởi nghĩa thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời .</span></p>
<p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cũng chính từ đó, Tổ quốc ta bước vào một mùa Xuân mới - Xuân của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - từ sức xuân truyền thống của mình.</span></p>
<p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sưu tầm tài liệu và biên soạn theo “Chuyện xưa góp nhặt” của Nguyễn Trọng Thu – cán bộ tiền khởi nghĩa / Đoàn Minh Tuấn // Du lịch. – 2011. –Số Xuân Tân Mão. – Tr. 5</span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/06/2011 3:45 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Bác Hồ đã nhiều năm bôn ba ở nước ngoài để tìm đường cứu nước và đã từng đón Xuân ở nhiều nước, trong đó có ba mùa xuân thật đáng nhớ, đánh dấu những mốc quan trọng trên hành trình tìm đường cứu nước của Người và của cách mạng nước ta.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.221</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Mon, 06 Jun 2011 08:48:01 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=11</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nguyễn Ái Quốc với tổ chức Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp (1917-1923)</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=24</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassCAF3E98FCF9D4E43BE1E41E54D4DF952><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những tài liệu có nhiều ý kiến khác nhau đó là: Sách <i style="">Kiều bào và quê hương</i> của Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài (Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2006, tr.300), viết<span style="">  </span>tháng 1-1919 hội đoàn ra đời lấy tên là <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước,</i> do Nguyễn Ái Quốc và một số người cùng chí hướng thành lập. <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước</i> là hội tiền thân của <i style="">Hội người Việt Nam tại Pháp</i> ngày nay. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sách Hồ Chí Minh một cuộc đời</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> của William J. Duiker, (Hyperion New York 2000, tr.37-38) viết “Mùa hè năm 1919, được hai đồng sự lớn tuổi đồng ý, Thành đã thành lập một tổ chức mới của nhũng người Việt Nam sống tại Pháp - Hội những người yêu nước An Nam... Ông Trinh và Phan Văn Trường trong danh sách là những người lãnh đạo của tổ chức, nhưng Thành với tư cách là thư ký”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sách <i style="">Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch</i> của Trần Dân Tiên (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.31-32) viết: Ông Nguyễn tổ chức <i style="">Nhóm người Việt Nam yêu nước</i> vào lúc chiến tranh chấm dứt; Những đoàn đại biểu các nước thắng trận và các nước bại trận đến Véc xây họp Hội nghị hoà bình. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sách <i style="">Nguyễn Ái Quốc tại Pari 1917- 1923</i> của Thu Trang (Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1989) đưa ra Báo cáo của mật thám Pháp gửi Bộ Thuộc địa, ngày 30-1-1920 có đoạn như sau “Theo sự điều tra về những hành vi của nhiều người An Nam, phản ứng của họ về <i style="">Bản yêu cầu</i> của người Đông Dương, thì kết quả cho biết linh hồn của những người này chính là Nguyễn Ái Quốc. Ông này tự nói là Tổng thư ký của <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước</i>, và đồng thời cũng là thư ký của <i style="">Nhóm những người cách mạng An Nam</i>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Vấn đề đặt ra là: </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tổ chức hội của những người Việt Nam yêu nước ở Pháp thành lập vào tháng 1-1919 hay mùa Hè năm 1919? </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc đã tái lập <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i> hay thành lập <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước</i>? </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">1. Cộng đồng người Việt Nam tại Pháp đầu thế kỷ XX </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những nắm đầu thế kỷ XX, một số người Việt Nam xuất dương sang sống và làm việc tại nước Pháp. Họ thuộc các thành phần thuỷ thủ, tiểu thương, thợ thủ công, giúp việc trong gia đình người Pháp, sinh viên và một số trí thức... Họ sống rải rác nhiều nơi trên đất Pháp, số lượng khoảng vài trăm người, đông nhất là ở các hải cảng Marseille, Le Havre, Bordeaux hoặc những nơi có trường học như Paris, Montpellier, Toulouse,... Phần đông trong số họ có tinh thần yêu nước, nhưng vẫn chưa có sự liên hệ với nhau, chưa tập hợp thành một hội đoàn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đến đầu năm 1912, nhờ uy tín của nhà yêu nước Phan Châu Trinh, <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i><sup>1</sup><i style=""> </i>được thành lập do ông Phan Văn Trường làm Hội trưởng<sup>2</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những hoạt động của <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i> đã tác động mạnh tới cả trong nước. Vì thế, năm 1913, <i style="">Việt Nam Quang phục hội</i> đã phái người sang Pari đưa thư cho ông Phan Châu Trinh để liên kết hoạt động. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chính quyền Pháp lo ngại những hoạt động của Hội người An Nam yêu nước và đã tìm cách ngăn cản những hoạt động của Hội. Họ vu cho hai ông Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh có quan hệ với Đức “âm mưu chính trị chống nước Pháp”. Tháng 9-1914, Chính phủ Pháp đã bắt giam cả hai ông và cấm Hội người An Nam yêu nước hoạt động. Sự kiện Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường bị bắt giam đã làm cho nhiều người Pháp tiến bộ phản đối. Hội nhân quyền và nhiều chính khách thuộc Đảng Xã hội Pháp đã can thiệp. Vì thế gần một năm sau, tháng 7-1915, chính quyền Pháp buộc phải trả lại tự do cho hai ông. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau khi được trả tự do, để tránh nhà cầm quyền Pháp kiếm cớ bắt giam trở lại, hai ông đã tránh hoạt động công khai. Vì thế <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i> vẫn chưa hoạt động trở lại. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp tham gia chiến tranh. Để làm bia đỡ đạn cho “nước mẹ”, hàng vạn người dân thuộc địa trong đó có nhân dân Đông Dương bị chính quyền thực dân bắt đưa sang Pháp. Hàng ngàn người đã phải ra trận và bỏ xác trên chiến trường. Hàng vạn người đã phải vào làm việc cực nhọc trong các nhà máy quốc phòng và các công việc khác phục vụ tiền tuyến. Đến năm 1917, người Việt Nam ở Pháp tăng lên với số lượng khoảng chín vạn người<sup>3</sup>. Cuộc đấu tranh cho vấn đề độc lập dân tộc, trước hết là bảo vệ quyền lợi của người Việt Nam ngay trên đất Pháp được đặt ra ngày càng cấp thiết. Tuy vậy, Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường vẫn chưa công khai lãnh đạo <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i> hoạt động trở lại. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">2. Nguyễn Ái Quốc với tổ chức hội của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp những năm 1917-1923</span></b><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành lấy tên là Văn Ba, làm phụ bếp trên tàu L’Amiral Latouche-Treville của hãng Chargeurs<span style="">  </span>Reunis, đã tạm biệt Tổ quốc để ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Ngày 6-7-1911, tàu cập bến Mác xây- Pháp. Nguyễn Tất Thành lúc này chưa quen biết người Việt Nam nào sống trên đất Pháp, ngoài nhà yêu nước Phan Châu Trinh, người bạn đồng khoa với cụ thân sinh ra anh. Đầu năm 1911, Phan Châu Trinh sang Pháp cư trú. Việc Phan Châu Trinh đi Pháp thì anh Thành đã nghe tin, nhưng anh Thành đi Pháp thì cụ Phan không biết<sup>4</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Tất Thành đã không dừng lại ở Pháp. Khoảng cuối năm 1912, anh sang Mỹ, đầu năm 1914 sang nước Anh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngay khi đến nước Pháp, Nguyễn Tất Thành đã có liên hệ với nhà yêu nước Phan Châu Trinh. Trong thời gian sống và làm việc ở nước Mỹ và ở nước Anh, Nguyễn Tất Thành vẫn thường xuyên liên hệ với nhà yêu nước Phan Châu Trinh qua thư từ. Nhờ đó, anh biết Luật sư Phan Văn Trường. Ngược lại Luật sư Phan Văn Trường và nhà yêu nước Phan Châu Trinh cũng biết đến Nguyễn Tất Thành là một người yêu nước “hăng say”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những năm tháng sống ở nước Anh, Nguyễn Tất Thành đã tích luỹ thêm những hiểu biết về chế độ chính trị của xã hội tư sản về đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa chính quốc và thuộc địa, nhất là trang bị cho mình vốn tiếng Anh vững vàng. Nhưng ở nước Anh, Nguyễn Tất Thành vẫn bị cách biệt với tình hình trong nước; không liên hệ được với đồng bào mình ở nơi đất khách quê người; xa những nhà yêu nước lưu vong; khó khăn trong việc đi sâu tìm hiểu kẻ thù trực tiếp áp bức, bóc lột dân tộc mình để có thể chọn lựa con đường cứu nước đúng đắn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhận thấy nước Pháp là nơi có những điều kiện khách quan thuận lợi có thể đáp ứng cho những hoạt động của mình. Khoảng cuối năm 1917<sup>5</sup>, Nguyễn Tất Thành trở lại nước Pháp để có điều kiện trực tiếp hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thời gian đầu đến Pari, khi chưa có giấy tờ hợp pháp, Nguyễn Tất Thành đã được các đồng chí trong Ban đón tiếp những người lao động nhập cư của Đảng Xã hội Pháp giúp đỡ. Trong khi chờ các đồng chí tìm cho giấy tờ quân dịch hợp pháp, anh đã phải sống ẩn náu, hạn chế đi lại để tránh sự kiểm tra của cảnh sát. Cuộc sống của anh lúc đó gặp rất nhiều khó khăn, vừa hoạt động chính trị vừa phải kiếm sống một cách chật vật, khi thì làm thuê cho một hiệu ảnh, khi thì vẽ thuê cho một xưởng đồ cổ mỹ nghệ Trung Hoa... Nhưng Nguyễn Tất Thành vẫn kiên trì, hăng say học tập và hoạt động; thường xuyên gặp gỡ với những người Việt Nam ở Pháp có tư tưởng tiến bộ như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Phan Châu Trinh lúc này đã được Chính phủ Pháp trả tự do nhưng Bộ Thuộc địa Pháp cắt khoản trợ cấp Cụ phải kiếm sống bằng nghề thợ ảnh do ông Nguyễn Đình Khánh (tức Khánh Ký) truyền dạy. Nguyễn Tất Thành khi mới đến Pari, đã nhận được sự giúp đỡ của cụ Phan và được cụ Phan dạy lại cho nghề thợ ảnh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ông Phan Văn Trương khi ra tù sức khoẻ bị giảm sút, nhưng chính quyền Pháp vẫn bắt phải tại ngũ và được chuyển sang làm phiên dịch tiếng Việt ở xưởng đóng tàu của quân đội Pháp tại Tuludơ. Đến tháng 4-1919, ông mới được xuất ngũ. Trở lại Pari, ông thuê ngôi nhà số 6, Vila đờ Gôbơlanh ở Quận 13 Pari và mời Phan Châu Trinh cùng Nguyễn Tất Thành về ở cùng. Nơi đây trở thành điểm hội tụ của nhiều người Việt Nam yêu nước sinh sống trên đất Pháp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Khi được hỏi về lý do gia nhập Đảng, Anh trả lời: vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, đầu năm 1919, đại biểu chính phủ các nước tham gia chiến tranh đến Véc xây - Pháp họp hội nghị hoà bình. Thực chất hội nghị này là nơi chia phần giữa các nước đế quốc thắng trận và trút hậu quả chiến tranh lên đầu nhân dân các nước thua trận và các dân tộc bị áp bức. Văn kiện chính của hội nghị là Hiệp ước Vécxây xác định sự thất bại của nước Đức và các nước đồng minh của Đức, phân chia lại bản đồ thế giới theo hướng có lợi cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những người yêu nước Triều Tiên, Ai Cập, Trung Quốc và 57 đại biểu đại diện cho chủng tộc da đen sống ở các thuộc địa của Mỹ, Anh, Pháp và quần đảo Ăng ti đưa yêu sách của mình đến Hội nghị và mong được xem xét, giải quyết. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhận thấy đây là một dịp thuận lợi cho việc vận động dư luận thế giới và nhân dân Pháp ủng hộ nền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam, Nguyễn Tất Thành đã đề nghị Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường cùng đứng ra thành lập một hội đoàn của người Việt Nam để đưa nhũng yêu sách của nhân dân Việt Nam đến Hội nghị Véc xây. Nhưng hai ông cho rằng đó là một việc làm không có kết quả nên đã không tán thành. Vì thế <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i> không được tái lập. Đứng trước hoàn cảnh đó, Nguyễn Tất Thành đã cùng với một số người yêu nước trẻ tuổi đứng ra thành lập <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước. </i>Chủ trương của <i style="">Nhóm người An Nm yêu nước</i> là vận động đồng bào đoàn kết chống chế độ áp bức thực dân Pháp, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân Pháp và nhân dân các nước, đòi độc lập tự do và thống nhất đất nước. Trong danh sách những người lãnh đạo hội, Nguyễn Tất Thành làm thư ký<sup>6</sup> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Tất Thành đã thuyết phục hai nhà yêu nước Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường dù hai ông không tán thành nhưng vẫn cùng với Nguyễn Tất Thành thảo ra bản Yêu sách tám điểm của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Vécxây<sup>7</sup>. Dưới bản yêu sách, Nguyễn Tất thành ký tên Nguyễn Ái Quốc. Đây là lần đầu tiên tên gọi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện. Nguyễn Tất Thành gửi bản Yêu sách tới Hội nghị. Yêu sách còn được Nguyễn Tất Thành bỏ tiền ra thuê in 6.000 tờ dưới dạng truyền đơn bằng tiếng Pháp, với ba khuôn in khác nhau. Hai khuôn in cùng mang một đầu đề <i style="">Những yêu sách của nhân dân An Nam</i>, dưới viết “Thay mặt Nhóm người yêu nước An Nam: Nguyễn Ái Quốc”. Một khuôn in mang đầu đề <i style="">Quyền của dân tộc An Nam</i>, dưới viết: Thay mặt nhân dân An Nam: Nguyễn Ái Quốc”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau khi bản Yêu sách bằng tiếng Pháp được in trên báo ngày 18-6-1919, Nguyễn Tất Thành còn tự tay viết Yêu sách bằng hai thứ tiếng một bản bằng chữ quốc ngữ theo thể văn vần, nhan đề <i style="">Việt Nam yêu cầu ca</i> và một bản chữ Hán nhan đề <i style="">An Nam nhân dân</i> <i style="">thỉnh nguyện thư,</i> chụp in thành truyền đơn. Nguyễn Tất Thành đã cùng với một số kiều bào trong Nhóm người An Nam yêu nước đem phân phát trong các cuộc hội họp, mít tinh, các buổi sinh hoạt câu lạc bộ. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tuy Yêu sách đưa đến Hội nghị Véc xây không được hồi âm, nhưng đã tác động mạnh mẽ đến người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài. Thực dân Pháp vừa lo sợ vừa cho theo dõi những người trong ngôi nhà số 6 Villa đờ Gôbơlanh, vừa điều tra xem Nguyễn Ái Quốc đích thực là ai. Những phản ứng của chính quyền thuộc địa ở Đông Dương đối với bản Yêu sách và việc tìm kiếm lai lịch Nguyễn Ái Quốc làm tăng thêm sự chú ý của dư luận trong nước đối với bản Yêu sách, và làm tăng thêm lòng kính trọng, tin tưởng của nhân dân Việt Nam đối với Nguyễn Ái Quốc. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong một lần đến theo dõi buổi nói chuyện ở Hội trường Hooctiquyntơ tại Pari, viên mật thám Pháp Pôn Ácnu chuyên theo dõi người Việt Nam sống ở Pari, tận mắt chứng kiến Nguyễn Tất Thành đang phân phát truyền đơn in bản Yêu sách cho những người có mặt, đã phải thốt lên dự cảm: Con người thanh niên mảnh khảnh và đầy sức sống này có thể là người sẽ đặt chữ thập cáo chung lên nền thống trị của chúng ta ở Đông Dương. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ thực tế hành động và đấu tranh của Nguyễn Ái Quốc, các nhân viên mật thám Pháp đã nhận định anh thực sự là linh hồn của <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước tại Pháp</i>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Kế thừa <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước</i> là <i style="">Hội người Việt Nam tại Pháp </i>(đến năm 1955 là <i style="">Hội Liên hiệp Việt kiều tại Pháp</i>) với đường lối rõ ràng chống thực dân, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các đoàn thể, nhân dân Pháp và thế giới, đoàn kết với tất cả đồng bào yêu nước, cả những người có những bước đi khác nhau nhưng cùng mục đích hướng về Tổ quốc Việt Nam, gắn bó vơi đồng bào trong nước. Thực tế quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, qua hai cuộc kháng chiến chống xâm lược và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay ra chứng ninh sự đóng góp sức người, sức của của Việt kiều yêu nước ở Pháp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">1. Theo tư liệu của Hội người Việt Nam tại Pháp </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">2. Những sáng lập viên của <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i> là các ông Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Đình Khánh (tức Khánh Ký) </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">3 . Theo sách <i style="">Nguyễn Ái Quốc tại Pari 1917- 1923 </i>của Thu Trang, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1989 có đưa ra một báo cáo tổng quát về sự kiểm tra số lính khố đỏ và thợ người Đông Dương tại Pháp, ký tên Guesde, đã viết: “Vào tháng 11 năm 1917, khi tôi nhận chức Giám đốc Tổng thanh tra toàn Đông Dương thì có 45.000 người, và số thợ cũng tương đương, tổng số gần 90.000 người. Con số này không chênh lệch gì mấy, so với lúc ký hiệp ước đình chiến vào 1 tháng 11 năm 1918”</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">4. Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài: <i style="">Kiều bào và quê hương</i>, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2006, viết: “Là người yêu nước nhiệt tình, anh đến Pari bắt liên lạc ngay với Hội người An Nam yêu nước và giữ quan hệ tốt với các ông Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường”</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sách Hồ Chí Minh của William J. Duiker, Hyperion New York 2000, còn viết: “Thành 1 đã tới Pari gặp Phan Châu Trinh. Cha của Thành đã đưa cho Thành thư giới thiệu gửi<span style="">  </span>người bạn cùng đỗ phó bảng trước khi Thành rời Việt Nam” </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">5. Về thời gian Nguyễn Tất Thành từ nước Anh trở lại nước Pháp có nhiều ý kiến khác nhau, song số đông các nhà nghiên cứu cho rằng Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp vào khoảng cuối năm 1917 </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">6. Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài: <i style="">Kiều bào và quê hương</i>, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2006 </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">7. Theo Trần Dân Tiên “Ý kiến đưa ra yêu cầu do ông Nguyễn đề ra nhưng lại do luật sư Phan Văn Trường viết, vì lúc bấy bấy giờ ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp”. <i style="">Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch</i>, ST, H, 1975, tr.29.</span></p>
<p>Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lịch sử Đảng. -2009. –Số 7. –Tr.38-43.</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 9:00 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Qua những tài liệu mà chúng tôi có được, cho đến nay, vẫn còn có một số ý trên khác nhau về thời điểm thành lập và tên gọi của tổ chức Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Các ý kiến dù khác nhau nhưng đều rất nhất trí rằng, việc tái lập hay thành lập một tổ chức của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gắn liền với những hoạt động yêu nước của Nguyễn Ái Quốc ở Pháp từ năm 1917  đến năm 1923. Trong bài viết này, chúng tôi muốn tiếp tục góp bàn về vấn đề đó.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.311</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 02:01:13 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=24</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Người lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt thác ghềnh</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=43</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass4F8E07FBC2394DCFB6152D6A98FE2CA6><p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.95pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Đây lại là một ngày vui lớn nữa đang đến với Bác, đang đến với cách mạng Việt Nam.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.95pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Mới đêm nào còn ngồi bên chiếc giường tre, trong căn lán nhỏ, những ngày Bác mệt nặng tại Tân Trào. Vào những giây phút đó mới thấy hết được tấm lòng khát khao cháy bỏng của Bác đối với nền độc lập tự do của dân tộc. Không phải chỉ ở những lời Bác dặn dò về công tác cán bộ, cách giữ vững phong trào, &quot;dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập, tự do”. Tấm lòng của Bác còn hiện lên rất rõ qua mỗi cử chỉ nhỏ, qua cái nhìn khi Bác chợt tỉnh giữa những cơn sốt, qua sự đấu tranh với bệnh tật hiểm nghèo để giành từng phút, từng giây cho cách mạng.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.95pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Theo lời hiệu triệu của Đảng, của Bác, suốt mấy ngày nay, cả dân tộc ta từ Bắc chí Nam đã vùng dậy với một sức mạnh như triều dâng, thác đổ. Tại Hà Nội, quần chúng cách mạng đã vượt qua hàng rào sắt để xông vào chiếm Bắc Bộ phủ. Đồng bào già, trẻ, gái, trai, lớn, bé đã siết thành đội ngũ, giương cờ Việt Minh, tiến vào trước họng đại bác xe tăng Nhật ở trại bảo an binh. Xe tăng, súng máy và lưỡi lê của quân Nhật phải lùi. Bọn Nhật đành phải trao cho cách mạng toàn bộ kho vũ khí của bảo an binh đóng tại đây. Tin khởi nghĩa thắng lợi ở khắp các địa phương đang dồn dập bay về .<i>..</i></span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chúng tôi vào làng Gạ.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Bác ở một ngôi nhà gạch nhỏ nhưng sạch sẽ. Chúng tôi bước vào, nhìn thấy ngay Bác đang ngồi nói chuyện với cụ chủ nhà.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 1.9pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ngày nào ở Việt Bắc, Bác còn là ông ké Nùng. Bữa nay, Bác đã trở thành một cụ nông dân miền xuôi, rất thoải mái, tự nhiên trong bộ quần áo nâu. Bác vẫn gầy nên đôi gò má cao. Những đường gân hằn rõ trên trán và hai thái dương. Nhưng với vầng trán rộng, bộ râu đen, và đôi mắt, nhất là đôi mắt, luôn luôn ngời sáng, một sức mạnh tinh thần kỳ lạ toát ra từ hình dáng mảnh dẻ của Bác. Dù sao, so với những ngày dự hội nghị ở Tân Trào, Bác đã khá hơn nhiều.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 1.9pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cụ chủ nhà thấy chúng tôi tới, giữ ý, mời thế nào cũng không ngồi lại, nói vài câu chào rồi lánh đi chỗ khác. Bác tươi cười nhìn chúng tôi, nói:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 1.9pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">- Trông các chú bữa nay ra dáng người tỉnh thành rồi.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 1.9pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chúng tôi sôi nổi báo cáo với Bác tình hình khởi nghĩa ở Hà Nội và các tỉnh. Bác ngồi lắng nghe, vẻ mặt điềm đạm. Tính Bác như vậy, khi vui khi buồn đều vẫn bình thản.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 1.9pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chúng tôi nói với Bác ý Thường vụ muốn tổ chức sớm lễ ra mắt của Chính phủ. Theo quyết định của Hội nghị toàn quốc họp tại Tân Trào, ủy ban dân tộc giải phóng do Bác làm Chủ tịch sẽ trở thành Chính phủ lâm thời.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Với một vẻ vui vui, Bác nói như hỏi lại chúng tôi:</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Mình làm Chủ tịch à?</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Thực ra, một thời kỳ vẻ vang nhưng cũng cực kỳ hiểm nghèo của dân tộc đã bắt đầu. Bác đã nhận sứ mệnh khó khăn: Lái con thuyền cách mạng Việt Nam vừa mới hình thành, vượt qua những thác ghềnh nguy hiểm. Bác đã đón nhận nhiệm vụ đó trước lịch sử, trước nhân dân đúng như Bác đã trả lời các nhà báo nước ngoài ba tháng sau đó: “Tôi tuyệt đối không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận”</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chúng tôi trở về Hàng Ngang trước để chuẩn bị. Anh Nhân (đồng chí Trường Chinh) lên sau, ở lại đến chiều cùng về với Bác.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Đây là lần đầu tiên Bác đến Hà Nội. Chặng đường ba trăm ki-lô-mét từ ngôi nhà tranh nhỏ hẹp tại làng Kim Liên tới đây, Bác đã đi mất ngoài ba mươi lăm năm.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Con đường Bác đã đi không giống bất cứ con đường của một người Việt Nam yêu nước nào đã đi trước Bác. Bác đã một mình lặn lội, xông pha trên những nẻo đường của hầu khắp các miền khác nhau trên Trái Đất. Chủ nghĩa tư bản đã bước vào giai đoạn phát triển tột cùng của nó trở nên vô cùng xấu </span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">xa. Nó tìm mọi cách xóa nhòa ranh giới giữa trắng đen,<span style="color:black"> giữa thiện ác. Nó xuyên tạc mọi giá trị tinh thần chân chính mà loài người đến đó đã thành đạt được. Nó đang bưng bít mọi ánh sáng của công lý, tự do.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Bác đã đi giữa những ngày đông ảm đạm, vòm trời châu Âu, châu Á bị những đám mây đen chiến tranh của chủ nghĩa đế quốc che phủ. </span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Thế gian hỗn loạn, đau thương; tội ác của chủ nghĩa đế quốc chồng chất. Giữa lúc vàng-thau lẫn lộn, giả-thật khó phân, Bác đã nhanh chóng nhìn thấy ánh sáng của chân lý Bác đã đến với chủ nghĩa Lê-nin. Bác đã thấy học thuyết Lê-nin chính là “mặt trời đưa lại nguồn sống vui tươi”. Bác đã thấy ngọn cờ Lê-nin là “tượng trưng cho lòng tin và đuốc sáng của hy vọng&quot;. Người yêu nước Việt Nam vĩ đại đã tìm được ở chủ nghĩa Mác <i>– </i><span style="">L</span>ê-nin cho đồng bào ta và những người cùng hội cùng thuyền-những dân tộc bị đọa đày vì chủ nghĩa đế quốc-một con đường giải phóng duy nhất: <i>Đường k</i>ách <i>mệnh.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một sự đổi thay đã đến trong đời sống của dân tộc. <span style="color:black">Mấy ngày trước đây, Hà Nội còn giữ nguyên vẹn bộ mặt một sản phẩm của chế độ thực dân thối nát thời chiến. Cả thành phố chìm đắm trong những hoạt động chợ đen. Cuộc sống tính từng ngày. Những chiếc xe chở rác không đủ để đưa xác những người chết đói ra vùng ngoại ô, đổ xuống những hố chung. Trong khi đó, ở các cửa ô, người đói khắp làng quê vẫn ùn ùn kéo vào. Họ đi vật vờ như những chiếc lá khô buổi chiều đông. Nhiều khi, chỉ một cái gạt tay của viên cảnh sát cũng đủ làm họ ngã xuống không bao giờ trở dậy.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Lại thêm tháng Tám năm nay, nước triều sông đều lên to. Cơn “hồng thủy” đã phá vỡ những đê điều từ lâu không được bọn thống trị nhòm ngó tới. Sáu tỉnh đồng bằng vựa thóc của cả miền Bắc, bị chìm dưới làn nước trắng. Dịch tả hoành hành. Bao nhiêu tai họa của chế độ thực dân cùng một lúc dồn đến. Cùng với bọn đầu cơ kinh tế, bọn đầu cơ chính trị cũng đua nhau nổi lên. Chúng vừa hô “Việt Nam độc lập” vừa hô &quot;Đại Nhật Bản vạn tuế. Thay vào những tên đội xếp Pháp mang dùi cui là những tên hiến binh Nhật đeo kiếm dài, lết xệt đôi ủng đi trên các hè phố.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Không phải chỉ riêng Hà Nội mà cả dân tộc ta đang sống những giờ phút đau thương.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Thắng lợi vĩ đại của Hồng quân Liên Xô đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật vào giữa tháng tám, đã đưa lại cho dân tộc một thời cơ lớn.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cách mạng nổi lên như một cơn lốc.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chỉ trong vài ngày những vết nhơ, những nỗi nhục nhằn, khổ đau của chế độ nô lệ đã được quét đi khá nhiều.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sức hồi sinh của cách mạng thật lạ thường. Hôm trước, cả thành phố còn tê liệt vì nạn đói, vì bệnh dịch, vì sự khủng bố. Hôm sau, tất cả những đường to, ngõ hẻm đã sôi lên. Hàng vạn, hàng vạn con người ầm ầm kéo đi với sức mạnh như những dòng thác.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chính quyền nhân dân cách mạng vừa mới thành lập. Phần lớn đồng bào còn chưa biết những ai là người thay mặt cho chính quyền mới nhưng mọi người đã tự động tạo nên một trật tự mới, trật tự của cách nạng. Nạn cướp giật mất hẳn, trộm, cắp hầu như không xảy ra. Những người ăn xin cũng không còn. Hoạt động buôn bán, hoạt động chủ yếu của thành phố đã nhường chỗ cho một hoạt động mới: hoạt động cách mạng. Một người đi xe đạp đến đầu phố cầm loa hô lớn: &quot;Mời đồng bào đến tập trung ở địa điểm X. tham gia biểu tình&quot;. Không biết người đó là ai, nhưng lời hô hào lập tức được truyền đi. Nhiều người dân tự động vác loa ra đứng giữa đường làm công tác thông tin.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ai đang làm dở việc gì cũng để lại đấy. Tất cả ào ào kéo đi. Chỉ chốc lát, hàng vạn người đã có mặt ở địa điểm biểu tình. Họ sẵn sàng làm bất cứ việc gì mà cách mạng cần đến.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Không khí Hà Nội trở nên trong lành, náo nức. <i>Đoàn quân Việt Minh đi, chung lòng </i>cứu <i>quốc...</i>, những bài ca cách mạng vang lên rộn ràng từ sớm tới khuya. Cờ sao mỗi lúc một nhiều hơn, đẹp hơn. Cờ bay đỏ nhà, đỏ phố. Cách mạng đúng là ngày hội của những người bị áp bức.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chập tối, Bác đến nhà. Chúng tôi ra đón nhận thấy trên nét mặt của Bác những dấu hiệu xúc động.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Bác đã về đến Hà Nội. Ít ngày nữa Hà Nội sẽ trở thành Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ Công hòa. Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên tại Đông Nam châu Á. Hà Nội chưa được cùng san sẻ với chúng tôi hôm nay niềm vui đón Bác trở về. Ngay cả đồng chí lái xe bữa ấy cũng vậy. Mấy ngày sau, anh xin phép nghỉ, lên Thái Nguyên dẫn bố về dự Tết Độc lập để xem mặt Cụ Chủ tịch nước. Đến quảng trường Ba Đình, anh mới biết Chủ tịch chính là Cụ già bữa trước mình đã đánh xe đi đón ở làng <i>Gạ.</i></span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p><strong>Nguồn </strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"><strong>Sự kiện &amp; nhân chứng : Nguyệt san của báo quân đội nhân dân. - 2007. - Tháng 8. - Số 164. - Tr. 3, 33 </strong></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 2:25 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác, lênh đênh góc bể chân trời, đã có những ngày vui lớn. Đó là ngày Bác tìm thấy con đường giải phóng dân tộc khi đọc Luận cương của Lê-nin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Đó là ngày thành lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920 mà Bác là một thành viên. Và ngày lịch sử mồng 3 tháng 2 năm 1930, ngày thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương...</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.141</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 07:28:37 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=43</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nguyễn Ái Quốc với sự ra đời của báo Việt Nam độc lập</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=44</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass18266F28C96943C4936F2DB26666893C><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Hồ Chí Minh ra nước ngoài năm 1911 là để xem nước Pháp và các nước khác họ làm thế nào, rồi sẽ trở về giúp đồng bào, chứ không phải đi học làm báo. Hành trang Người mang theo là lòng yêu nước thương dân và khát vọng giải phóng đồng bào khỏi gông cùm nô lệ. Trước khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh chủ yếu thực hiện những cuộc hành trình dài ngày từ Pháp qua châu Phi đến Anh và nhiều nước khác. Tại những nơi Người tới, bằng việc quan sát, tìm hiểu và tự đặt ra cho mình nhiều câu hỏi từ thực tế, Hồ Chí Minh càng ngày càng nhận ra bộ mặt thật của chủ nghĩa đế quốc. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, hoạt động của Hồ Chí Minh đã tiến lên một bước. Người đến Hội nghị Véc-xây cùng nhiều đoàn đại biểu thay mặt cho các dân tộc bị áp bức để đòi độc lập và tự do, trong đó có tự do báo chí. Tự do báo chí và tự do ngôn luận trong <i>Yêu sách của nhân</i> <i>dân An Nam </i>năm 1919 là mốc mở đầu cho hành trình báo chí của Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, thời điểm đó, nhận thức của Hồ Chí Minh về tự do báo chí cũng chỉ mới là cảm tính mà thôi. Điều quan trọng là từ nhận thức những lời tuyên bố tự do của các nhà chính trị tư bản trong lúc chiến tranh thật ra chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc, Hồ Chí Minh thấy rõ muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình. Những nhận thức đó đã đánh dấu một giai đoạn mới trong cuộc đời cách mạng của Hồ Chí Minh. Trong những <i>mẩu chuyện về</i> <i>đó hoạt</i> <i>động của Hồ Chủ tịch, </i>tác giả Trần Dân Tiên kể lại rằng, lúc bấy giờ ông Nguyễn là một người yêu nước quyết tâm hy sinh tất cả vì Tổ quốc, nhưng ông Nguyễn lúc đó ''rất ít hiểu về chính trị, không biết thế nào là Công hội, thế nào là bãi công và thế nào là chính đảng''. Người đã tự bỏ tiền ra in những bản <i>Yêu sách tám điểm </i>thành những tờ truyền đơn đem phát trong các cuộc mít tinh ở Pháp, cho tất cả những Việt kiều và những người Việt đi lính Pháp. Người gửi cả những truyền đơn về Đông Dương. Những hoạt động đó có tác dụng nhất định nhưng không cơ bản và lâu dài. Người bắt đầu suy nghĩ tới hoạt động báo chí. Nhưng hoạt động như thế nào khi ''ông Nguyễn không đủ tiếng Pháp&quot; để viết báo Pháp''. Trần Dân Tiên Kể lại rằng, ''nhược điểm về tri thức chịu. Nhất là khi nhờ ông Phan Văn Trường viết nhưng ông Trường không viết tất cả những điều ông Nguyễn muốn nói. Vì vậy ông Nguyễn bắt tay vào học làm báo''. Như vậy, động cơ làm báo đầu tiên của Hồ Chí Minh là để tuyên truyền cách mạng, tố cáo tội ác thực dân Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Người đến tòa báo <i>''Dân chúng” </i>do cháu ngoại C.Mác, nghị viên của Quốc hội Pháp, là ông Giăng-lông-ghê làm chủ nhiệm. Tờ <i>''Dân chúng&quot; </i>không những đã đăng những lời yêu cầu của bản Y<i>êu sách tám điểm </i>mà Chủ nhiệm tờ báo đó còn khuyến khích Nguyễn Ái Quốc viết bài để làm cho nhân dân Pháp hiểu rõ những sự bất công xảy ra ở Việt Nam. Mặc dù những người Pháp như ông Lông-ghê hay chủ báo <i>''Đã </i>sống <i>thợ thuyền'' </i>rất tốt và rất đáng mến nhưng điều đó chỉ hỗ trợ một phần, giúp Nguyễn Ái Quốc những ngày đầu chập chững trên con đường làm báo. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Vấn đề có ý nghĩa quyết định là sự nỗ lực, cố gắng, quyết tâm của bản thân. Xác định rõ mục<i> </i>đích viết báo để làm gì có ý nghĩa hết sức quan trọng đến cuộc đời làm báo của Nguyễn Ái Quốc. Người nhận rõ ''tụi tư bản và đế quốc chủ nghĩa nó lấy tôn giáo và văn hóa làm cho dân ngu, lấy pháp luật buộc dân lại, lấy sức mạnh làm cho dân sợ, lấy phú quý làm cho dân tham. Nó làm cho dân nghe đến hai chữ cách mệnh thì sợ rùng mình. Vì vậy, cách mệnh trước hết phải làm cho dân giác ngộ; phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu, phải bày sách lược cho dân&quot;. Báo chí sẽ góp phần rất quan trọng vào giải quyết những mục đích đó. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cũng theo Trần Dân Tiên, ''ông Nguyễn bắt đầu làm báo rất khó khăn'' vì kém tiếng Pháp, thiếu văn Pháp. Người đã vượt qua khó khăn đó bằng cách vừa làm vừa học, tự học và học những nhà báo người Pháp có kinh nghiệm. Người kiên nhẫn bắt đầu từ những động tác nhỏ như viết hai bản, gan cho tòa báo một bản, giữ lại một bản, sau khi bài được đăng thì so sánh với bản gốc và sửa những chỗ viết sai. Những bài báo đầu tiên Người viết ngắn, chỉ năm, sáu dòng. Khi thấy viết đã bớt sai lầm, được sự đồng ý của chủ bút, Người viết dài hơn một tí, độ bảy, tám dòng. Dần dần, Người có thể viết cả một cột báo và có khi dài hơn. Cứ như vậy, tùy theo chủ đề, Người có thể viết dài, viết ngắn Người phải học viết rút ngắn, vì ngắn về dòng nhưng phải bảo đảm về nội dung và chất lượng bài báo. Bằng sự nỗ lực của bản thân, trên cơ sở xác định rõ mục đích và cách viết, chỉ một thời ngắn, Nguyễn Ái Quốc đã vào làng báo. Từ tháng 8.1919,<i> </i>Người đã có bài trên báo <i>Nhân</i> <i>đạo </i>và tiếp theo Người viết nhiều bài chó báo <i>Dân chúng, Đời sống công nhân...</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Hội Liên hiệp</span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"> <i>thuộc địa </i>ra đời tháng 6.1921<i> </i>tập hợp tất cả những người quê thuộc địa sống trên đất Pháp nhằm mục đích thảo luận và nghiên cứu những vấn đề chính trị và kinh tế của thuộc địa, đi tới sự nghiệp giải phóng bằng sự nỗ lực của chính bản thân những người thuộc địa. Hội quyết định dùng báo chí và ngôn luận để tranh thủ dư luận đồng tình ủng hộ những hoạt động của Hội và cuộc đấu tranh của nhân dân các thuộc địa chống áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân.<span style="">  </span>Nguyễn Ái Quốc, nhân danh đại biểu Đông Dương, làm nghề thợ ảnh, được bầu là một thành viên của Ban Chấp hành. Sau khi Hội thành lập, Ban Chấp hành quyết định xuất bản tờ báo lấy tên <i>Le Paria. </i>Báo ra số 1, ngày 1<i>.</i>4.1922.<i> </i>Số cuối cùng là số 38, tháng 4.1926. Nguyễn Ái Quốc có quan hệ mật thiết với báo <i>Le</i> <i>Paria. </i>Trong thời kỳ đầu, từ số đầu cho đến số 14, Người làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, làm cả việc phát hành và đi bán báo. Sau khi rời <i>Hội liên hiệp thuộc địa, </i>Người đến Liên Xô rồi đi Trung Quốc, nhưng vẫn gửi bài về đăng báo.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trước khi về nước, Hồ Chí Minh đã có một sự nghiệp báo chí đồ sộ, không chất ở số lượng các bài viết trên nhiều báo chí nước ngoài, mà còn sáng lập và tham gia sáng lập nhiều tờ báo gây tiếng vang lớn, mở đầu nền báo chí cách mạng Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><b><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">2. Cần có một tờ báo làm công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức và là đạo nhân dân</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước. Tháng 5.1941, Người triệu tập và chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Thực hiện Nghị quyết của Hội nghị, <i>''</i>mỗi<i> </i>đảng bộ địa phương phải tìm cách ra báo chí tuyên truyền, ít nhất là các ban tỉnh ủy phải có ban tuyên truyền chuyên môn xuất bản báo riêng ở trong tỉnh để tuyên truyền cho kịp thời'', Nguyễn Ái Quốc quyết định cho xuất bản báo <i>Việt Nam độc lập </i>gọi tắt là <i>Việt</i> <i>Lập. Việt Nam độc Lập lúc </i>đầu là cơ quan tuyên truyền của tỉnh bộ Việt Minh tỉnh Cao Bằng, từ tháng 6.1942 là của hai tỉnh Cao Bằng, Bắc Bạn và từ tháng l.1944 là của ba tỉnh Cao Bằng - Bắc Cạn - Lạng Sơn (Cao - Bắc - Lạng). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Với kinh nghiệm của hơn hai mươi năm làm báo ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc triển khai một cách cụ thể ở địa bàn các dân tộc miền núi. Người hiểu rõ muốn đưa cách mạng đi tới thắng lợi thì cần phải tuyên truyền, giáo dục, tổ chức và lãnh đạo nhân dân, và cùng với tuyên truyền miệng thì báo chí là phương tiện tuyên truyền đọc tốt nhất. Nhưng không phải cứ ra được báo là hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền. Kinh nghiệm <i>ngược </i>trong cuộc đời làm báo của Bác cho thấy để ai cũng thích đọc báo và có hiệu quả thật sự thì tất cả mọi khâu từ việc xác định mục đích, nội dung, đối tượng, cách viết, cách làm, cách phát hành, tóm lại là từ những người viết báo đến các khâu khác không thể rập khuôn máy móc mà phải luôn luôn sáng tạo, phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh từng lúc, từng nơi. Kể lại câu chuyện làm báo <i>Việt Nam độc lập </i>với Đại hội lần thứ hai Hội Nhà báo Việt Nam <i>(16.4.1959), </i>Bác nói: ''Theo lời dạy của Lê nin: tờ báo là công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức và lãnh đạo. Cho nên mình cố gắng ra một tờ báo ngay và phải làm rất bí mật vì luôn luôn có mật thám của Pháp, Nhật và bảo Đại rình mò. Điều kiện sinh hoạt thì bữa đói, bữa no. Làng báo thì phải có đá in. Mấy đồng chí đã đi lấy trộm mấy tấm bia đá rồi mài mất mấy ngày mới thành bản in. In thì phải viết chữ trái lên đá, thế là có một đồng chí phải hì hục học tập viết chữ trái. Mấy số báo đầu, ba bốn anh em cùng làm, nhưng in cứ toe toét, chỉ in được ít và xấu xí Nhưng về sau cứ tiến bộ dần, mỗi lần in được 300 số. Phải đặt bia đá ''nhà in'' ở ba chỗ khác nhau. Khi động chỗ này thì chạy đến chỗ khác mà in và báo vẫn ra đúng kỳ. Địch chịu không làm gì được. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Vấn đề giấy cũng gay. Lúc bấy giờ ai mua<i> </i>nhiều giấy, địch cũng nghi và theo dõi. Các chị em đi chợ mua năm, mười tờ, nói dối là mua cho con cháu học, rồi góp lại để in báo.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">In bản đá muốn sửa chữa thì phải dùng axít. Mà axít thì mua đâu được? Có đồng chí nghĩ ra cách dùng chanh thay cho a xít, chị em lại giúp mua chanh để ủng hộ báo.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Còn việc phát hành: để báo ở các hang đá bí mật. Các đồng chí phụ trách cơ sở Việt Minh cứ đến đó mà lấy. Báo bán hẳn hoi, chứ không biếu. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Thế là mọi việc đều dựa vào quyết tâm của mình, dựa vào bực lượng và sáng kiến của quần chúng''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Làm báo trong mỗi một giai đoạn cách mạng, đáp ứng yêu cầu của mỗi một đối tượng bạn đọc có những thuận lợi, khó khăn riêng. Thời kỳ Bác làm báo ở nước ngoài thì khó khăn lớn nhất ở giai đoạn đầu là vốn văn hóa phương Tây. Đi vào cụ thể là vốn ngoại ngữ, rồi nghiệp vụ báo chí, đối tượng phong phú, trình độ học vấn, nghề nghiệp cao thấp khác nhau. Làm báo <i>Việt Nam độc lập</i> thì khó khăn lớn nhất là trình độ văn hóa của các đối tượng chủ yếu là đồng bào miền núi rất thấp; khó khăn về cơ sở vật chất, nghiệp vụ báo chí, kẻ thù theo dõi... Đề ra được báo <i>Việt Nam độc lập </i>là cả một sự khó khăn, gian khổ, thiếu thốn. Phải tìm<i> </i>hiểu kỹ trình độ, phong tục tập quán của đồng bào. Võ Nguyên Giáp nhớ lại: ''Vì khuôn khổ tờ báo nhỏ, chữ, theo chỉ thị của Bác, lại phải viết to để đồng bào đọc dễ dàng, nên các bài viết phải rất ngắn. Có lần, tôi ở tĩnh Tây về, Bác phân công viết một bài về phong trào phụ nữ cho báo Việt Lập. Bác nói:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">- Chú viết đúng một trăm chữ, viết hơn thì không có chỗ đăng đâu.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Tôi ngồi viết, cảm thấy khó quá. Thời gian qua ở Tĩnh Tây, chúng tôi cũng ra báo. Cũng chỉ là báo in thạch, nhưng giấy sẵn, khuôn khổ tờ báo rộng, bài viết thoải mái chứ không hạn chế như thế này. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Thấy tôi ngồi viết khó khăn, Bác cười rồi bảo:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">- Báo của các chú có gửi về nhưng mình không xem hết, mà ở đây cũng không mấy ai xem. Báo của các chú văn hay, chữ nhiều nhưng khó đọc, và có đọc được cũng không mấy ai hiểu. Báo <i>Việt Lập </i>tuy đơn giản, nhưng dễ đọc, dễ hiểu. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Về sau có dịp đi công tác ở các địa phương, tôi mới thấy hết tác dụng rất to lớn của tờ báo; đồng bào khắp các nơi đều rất hoan nghênh báo <i>Việt Lập.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cao Hồng Lĩnh, trong hồi ký <i>''Mãi mãi đi theo con đường của Người” </i>kể: ''Có hôm, một số đồng chí được Bác gọi đến bàn việc chuẩn bị ra báo ''Việt Nam độc lập''. Lúc đó, một số anh em đã từng viết báo công khai vào loại giỏi nhưng phải viết bài cho tờ báo khuôn khổ hẹp, phục vụ đồng bào thiểu số thì anh em lại lúng túng. Bác bảo muốn biết bài mình viết đồng bào có hiểu không thì cứ đọc cho đồng chí Thế An, nếu đồng chí Thế An bảo được là được Đồng chí Thế An 1à một trong 43 người theo đoàn từ biên giới về đây, đồng chí là người Tày học ít, rất hiền lành, ít nói. Nhờ Bác hướng dẫn anh em viết những bài báo phù hợp với trình độ của người đọc ở quanh vừng''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Bác Hồ không chỉ là người chủ trương và tổ chức cho tờ báo ra đời mà Người còn tham gia nhiều công việc trực tiếp có ý nghĩa. Vì Cao Bằng còn 90% dân số mù chữ và trong cán bộ cũng còn nhiều đồng chí chưa biết chữ, Bác chủ trương: ''Phong trào Việt Minh tới đâu, tổ chức học văn hóa tới đó. Người biết dạy người không biết, người biết nhiều dạy người biết ít''. Bác còn giao cho đồng chí Cao Hồng Lĩnh soạn bộ vần dạy chữ theo lối mới. Bộ này được biên tập thành hơn 30 bài, cứ học hết số bài này là có thể đọc viết được. Đồng chí Cao Hồng Lĩnh làm bài hát vận động bà con anh em bỏ lối học cũ theo lối học mới. Ngoài ra còn có thơ ca động viên phong trào học chữ. Nhiều nơi, già trẻ, gái trai đều học, học ban đêm, học buổi trưa, ở những làng xã Việt Minh hoàn toàn như Pác Bó, Nà Mạ, Nà Sắc, Đào Ngạn, ta mở trường công khai, các cháu cắp sách đến trường học ở trong rừng. Việc dạy chữ theo lối học mới có tác dụng hỗ trợ rất lớn cho việc đọc báo Việt Nam độc lập; ngược lại, việc đọc báo đã củng cố việc học chữ và nâng cao trình độ hiểu biết cho bà con. Trong thời gian ở Cao Bằng, Bác Hồ trực tiếp viết nhiều thơ ca cách mạng như <i>Lịch sử diễn ca, Mười điều của chương</i> <i>trình Việt Minh, Địa dư Bắc kỳ, Địa dư Cao Bằng, </i>các bài cho thanh niên, phụ nữ, nông dân, phụ lão, thiếu nhi, binh sĩ cứu quốc,v.v… được in trên báo hoặc in thành sách lưu truyền trong nhân dân. Vừa chỉ đạo trực tiếp, Nguyễn Ái Quốc vừa tham gia viết bài, chữa bài, vẽ tranh minh họa, có khi làm cả việc mấy tin và in báo. Đồng chí Lê Quảng Ba kể lại, khi đồng chí Vân Trình người đảm nhiệm việc in báo, viết bản thạch bị ốm, lo báo không ra đúng kỳ hạn, ''Bác đã cặm cụi ngồi viết thay đồng chí Vân Trình''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Kể về những ngày đầu làm báo vất vả, Bế Văn Khai nhớ lại: ''Lần đầu chữa rồi lại hỏng, hỏng rồi lại chữa, mấy Bác cháu làm toát mồ hôi hai ngày mà chỉ được 16 số báo... Về sau có kinh nghiệm, mỗi lần in được 300 số, vừa tốt vừa nhanh''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cuối cùng thì báo <i>Việt Nam độc lập </i>cũng đã ra đời thành công Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chỉ đạo mọi hoạt động của tờ báo từ khi ra số 1 (1.8.1941) đến số 36 (8.1942). Sự ra đời của tờ báo là một trong những hoạt động tích cực, có hiệu quả và ý nghĩa văn hóa, chính trị rộng lớn, sâu xa. Qua nội dung các bài viết, Nguyễn Ái Quốc đã giáo dục cán bộ, nhân dân, các hội viên Cứu quốc quyết tâm giành độc lập, tự do. Để đạt được mục đích đó, báo có 4 mục chính: - Những câu tuyên truyền in trên đầu trang nhất; - Xã luận; - Tin trong nước và thế giới; - Vườn văn. Ngoài ra còn có mục ''ủng hộ báo'' nhằm biểu dương những người có thành tích, và giới thiệu một số sách do Việt Minh xuất bản. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Lời mở đầu bài <i>Xã luận </i>đăng số 1 viết: ''Tây cốt làm cho dân ta ngu, làm cho dân ta hèn. Ngu thì phải hèn. Ta ngu hèn thì nó dễ trị, dễ ăn hiếp, dễ bóc lột''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sau khi vạch tội ác ''làm cho dân ngu để dễ trị'' của Pháp, Nhật, Xã luận nói rõ mục đích: ''Báo Việt Nam độc lập cốt làm cho dân ta hết ngu hèn, biết các việc, biết đoàn kết, đặng đánh Tây, đánh Nhật, làm cho Việt Nam độc lập, bình đẳng, tự do”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Đáng chú ý là tờ báo có mục <i>thơ ca. </i>Trong 36 số, có 36 bài thơ hoặc ca, thì 31 bài in dưới một<i> </i>tên chung: <i>Vườn</i> <i>văn. </i>Những bài thơ ca này phần lớn tác giả Nguyễn Ái Quốc sử dụng lối thơ lục bát, thất ngôn, dựa theo âm điệu, phong cách của <i>Truyện Kiều</i>, <i>Chinh</i> <i>phụ ngâm..., </i>1à những vần thơ quen thuộc với nhân dân ta. Nhờ đó mà tờ báo được quần chúng yêu mến, quý trọng, nhiều bài văn vần được quần chúng chép lại, truyền tay nhau học thuộc lòng với sự trìu mến, yêu quý. Lúc đó, quần chúng chỉ biết quý trọng tờ báo, vì nó đã thiết thực giúp cho cuộc sống và đấu tranh của mình, giải đáp trúng những vấn đề mình yêu cầu. Bế Văn Khai nhớ lại: ''Đồng bào quý tờ báo như vàng, mỗi tổ Việt Minh chỉ được vài tờ. Tờ báo lại làm nảy nở một phong trào học quốc ngữ. Già cũng học, trẻ cũng học. Các em đi chăn trâu, các chị lấy rau lợn đều mang theo một cuốn vở nhỏ. Hễ gặp cán bộ đi ngang là họ đón lại học thêm mấy chữ”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nhân dân coi tờ báo <i>Việt Nam độc lập </i>như người thầy của mình. Tại Đại hội lần thứ hai Hội Nhà báo Việt Nam, Bác nói: ''Đồng bào địa phương rất thích đọc báo, vì báo viết điều gì cúng thấm thía với họ. Đồng bào còn tự động tổ chức những tổ đọc báo và bí mật đưa tin tức cho báo. Đồng bào lại tìm mọi cách tuyên truyền cho 1ính dõng đọc báo để làm ''binh vận''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cùng với quyết tâm, thời gian, kinh nghiệm và dựa vào lực lượng của quần chúng, về sau báo <i>Việt Nam độc lập mỗi </i>tháng ra ba kỳ, mỗi kỳ hơn 400 số. Báo phát hành trong phạm vi vài ba tỉnh, số lượng không đủ đáp ứng yêu cầu của quần chúng trong khi cơ sở cứu quốc mở rộng nhanh chóng. Tuy nhiên, tờ báo có ý nghĩa ''gieo mầm văn hóa'' ở một số tỉnh địa đầu của Tổ quốc, đêm trước của cuộc Cách mạng tháng Tám. Nó 1à một hình mẫn của báo chí cách mạng nói chung, báo chí địa phương nói riêng, trong điều kiện xuất bản bí mật; đồng thời cũng để lại nhiều kinh nghiệm quý báu có giá trị về lý luận và thực tiễn cho báo chí cách mạng ngày nay kể cả ở trung ương và địa phương.</span></p>
<p><strong>Nguồn </strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"><strong>Lý luận chính trị và truyền thông. – 2011. – Số tháng 3. – Tr. 41-45</strong></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 2:25 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> 1. Tầm nhìn về vai trò của báo chí 
Để vào được làng báo và trở thành &#39;&#39;người có nhiều duyên nợ với báo chí&#39;&#39;, Hồ Chí Minh đã phải trải qua một quá trình rèn luyện gian khổ, miệt mài, vừa học vừa tập viết: viết ngắn, viết dài, lại viết ngắn... Nhưng quan trọng hơn là Người trau dồi lập trường tư tưởng, coi ngòi bút là vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.174</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 07:48:57 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=44</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Những năm tháng Bác Hồ ở Huế</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=8</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassEDCECA0E0D98466E9660C88B3E86652B><p>&lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Thời gian sống ở Huế tuy kh&amp;ocirc;ng d&amp;agrave;i, chỉ khoảng 10 năm, nhưng đ&amp;oacute; lại l&amp;agrave; thời gian đặc biệt c&amp;oacute; &amp;yacute; nghĩa đối với nhận thức khởi đầu của một con người, đ&amp;uacute;ng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đ&amp;atilde; từng nhận định: &amp;ldquo;Thời gian ở Huế l&amp;agrave; thời gian Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh lớn l&amp;ecirc;n v&amp;agrave; bắt đầu đi học, những năm đ&amp;oacute; l&amp;agrave; thời gian cực kỳ quan trọng đối với sự h&amp;igrave;nh th&amp;agrave;nh con người Nguyễn &amp;Aacute;i Quốc - Hồ Ch&amp;iacute; Minh&amp;rdquo;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Trong những g&amp;igrave; từng l&amp;agrave; gốc rễ của một t&amp;acirc;m hồn, một nh&amp;acirc;n c&amp;aacute;ch, một tư tưởng Hồ Ch&amp;iacute; Minh, c&amp;oacute; cả cố đ&amp;ocirc; Huế với thời ni&amp;ecirc;n thiếu v&amp;agrave; tuổi thanh ni&amp;ecirc;n của Người. Huế c&amp;ugrave;ng với t&amp;igrave;nh thương v&amp;agrave; nỗi gian tru&amp;acirc;n của gia đ&amp;igrave;nh, với t&amp;igrave;nh nghĩa đồng b&amp;agrave;o, b&amp;agrave; con, lối x&amp;oacute;m, với những t&amp;aacute;c động ngược chiều kh&amp;aacute;c nhau của x&amp;atilde; hội v&amp;agrave; nh&amp;agrave; trường đối với một con người m&amp;agrave; ngay từ nhỏ đ&amp;atilde; bộc lộ như một năng lực thi&amp;ecirc;n bẩm, đ&amp;atilde; g&amp;oacute;p phần t&amp;iacute;ch cực v&amp;agrave;o sự nghiệp của một anh h&amp;ugrave;ng d&amp;acirc;n tộc - một danh nh&amp;acirc;n văn ho&amp;aacute; - Hồ Ch&amp;iacute; Minh.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;b style=&quot;mso-bidi-font-weight: normal&quot;&gt;&lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Bi&amp;ecirc;n ni&amp;ecirc;n một số sự kiện B&amp;aacute;c Hồ v&amp;agrave; gia đ&amp;igrave;nh những năm th&amp;aacute;ng sống ở Huế:&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Cuối năm 1895, &amp;ocirc;ng Nguyễn Sinh Sắc, b&amp;agrave; Ho&amp;agrave;ng Thị Loan v&amp;agrave; hai con trai Nguyễn Sinh Khi&amp;ecirc;m, Nguyễn Sinh Cung (Chủ tịch Hồ Ch&amp;iacute; Minh) l&amp;ecirc;n đường v&amp;agrave;o Huế.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;V&amp;agrave;o Huế, gia đ&amp;igrave;nh Chủ tịch Hồ Ch&amp;iacute; Minh thu&amp;ecirc; được một gian nh&amp;agrave; nhỏ ở đường Đ&amp;ocirc;ng Ba trong Th&amp;agrave;nh Nội (nay l&amp;agrave; 112 - Mai Th&amp;uacute;c Loan).&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Năm 1898, &amp;ocirc;ng Nguyễn Sinh Sắc thi Hội lần thứ 2, khoa Mậu Tuất kh&amp;ocirc;ng đỗ.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;C&amp;ugrave;ng năm 1898 Nguyễn Sinh Cung c&amp;ugrave;ng anh theo cha về l&amp;agrave;ng Dương Nỗ dạy học, ở tại nh&amp;agrave; &amp;ocirc;ng Nguyễn Sĩ Độ, b&amp;agrave; Ho&amp;agrave;ng Thị Loan vẫn ở lại trong ng&amp;ocirc;i nh&amp;agrave; Th&amp;agrave;nh Nội.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Cuối năm 1900 b&amp;agrave; Ho&amp;agrave;ng Thị Loan sinh người con thứ 4, đặt t&amp;ecirc;n l&amp;agrave; Nguyễn Sinh Nhuận (hay c&amp;ograve;n gọi l&amp;agrave; Nguyễn Sinh Xin).&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;C&amp;ugrave;ng thời gian đ&amp;oacute; &amp;ocirc;ng Nguyễn Sinh Sắc được cử đi l&amp;agrave;m Đề lại ở trường thi Thanh Ho&amp;aacute;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Ng&amp;agrave;y 10.2.1901 (22 th&amp;aacute;ng Chạp năm Canh T&amp;yacute;) b&amp;agrave; Ho&amp;agrave;ng Thị Loan qua đời trong gian nh&amp;agrave; Th&amp;agrave;nh nội, tại Huế. Mộ của b&amp;agrave; được đặt tại triền ph&amp;iacute;a t&amp;acirc;y n&amp;uacute;i B&amp;acirc;n (n&amp;uacute;i Tam Tầng). Năm 1922, c&amp;ocirc; Nguyễn Thị Thanh (chị ruột B&amp;aacute;c Hồ) trong thời gian bị quản th&amp;uacute;c tại Huế đ&amp;atilde; cải t&amp;aacute;ng mộ mẹ đem về qu&amp;ecirc; nh&amp;agrave;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Th&amp;aacute;ng 02.1901 &amp;ocirc;ng Nguyễn Sinh Sắc đem con về gửi cho nhạc mẫu ở l&amp;agrave;ng Ho&amp;agrave;ng Tr&amp;ugrave;, sau đ&amp;oacute; quay trở lại Huế dự thi Hội lần 3.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Khoa thi Hội năm T&amp;acirc;n Sửu (1901), &amp;ocirc;ng Nguyễn Sinh Sắc đỗ Ph&amp;oacute; Bảng.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Th&amp;aacute;ng 5.1906, Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh theo cha v&amp;agrave;o Huế trong dịp &amp;ocirc;ng Nguyễn Sinh Huy (hay Nguyễn Sinh Sắc) v&amp;agrave;o kinh đ&amp;ocirc; chờ bổ nhiệm.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Ng&amp;agrave;y 6.6.1906, &amp;ocirc;ng Nguyễn Sinh Sắc được bổ l&amp;agrave;m Thừa biện Bộ Lễ, tr&amp;ocirc;ng coi việc học h&amp;agrave;nh ở trường Quốc Tử Gi&amp;aacute;m, với h&amp;agrave;m H&amp;agrave;n l&amp;acirc;m kiểm thảo t&amp;ograve;ng thất phẩm.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Khoảng th&amp;aacute;ng 8.1906, gia đ&amp;igrave;nh Chủ tịch Hồ Ch&amp;iacute; Minh được cấp một gian nh&amp;agrave; (gian thứ 19) trong d&amp;atilde;y Thuộc vi&amp;ecirc;n của triều đ&amp;igrave;nh.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Năm 1906 - 1908, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh v&amp;agrave; Nguyễn Tất Đạt học tại trường Ph&amp;aacute;p - Việt Đ&amp;ocirc;ng Ba.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Năm 1908 - 1909, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh, Nguyễn Tất Đạt học tại trường Quốc Học.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Th&amp;aacute;ng 4.1908 Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh tham gia phong tr&amp;agrave;o chống thuế.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Th&amp;aacute;ng 5.1909, &amp;ocirc;ng Nguyễn Sinh Sắc đi chấm thi ở B&amp;igrave;nh Định.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt; mso-fareast-font-family: 'Times New Roman'; mso-ansi-language: VI; mso-fareast-language: VI; mso-bidi-language: AR-SA&quot;&gt;Th&amp;aacute;ng 7.1909, &amp;ocirc;ng Nguyễn Sinh Sắc được thăng chức Tri huyện B&amp;igrave;nh Kh&amp;ecirc;. Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh cũng rời Huế đi dần v&amp;agrave;o ph&amp;iacute;a Nam.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&amp;nbsp;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt; mso-fareast-font-family: 'Times New Roman'; mso-ansi-language: VI; mso-fareast-language: VI; mso-bidi-language: AR-SA&quot;&gt;Ngu&amp;ocirc;̀n &lt;/span&gt; &lt;p&gt;&amp;nbsp;&lt;/p&gt; &lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;http://hochutich.blogspot.com&lt;/span&gt;&lt;span lang=&quot;EN-US&quot; style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt; mso-ansi-language: EN-US&quot;&gt; . -2005. &amp;ndash;Ngày 20 tháng 5&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;</p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần I: 1890 - 1911</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/06/2011 3:25 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trong cuộc đời của mình, có hai lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đến sống trên đất Huế, đó là thời kỳ từ năm 1895 đến năm 1901, khi Người ở tuổi nhi đồng mang tên Nguyễn Sinh Cung (5-11 tuổi). Và thời kỳ thứ 2 từ năm 1906 - 1909, khi Người đã ở tuổi thanh niên, mang tên Nguyễn Tất Thành (16 - 19 tuổi).</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 4.332</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần I: 1890 - 1911</category>
      <pubDate>Mon, 06 Jun 2011 08:32:20 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=8</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Bác Hồ tại Đại hội II của Đảng và những ngày Xuân Tân Mão</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=33</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass1AA7BB29CB4D421FAE6B839E1C965607><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Xuân này kháng chiến đã năm xuân, </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhiều xuân thắng lợi càng gần thành công. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Toàn dân hăng hái một lòng<span style="">  </span></span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thi đua chuẩn bị, tổng phản công kịp thời. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những ngày đầu xuân 1951 càng có ý nghĩa hơn khi diễn ra một sự kiện lịch sử trọng đại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng ta khai mạc tại chiến khu Việt Bắc (2-1951). Đây là Đại hội đầu tiên được tổ chức trên đất nước Việt Nam. Tết Tân Mão đến trước Đại hội vài ngày. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ khi thành lập năm 1930 cho tới lúc đó 21 năm Đảng giữ vai trò quyết định đối với vận mệnh dân tộc. Tuy vậy, Đảng ta vẫn hoạt động trong bí mật, bởi những người cộng sản Việt Nam là đối tượng bị theo dõi, đàn áp, săn đuổi của không chỉ chính quyền thực dân, phong kiến trong nước; mà cả ở một số nước tư bản, nước thuộc địa thuộc các châu lục. Cách mạng Tháng Tám thành công, trong tình thế thù trong giặc ngoài hết sức phức tạp, cân nhắc từng bước đi để bảo đảm an toàn và phát triển, ngày 11-11-1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán. Thật ra là Đảng rút vào hoạt động bí mật dưới tên gọi mới <i style="">Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương.</i> Mọi hoạt động công khai của Đảng từ đó đều thông qua Mặt trận Việt Minh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Yêu cầu mới của cuộc kháng chiến đặt ra cho Đảng ta nhiều nhiệm vụ nặng nề, đòi hỏi Đảng phải trở lại hoạt động công khai nhằm đẩy mạnh cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi. Đầu năm 1950, sau chuyến đi bí mật gặp các đồng chí lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc trở về, Bác và Trung ương đã bàn tới việc đưa Đảng ra hoạt động công khai. Đến thời điểm này, tình hình cách mạng trong nước cũng như trên thế giới đã thay đổi nhiều. Hơn 20 năm, lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo kháng chiến, uy tín của Đảng trong nhân dân rất lớn. Các nước XHCN anh em đã công nhận và đặt quan hệ với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tạo thế vững chắc cho cuộc kháng chiến của ta. Sự xuất hiện công khai của Đảng lúc này sẽ mang lại một nguồn động viên mới trong nhân dân, thúc đẩy cuộc kháng chiến sớm đi tới thắng lợi. Mặc dù, tổ chức một Đại hội Đảng giữa thời kỳ chiến tranh ác liệt và rất khẩn trương là điều không dễ dàng, nhưng Bác và Trung ương đã quyết định triệu tập Đại hội vào tháng 2-1951. Công việc chuẩn bị cho Đại hội được khẩn trương triển khai ngay sau chiến dịch Trung du. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Để chuyển sang giai đoạn mới, Đảng chủ trương củng cố bộ máy chính quyền, và cuộc họp Hội đồng Chính phủ được triệu tập đúng ngày mồng 1 Tết Tân Mão (6-2-1951). Sáng sớm, trước cuộc họp, Bác Hồ sang chúc Tết các đồng chí Bộ trưởng, Thứ trưởng và tặng mỗi người một tờ thiếp hồng có bài thơ Xuân của Người. Chiều mồng 2 Tết, phiên họp kết thúc, Bác và một số đồng chí lên đường tới địa điểm Đại hội ở xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Đây cũng là nơi Bác Hồ ở trong suốt thời gian diễn ra Hội nghị (từ ngày 5 đến ngày 19-2-1951). Từ mồng 3 đến mồng 5 Tết (8 đến 9-2-1951), Bác Hồ dự thảo luận các văn kiện và Điều lệ Đảng. Sau một thời gian họp trù bị, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương chính thức khai mạc sáng mồng 6 Tết - 11-2-1951 và kết thúc ngày 19-2-1951. Ở Đại hội này, nhiều đại biểu không biết mặt và tên của nhau. Bởi từ khi ra đời, chưa bao giờ Đảng ta có được một lần họp mặt đông đủ như thế. Văn phòng Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương phải chuẩn bị cho mỗi đại biểu một tấm bìa các-tông có ghi số từ 1 đến 158. Đó là số đại biểu chính thức (53 đại biểu dự khuyết) tham dự Đại hội. Chiều 11-2, Bác Hồ thay mặt Trung ương Đảng đọc Báo cáo Chính trị trước Đại hội, điểm lại quá trình hoạt động của Đảng từ khi thành lập, nêu lên những nhiệm vụ trong thời kỳ cách mạng mới để đưa kháng chiến đến thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ nhiệm vụ chính trị của Đảng là đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và tổ chức Đảng Lao động Việt Nam, Người nói:<i style="">“Chúng ta phải có một đảng công khai, tổ chức hợp với tình hình thế tới và tình hình trong nước để lãnh đạo toàn dân đấu tranh cho đến thắng lợi. Đảng đó lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Đảng Lao động Việt Nam phải là một đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để. Nhiệm vụ cấp bách nhất của Đảng ta ngày nay là phải đưa kháng chiến đến thắng lợi các nhiệm vụ khác đều phải phụ thuộc vào đó”.</i> Vấn đề lớn nhất trong những ngày đầu của Đại hội là việc chia tách Đảng Cộng sản Đông Dương thành ba Đảng của Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia. Cuộc thảo luận diễn ra khá căng thẳng nhưng cũng đã được thống nhất Quyết định tách Đảng Cộng sản Đông Dương để thành lập ở mỗi nước Đông dương Đảng Mác - Lê-nin riêng. Ở Việt Nam, Đại hội thành lập Đảng Lao động Việt Nam và đưa Đảng ra hoạt động công khai. Theo đồng chí Hoàng Tùng: Trước khi lấy biểu quyết về việc đổi tên Đảng Bác đã dành thời gian khá dài để thuyết trình về việc đổi tên Đảng. Việc đổi tên Đảng đã được 98% số đại biểu bỏ phiếu thông qua. Đại hội cũng tiếp tục khẳng định đường lối kháng chiến “toàn dân toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh”. Nhiều vấn đề khác liên quan tới sự nghiệp của dân tộc và quốc tế đã được thảo luận sôi nổi. Những ngày cuối, Đại hội tiến hành bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đặc biệt trước khi bỏ phiếu, tất cả các đại biểu đều nhất trí tôn vinh Bác là Chủ tịch Đảng. Đại hội đã bầu Bác làm Chủ tịch Đảng và đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư, đồng thời thông qua Báo cáo Chính trị do Bác soạn thảo. Ngày 19-2-1951, Đại hội Đảng Lao động Việt Nam bế mạc thành công tốt đẹp. Ngày 11-3-1951, Đảng ra công khai, báo của Đảng lấy tên là Báo Nhân Dân đã ra số đầu. </span></p>
<p><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đạị hội đại biểu lần thứ II của Đảng đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược từ Xuân này bước vào một giai đoạn mới: đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và cuối cùng là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.</span></p>
<p><strong>Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhân dân. -2011. –Số Xuân. –Tr.2</span></strong></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 10:50 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Tết Tân Mão (1951) đến sau chiến dịch Trung du kết thúc được ba tuần. Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo cùng cán bộ, chiến sĩ đón Tết trong niềm vui lớn Quân dân ta thắng lợi giòn giã ở chiến dịch Biên giới (10-1950) và ở chiến dịch Trung du (1-1951). Thơ chúc Tết của Bác mang tinh thần phấn khởi của thắng lợi và niềm vui khi cuộc kháng chiến đã có:</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.449</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 03:55:42 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=33</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=40</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass538A4B15801D403187B7717F928EA373><p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, trên vũ đài chính trị đã xuất hiện nhiều giai cấp, lực lượng đứng ra “thử sức&quot; giải quyết hai mâu thuẫn nêu trên, song kết cục không thành công. Sự thất bại của phong trào Cần Vương vào cuối thế kỷ XIX chứng to ngọn cờ phong kiến không đủ sức tập hợp quần chúng thực hiện mục tiêu giai phóng dân tộc. Thất bại của khởi nghĩa Yên Thế và các phong trào yêu nước tiểu tư sản đã minh chứng rõ thêm nông dân và tiểu tư sản không thể lãnh đạo được cách mạng vì không có hệ tư tưởng riêng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đầu thế kỷ XX, nhiều phong trào yêu nước theo lập trường giai cấp tư sản nổi lên, tiêu biểu là phong trào cải cách của Phan Chu Trinh, phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, hoạt động của Quốc dân đảng, đã thu hút đông đảo quần chúng tham gia, song kết cục cũng không thành công. Sau này lãnh tụ Hồ Chí Minh đã đánh giá chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải cách khác nào &quot;xin giặc rủ lòng thương&quot;; chủ trương cầu viện người Nhật Bản giúp Việt Nam đánh Pháp của cụ Phan Bội Châu khác nào &quot;đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Điều đáng chú ý là ở Việt Nam giai cấp tư sản chưa bao giờ lãnh đạo cách mạng, các phong trào yêu nước theo lập trường tư sản lại do các trí thức, tiểu tư sản tiếp nhận tư tưởng tư sản từ bên ngoài mà phát động nên. Do đó, ngay từ đầu các phong trào cải cách có người chủ trương bạo động, người trông chờ nước này, người trông chờ nước khác, không thấy được sức mạnh nội tại của dân tộc Việt Nam. Hạn chế ấy cũng là tất yếu khi tư sản dân tộc Việt Nam với thế lực kinh tế nhỏ bé, tinh thần bạc nhược, không đủ sức mạnh và bản lĩnh làm hậu thuẫn cho cuộc cách mạng theo lập trường giai cấp của nó. Sự thất bại của khuynh hướng cứu nước theo lập trường giai cấp tư sản chứng tỏ hệ tư tưởng tư sản không đủ sức tập hợp quần chúng làm cho cuộc khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo cách mạng ở Việt Nam thêm sâu sắc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lịch sử chỉ còn trông chờ vào một giai cấp cách mạng đang lên: giai cấp công nhân. Nhưng công nhân Việt Nam đầu thế kỷ XX chỉ mới có các yếu tố “cần”, còn thiếu các yếu tố “đủ”, để vươn lên trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng - tức là còn thiếu chủ nghĩa Mác- Lênin và đội tiên phong của nó dẫn đường. Điều đó càng nói lên tính chất<span style="">     </span>khủng hoảng nghiêm trọng về đường lối và giai cấp lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX, như lãnh tụ Hồ Chí Minh sau này diễn đạt bằng hình ảnh: cách mạng Việt Nam ở trong đêm tối tưởng chừng như không có đường ra. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong bối canh đó, năm 1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành đi ra nước ngoài tìm đường cứu nuớc. Trải qua một quá trình bôn ba khắp năm châu, bốn bể, hoà mình trong cuộc sống của các tầng lớp lao khổ, Người từng bước nhận thức rõ tình hữu ái giai cấp và tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc bị áp bức. Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra <i style="">Hội những người Việt Nam yêu nước</i> để tập hợp Việt kiều yêu nước ở Pháp. Năm 1918, Nguyễn Ái Quốc tham gia đảng xã hội Pháp, hoạt động trong phong trào công nhân Pháp, tìm hiểu những kinh nghiệm của cách mạng Pháp, tranh thủ sự đồng tình của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp đối với cuộc đấu tranh yêu nước của Việt Nam và tìm hiểu Cách mạng tháng Mười Nga. Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được bản <i style="">“Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa</i>” của Lênin. <i style="">&quot;Sơ thảo…”</i> đã vạch ra chiến lược và sách lược cho các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh giải phóng. Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy ở đó con đường cứu nước đúng đắn - con đường cứu nước theo lập trường giai cấp vô sản. Cuối năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp và tán thành đường lối quốc tế III, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đến với chủ nghĩa Mác-Lênin là đến với cách làm chính trị hiện đại. Tức là muốn làm cách mạng, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc thì phải có sự lãnh đạo của một chính đảng vô sản được vũ trang bởi lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ năm 1921, Người tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin về nước, chuẩn bị mọi điều kiện cho việc thành lập một chính đảng vô sản ở Việt Nam. Từ 1921-1929, Nguyễn Ái Quốc tiến hành nhiều hoạt động kiên trì, bền bỉ, gian khổ nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào công nhân, nông dân và nhân dân lao động, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho việc thành lập Đảng. Năm 1921, ở Pari, Người sáng lập <i style="">Hội liên hiệp thuộc địa</i>, nhằm tập hợp các lực lượng chống đế quốc trong các nước thuộc địa của Pháp. Người ra báo <i style="">Người cùng khổ</i> và dành nhiều thời gian viết báo, chuyển về trong nước tố cáo ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Pháp, vạch rõ cho nhân dân Việt Nam thấy rõ nguyên nhân nỗi khổ cực và con đường giải thoát nỗi khổ ấy là tiến hành cách mạng tự giải phóng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc sang Liên Xô, hoạt động trong các tổ chức quốc tế viết nhiều bài báo vừa tố cáo ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, vừa truyền bá chủ nghĩa Mác-lênin, xây dựng những luận điểm cơ bản về cách mạng giải phóng dân tộc ở Việc Nam. Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về đến Quảng Châu (Trung Quốc) trong phái đoàn Quốc tế cộng sản. Tháng 6-1925, lập <i style="">Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên</i> (gọi tắt là tổ chức Thanh niên), ra báo Thanh niên và mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ. Trong các tác phẩm, bài báo và các bài giảng của<span style="">  </span>mình, nhất là trong cuốn <i style="">Bản án chế độ thực dân Pháp</i> và cuốn <i style="">Đường cách mệnh</i>, Nguyễn Ái Quốc đã<span style="">  </span>kết hợp việc truyền bá chủ nghĩa Mác-lênin với việc trình bày những luận điểm cơ bản làm cơ sở hình thành đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau khi được vũ trang lý luận chủ nghĩa Mác-lênin các hội viên Thanh niên (và cả Tân Việt cách mạng đảng gọi tắt là Tân Việt) được Nguyễn Ái Quốc đưa vào nhà máy, hầm mỏ hoạt động (gọi là phong vào &quot;vô sản hoá”). Qua phong trào này, một mặt để truyền bá chủ nghĩa Mác-lênin sâu rộng trong công nhân, mặt khác giúp những thanh niên giàu nhiệt huyết, yêu nước trong tổ chức Thanh niên và Tân Việt trở thành những người vô sản thực thụ. Nhờ được tiếp thu có hệ thống chủ nghĩa Mác-lênin, phong trào công nhân nhanh chóng chuyển từ tự phát sang tự giác. Trong những năm 1927-1929 đã xuất hiện nhiều cuộc đấu tranh thể hiện tính chất chính trị rõ nét. Phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ đã cuốn hút phong trào nông dân, tiểu tư sản đi theo quỹ đạo của nó. Qua nhận thức lý luận và thực tiễn đấu tranh, những người Việt Nam yêu nước chân chính nhận thấy chỉ có đi theo ngọn cờ chủ nghĩa cộng sản mới có thế giải phóng được dân tộc và giải phóng giai cấp, từng bước chuyển từ <i style="">lập trường quốc gia sang khuynh hướng mác xít, rồi từ khuynh hướng mác xít chuyển sang lập trường cộng sản.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đứng trước sự phát triển của phong trào cách mạng, các hội viên cấp tiến trong Thanh niên nhận thấy rằng, một tổ chức mang tính quốc gia không để đáp ứng được yêu cầu của quần chúng, mà phải thiết lập một tổ chức cộng sản. Chi bộ cộng sản đầu tiên ra đời tại Hà Nội vào tháng 3-1929 từ sự chuyển biến nhận thức nêu trên. Đến tháng 5-1929, tại : Đại hội của tổ chức Thanh niên ở Hương Cảng, các đại biểu Bắc kỳ đã nêu yêu cầu thành lập Đảng cộng sản, nhưng không được nhất trí trong toàn Hội, nên bỏ về thành lập Đông Dương cộng sản Đảng vào tháng 6-1929 ở Bắc kỳ. Đông Dương cộng sản Đảng ra đời đã đặt vô chức Thanh niên trước nguy cơ bị mất dần hội viên và quần chúng, do không còn sức hấp dẫn. Vì vậy, tháng 7-1929, những hội viên còn trong Thanh niên quyết định thành lập An Nam cộng sản Đảng ở Nam kỳ. Tiếp đó, tháng 9-1929, các đảng viên của Tân Việt ra “Tuyên đạt” tuyên bố thành lập tổ chức cộng sản và tháng 1-1930 thì Đông Dương cộng sản liên đoàn chính thức ra đời.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Như<span style="">  </span>vậy, đến đầu 1930, trên dải đất Việt Nam đã có 3 tổ chức cộng sản, nhưng lại tranh giành quần chúng, công kích nhau, có nguy cơ làm tổn hại đến phong trào cách mạng đang lên. Một lần nữa, lịch sử lại đặt lên vai lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trách nhiệm thống nhất các tổ chức cộng sản. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản từ 3 - 2 đến 7-2- 1930 do Người chủ trì đã làm nhiệm vụ đó Hội nghị đã thông qua <i style="">Chính cương vắn tắt</i>, <i style="">Sách lược vắn tắt</i>, <i style="">Điều lệ vắn tắt</i>, <i style="">Lời kêu gọi</i>... do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, được xem là Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Cương lĩnh đã vạch ra những vấn đề chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, từ tính chất, mục đích, nhiệm vụ, phương pháp, lực lượng, và trò lãnh đạo mối liên hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới...</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cương lĩnh khẳng định, Đảng cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân - là lực lượng có sứ mệnh lãnh đạo nhân dân làm &quot;tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng&quot; để &quot;đi tới xã hội cộng sản&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đảng ta ra đời xuất phát từ đòi hỏi khách quan của lịch sử dân tộc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Sở dĩ Đảng nắm được quyền lãnh đạo cách mạng là nhờ đã nắm bắt được xu thế của dân tộc và thời đại, gắn giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, đề ra được phương pháp cách mạng thích hợp, đặt cách mạng Việt Nam trong trào lưu chung của cách mạng thế giới.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Càng lùi xa về thời gian càng thấy rõ vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước, đưa phong trào công nhân chuyển từ tự phát sang tự giác, đưa phong trào yêu nước dần chuyển sang khuynh hướng mác xít, rồi từ khuynh hưởng mác xít chuyển sang lập trường cộng sản. Hệ quả cuối cùng là Đảng cộng sản Việt Nam ra đời trên cơ sở hội tụ, kết hợp đầy đủ cả 3 yếu tố chủ nghĩa Mác-lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chính là tạo ra các tiền đề cho 3 yếu tố đó kết hợp? đan xen, quyện chặt nhau một cách lôgíc, dẫn tới sự ra đời 3 tổ chức cộng sản. Và cuối cùng với uy tín của mình, Người đã thống nhất các tổ chức cộng sản thành lập Đảng cộng sản Việt Nam vào 3-2-1930.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Điều đó cũng nói lên rằng, Đảng cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời chẳng những đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, mà còn đấu tranh cho lợi ích chân chính của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Chính vì lẽ đó, lịch sử đã đặt lên vai Đảng cộng sản Việt Nam sứ mệnh duy nhất lãnh đạo cách mạng nước ta và lịch sử thế kỷ XX đã kiểm chứng sự lựa chọn ấy: các tầng lớp nhân dân lao động, những người có lương tri, có tinh thần yêu nước chân chính đều quy tụ xung quanh Đảng làm nên sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước quá độ lên CNXH. Hôm nay, Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục sự nghiệp mà lịch sử đã uỷ thác: lãnh đạo nhân dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền dân tộc và xây dựng thành công CNXH đưa đất nước phát triển đi tới mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"> </p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Giáo dục lý luận. - 2011. – Số xuân Tân Tý.- Tr. 5-8.</span></span></p>
<p> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 2:10 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Năm 1858, Thực dân Pháp xâm lược nước ta, thi hành chính sách thống trị tàn bạo về chính trị, kinh tế, văn hoá, làm cho xã hội Việt Nam biến đổi sâu sắc: từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Xã hội Việt Nam nổi lên hai mâu thuẫn cơ bản: một là, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược; hai là, mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, trước hết là giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến. Yêu cầu lịch sử đặt ra là phải giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản đó.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 4.357</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 07:15:16 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=40</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=53</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassDDF565B53AEE4E13A34D363823F328FF><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></p>
<p>
<table class=MsoTableGrid border=0 cellspacing=0 cellpadding=0 align=left style="margin:auto 6.75pt;border-collapse:collapse">
    <tbody>
        <tr style="height:13.8pt">
            <td valign=top width=223 style="border-bottom:#ece9d8;border-left:#ece9d8;padding-bottom:0cm;background-color:transparent;padding-left:5.4pt;width:167.55pt;padding-right:5.4pt;height:13.8pt;border-top:#ece9d8;border-right:#ece9d8;padding-top:0cm">
            <p class=MsoNormal style="text-align:center;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><img width=250 height=174 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-6/BacHo2762011_151035.jpg"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
            </td>
        </tr>
        <tr style="height:13.8pt">
            <td valign=top width=223 style="border-bottom:#ece9d8;border-left:#ece9d8;padding-bottom:0cm;background-color:transparent;padding-left:5.4pt;width:167.55pt;padding-right:5.4pt;height:13.8pt;border-top:#ece9d8;border-right:#ece9d8;padding-top:0cm">
            <p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><i style=""><span style="font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">(Nhân dân Thủ đô Vác-xa-va nhiệt liệt chào đón Hồ Chủ tịch sang thăm nước Cộng hòa nhân dân Ba Lan (năm 1957). Ảnh tư liệu)</span></i></p>
            <p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></p>
            </td>
        </tr>
    </tbody>
</table>
</p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong những năm nhân dân ta gian khổ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhân dân thế giới vẫn luôn tin tưởng vào thắng lợi của ta và ca ngợi Bác Hồ. Hu-a-ri Bu-mê-điêng - Chủ tịch Hội đồng Cách mạng An-giê-ri viết: &quot;Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những nhà cách mạng đầu tiên đã chiến đấu chống những hình thức khác nhau của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc và là một trong những người mà bằng lời nói và hành động của mình đã đập tan cơ cấu của sự tàn bạo và góp phần vào sự nghiệp chính nghĩa của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới... Tấm gương của Người và cuộc chiến đấu của Người sẽ là kim chỉ nam hành động cho tất cả các dân tộc đang đấu tranh, cho thanh niên và cho các nhà lãnh đạo trên thế giới&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhân ngày sinh lần thứ 70 của Người, báo Pravđa (Liên Xô) viết: “Đồng chí Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ lừng danh của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông. Cuộc đời của Người là tấm gương hy sinh tận tụy phục vụ nhân dân, phục vụ sự nghiệp của giai cấp vô sản thế giới”. Còn Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp Marche khẳng định: “Nhà yêu nước vĩ đại của Việt Nam cũng không chỉ thuộc duy nhất về nhân dân nước ông. Hồ Chí Minh còn là người của phong trào cách mạng thế giới, người của phong trào cộng sản quốc tế. Vị nguyên thủ ấy, nhà lãnh đạo được mọi người tôn kính ấy, người đã làm cho bọn đế quốc phải kinh hồn khiếp vía ấy, chính là một người có đức tính khiêm tốn, chỉ nghĩ đến người khác”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Gớt-hô - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mỹ viết: “Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ thế giới vào lúc loài người đang ở bước ngoặt có tính chất cách mạng nhất. Đồng chí là một nhà kiến trúc và tạo hình làm nên quá trình cách mạng thế giới. Người am hiểu một cách vô cùng sáng suốt phương hướng và mục tiêu của quá trình đó. Người biết rõ động lực và sức mạnh của nó... Một mặt, Người thể hiện những nguyện vọng và mục tiêu dân tộc cao đẹp nhất của nhân dân Việt Nam, mặt khác Người là một người theo chủ nghĩa quốc tế chân chính và vĩ đại của giai cấp công nhân”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đặc biệt, năm 1971, cuốn sách “Ông Hồ” in bằng tiếng Anh - tác giả là nhà báo lừng danh Da vid Halberstam xuất bản tại Mỹ đã được đông đảo dư luận Mỹ và thế giới chú ý. Tác giả viết: “Ông Hồ Chí Minh là một nhân vật kỳ lạ của thời đại này. Hơi giống Granđi. Hơi giống Lê-nin. Hoàn toàn Việt Nam. Đối với dân tộc của ông và cả đối với thế giới ở thế kỷ XX này, có lẽ hơn hẳn bất kỳ ai khác, ông là hiện thân của cách mạng, của đổi mới và sự sáng tạo... Ông Hồ đã trải qua cách mạng, chiến tranh, phát triển sau chiến tranh, lại một cuộc chiến tranh nữa, mà không hề thanh lọc một người nào. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng độc nhất không có xáo trộn, chủ yếu là nhờ ở uy tín rất cao và đức tính quán xuyến của lãnh tụ”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1980, tại hội nghị quốc tế kỷ niệm 90 năm Ngày sinh  Chủ tịch Hồ Chí Minh  tổ chức tại Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng  Hòa bình thế giới R. Chanđra đã khẳng định: “Bất cứ ở nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó có Hồ Chí Minh  và ngọn cờ Hồ Chí Minh  bay cao. Ở bất cứ đâu nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới chống đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh  và ngọn cờ Hồ Chí Minh  bay cao”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Mười năm sau, tại hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh,  Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương đại diện đặc biệt của Tổng giám đốc UNESCO, tiến sĩ M.Amét đã viết: “Chỉ có ít nhân vật lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh  là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng ra khỏi trái đất này”.</span></p>
<p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Gần đây, tạp chí Time (Mỹ) đã bình chọn các nhân vật kiệt xuất của thế kỷ XX. Chủ tịch Hồ Chí Minh  đã được bình chọn là một trong 100 nhân vật đó. Đây là một trong những lời bình chọn: “Chủ tịch Hồ Chí Minh  là một trong những lãnh tụ và nhà cách mạng đã ghi dấu ấn vào lịch sử thế giới 100 năm qua. Một trong những con người vĩ đại đã góp phần thiết lập nên cơ cấu chính trị - xã hội của thời đại ngày nay” và trên trang  Web của tạp chí Time, nhà báo S.Kamow viết về  Chủ tịch Hồ Chí Minh  như sau: “Hồ Chí Minh gợi lên một hình ảnh  khiêm tốn và nhân từ như tên gọi Bác Hồ. Người là nhà cách mạng dày dạn kinh nghiệm, với lòng yêu nước nồng nàn, theo đuổi một mục tiêu duy nhất: Giành độc lập cho đất nước. Hồ Chí Minh đã kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa cộng sản, đã làm hoàn hảo nghệ thuật chiến tranh du kích đến mức độ vô cùng hiệu quả”. Và tác giả kết luận: “Với tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh  là biểu tượng tuyệt vời của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa cộng sản. Người đã đưa nghệ thuật chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích lên tầm cao mới. Ở tuổi 20 tôi đã có ấn tượng mạnh mẽ về con người mà hàng triệu người Việt Nam gọi bằng cái tên trìu mến  “Bác Hồ”. Một  con người mà mong ước lớn nhất của cuộc đời là làm sao cho dân tộc Việt Nam được độc lập tự do. Và Người đã cống hiến đến hơi thở cuối cùng vì nỗi ước ao cao cả ấy. Hồ Chí Minh không chỉ là một chính trị gia đại tài mà còn là một nhà tiên tri, nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà văn”.</span></p>
<p><strong><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn </span></strong><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>http://www.baobacgiang.com.vn</strong></span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần IV: Thế giới viết về Bác</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 3:05 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những tình cảm, ấn tượng tốt đẹp, thành kính không chỉ đối với nhân dân Việt Nam mà còn với cả nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác, xin điểm lại những bài viết, câu nói của bạn bè trên thế giới viết về Người.</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 4.651</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần IV: Thế giới viết về Bác</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 08:11:13 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=53</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Một ngày lịch sử</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=42</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassD4D204E5A24A4C3188CC5A8A9931719B><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ở Việt Nam chính quyền thực dân thi hành chính sách cai trị thời chiến cực kỳ phản động trên mọi mạt đời sống xã hội, đẩy mọi giai cấp, mọi tầng góp nhân dân, trừ bọn tay sai của đế quốc, bọn địa chủ lớn, tư sản mại bản vào cảnh khốn cùng. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tình hình thế giới và trong nước đặt ra cho cách mạng nước ta nhiệm vụ mới trực tiếp đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai, “sẽ tiến tới vấn đề dân tộc giải phóng” như Thông cáo cho các cấp bộ Đảng của Trung ương Đảng, ngày 29-9-1939, nhận định. Tháng 11-1939, Hội nghị BCH Trung ương Đảng họp tại Hóc Môn (Gia Định xác định mục tiêu chiến lược trước mắt của Cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Hội nghị nhận định “Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hai da vàng để tranh lấy giải phóng, độc lập<sup>2</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chính vào thời điểm đó, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đang trên đường trở về Tổ quốc. Ý định về Tổ quốc đã được người nung nấu từ nhiều năm trước đây. Sau khi tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, năm 1923, Người đã chủ trương “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”<sup>3</sup>. Nhưng do phải đảm nhiệm một số công tác của QTCS (ủy viên Đoàn chủ tịch Quốc tế nông dân, phụ trách công tác vận động nông dân ở Trung Quốc và ở các thuộc địa Đông Dương, Miến Điện, Xiêm, Đài Loan, Philíppin; ủy viên Ban phương Đông QTCS, trực tiếp làm Cục trưởng Cục phương Nam...); trong nước, theo lệnh chính quyền Pháp, tòa án Nam triều kết án tử hình vắng mặt Nguyễn Ái Quốc (1929), nên Người chưa trở về Tổ quốc được, mặc dù có thời gian đã về gần biên giới và luôn theo dõi sát, chỉ đạo thường xuyên phong trào cách mạng trong nước. Nhưng ý định trở về Tổ quốc không lúc nào nguôi trong tâm trí Người. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1935 học xong một khóa bồi dưỡng ở Trường quốc tế Lê nin (Mátxcơva), Người đã bày tỏ “Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc tôi”<sup>4</sup>. Khi gặp đồng chí Hoàng Văn Nọn (tức Như, Tú Hưu), Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng, đại biểu Đảng ta tham dự Đại hội lần thứ VII QTCS, sau Đại hội theo học lớp ngắn hạn tại Trường đại học Phương Đông, Người đã trao đổi về vị trí của Cao Bằng và chỉ rõ Cao Bằng có những điều kiện để xây dựng chỗ đứng chân, căn cứ cách mạng để chuẩn bị lực lượng về mọi mặt. Sau đó, Người đã chỉ thị cho Ban lãnh đạo Đảng ta “Trung ương Đảng phải chuyển về nước để trực tiếp lãnh đạo phong trào”<sup>5</sup>. Và từ tháng 10-1938, chính Người cũng đã vượt qua chặng đường dài gian khổ, nguy hiểm từ Mátxcơva (Liên Xô) đi Lan Châu (Cam Túc, Trung Quốc), Tây An, Diễn An, Quế Lâm, Hồ Nam, Trùng Khánh, Côn Minh đến Tĩnh Tây (Quảng Tây), vào đầu tháng 12-1940, để tìm đường về nước. Sau khi cân nhắc kỹ, Nguyễn Ái Quốc quyết định chọn Cao Bằng làm đất “đứng chân” đầu tiên để từ đó chỉ đạo phong trào cách mạng trong toàn quốc. Người nhận định “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế thuận lợi, nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được <sup>6</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Làng Nậm Quang<span style="">  </span>(Tĩnh Tây, Quảng Tây) là điểm dừng chân cuối cùng ở nước ngoài của Nguyễn Ái Quốc, cách biên giới Việt Nam khoảng 7 km. Ở đây, Người đã mở lớp huấn luyện cho 43 cán bộ cách mạng Cao Bằng theo đường lối và phương pháp cách mạng mới, chuẩn bị cho việc tổ chức thí điểm các đoàn thể cứu quốc ở Cao Bằng sau này; đã cùng đồng chí, nhân dân địa phương đón Tết Tân Tỵ, thăm hỏi, chúc Tết bà con nhân dịp năm mới<sup>7</sup> sáng ngày 28-1-1941<sup>8</sup> (mồng hai Tết), Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp và Hoàng Văn Lộc rời Nậm Quang về nước. Đến trưa ngày hôm đó, từ đỉnh núi Sum Khảo, Người vượt cột mốc 108, biên giới Việt Trung, đặt bước chân đầu tiên lên mảnh đất Tổ quốc thuộc Pác Bó, xã Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng. Người đứng lặng hồi lâu, bồi hồi xúc động. Đây là lần đầu tiên, kể từ ngày 5-6-1911, khi người xuống tàu rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân; sau gần 30 năm, qua 5 châu, 4 biển, Người mới có điều kiện trở về Tổ quốc, trực tiếp cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện ham muốn tột bậc đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, hạnh phúc. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đồng bào Pác Bó, thay mặt nhân dân cả nước, đón Người về ở tại nhà ông Máy Lỳ (một cơ sớ cách mạng). Đến ngày 8-2-1941, Nguyễn Ái Quốc và một số cán bộ mới chuyển lên hang Cốc Bó ở và làm việc. Từ ngày về nước, 28-1-1941, ở Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc đã khẩn trương chỉ đạo xây dựng căn cứ địa Cao Bằng, chỉ đạo tổ chức thí điểm Mặt trận Việt Minh chuẩn bị và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng, tháng 5-1941, mà Nghị quyết của Hội nghị có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám (1945); sáng lập Mặt trận Việt Minh, mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi sáng lập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam; viết nhiều tài liệu quan trọng về chính trị, quân sự để huấn luyện cán bộ, đặt nền tảng cho đường lối chính trị, quân sự của Đảng... </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Là người sáng lập ĐCS Việt Nam (đầu 1930) và từ nước ngoài, thường xuyên theo dõi, chỉ đạo phong trào, nhưng cũng phải từ ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc mới trực tiếp cùng Trung ương Đảng lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam, kịp thời đề ra những chủ trương, giải pháp đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam không ngừng phát triển, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đề ra Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng; và cùng với chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng của người trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng, toàn dân. Và cũng từ ngày đó, 28-1-1941, Pắc Bó, một bản làng héo lánh, với hang Cốc Bó, lán Khuất Nậm, núi “Các Mác”, suối “Lênin” (những ngọn núi, dòng suối ở Pác Bó do Người đặt tên) và nhiều địa danh khác, đã trở thành những địa danh nổi tiếng, gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, gắn liền với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc ta. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Vinh dự được đón lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh về nước, trong nhiều thời gian ở và làm việc tại Cao Bằng, được người coi là quê hương thứ hai, đồng bào các dân tộc ở Cao Bằng đã đoàn kết chặt chẽ hăng hái phấn đấu thực hiện các chủ trương của Đảng, của lãnh tụ, trở thành một tỉnh đi đầu trong cuộc “cách mạng dân tộc dân chủ” như lời khen tặng của Người năm 1961. Ngày nay, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, được sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ của Trung ương, của các ngành, các cấp, các tỉnh bạn, Đảng bộ và nhân dân Cao Bằng ra sức đoàn kết, khắc phục khó khăn, chủ động sáng tạo trong lao động, sản xuất, xây dựng cuộc sống mới, đấu tranh bảo vệ biên giới giữ vững chủ quyền, đạt được một số thành tựu đáng kể: kinh tế tăng trưởng; đời sống nhân dân được cải thiện hơn trước, an ninh - quốc phòng được củng cố, tăng cường, đường biên giới thuộc địa bàn tỉnh được giữ vững; lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, đối với sự nghiệp đổi mới ngày càng cao. Dù còn nhiều khó khăn, nhưng thành tựu bước đầu đó là tiền đề quan trọng, tạo đà cho Cao Bằng bước sang thời kỳ mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, phấn đấu thực hiện lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Cao Bằng sớm trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong cách mạng XHCN”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">1. Theo Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, 1920-1954. ST. H, 1981, T.I, tr. 305. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">2. Văn kiện Đảng (1930-1945), BNCLSĐTU, H. 1977. T. III, tr. 55</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">3. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, ST. H. 1975, tr. 53-54. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">4,5. Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, NXB CTQG, H. 1993,<span style="">   </span>tr.53. tr.54<span style="">  </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">6. Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử NXB Văn học, H. 1977. tr. 38. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">7. Cán bộ Bảo tàng Pác Bó đã sang Nậm Quang gặp gỡ một số người còn nhớ sự kiện này. Họ đều xúc động kể về tình cảm của Bác Hồ đối với nhân dân Trung Quốc ở đây. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">8. Không phải là 8-2-1941 như một số sách, báo đã viết.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn </span></strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><b style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lịch sử Đảng. -1996. –Số tháng 1. –Tr.40-41</span></b></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 2:20 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Chiến tranh thế giới II bùng nổ tháng 9-1939, dần lan tràn khắp thế giới, lôi cuốn 72 nước tham gia, động viên 110 triệu quân, làm chết 50 triệu người, 34 triệu người bị thương, chi phí 935 từ đô la, thiệt hại vật chất 4000 tỷ đô la; đấy là chưa tính đến hàng chục triệu người chết vì nạn đói, bệnh dịch, bom đạn do quân phát xít tàn sát1…</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.064</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 07:25:50 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=42</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nguyễn ÁI Quốc đến Liên xô 80 năm trước</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=18</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass9387776D1F6E449D8F43AF6F81EAAD66><p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trong thời gian ở Đại học Phương Đông, Nguyễn <span style="text-transform:uppercase">Ái</span> Quốc từng chủ biên cuốn sách “Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc&quot;, lúc đầu viết bằng tiếng Pháp, xuất bản ở Pa-ri, năm 1924<span style="">  </span>được dịch ra tiếng Nga và xuất bản tại Mát-xcơ-va. Là đại biểu của Đoàn thanh niên XHCN Trung Quốc đóng tại Thiếu niên Cộng sản quốc tế, đồng chí Trương Thái<span style="text-transform:uppercase"> </span>Lôi đã cung cấp nhiều văn kiện, tài liệu về tình hình hoạt động của Đoàn thanh niên XHCN Trung Quốc để Nguyễn Ái Quốc viết cuốn sách này.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ngày 9-11-1923, báo <i>Sinh hoạt công nhân </i>ở thủ đô Pháp đã đăng bài &quot;Chính sách thực dân của Anh&quot; của Nguyễn <span style="text-transform:uppercase">Ái</span> Quốc. Bài viết vạch trần âm mưu của thực dân Anh đã lợi dụng &quot;sự kiện Lâm Thành&quot; để tiến thêm một bước nữa thúc đẩy chính sách thực dân tại Trung Quốc. Sự kiện Lâm Thành chỉ là một chuyện xảy ra ngày 6-5-1923, khi đoàn tàu khách đường sắt Tân Phố chạy về phía bắc, đi qua Lâm Thành (Sơn Đông) bị bọn thổ phỉ do Tôn Mỹ Diêu cầm đầu phá đường, cướp tàu, bắt hơn 300 người Trung Quốc và một số người nước ngoài đem vào rừng. Vụ việc xảy ra, các nước đế quốc, nhất là Anh vin vào đó đã đưa ra nhiều yêu sách vô lý với Trung Quốc, tạo điều kiện tiến thêm một bước nữa khống chế Trung Quốc</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trong bài viết, Nguyễn <span style="text-transform:uppercase">Ái</span> Quốc tỏ ra hết sức căm phẫn trước việc đế quốc Anh thực hiện chính sách thuộc địa, và bày tỏ đồng tình sâu sắc trước vận mệnh của nhân dân Trung Quốc, tỏ ý kiên quyết ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc làm cách mạng giải phóng đất nước.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Là ủy viên chấp hành của Quốc tế Nông dân, trong quá trình tiếp xúc với các đồng chí Trung Quốc ở Đại học Phương Đông, Nguyễn <span style="text-transform:uppercase">Ái</span> Quốc đã có hiểu biết nhất định về tình hình nông dân nước láng giềng.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Một trước tác quan trọng nhất của Nguyễn <span style="text-transform:uppercase">Ái</span> Quốc hoàn thành tại Mát-xcơ-va là cuốn “Bản án chế độ thực dân Pháp&quot;, được xuất bản tại Pháp năm 1925. Người đã dùng nhiều dẫn chứng vạch trần tội ác của thực dân Pháp tại Đông Dương qua 40 năm đô hộ. Đây thực sự là bản &quot;cáo trạng tố cáo chủ nghĩa thực dân đương thời. Bìa sau cuốn sách này có kèm theo bài viết “gởi thanh niên Việt Nam&quot; của Người. Người đã giới thiệu tình hình học tập, sinh hoạt và cống tác của học sính &quot;cần cống kiệm học&quot; Trung Quốc tại châu Âu, khen ngợi tinh thần tiến thủ của học sinh &quot;cần công kiệm học&quot; rất chân thành. Người viết:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">“Kiên trì được như vậy, có quyết tâm và đoàn kết, các chàng trai của chúng ta nhất định sẽ đạt được mục đích. Với đội ngũ 5 vạn người dũng cảm đáng khâm phục, dưới sự đào tạo của kỷ luật và kỹ thuật hiện đại, không bao lâu nữa, Trung Quốc sẽ chiếm được một vị trí trong các nước mạnh công nghiệp và thương nghiệp trên thế giới”<i>.</i></span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Bài viết này Nguyễn <span style="text-transform:uppercase">Ái</span> Quốc vạch đường chỉ lối cho thanh niên sang học ở Đai học Phương Đông cho đến đại chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ. Những thanh niên này sau này đều trở thành cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng. Từ tháng 6-1927 đã có hơn một nhóm Cộng sản Việt Nam ở trường Đại học Phương Động do đồng chí Trần Phú làm Bí thư theo quyết định của Bộ Phương Đông của Quốc tế Cộng sản.</span></p>
<p>Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sự kiện và nhân chứng : Nguyệt san báo Quân đội nhân dân. – 2003. – Tháng 5. - Số 113. – Tr. 3, 23</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 8:25 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Ngày 13-6-1923, Nguyễn ÁI Quốc bí mật rời Pa-ri qua Đức. 17 ngày sau đó, lần đầu tiên Nguyễn ÁI Quốc đặt chân lên quê hương của Lê-nin, quê hương Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Nguyễn ÁI Quốc đã hoạt động, học tập ở Liên Xô 18 tháng. Thời gian hoạt động cách mạng ở Liên Xô tuy không lâu, Nguyễn ÁI Quốc đã làm khá nhiều việc: dự Hội nghị lần thứ nhất của Quốc tế Nông dân ở Mát-xcơ-va, dự Đại hội 5 của Quốc tế Cộng sản. Cũng thời gian này, được sự sắp xếp của Quốc tế Cộng sản, Người đã vào học ở Đại học Phương Đông. Trường này được thành lập sau Đại hội đại biểu các dân tộc Đông Dương (của Liên Xô) tại Ba Cu, với tên: Trường đại học chủ nghĩa Cộng sản người lao động Đông Phương, đào tạo huấn luyện chính trị cho cán bộ phương Đông. Trong số học viên, ngoài đại biểu các dân tộc vùng Viễn Đông của Liên Xô còn có học viên một số nước bị áp bức của Phương Đông như: Trung Quốc, Việt Nam. Tại Đại học Phương Đông, Nguyễn ÁI Quốc thường xuyên cùng các đồng chí người Trung Quốc đã quen biết từ Pa-ri thảo luận học thuyết của Lê-nin về vấn đề thuộc địa dân tộc, phân tích phong trào giải phóng dân tộc bị áp bức, sự chỉ đạo của học thuyết cách mạng Mác-xít-lê-nin nít, khiến mối tình hữu nghị và tình cảm giữa Nguyễn ÁI Quốc và các đông chí Trung Quốc được thắt chặt hơn nữa, đặc biệt quan hệ giữa Nguyễn ÁI Quốc và đồng chí Trương Thái Lôi, một trong những đảng viên đảng cộng sản sớm nhất của trung Quốc rất tình cảm thắm nồng.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.495</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 01:27:38 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=18</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Hồ Chí Minh và những ngày đi tìm đường cứu nước</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=17</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass1BBC5ABC5EBA4A9A8791F4AD6F7B947B><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuộc hành trình 30 năm ròng, đi qua 28 quốc gia, làm nên sự nghiệp lớn, xuất phát từ một anh phụ bếp Văn Ba trên một chiếc tàu vận tải hàng hải. Tuy lao động vất vả suốt ngày, suốt tháng không có ngày nghỉ, ông chủ chỉ trả cho anh mỗi tháng không quá 50 franc là thứ tiền công rẻ mạt nhất cho một lao động, nhưng anh không nản lòng, chê trách. Mà trái lại, vơi thái độ cởi mở, lễ phép với mọi người; từ người lao động đến những du khách thượng hạng đi trên tàu, ai cũng quý mến anh, sẵn sàng giúp đỡ mỗi lần anh muốn biết về một điều gì đó. Xong việc, anh tranh thủ học thêm hoặc đọc sách hay tự học ngoại ngữ. Tàu cập bến một số nước, anh Ba lên bờ, không phải như những người khác, bao nhiêu tiền dồn vào việc ăn chơi phung phí; anh dành thời gian đi sâu tìm hiểu hiện trạng thực tế xã hội. Anh chợt nhận ra rằng, mỗi quốc gia mỗi vẻ khác nhau về phong cảnh và con người; nhưng về xã hội thì đâu đâu cũng có người nghèo, người giàu, đâu cũng có các tệ nạn xã hội, đâu cũng có người tốt và kẻ xấu. Anh tiêu tiền hợp lý, chỉ sử dụng tiền khi cần thiết, còn dành một ít tiếp gửi về cho người cha ở nhà đang còn gặp nhiều khó khăn. Trên đất Pháp, anh viết thư gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp xin vào học Trường Thuộc địa. Đây không chỉ là trường đào tạo học sinh sau này phục vụ chính sách cai trị của Pháp mà còn đào tạo một số nghề chuyên môn như điện báo, kế toán, xưởng trưởng... Anh ký tên Nguyễn Tất Thành, trong thư anh ghi: “Ý muốn trở thành có ích cho đồng bào tôi, muốn cho họ được hưởng những lợi ích của học thức”. Song lời yêu cầu thiết tha đó không được chấp nhận. Một lần nữa, anh lại xuống tàu tiếp tục cuộc hành trình qua những châu lục khác. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trên chiếc tàu biển của hãng Chargeurs Réunes nước Pháp, Nguyễn Tất Thành bắt đầu chuyến hành trình qua các nước bên bờ biển châu Phi. Khi tàu cập bến, anh thường tranh thủ thời gian rỗi lên thăm thành phố cảng, dạo ngắm phong cảnh châu Phi và tìm hiểu đời sống kinh tế, xã hội của lục địa đen này. Anh đã được chứng kiến nhiều cảnh đau xót. Thân phận của nô lệ da đen thật kinh khủng. Họ là người mà không được sống cuộc sống của con người. Họ bị hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần, họ là thứ hàng hoá trao đổi mua bán giữa các ông chủ buôn người công khai được pháp luật thừa nhận. Bọn chủ xem tính mạng những người nô lệ da đen là thứ trò chơi tiêu khiển, là những đồ dùng khi cần thì sử dụng, khi không cần thì vứt đi không tiếc. Trước những cảnh đời đau xót đó, Nguyễn Tất Thành đã có lúc xúc động và khóc. Người đau nỗi đau chmg của nhân loại cho thân phận người nô lệ, cho số phận của người dân Việt Nam bị áp bức bị mất quyền tự do của con người. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rời châu Phi, để lại nỗi buồn của những cảnh đời, nhũng băn khoăn suy tư về một câu hỏi lớn: Làm thế nào để trên thế giới bớt đi sự bất công? Từ châu Phi, anh đến châu Mỹ đi qua Martinique, Urugoay, Argentina, rồi lần đầu tiên đặt chân lên nước Mỹ, nơi anh thường được nghe về một tuyên ngôn độc lập nổi tiếng cả thế giới. Người muốn dừng chân trên đất Mỹ một thời gian để tìm hiểu bản chất của sự độc lập kiểu Mỹ như thế nào. Thời gian đầu Nguyễn Tất Thành đến nhận một công việc làm bánh tại một gian bếp của khách sạn Omni Parker House ở thành phố Boston. Tại đây anh thường lui tới khu vực Harlem, nơi ở của người nghèo, chủ yếu là người da đen. Anh làm quen vơi các phong trào đấu tranh với giới chủ, từ những cuộc quyên góp tiền gửi về giúp đỡ quê hương châu Phi. Có lần khi trả lời nhà báo A.Luỹ Xtơrông, Bác Hồ nhớ lại thời kỳ này: “Khi ấy tôi chưa hiểu lắm về chính trị, nhưng tôi cảm thấy họ đều là những người nghèo khổ đang mong muốn được tự do. Họ có bao nhiêu tiền công bỏ ra trong lúc quyên góp, thế là tôi dốc cả tiền túi của mình ra góp vào đấy”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuối năm 1913, Nguyễn Tất Thành rời nước Mỹ sang nước Anh. Thời kỳ đầu gặp nhiều khó khăn về kinh tế nên phải tạm xin việc quét tuyết cho một trường học, rồi chuyển sang làm nghề đốt lò. Tiền thu chẳng được bao nhiêu vừa đủ tiền thuê nhà, tiền học thêm tiếng Anh, còn lại chỉ đủ những bữa ăn thanh đạm. Sau đó nhờ có người giới thiệu, anh chuyển đến làm thuê ở khách sạn Carlton. ở đây có ông vua đầu bếp nổi tiếng Escophier người Pháp. Anh Thành nhận việc rửa bát đĩa, xoong nồi, lao động chăm chỉ, tính tình cởi mở, đặc biệt rất có ý thức trong công việc. Mỗi lần phục vụ bữa tiệc lớn của những người giàu có, thức ăn thừa nhiều, anh Thành không vứt những thức ăn còn có thể dùng được mà gói lại mang ra đường cho những người nghèo. Việc làm đó được ông Escophier rất chú ý. Là người có tư tưởng tiến bộ nên ông rất quý anh và ông đã giúp anh cách làm bánh – một bí quyết nghề nghiệp. Có công việc mới, anh Thành vừa đỡ vất vả lại có thời gian để học thêm tiếng Anh. Lúc này ở nước Anh đã hình thành một tổ chức gồm những người châu Á, có tư tưởng tiến bộ, gọi là “Hội những người lao động hải ngoại”. Anh Thành trở thành hội viên của Hội vì Hội này ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa, trong đó có dân tộc Việt Nam. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thời kỳ ở nước Anh, ngoài điều kiện thuận lợi cho anh học tiếng, điều kiện xã hội và chính trị đương thời còn giúp anh hiểu biết nhiều về chế độ chính trị của xã hội tư bản, về đấu tranh giai cấp giữa công nhân và tư sản... Tuy điều kiện rất tốt song có điều những thông tin về quê hương quá ít, ở nước Pháp - nước đang trực tiếp đô hộ dân tộc mình - sẽ có nhiều thông tin về quê hương. Hơn nữa nhờ liên lạc được với cụ Phan Chu Trinh và một số người Việt Nam đang ở Paris, Nguyễn Tất Thành càng hiểu hơn điều kiện thuận lợi khi mình có mặt ở Paris, do đó anh quyết định trở lại nước Pháp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thời kỳ này cụ Phan Chu Trinh đang ở Pháp cũng rơi vào hoàn cảnh khó khăn chung. Cụ phải làm nghề ảnh để có thu nhập sinh sống. Thời kỳ mới đến Paris, nhờ sự quen biết trước nên cụ Phan đã giúp anh Thành làm nghề thợ ảnh. Để giảm bớt khó khăn chung, cụ Phan cùng đến ở nhà của Phan Văn Trường tại số 6 Villa des Gobelins, quận 13 Paris. Dần dần ngôi nhà này trở thành nơi hội tụ của người Việt Nam ở Paris. Thủ đô Paris là trung tâm chính trị xã hội không những của châu Âu mà còn của cả thế giới. Các đảng phái đại diện quyền lợi chính trị, kinh tế của giai cấp mình đua nhau thi thố làm cho không khí xã hội Paris càng thêm sôi động. Qua một thời gian theo dõi diễn biến chính trị xã hội ở Pháp và tích cực liên hệ với những người Pháp, người Việt có tư tưởng tiến bộ, đặc biệt anh nhận thấy trong nhiều đảng phái chính trị thì Đảng Xã hội Pháp là Đảng tiến bộ - giương cao ngọn cờ của cuộc Đại cách mạng tư sản Pháp - Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Do đó, Nguyễn Tất Thành tự nguyện tham gia Đảng Xã hội Pháp vào đầu năm 1919.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chiến tranh thế giới kết thúc. Nhiều tổ chức chính trị tiến bộ gửi yêu sách, nguyện vọng đến Hội nghị. Những người Việt Nam ở Pháp có Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Tất Thành đã thảo luận thống nhất Bản yêu sách 8 điểm của những người yêu nước An Nam, ký tên Nguyễn Ái Quốc và từ đó tên gọi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện. Nhờ nhạy cảm về chính trị và được sự chuẩn bị chu đáo, Bản yêu sách đã được công bố công khai trên báo chí trước ngày khai mạc Hội nghị Versailles. Do đó, nó nghiễm nhiên được đặt trước các nguyên thủ quốc gia tham gia Hội nghị và nhất là công luận đã lên tiếng thì nhân dân Pháp và các lực lượng tiến bộ sẽ ủng hộ. Nội dung yêu sách nói lên nguyện vọng của các dân tộc nhược tiểu, hy vọng những lời cam kết chính thức và quan trọng của các cường quốc về chế độ nhân đạo công lý sẽ được thực hiện, nhũng yêu sách này là những nguyện vọng chính động và nhu cầu tối thiểu cần được hưởng của một dân tộc, của một con người bình thường được sống trong thời đại. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một sự kiện chính trị lớn khác trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, đó là ngày 16 và 17-7-1920, trên Báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp đăng bài “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của VI. Lê nin đã gây xúc động lớn đến Nguyễn Ái Quốc. Sau này Người nhớ lại: “Trong luận cương ấy có những chữ chính trị khó hiểu, nhưng cứ đọc đi, đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đày đọa đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta!”. Từ đó tôi hoàn toàn theo Lê nin, tin theo Quốc tế thứ ba”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhờ những hoạt động tích cực đó mà Đảng Cộng sản Pháp mới có những động thái như thông qua “Lời kêu gọi những người bản xứ thuộc địa” do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, vạch trần nhũng chế độ hà khắc của chủ nghĩa thực dân đối với những người bản xứ, phải chịu hai tầng áp bức - một là người lao động, hai là người bản xứ - kêu gọi đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù chung. Trong cuộc đấu tranh của nhũng người lao động bản xứ có sự ủng hộ của Đảng Cộng sản Pháp... Lời kêu gọi được Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Việt, in truyền đơn, bí mật gửi về Việt Nam, thức tỉnh phong trào cách mạng trong nước. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cũng trong những ngày trên đất Pháp, Người còn sáng lập ra “Hội Liên hiệp Thuộc địa”, nhằm tạo hợp lực lượng, đoàn kết các dân tộc thuộc địa với giai cấp công nhân chính quốc để đấu tranh chống kẻ thù chung. Đây là mặt trận liên minh các lực lượng dân tộc bị áp bức, lần đầu tiên xuất hiện ở Pháp do một lãnh tụ thuộc địa, đó là Nguyễn Ái Quốc đứng ra tổ chức. Ảnh hưởng của càng lớn lao trên diễn đàn quốc tế bao nhiêu thì mật thám càng ráo riết theo dõi hoạt động cách mạng của anh bấy nhiêu. Hội Liên hiệp Thuộc địa được chính thức thành lập ngày 26-6-1921 tại Paris. Hội xây dựng chương trình, điều lệ và có ra Ban Chấp hành của Hội. Hội ra bản tuyên ngôn do Nguyễn Ái quốc soạn thảo. Đặc biệt Hội đã cho ra tờ báo Người cùng khổ (Le Paria). Nguyễn Ái Quốc vừa là chủ nhiệm kiêm chủ bút, viết bài, sau này cả phát hành báo. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 1-4-1922, báo ra số đầu tiên. Trang đầu đăng lời kêu gọi giống như một tuyên ngôn của báo. Tài chính của báo do sự ủng hộ nhiệt tình của các đồng chí Pháp cũng như trụ sở báo, phương tiện... Nhà văn nổi tiếng Pháp H. Barbusse nhận đỡ đầu cho báo, các đồng chí M.Cachin G.Lêuy... tham gia viết bài cho báo. Từ lúc ra đời cho đến lúc dừng hoạt động (4-1926), toàn bộ báo ra được 38 số là một sự cố gắng trong đó vai trò của Nguyễn Ái Quốc rất quan trọng. Ngoài việc lo hoạt động của báo, Người còn viết nhiều bài trên các lĩnh vực: xã luận, bình luận, truyện ký, tiểu phẩm, tranh vẽ, đưa tin, dịch thuật… là một cây viết chính, là linh hồn tồn tại và phát triển của báo. Những bài viết của Nguyễn Ái Quốc tập trung tố cáo chế độ bóc lột của thực dân trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Vạch trần những thủ đoạn, mánh khoé bóc lột tư bản như đặt ra nhiều thứ thuế phi lý, sinh ra các tệ nạn xã hội như thuốc phiện, rượu, bắt lính, chiếm đoạt ruộng đất... Người kêu gọi, muốn xoá những chế độ bất công đó không có gì khác hơn là đoàn kết các dân tộc, đứng lên đấu tranh giai cấp. Hoà cùng tiếng nói với Báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp, Báo Người cùng khổ đã tạo thành một mặt trận thống nhất chung của nhân dân thuộc địa vơi giai cấp vô sản và nhân dân lao động Phép chống chủ nghĩa tư bản. </span></p>
<p><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Như vậy là từ một người yêu nước nhiệt tình cách mạng. Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước và dấn thân vào cuộc đấu tranh thực hiện thắng lợi con đường đó. Sáu năm hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc từ người đi tìm đường trở thành người dẫn đường. Là đảng viên Cộng sản, trở thành người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp sau này sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa xuân năm 1930. Năm 1941, sau vừa đúng 30 năm xa Tổ quốc, Bác Hồ của chúng ta đã trở về Tổ quốc lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua bao thác ghềnh và giành được độc lập vào mùa thu năm 1945.</span></p>
<p>Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Công an nhân dân. -2011. –Số Xuân. –Tr.3</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 8:20 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Ở bến Nhà Rồng – TP. Hồ Chí Minh có một khu di tích quy tập những hình ảnh về cuộc đời và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cũng dễ hiểu, bởi từ nơi đây, ngày 5-6-1911, một người thanh niên yêu nước Việt Nam có tên là Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm đường có nước. Mang tên mới Văn Ba, anh xin được chân người phụ bếp trên một chiếc tàu biển của Pháp Latouche Tréville. Từ đây, hoà mình trong đời sống của thợ thuyền, người thanh niên Văn Ba bắt dầu cuộc hành trình tìm đường của nước thoát khỏi ách nô lệ của chế độ thực dân.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.505</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 01:23:42 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=17</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Lời thề quyết chiến giành độc lập</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=41</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass18B1C73ADA1C468C90A617D401E00132><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rồi anh Giáp dẫn chúng tôi đến chỗ Bác ngay. Bước vào cái lều Bác ở, tôi rất cảm động. Nhà trống hơ trống hoác, bốn phía không có phên che. Bấy giờ đã vào thu lại sau những trận mưa liên miên, khí trời lạnh. Ông Cụ ngồi xổm một mình trên sàn. Tôi nhận ra ngay ông Cụ, nhưng ông Cụ hom hem quá, khác hẳn đồng chí Vương hồi trước. Ông Cụ đã để râu, tóc lốm đốm bạc, hai má hóp lại, đầu đội miếng vải túm lại như mũ nồi, mình mặc áo cộc chàm; hai chân gầy khẳng khiu làm cho hai ống quần soóc càng rộng. Chỉ có đôi mắt là vẫn sáng như xưa... </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau bao nhiêu năm bây giờ mới được gặp lại Bác, tôi nghĩ liên miên, nghĩ chuyện ngày xưa, nhớ những lời Bác dặn dò. Rồi tin Bác bị bắt (1931), bị chết vì ho lao, bây giờ không ngờ lại trở về đây. Bác bảo mọi người ngồi. Giọng nói không có gì đổi khác, vẫn từ tốn, đầm ấm như trước. Hôm ấy tôi được nói chuyện riêng với Bác. Chúng tôi vào thăm Bác và để bàn với Bác về công việc chuẩn bị Hội nghị Trung ương. Khi bàn công việc, Bác vẫn minh mẫn, khẩn trương. Tôi nhớ khi ấy Thường vụ chưa ấn định dứt khoát ngày họp của Hội nghị Trung ương mở rộng, Bác nói: </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Nên họp ngay và cũng không nên kéo dài hội nghị. Chúng ta cần tranh thủ từng giây, từng phút, tình hình sẽ biến chuyển nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một mặt Thường vụ họp, một mặt Bác đề nghị một số đồng chí đi dự Hội nghị Trung ương phải về ngay địa phương, nắm lấy những ý kiến của Ban thường vụ đem về mà thi hành. Ngày ấy, Nhật chưa đầu hàng Đồng minh, nhưng Bác nói: “Chỉ vài ngày nữa là nó hàng, và hàng không điều kiện”. Vài hôm sau, trong khi Hội nghị Trung ương đang họp, chúng tôi được tin phát xít Nhật đầu hàng... </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Bác tuy rất yếu nhưng dự họp suốt từ đầu tới cuối với Ban thường vụ. Ngày 13, 14, 15 - 8 - 1945, Hội nghị Trung ương lần thứ chín họp. Những quyết định của hội nghị này có một tầm quan trọng rất lớn đối với vận mạng của dân tộc. Cuộc thảo luận ở Hội nghị thật là sôi nổi và hào hứng bàn nhiều nhất là về hai khả năng của cách mạng: Khả năng thứ nhất là ta lấy lại được nước nắm được chính quyền tức là có cương vị nói chuyện với Đồng minh. Khả năng thứ hai là lực lượng chủ quan của ta yếu, không tận dụng được thời cơ thuận lợi mà giành lấy chính quyền trước khi Đồng minh kéo vào - mà Đồng minh là có Pháp ở trong thì tức là phải đặt vấn đề đàm phán với Pháp... tiếp tục đấu tranh cho đến thắng lợi cuối cùng. Khi bàn đến khả năng Pháp có thể trở lại, có đồng chí uất quá nói: Nó vào thì cứ đánh. Dù lực lượng nhỏ đến đâu cũng đánh. Đấy là những lời tâm huyết, biểu lộ một tấm lòng nhiệt thành yêu nước. Nhưng khách quan mà nhìn nhận vấn đề, thì đánh Pháp lúc ấy phức tạp vì nó núp sau danh nghĩa Đồng minh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Vì điều kiện sức khỏe Bác không dự Hội nghị Trung ương được suốt. Nhưng Bác góp rất nhiều ý kiến. Bác rất sáng suốt và bình tĩnh phân tích tình hình một cách rõ ràng và khoa học. Bác nhận định cách mạng là một cuộc đấu tranh lâu dài làm cách mạng phải chiến đấu hết keo này đến keo khác; trước mắt là phải nỗ lực phát động một cao trào khởi nghĩa, đã có khu giải phóng rồi phải mở rộng khu giải phóng ra khắp nơi trong nước, dù lực lượng còn nhỏ cũng lập khu giải phóng, trước khi Đồng minh vào. Tích cực thì năm được thời coi không tích cực thì thời cơ không chờ mình... Hội nghị quyết định phát động một cao trào khởi nglia suốt từ Bắc chí Nam ai nấy đều bừng bừng chấn khởi... </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một tối sau cuộc họp của Ban thường vụ, chúng tôi đốt đuốc vào thăm Bác. Bác đang nói chuyện với các anh bỗng nhìn tôi và nói:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Trông chú già đi nhiều. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tôi hỏi lại Bác còn nhớ tôi cơ ạ? </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Nhớ chứ!... </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Buổi tối ấy, Bác và tôi nhắc lại những ngày ở Quảng Châu. Ngoảnh đi ngoảnh lại đã hai mươi năm rồi. Bác nhớ rất kỹ. Bác rất vui... Nhưng vui mấy thì những cuộc chuyện trò như thế cũng không bao giờ kéo dài quá một tiếng đồng hồ. Cuối cùng lại trở về công tác trước mắt. Sáng ngày 16-8, Quốc dân đại hội khai mạc ở đình Tân Trào. Bác được bầu vào Đoàn chủ tịch. Hôm ấy ban tổ chức giới thiệu Bác là cụ Hồ Chí Minh một nhà lão thành cách mạng. Nhiều đại biểu không khỏi ngạc nhiên vì chưa nghe thấy tên Hồ Chí Minh bao giờ. Nhưng một số người đã thì thầm về Bác mà người ta gọi là ông Ké Tân Trào. Mấy đại biểu kháo nhau: cụ Nguyễn Ái Quốc đấy!... </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Các đại biểu vừa phấn khởi, vừa bồi hồi. Suốt ngày hôm ấy Bác điều khiển hội nghị. Đại biểu nào cũng chú ý lắng nghe những ý kiến của Bác. Anh Trường Chinh đọc báo cáo trước Đại hội, nêu ra hai vấn đề lớn để thảo luận Tổng khởi nghĩa và bầu ủy ban giải phóng dân tộc Đoàn đại biểu. Nhân dân Tân Trào đem gạo, đem gà đến mừng Đại hội. Đồng bào ta đã bị chiến tranh bòn mót đến xương tủy, ai nấy đều tiều tụy, rách rưới. Đáng thương nhất là các em bé thiểu số gầy gò, vàng vọt. Chúng ở truồng tồng ngồng, theo người lớn đến chào Quốc dân đại hội. Bác đã đến gần các cháu, chỉ vào chúng và nói với các đại biểu: </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Nhiệm vụ của chúng ta là phải làm sao cho các em bé có cơm no, có áo ấm, được đi học, không lam lũ thế này. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chúng tôi đều cảm động. Câu nói ấy, về sau này, Bác thường nhắc nhở luôn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Quốc dân đại hội quyết định lệnh Tổng khởi nghĩa và bầu ra ủy ban giải phóng dân tộc mà Bác làm Chủ tịch. Bác tổng kết đại hội lịch sử này, động viên các đại biểu trở về địa phương nỗ lực phấn đấu giành lấy thời cơ thuận lợi có một không hai để đưa cách mạng đến thành công. Sáng 17-8, ủy ban giải phóng dân tộc ra mắt quốc dân và làm lễ tuyên thệ. Tôi được cử đi đón Bác... Khi Bác đi từ dưới suối lên, các vị trong ủy ban đã đứng trước đình chờ sẵn. Bác bước tới và đứng vào giữa, thay mặt ủy ban, hướng lên lá cờ đỏ sao vàng dựng trước đình, đọc lời tuyên thệ. Lời thề “Quyết chiến giành độc lập cho Tổ quốc” rất ngắn, nhưng rất súc tích, như mọi câu nói, mọi bài viết của Bác. Tôi không nhớ được lời văn, nhưng nhớ đại ý: </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">“Chúng tôi là những người được quốc dân đại biểu bầu vào Ủy ban giải phóng dân tộc để lãnh đạo cuộc cách mạng của nhân dân ta. Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu chống quân thù giành lại độc lập cho Tổ quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, quyết không lùi bước. Xin thề!”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Giọng Bác trang nghiêm, lời thề dõng dạc, biểu lộ cái khí phách kiên cường, dũng cảm, quật khởi của dân tộc ta. Chúng tôi thấy rạo rực trong người, giơ tay theo kiểu chào bình dân, cùng hô một cách mạnh mẽ: Xin thề!</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn</span></strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Sự kiện &amp; Nhân chứng. -2006. –Số 152. –Tr.3, 8.</strong></span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 2:20 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Mùa hè năm 1945, chúng tôi lên Tân Trào. Tôi cùng đi với các anh Trường Chinh, Hà Huy Giáp và một số đại biểu đi dự đại hội. Đi trong khu giải phóng, hít thở không khí tự do, người thấy nhẹ nhàng... Tôi được tin ông Cụ đã ở Tân Trào, nên quên cả mệt. Nhưng trận mưa to sập đến, suối dềnh lên, đường bị nghẽn, chúng tôi đành nghỉ lại một cơ quan. Sớm hôm sau, cơm nước xong, chúng tôi vào Tân Trào. Tới nơi, anh Võ Nguyên Giáp cho chúng tôi biết ông Cụ đang chờ, nhưng ốm lắm. Mấy hôm trước, bệnh tình có vẻ nguy kịch, tưởng chết. Ông Cụ đã một lần cho gọi anh Phạm Văn Đồng và anh Võ Nguyên Giáp vào bàn công tác như có ý giối giăng... Bàn công việc. Bác đã nói với anh Võ Nguyên Giáp: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập...”.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.955</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 07:23:16 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=41</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Hồ Chủ tịch trong mắt nhân sĩ, trí thức thế giới</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=57</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassBEF82853E1034EDB8A09169B5AA29A6C><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người đã làm được việc này nhờ sự hiểu biết sâu sắc và tôn trọng những đặc điểm văn hóa khác nhau. Người đã hoàn thành được nhiệm vụ này và trong việc làm và lời nói của Người, ta có thể nhìn thấy rõ hình ảnh, tư tưởng của nhà thơ, nhà văn, nhà nghệ sĩ dân ca, những người đem lại nguồn cảm xúc cho nhiều thế hệ nhân dân Việt Nam. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người đã được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này. - Tiến sĩ M.Amét - Giám đốc UNESCO Khu vực châu Á - Thái Bình Dương</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">... Có lẽ vì thế mà ở Hồ Chí Minh, lý luận không bao giờ trừu tượng, nó luôn luôn là một cách nhìn sâu sắc và cụ thể những con người và những vấn đề. Là một nhà chính trị có tầm cỡ, Người có khả năng phân biệt được cái gì đó có tính chất sống còn bắt buộc phải chiến đấu và cái gì có thể đàm phán, dù là đau đớn; điều đó đã tạo thành năng lực đứng vững trên đường lối chiến lược, đồng thời chuyển động giữa những sự cản trở cực kỳ to lớn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">... Đó là những lý do khiến tôi muốn đóng góp vào sự tôn kính, sự tưởng niệm nhà cách mạng vĩ đại đó và chắc chắn Người là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta, mà người ta có thể nói rằng: không có Người lịch sử đã có thể đi theo một con đường khác. Lịch sử đã đặt Người vào đúng chỗ của mình, trong quá trình đó, Người là nhân vật sáng tạo quyết định. - Pi-nô Ta-go-li-a-duc-chi, Nhà sử học Italia</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nếu nghiên cứu kỹ việc thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội và cuốn Đường Cách mệnh, thì đã thấy nổi bật một tư tưởng cho rằng cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam phải được kết hợp chặt chẽ với giải phóng xã hội và giai cấp. - Hốt-kin T., Nhà sử học Anh</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ thế giới vào lúc loài người đang ở bước ngoặt có tính chất cách mạng nhất. Đồng chí là một nhà kiến trúc và tạo hình làm nên quá trình cách mạng thế giới. Người am hiểu một cách vô cùng sáng suốt phương hướng và mục tiêu của quá trình đó. Người biết rõ động lực và sức mạnh của nó.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">... Một mặt, Người thể hiện những nguyện vọng và mục tiêu dân tộc cao đẹp nhất của nhân dân Việt Nam. Mặt khác, Người là một người theo chủ nghĩa quốc tế chân chính và vĩ đại của giai cấp công nhân. - Gớt-Hôn, Tổng bí thư Đảng cộng sản Mỹ</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Toàn bộ nhân cách của Hồ Chí Minh có thể khắc họa bằng một từ “nhà cách mạng”. Bản thân ông đã gắn bó một cách có ý nghĩa nhiệm vụ cách mạng không chỉ với tự do chính trị và giải phóng xã hội, mà còn cả với những quy phạm về đạo đức và phẩm hạnh, cũng như với văn học nghệ thuật và giáo dục. - Tiến sĩ triết học A-li-len-đu Sa-cơ-ra-boc-ty, Ấn Độ</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đã hơn 50 năm qua, nhận định của đồng chí Hồ Chí Minh - sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ nội dung tác phẩm (Đường Cách mệnh do Người biên soạn) vẫn còn đúng, nêu rõ ràng thời đại ngày nay, trên thế giới có nhiều học thuyết và chủ nghĩa, “nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”. - P.N.Phe-do-xe-ep, Liên Xô - 1982</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa sáng tạo vĩ đại và một người hành động. Chủ nghĩa xã hội của Người không bè phái, cũng không giáo điều, mà nhân đạo và nhân loại. Nhiệm vụ đầu tiên là giành tự do độc lập cho đất nước và thiết lập một xã hội chủ nghĩa với tính cách một bộ phận đấu tranh của châu Á để tự giải phóng mình khỏi sự áp bức và bóc lột của đế quốc nước ngoài.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tư tưởng chính trị của Người chịu ảnh hưởng của những nhà tư tưởng dân chủ và xã hội chủ nghĩa lớn ở châu Âu, được áp dụng vào hoàn cảnh châu Á, và điều đó đem lại một ý nghĩa thế giới. - Gô-Lan W.E, Ủy viên BCH Đảng Cộng sản Ô-xtrây-li-a</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"> </p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><strong><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn</span></strong><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> <span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>http://vietbao.vn</strong></span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần IV: Thế giới viết về Bác</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 3:15 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Hồ Chí Minh đã thành công trong việc liên kết nhiều sắc thái văn hóa vào một nền văn hóa Việt Nam duy nhất. Cuộc đời của Người mang ảnh hưởng của những giá trị và truyền thống dân tộc, có những đóng góp vào việc tạo nên một nền văn hóa Việt Nam hiện đại.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 5.470</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần IV: Thế giới viết về Bác</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 08:19:44 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=57</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo Cách mạng xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ Quốc (1954 – 1969)</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=36</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass63D932C4B0564DFFA7561DD9A7E8EEB5><p>
<table class=MsoTableGrid border=1 cellspacing=0 cellpadding=0 align=left style="border-bottom:medium none;border-left:medium none;margin:auto 6.75pt;border-collapse:collapse;border-top:medium none;border-right:medium none">
    <tbody>
        <tr style="height:21.75pt">
            <td valign=top width=320 style="border-bottom:windowtext 1pt solid;border-left:windowtext 1pt solid;padding-bottom:0cm;background-color:transparent;padding-left:5.4pt;width:239.8pt;padding-right:5.4pt;height:21.75pt;border-top:windowtext 1pt solid;border-right:windowtext 1pt solid;padding-top:0cm">
            <p class=MsoNormal style="text-align:center;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><img width=302 height=200 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-6/BacHo762011_11106.jpg"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
            </td>
        </tr>
    </tbody>
</table>
</p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nǎm 1958 Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, trong đó Người nêu lên tư cách của một người đảng viên là: Phải trung thành tuyệt đối với Đảng, quyết tâm suốt đời phấn đấu cho Đảng, cho cách mạng; ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên lợi ích của cá nhân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, vì Đảng vì dân mà đấu tranh; gương mẫu trong mọi việc, ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn luôn dùng phê bình và tự phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và đồng chí mình tiến bộ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Về phần mình, lời nói đi đôi với việc làm, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là gương sáng về thực hành đạo đức cách mạng. Những kỷ vật của Người để lại được giới thiệu trong bảo tàng (như bộ quần áo gụ, đôi dép cao su v.v...) không chỉ nói về cuộc sống giản dị, đức khiêm tốn của một con người mà còn nói lên nhân cách của một vị lãnh tụ của nhân dân.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: ‘Một ngày Tổ quốc chưa thống nhất, miền Nam chưa được giải phóng là một ngày tôi ǎn không ngon, ngủ không yên”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người luôn dành tình cảm sâu đậm với miền Nam, quan tâm theo dõi và cổ vũ từng bước tiến của cách mạng miền Nam. Trong Thư gửi đồng bào cả nước ngày 6 tháng 7 nǎm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta. Đại đoàn hết là một lực lượng tất thắng”. Đồng bào miền Nam luôn hướng về Bác Hồ, về Thủ đô Hà Nội, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Những vật lưu niệm từ miền Nam gửi tới Người được trưng bày đã nói lên tình cảm tha thiết của nhân dân miền Nam đối với Người.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Lao động Việt Nam, tháng 9 nǎm 1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: &quot;Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà&quot;. Đại hội đã bầu lại Chủ tịch Hồ Chí Minh là Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III miền Bắc bước vào thực hiện kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất. Cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh động viên toàn Đảng toàn dân vừa xây dựng, phát triển kinh tế, giữ gìn và phát triển nền vǎn hoá dân tộc, vừa chǎm lo đến đời sống hàng ngày của nhân dân. Người cổ vũ nhân dân miền Nam ruột thịt đang chiến dấu anh dũng để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến việc xây dựng con người mới, Người nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Người đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và chỉ rõ: “Trong công tác giáo dục phải luôn luôn kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực hành, giữa giáo dục với lao động, vǎn hoá với đạo đức cách mạng; phải đẩy mạnh phong trào thi đua hai tốt: Dạy thật tốt và học thật tốt”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao nhiệm vụ miền Bắc phải là nền tảng, là niềm tin đối với đồng bào miền Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nǎm 1962, khi tiếp Đoàn đại biểu nhân dân miền Nam ra thǎm miền Bắc, Chủ tịch Hổ Chí Minh nói: &quot;Hình ảnh miền Nam yêu quý luôn luôn ở trong trái tim tôi&quot;. Người mong muốn miền Nam sớm được giải phóng để vào thǎm đồng bào, cán bộ và chiến sĩ thân yêu. Nǎm 1963 khi Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đề nghị tặng Huân chương Sao vàng cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đề nghị: “Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, Quốc hội cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi Huân chương cao quý đó. Như vậy thì toàn dân ta sẽ sung sướng, vui mừng”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 8 nǎm 1964 đế quốc Mỹ gây ra sự kiện “Vịnh Bắc Bộ”, và từ tháng 2 nǎm 1965 đã mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc và ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Trước tình hình đó Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn thể nhân dân Việt Nam: “Lúc này chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước”. Tháng 7 nǎm 1966 Mỹ đã dùng máy bay ném bom Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng, Chủ tịch Hồ Chí Minh động viên nhân dân Việt Nam vượt qua hy sinh gian khổ và kêu gọi: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 nǎm, 10 nǎm, 20 nǎm, hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng tình đoàn kết giúp đỡ của nhân dân thế giới đối với nhân dânViệt Nam và luôn gắn cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam với cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong những nǎm kháng chiến cứu nước gian khổ, Người nói với nhân dân Việt Nam: “Nhân dân ta chiến đấu hy sinh chẳng những vì tự do, độc lập riêng của mình mà còn vì tự do, độc lập chung của các dân tộc và hoà bình thế giới”. Tháng 11 nǎm 1964, Hội nghị quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt Nam đã được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội với sự tham dự của 64 đoàn đại biểu của 52 nước và tổ chức quốc tế là sự cổ vũ to lớn đối với cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Về quan hệ với nước Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn phân biệt sự khác nhau giữa những người Mỹ xâm lược và nhân dân Mỹ; Người thông cảm sâu sắc với nỗi đau của những gia đình, những người phụ nữ Mỹ có người thân tham gia cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều thư gửi nhân dân Mỹ, coi họ là những người bạn thân thiết. Trong bức thư gửi nhân dân Mỹ tháng 1 nǎm 1962, Người viết: “Nhân dân Mỹ và nhân dân Việt Nam không thù oán gì nhau. Nhân dân Việt Nam kính trọng các bạn là nước đầu tiên phất cờ chống chủ nghĩa thực dân và chúng tôi mong muốn có quan hệ hữu nghị với các bạn”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ nǎm 1965, khi tròn 75 tuổi, chuẩn bị cho cuộc “ra đi” của mình, Bác Hồ bắt đầu viết Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta. Trong những nǎm còn lại, cứ đến tháng 5, Bác Hồ lại sửa chữa và viết thêm vào vǎn kiện “tuyệt đối bí mật” này. Trong Di chúc Người viết: &quot;Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân... Đảng cần có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế, vǎn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sốngcủa nhân dân...</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Vào hồi 9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9 nǎm 1969, trái tim của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngừng đập, để lại nỗi tiếc thương vô hạn cho toàn thể nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế. Nhà thơ Tố Hữu đã viết về những ngày tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">“Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa....”</span></p>
<p><strong>Nguồn <span style="font-family:Arial;font-size:10pt">http://bacho.camau.gov.vn</span></strong></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 11:05 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trở lại Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn cách mạng mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ nhiệm vụ của nhân dân Việt Nam là thi hành đúng Hiệp nghị Giơ ne vơ nǎm 1954 về Đông Dương; củng cố hoà bình, đấu tranh để thực hiện thống nhất đất nước bằng Tổng tuyển cử tự do; củng cố miền Bắc về mọi mặt; mở rộng và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất trong cả nước. Đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng, Người nhắc nhở đảng viên phải phấn đấu, chú trọng nâng cao đạo đức cách mạng, coi đó là nền tảng của mỗi đảng viên để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của mình.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.548</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 04:12:33 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=36</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chính quyền Pháp nói về Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=52</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassBB55BDFC9D7F48619E3D685CA7E12631><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">1 -</span></b><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Pari, trong Sloffom III, bìa 48, hồ sơ số 1 Lịch sử, ghi chép số 20835 ngày 2-10-1929, có đoạn: Những ngày đầu tháng giêng năm 1925, sự có mặt của Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu đã được Sở liêm phong báo cáo.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thực ra đó là tin tức về một người mới từ Nga đến, mang tên Lý Thụy, mà đặc điểm và hoạt động làm cho ta nghĩ tới người sáng lập ra Hội liên hiệp thuộc địa và tờ báo Người cùng khổ. Mặc dù Lý Thụy giữ gìn rất cẩn thận đối với người xung quanh nhưng khi ông đến Quảng Châu đã chính thức xác minh ông chính là nhà cách mạng Nguyên Ái Quốc rất quen thuộc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người Việt Nam này mau chóng trở thành người lãnh đạo. Vai trò lãnh đạo rõ rệt không cần bàn cãi của ông lớn đến mức hiện nay các đảng chống Pháp đối lập đã phải nghĩ tới việc nhập cuộc với ông để chịu sự lãnh đạo ấy&quot;: </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">2 -</span></b><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> Tài liệu do Khâm sứ Trung Kỳ ghi ngày 10-3-1930 có đoạn:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style=""> </span>Để hình dung đúng tình hình, trước hết cần phải chỉ ra vai trò của Nguyễn Ái Quốc. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">- Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu năm 1925 cùng với Bôrôdin</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style=""> </span>- Việc này đánh dấu một thời kỳ mới của lịch sử hiện đại của đất nước An Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ trước đó, những người xuất dương không có tổ chức, chủ nghĩa của họ không được ổn định rõ ràng, phương pháp của họ tản mạn, sự cố gắng của họ thiếu gắn bó với nhau.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc cũng là người quê ở Nghệ An. Ông ta đến, sự vật bắt đầu thay đổi&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"> </p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Nguồn</strong> <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Lịch sử Đảng . – 1991. – Số tháng 5. – Tr. 47</strong></span></span></p>
<p> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần IV: Thế giới viết về Bác</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 3:05 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trong những tài liệu sưu tầm được ở Pháp về hoạt động của Bác Hồ, có một số đoạn ghi chép của mật thám hoặc các quan chức chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương nói về Nguyễn Ái Quốc trong thời gian ở Trung Quốc trước năm 1930. Xin giới thiệu để bạn đọc nghiên cứu:</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.089</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần IV: Thế giới viết về Bác</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 08:06:25 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=52</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Từ Quảng Châu, báo Thanh niên ươm mầm cách mạng</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=31</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass96D27C7A094148FCA37F96AB69670A40><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đầu tháng 5-1925, cùng với các đồng chí đảng Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bác Hồ tham gia tổ chức Hội nghị đại biểu đầu tiên của 20 vạn nông dân tại tỉnh Quảng Đông và Hội nghị thứ hai của công nhân Trung Quốc nhằm thành lập một mặt trận thống nhất giữa những người bị bóc lột ở thành thị và nông thôn. Bác Hồ đã đề xuất ra tờ báo <i style="">Nông dân Trung Quốc</i> tuyên truyền đường lối tập hợp lực lượng quần chúng công nông. Biểu lộ quan điểm và tình cảm của mình đối với cách mạng Trung Quốc, Bác đã viết nhiều bài báo về tình cảnh của công nhân Trung Quốc dưới chế độ thực dân Anh, nêu cao vai trò cách mạng của họ trên tờ báo <i style="">Công nhân chi lộ đặc hiệu</i>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Với việc thành lập tổ chức chính trị, nêu nội dung, chương trình, mục đích để tập hợp quần chúng, tại Quảng Châu, Bác Hồ đã lựa chọn, bồi dưỡng lý luận cho thành viên của nhóm yêu nước Tâm Tâm xã, đưa họ vào tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Tháng 6 - 1925, tổ chức chính trị đầu tiên của Việt Nam ở nước ngoài Hội Việt Nam cách mạng thanh niên được thành lập thì tờ báo <i style="">Thanh Niên </i>cũng ra đời vào ngày 21 - 6 - 1925. Tờ báo là cơ quan lý luận, tuyên truyền đường lối đấu tranh cách mạng của Tổng bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, đặt trụ sở tại Quảng Châu. Tôn chỉ, mục đích của báo Thanh Niên là giải thích đường lối cách mạng, hường dẫn phương pháp cách mạng, nêu rõ mục tiêu, đối tượng cách mạng, xác định quần chúng nhân dân là lực lượng cách mạng ở Việt Nam và Đông Dương. Bạn đọc của báo là những thanh niên yêu nước tiến bộ, trí thức có ý thức dân tộc, dân chủ, học sinh, sinh viên, Việt kiều tại Quảng Châu, Hương Cảng và trong nước. Báo xuất bản bằng tiếng Việt, in khuôn thạch trên nền giấy sáp, mỗi kỳ xuất bản từ 200 đến 300 số khổ nhỏ, phát hành bí mật. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Báo Thanh Niên ra số đầu đăng chương trình hoạt động, điều lệ hoạt động, quy định kết nạp hội viên, tổ chức các đoàn thể như Công hội, Nông hội, Hội học sinh, Hội phụ nữ, đề cương sách lược thành lập Chính phủ nhân dân, đoàn kết với giai cấp vô sản thế giới, thành lập xã hội cộng sản. Mục đích hoạt động của hội là hy sinh tính mạng, quyền lợi, tư tưởng làm cách mạng dân tộc (đập tan bọn Pháp và giành lại độc lập cho xứ sở) rồi sau làm cách mạng thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản). Nội dung chương trình huấn luyện các lớp học dành cho cán bộ nòng cốt trong tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và những thanh niên yêu nước từ Việt Nam sang Quảng Châu được tóm tắt hoặc trích đăng nhiều kỳ trên <i style="">báo Thanh Niên</i>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tờ báo <i style="">Thanh Niên</i> là tài liệu gối đầu giường, trở thành cẩm nang tuyên truyền vận động cách mạng trong tầng lớp lao khổ bị áp bức ở Việt Nam, tại các tô giới Pháp của thành viên Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Nhận thấy ở Quảng Châu có số lượng người làm thuê quốc tịch Ấn Độ, Triều Tiên, Thái Lan, Lào, In-đô nê-xi-a, Mi-an-ma, Việt Nam khá đông, Bác Hồ đã đề nghị với cơ quan đại diện Quốc tế cộng sản tại đây vận động thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông, liên minh lực lượng đấu tranh đòi quyền lao động bình đẳng, được trả công thỏa đáng, chống bị chủ tư bản cúp phạt, sa thải vô cớ, tiến tới làm cách mạng đánh đổ đế quốc. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tờ báo <i style="">Thanh Niên</i> còn in bài quy định cụ thể điều kiện vào Hội, lề lối tổ chức, cơ cấu các cấp trung ương, xứ ủy, tỉnh ủy, huyện ủy, chi bộ, quy định tiến hành hội nghị thường kỳ các cấp, hội nghị toàn quốc, các quy định hình thức kỷ luật, nhiệm vụ hội viên. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Do điều kiện in ấn bí mật, phương tiện thô sơ nên một số báo chỉ gồm 4 trang khổ nhỏ, có giai đoạn 2 trang, số lượng phát hành không nhiều. Cách phát hành là nhân bản chép tay rồi chuyển cho nhau đọc phổ biến rộng rãi bằng miệng tới quần chúng tiến bộ trong nước, ở khu đông dân Việt kiều tại tô giới Hương Cảng, Vân Nam, Thượng Hải, Quảng Đông (Trung Quốc), Xiêm (Thái Lan). Các đồng chí ủy viên Tổng bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tích cực tham gia biên tập, viết bài đăng báo Thanh Niên như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Duy Điếm. Một số cán bộ liên lạc giữa Quảng Châu với Việt Nam và Thái Lan, Lào như Trịnh Đình Cửu, Vương Thúc Oánh, Đông Tùng, Trương Văn Lĩnh đã bí mật chuyển báo <i style="">Thanh Niên</i> về nước, tìm mọi cách phát hành tại trường Bưởi (Hà Nội), trường Quốc Học (Huế), xưởng đóng tàu Ba Son (Sài Gòn), Thái Bình. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tờ báo <i style="">Thanh Niên</i> tuy chỉ xuất bản được 208 kỳ, nhưng vai trò và tác dụng của nó như ngọn đuốc sáng soi rọi con đường giải phóng dân tộc, góp phần đưa chương trình, mục tiêu hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên lan rộng vào trong nước. Tháng 4 - 1927, Tưởng Giới Thạch phản bội Đảng Cộng sản Trung Quốc, quay mũi súng đàn áp những người cách mạng. Bác Hồ và tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên phải chuyển vào hoạt động bất hợp pháp. Bác Hồ trở lại Liên Xô nhưng vẫn tìm cách chỉ đạo ra báo Thanh Niên cho tới tháng 5 - 1930 mới chính thức ngừng xuất bản. Đánh giá ảnh hưởng chính trị của báo Thanh Niên, tên trùm mật thám Đông Dương Lai-mác-ti kết luận: “Cần phải nói ngay rằng, tờ báo của Nguyễn Ái Quốc được tất cả các đảng viên ở nước ngoài, ở trong nước và đông đảo người cảm tình đọc.<span style="">  </span>Những người đọc này chẳng những tự mình đọc báo Thanh Niên mà còn chép đi, chép lại nhiều lần để người khác đọc”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tại Quảng Châu, từ tháng 11-1924 đến đầu tháng 5-1927, ngoài tờ báo <i style="">Thanh Niên</i>, Bác Hồ còn sáng lập thêm tờ báo <i style="">Lính cách mệnh, Tạp chí Đỏ</i> dùng làm tài liệu vận động những binh lính người Việt Nam đang phục vụ trong đội quân đồn trú của thực dân Pháp đóng tại Tô giới thành phố Thượng Hải. Đồng chí Trương Văn Lĩnh nhận chỉ thị của Bác Hồ vào làm việc trong Sở công an của chính quyền Tưởng Giới Thạch và đồng chí Nguyễn Lương Bằng làm công nhân trên một chiếc tàu biển của thực dân Pháp đã tìm cách chuyển báo <i style="">Lính cách mệnh, Tạp chí Đỏ</i> tới những người lính khố đỏ, khố xanh, cảnh sát Việt Nam đã giác ngộ, hướng dẫn họ phổ biến nội dung của báo <i style="">Lính cách mệnh</i> tới nhiều người khác.</span></p>
<p><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cùng với nhiều hoạt động phong phú về xây dựng tổ chức cách mạng Việt Nam và giúp đỡ nội dung, phương pháp cách mạng cho những người Cộng sản Trung Quốc, khai thông hệ thống liên lạc từ Trung Quốc về Việt Nam, củng cố cơ sở huấn luyện chính trị, phương pháp hoạt động cách mạng cho 75 thanh niên ưu tú Việt Nam, Bác Hồ đã sáng lập 3 tờ báo chính trị ở Quảng Châu. Riêng tờ báo Thanh Niên đã trở thành ngọn cờ dẫn đầu cho nền báo chí cách mạng Việt Nam, đặt nền móng về lý luận, tổ chức xây dựng hệ thống báo chí của Đảng từ năm 1930, góp phần quan trọng quyết định tính chất chính trị, vai trò, chức năng, tôn chỉ, mục đích và nguyên tắc hoạt động của báo chí vô sản.</span></p>
<p><strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sự kiện &amp; Nhân chứng. -2004. –Số 126. Tr.3, 6-7.</span></span></strong></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 10:40 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trong chuyến hành trình từ Liên Xô tới Quảng Châu thực hiện mục đích hoạt động cách mạng của mình, Bác Hồ chỉ được Ban Phương Đông Quốc tế cộng sản cấp tài chính đủ để đi từ ga xe lửa I-a-rôt-xláp-xki (Mát-xcơ-va) tới Quảng Châu. Nguồn tài chính dành cho thời gian hoạt động ở Quảng Châu chủ yếu trông vào tháng lương của hãng Thông tấn xã Rốt-ta (của Nhà nước Liên Xô) trả cho Bác với danh nghĩa phóng viên thường trú, mỗi kỳ 150 đô-la. Ở Quảng Châu, ngoài thời gian làm phiên dịch cho đồng chí Bô-rô-đin, cố vấn chính trị của bác sĩ Tôn Dật Tiên và của chính phủ Quảng Châu, Bác Hồ còn đi bán Quảng Châu nhật báo, thậm chí bán thuốc lá để sống và hoạt động.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 4.749</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 03:50:27 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=31</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Hồ Chí Minh trở về tổ quốc lãnh đạo toàn dân đấu tranh vì tự do, độc lập</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=39</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass74309CCC05334CB09414EA7CEB5A7167><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong bối cảnh lịch sử đó, người thanh niên yêu nước và cấp tiến Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh với thiên tài tử tuệ, phẩm chất, nhân cách và hoạt động thực tiễn của mình đã nghiên cứu, kế thừa và nâng lên tầm cao mới nguồn giá trị văn hóa tư tưởng truyền thống của dân tộc kết hợp với sự học hỏi, tiếp biến và phát triển biện chứng tinh hoa văn hóa tư tưởng, cách mạng của các nước phương Đông và phương Tây ở thế kỷ XVII, XVIII, đặc biệt là học thuyết cách mạng của C. Mác, VI. Lênin và kinh nghiệm cách mạng Tháng Mười Nga đã đề ra một hệ tư tưởng cách mạng sáng tạo mang tầm vóc một học thuyết về giải phóng dân tộc và phát triển đất nước vì độc lập tự do. Học thuyết cách mạng đó được các học viên do Hồ Chí Minh huấn luyện ở Quảng Châu đã được đưa về bí mật truyền bá và tổ chức nhân dân đấu tranh, làm dấy lên trong cả nước một phong trào đấu tranh dân tộc,<span style="">  </span>dân chủ ngày càng mạnh mẽ, dẫn đến sự ra đời của tổ chức cộng sản ở trên cả ba miền của đất nước.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thực hiện trọng trách lịch sử của mình, với tư cách người thầy dẫn đường, là phái viên của Quốc tế Cộng sản có quyền trực tiếp quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương và bằng thái độ chân thành, có sức thuyết phục lớn, Hồ Chí Minh đã làm cho đại diện các tổ chức đảng cộng sản đồng thuận thống nhất lập thành một đảng với tên gọi là Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, của dân tộc Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chánh cương vắn tắt và sách lược vắn tắt của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo đã được hội nghị thành lập Đảng nhất trí thông qua là một Cương lĩnh chính trị sáng tạo trong đó nổi án như một điểm son là tư tưởng độc lập tự do. Đó là mục tiêu quy tụ sức mạnh toàn dân đứng lên chiến đấu đánh đổ chế độ thực dân, giành lại quyền độc lập cho Tổ quốc, tự do cho toàn dân Việt Nam. Thực tiễn phong trào cách mạng năm 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xô Viết - Nghệ tĩnh là một minh chứng giá trị sáng tạo của ngọn cờ độc lập, tự do của Hồ Chí Minh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sự quyết đoán đúng đắn, sáng tạo của Hồ Chí Minh về việc thống nhất các tổ chức cộng sản tiền thân để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, về Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng...khác với quan điểm của Quốc tế Cộng sản. Tháng 10-1930. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Trần Phú chủ trì đã phê phán gay gắt những điều gọi là sai lầm nguy hiểm về chính trị và tổ chức của Hồ Chí Minh nên đã quyết định bỏ tên Đảng Cộng sản Việt Nam mà lấy tên là Đảng Cộng sản Đông Dương; thủ tiêu Chính cương văn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng thay bằng Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương… Từ đó trở đi, nhất là sau khi bị thực dân Anh bắt ở Hồng Kông được trả lại tự do, Hồ Chí Minh trở lại Liên Xô đã chịu đựng một hoàn cảnh phải &quot;sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng&quot;. Với mong muốn trở về Tổ quốc, Hồ Chí Minh đã tha thiết, yêu cầu Quốc tế Cộng sản giúp đỡ để thay đổi hoàn cảnh đau buồn này, ý nguyện đó được chấp nhận và Người đã quyết định rời khỏi Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa để trở về nước. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Về tổ quốc lãnh đạo toàn dân đấu tranh giải phóng dân tộc.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style=""> </span><span style="">     </span>Ngày 28-1-1941, Hồ Chí Minh đã vượt biên giới Trung - Việt đặt chân lên mảnh đất thiêng liêng tại địa đầu của Tổ quốc với biết bao cảm động của người con đã ba mươi năm xa nước. &quot;Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ, hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình…&quot;. Lúc này chiến tranh thế giới lần thứ hai đang diễn ra ác liệt. Ở Đông Dương, ách áp bức của Nhật - Pháp đã đặt vận mệnh dân tộc Việt Nam cũng như Lào, Miên trước nguy vong không lúc nào bằng. &quot;Nhân dân Việt Nam... ai cũng chán ghét cuộc đời nô lệ, ai cũng muốn độc lập, tự do và đang trong tư thế một người lên tiếng vạn người ủng hộ&quot;. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Về đến Pác Bó, Hà Quảng, Cao Bằng, Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng để quyết định thực hiện chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc cho phù hợp với nhu cầu cấp bách của Tổ quốc là đánh đuổi Nhật – Pháp, giành lại quyền độc lập dân tộc, nhân dân được tự do, tự mình làm chủ vận mệnh của mình. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước hết là phải khẳng định, củng cố và phát triển hơn nữa hệ quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh mang tầm vóc một học thuyết cách mạng giải phóng vì độc lập tự do và phát triển đường lối chiến lược của Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng. Nói đến vấn đề dân tộc theo quan điểm của Hồ Chí Minh đã được khẳng định trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng rằng nói đến vấn đề dân tộc tức là nói đến sự tự do độc lập của mỗi dân tộc. &quot;Các dân tộc sống trên cõi Đông Dương sẽ tùy theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành một dân tộc quốc gia tùy ý… Văn hóa của mỗi dân tộc sẽ được tự do phát triển, tồn tại và được bảo đảm. Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và coi trọng&quot;. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trên cơ sở nhận thức đó về vấn đề dân tộc, Đảng đã quyết định phải thay đổi chiến lược cách mạng cho phù hợp với nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân các nước trên bán đảo Đông Dương là phải đánh Pháp, đuổi Nhật làm cho các quốc gia dân tộc được độc lập tự do. Vì vậy cuộc cách mạng ở Đông Dương lúc bấy giờ không phải là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền phải đồng thời giải quyết hai vấn đề là phản đế và ruộng đất nữa, mà là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc chỉ giải quyết một vấn đề cần kíp là đánh đuổi Pháp Nhật mà thôi... Để đánh Pháp đuổi Nhật, các quốc gia dân tộc ở Đông Dương phải liên hiệp toàn dân không phân biệt giai cấp, tôn giáo, đảng phái xu hướng chính trị, đoàn kết chiến đấu giành quyền độc lập. Đối với Việt Nam, Đảng chủ trương thành lập Việt Nam độc lập đồng minh gọi tắt là Việt Minh - một mặt trận rộng rãi có tính chất dân tộc hơn hết, dễ hiệu triệu và nhất là có thể thực hiện được trong tình thế lúc bấy giờ. Sự nghiệp chống Pháp - Nhật do toàn dân đoàn kết tập hợp trong mặt trận Việt Minh để thực hiện nhiệm vụ cốt yếu đó của cách mạng do Đảng lãnh đạo. Sau khi đánh đuổi được Pháp - Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. &quot;Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung của toàn thể dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp - Nhật và những bọn phản quốc thì không được giữ chính quyền, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam, thảy đều được một phần tham gia giữ chính quyền... và bảo vệ chính quyền ấy&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chính phủ nước Vệt Nam Dân chủ Cộng hòa do quốc dân đại hội cử ra và lấy lá cờ đỏ sao vàng năm cánh làm lá cờ của toàn quốc. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 25-10-1941, Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) tuyên bố ra đời. Chương trình cứu nước của Việt Minh gồm 44 điểm nhằm thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào mong ước là:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn được độc lập.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Dựa trên cơ sở tư tưởng dân tộc vì độc lập tự do sáng tạo của Hồ Chí Minh. Đảng đã kịp thời thay đổi chiến lược cách mạng, gấp rút xây dựng cơ sở cách mạng, tổ chức lực lượng ở cả nông thôn và đô thị cùng với xây dựng lực lượng vũ trang, lập căn cứ địa cách mạng, đề ra khẩu hiệu và hình thức đấu tranh thích hơn khi tình thế đã thay đổi, dẫn dắt quần chúng đấu tranh đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 9-3-1945, cuộc đảo chính của Nhật lật đổ Pháp đã gây ra một cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc. Đảng phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước trong toàn quốc, thực hiện khẩu hiệu &quot;đánh đuổi phát xít Nhật bao gồm nhiều hình thức phong phú, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa từng phần giành chính quyền bộ phận đã diễn ra thắng lợi, nhất là ở Việt Bắc. Khu giải phóng Việt Bắc đã được thành lập. Tân trào được chọn làm thủ đô của Khu giải phóng. Ủy ban chỉ huy lâm thời khu giải phóng được thành lập trong Khu giải phóng, nhân dân bắt đầu được hưởng hạnh phúc cách mạng. Một nước Việt Nam mới đang nảy nở.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Giữa Tháng Tám năm 1945, thời cơ Tổng khởi nghĩa đã chín muồi. Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp từ ngày 13 đến 15-8-1945 ở Tân Trào đã quyết định phát động khởi nghĩa trong toàn quốc, giành chính quyền từ tay Nhật và lực lượng tay sai, đứng ở vị trí cầm quyền mà tiếp quân Đồng minh vào giải ngũ quân Nhật trên đất Đông Dương. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngay sau Hội nghị toàn quốc của Đảng, Đại hội quốc dân khai mạc theo chủ trương của Hồ Chí Minh đề ra tại Hội nghị lần thứ tám của Ban chấp hành Trung ương Đảng và thư của Người gửi đồng bào toàn quốc tháng 10-1944. Với tầm quan trọng mang tính pháp quyền. Hồ Chí Minh chỉ thị cuộc Đại hội Đại biểu quốc dân phải khai mạc chậm nhất vào trung tuần tháng 7-1945. Người đã từng cân nhắc giá trị của thời gian, của mỗi ngày, mỗi giờ trong lúc chuyển biến. Cho nên khi thấy công việc chậm trễ thì Hồ Chí Minh đã dùng đủ mọi cách để động viên tinh thần cán bộ phụ trách và thúc giục công cuộc khai hội. Người thấy rõ lúc bấy giờ, chậm một chút tức là bỏ lỡ cơ hội thuận lợi. Song vì liên lạc khó khăn, đường sá trắc trở mặc dù anh em đại biểu đã hết sức đi nhanh chóng mà mãi đến ngày 14 tháng 8 các đại biểu mới lần lượt đến Tân Trào. Những đại biểu đi sau tính ra đến ngày 16, 17 hoặc 18 mới đến đầy đủ. Vì vậy, không thể tiếp tục chờ được nữa nên Hồ Chí Minh quyết định khai mạc ngay trong ngày 16-8-1945 tại Tân Trào. Đại hội đã nhất trí tán thành chủ trương phát động khởi nghĩa của Đảng và hiệu triệu nhân dân toàn quốc, các đoàn thể cách mạng phải đứng lên phấn đấu thực hiện 10 chính sách lớn, trước hết là phải giành chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quốc dân Đại hội đã cử ra ủy ban dân tộc giải phóng dân tộc Việt Nam gồm 15 thành viên do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Trần Huy Liệu là Phó Chủ tịch. Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam được Quốc dân Đại hội giao cho nhiệm vụ như là Chính phủ lâm thời nước Việt Nam trước khi thành lập một Chính phủ chính thức thay mặt Quốc dân để giao thiệp với các nước ngoài và chủ từ mọi công việc trong nước. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style=""> </span><span style="">     </span>Đại hội Đại biểu quốc dân Tân Trào mang tầm vóc lịch sử như Quốc hội đầu tiên của Việt Nam mới. Đây là &quot;một tiến bộ rất lớn trong lịch sử đấu tranh giải phóng của dân tộc ta từ ngót một thế kỷ nay”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Asimét L.A.Patti (kchimèdes L.A.Patti) một sĩ quan tình báo Mỹ có mặt ở Hà Nội sau khi Tổng khởi nghĩa đã nhận xét rằng, khi biết tin phát xít Nhật đã sụp đổ Hồ Chí Minh &quot;đã hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng vì ông phải đảm bảo chiến được một chỗ đứng chân vững chắc ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn, ông Hồ biết rằng ông phải làm cho mọi người thấy rõ được cả tính chất hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và phát triển phong trào&quot;. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đây là một nét sáng tạo độc đáo của Hồ Chí Minh được Đảng và Tổng bộ Việt Minh nhất trí tổ chức thực hiện nhằm &quot;phát huy ý chí, sức mạnh dân lộc và tính hợp pháp của sự nghiệp đấu tranh giành quyền độc lập tự do bằng tổ chức Đại hội đại biểu quốc dân để đề ra quyết sách chuyển xoay vận nước bằng phương pháp khởi nghĩa vũ trang, xóa bỏ chế độ nô dịch thực dân, kiến lập chế độ cộng hoà dân chủ với cơ quan mang tính quyền lực cao nhất là Đại hội Đại biểu quốc dân và ủy ban dân tộc giải phóng do Đại hội lập ra&quot;. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thực hiện Nghị quyết của Hội nghị toàn quốc của Đảng, của Quốc dân Đại hội Tân Trào, Hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi &quot;Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta cuộc Tổng khởi<span style="">  </span>nghĩa đã nhanh chóng thắng lợi trong toàn quốc. Trước tình hình đó theo yêu cầu của ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam, Bảo Đại ra Tuyên cáo thoái vị để Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa điều khiển quốc dân. Tuyên cáo nêu rõ lúc này &quot;đoàn kết là sống, chia rẽ là chết, tất cả các giai cấp, các đảng phái cho đến cả người Hoàng phái cũng vậy, đều nên hợp nhất mà ủng hộ triệt để Chính phủ Dân chủ Cộng hòa giữ vững nền độc lập của nước nhà&quot;. Còn đối với cá nhân Bảo Đại sau hai mươi năm nai vàng bệ ngọc đã biết bao ngậm đắng nuốt cay, từ nay... lấy làm vui được làm dân tự do của một nước độc lập (II). Việc Hoàng đế Bảo Đại trịnh trọng tuyên bố từ bỏ địa vị của ông ta là đã hợp pháp hóa theo một số truyền thống ngày nay đã được thừa nhận trên thế giới. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 25-8-1945, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhiều ủy viên Việt Minh trong ủy ban dân tộc giải phóng đã tự nguyện rút ra lễ mời thêm nhân sĩ ngoài Việt Minh tham gia. &quot;Đó là một cử chỉ vô tư tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của lân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sự mở đầu của kỉ nguyên tự do độc lập. </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 2-9-1945, hàng chục vạn đồng bào nội, ngoại thành phố Hà Nội và các địa phương lân cận đã kéo về Ba Đình dự lễ tuyên bố độc lập. Thay mặt Chính phủ lâm thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời Tuyên ngôn khẳng định quyền dân tộc các nước trên thế giới là bất khả xâm phạm. Đó là: &quot;Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng: dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do&quot;. Các nguyên tắc dân tộc bình đẳng đã được các nước Đồng minh công nhận ở các Hội nghị Tê hê răng và cựu Kim Sơn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chính vì lẽ đó, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam bình trọng tuyên bố &quot;Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy&quot;. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Bản Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử đặt cơ sở pháp lý quan trọng đầu tiên khẳng định quyền tự do độc lập của dân tộc Việt Nam, của sự thành lập Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thắng lợi vĩ đại này là một minh chứng sáng tỏ về ý chí độc lập và khát vọng tự do, tinh thần bất khuất, trí tuệ của cộng đồng dân tộc Việt Nam, một dân tộc có một nguồn giá trị truyền thống về văn hóa tư tưởng quý báu đã hun đúc trong mấy ngàn năm lịch sử, được kế thừa và phát triển lên tầm cao mới trong thời kỳ đấu tranh giành lại quyền tự do độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đặc biệt được thể hiện phong phú và toàn diện trong những năm tháng khi Người được trở về nước từ mùa Xuân năm 1941. Ý nguyện cao cả và thiêng liêng cửa Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh tìm đường ra nước ngoài rồi &quot;trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập&quot; đã thành hiện thực bằng thắng lợi của cách mạng tháng Tám và sự thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước chung của cả toàn thể dân tộc, mở ra một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc - kỷ nguyên tự do, độc lập, một thời đại mới rực rỡ tên vàng trong lịch sử quang vinh của dân tộc - thời đại Hồ Chí Minh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhận thức về giá trị lịch sử vĩ đại của sự kiện Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tác giả bài: &quot;Sự kiện lịch sử và tác dụng lịch sử của nó&quot; Của Phạm Văn Đồng đã viết, toàn bộ lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng là một &quot;pho lịch sử bằng vàng&quot; thì sự kiện quan trọng bậc nhất được viết bằng chữ vàng chói lọi đó là cuộc Cách mạng Tháng Tám (năm 1945), đưa đến sự ra đời của nước Việt Nam mới - nước Cộng hòa Dân chủ Vệt Nam. Đây là cái móc đánh dấu sự quá độ từ chế độ áp bức, bóc lột trong cả lịch sử nước ta chuyển sang một chế độ hoàn toàn khác, một chế độ mới chưa có ở nước ta và ở nhiều nước, một chế độ đảm bảo độc lập, tự do, hạnh phúc cho mỗi một người và cho cả cộng đồng dân tộc một chế độ hướng tới đỉnh cao ước mơ của con người và loài người: &quot;sự phát triển tự do và toàn diện của mọi người&quot;. </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ánh sáng các dòng chữ vàng lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám tiếp tục sát đường cho toàn dân Việt Nam chiến đấu để giữ vững quyền tự do và độc lập và đang vượt qua mọi thách thức đã giành được những thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng và phát triển Việt Nam thành một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh, xứng đáng một nước có hàng ngàn năm văn hiến, sánh vai với các nước tiên tiến trên thế giới, dưới ngọn cờ của học thuyết cách mạng Hồ Chí Minh.</span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p><strong>Nguồn </strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Giáo dục lý luận. - 2011. - Số<span style="">  </span>tháng 2.- Tr. 39 – 43</strong></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 2:05 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trên cơ sở lịch sử hàng ngàn năm văn hiến và nhu cầu giải phóng của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới cũng như lịch sử tiến hóa của nhân loại, Hồ Chí Minh đã nêu ra một chân lý về quyền dân tộc thiêng liêng rằng: “Tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc... Hễ một dân tộc đã đứng lên kiên quyết đấu tranh cho Tổ quốc họ thì không ai, không lực lượng gì chiến thắng được họ”(1). Vì vậy, khi nói đến vấn đề dân tộc là phải nói đến quyền tự do độc lập của mỗi dân tộc và dân tộc đó phải tự quyết định con đường và phương thức thực hiện sự nghiệp cách mạng giải phóng và phát triển đất nước vì độc lập tự do phù hợp với xu thế tiến hóa của thời đại. Từ giữa thể kỷ XIX, Việt Nam bị đế quốc Pháp xâm lược và thống trị. Mất nước, nhân dân Việt Nam mất hết quyền tự do, độc lập. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc thực dân Pháp diễn ra ngày càng gay gắt. Với ý chí độc lập và khát vọng tự do, nhân dân Việt Nam đã liên tiếp đấu tranh song thiếu một hệ tư tưởng và đường lối chiến lược cách mạng khoa học phù hợp ý nguyện chung của các giai cấp tầng lớp xã hội, tôn giáo và xu thế tiến hóa của thời đại nên chưa thể giành được thắng lợi.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.624</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 07:13:14 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=39</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Hồ Chí Minh với những giá trị văn hóa phương tây</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=56</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassE8983A306ADA40D9B7D4E3C86D8E6A51><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Có điều lạ là một người như Hồ Chí Minh, hiện thân của cuộc đấu tranh quyết liệt chống thực dân Pháp xâm lược, lại rất gần văn hóa phương Tây. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Một bộ trường Pháp thuộc phái De Gaullelà Edmond Michelet cho là ''Ông Hồ Chí Minh rất Pháp''. Nhà báo Pháp Jean Lacouture nhận xét: Hồ Chí Minh ''có những dấu hiệu rõ ràng về những mối liên hệ tri thức và chính trị'' với nhân dân Mỹ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trái với nhiều lãnh tụ cách mạng châu Á khác, Hồ Chí Minh đã đi vào cuộc đời chính trị, tự đào tạo và trưởng thành ở châu Âu, nhất là qua những năm ở Pháp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Vậy mà Bác Hồ vẫn hết sức Việt Nam và Á Đông, điều khiến cho những người phương Tây tiếp xúc với Bác hết sức ngạc nhiên. Theo Jean Roux, biên tập viên báo <i>Franc Tireur </i>(Pháp), Hồ Chí Minh ''kết hợp chất anh hùng và đạo lý (…), ông luôn luôn và một thứ Gandhi mác-xít... đại diện cho triết lý Á Đông''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Muốn đánh giá ảnh hưởng văn hóa Pháp và phương Tây nói chung đối với nhân cách Hồ Chí Minh, nên xuất phát từ bài toán cuộc đời của Bác, một bài toán khá đơn giản vì đời tư và đời công của Bác là một.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Khi Bác sinh ra thì nước đã mất từ mấy chục năm trước. Làm thế nào giải phóng dân tộc và cải thiện dân sinh? Đó là vấn đề luôn luôn ngự trị tâm trí Bác cho đến hơi thở cuối cùng. Nguyễn Tất Thành ra đi năm 21 tuổi, đã được đào tạo khá vững vàng để tiếp thu cái mới mà không mất gốc, để luôn luôn sẽ vẫn là <i>''con người hiện đại tiêu biểu nhất cho nước Việt Nam''.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trong khi bôn ba hải ngoại, anh sẽ không quên những kỷ niệm thời thơ ấu và thiếu niên: người và cảnh ở làng Kim Liên, cuộc sống đạm bạc của một gia đình nhà Nho và nông dân yêu nước, phong trào đấu tranh của toàn dân chống xâm lược Pháp. Anh sẽ luôn luôn giữ gìn ''những giá trị vĩnh cửu của Việt Nam: kính già mến trẻ, trọng nghĩa khinh tài'', Tâm hồn người Việt Nam sẽ tồn tại trong anh: ý thức cộng đồng, tình cảm gia tộc quê hương cần cù, hài hước của người nông dân, gần gũi thiên nhiên, năng khiếu thi ca. Anh đã thấm nhuần văn học Hán - Nôm và ít nhiều đã biết văn học Pháp khi học ở trường Quốc học Huế. Khổng học đã đưa lại cho anh một số yếu tố sau này phù hợp với sự lựa chọn mác-xít của anh: chủ nghĩa duy lý, niềm tin vào giáo dục cải tạo con người, sự đề cao đạo đức xã hội và thực tiễn <i>(praxis). </i>Trong tư duy và tình cảm của các nhà Nho Việt Nam, Khổng học thường được bổ sung bằng Lão học, do đó có quan niệm xuất chính và xuất thế. Ở Bác, Lão học được thể hiện qua một số nét: coi thường hình thức phiền toái, trọng nữ (Khổng học chỉ đề cao nam), ưa hài hước. Ước mơ của Bác là gì? ''Làm một cái nhà nho nhỏ, nơi ở có non xanh nước biếc, để câu cá trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, trẻ em chăn trâu, không dính líu gì với danh lợi…”</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Viết kịch bản cho một phim tài liệu, Bành Bảo đã nhấn mạnh vào nghịch lý cuộc đời Bác, mâu thuẫn giữa hoài bão phục vụ dân tộc, nhân loại và nguyện vọng cá nhân muốn sống thanh thản. Bác đã giải quyết mâu thuẫn ấy trong thái độ tâm hồn <i>&quot;tố sự thung dung nhật nguyệt trường''.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trong tam giáo, dĩ nhiên Bác trọng cả Phật giáo: Bác nói là ''Đức Phật tổ đại từ bi, tốt biết bao!''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nhà xã hội học Pháp Paul Mus đã đưa ra những lập luận bác học để nắm bắt qua Hồ Chí Minh ''tâm linh'' (psyché) của Việt Nam và châu Á. Những nghiên cứu nghiêm túc ở phương Tây nhận định là không hiểu được quá trình diễn biến - văn hóa - tư tưởng của Hồ Chí Minh nếu không tìm hiểu tính chất độc đáo của tư duy phương Đông, một tư duy được đánh dấu bởi hoài bão tìm kiếm tính thống nhất của vũ trụ, sự hài hòa giữa những mâu thuẫn, trực giác và tính tổng hợp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nguyễn Tất Thành ''Tây du'' với tinh thần rộng mở. Hồ Chí Minh luôn luôn sẽ giữ tinh thần ấy Bác đã trả lời một nhà báo: ''Khổng Tử, Jesus, Marx, Tôn Dật Tiên... các vị ấy đều muốn làm lợi cho xã hội. Nếu họ còn sống và ở gần nhau, tôi tin rằng các vị ấy sẽ chung sống với nhau thoải mái như những người bạn tốt''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Không những đầu óc Nguyễn Ái Quốc rộng mở, mà cả tấm bòng anh cũng rộng mở, khiến cho anh có bè bạn khắp nơi.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Tướng Pháp Valluy, đối phương của Bác Hồ ở miền Bắc hồi đầu Cách mạng, viết: ''Bác Hồ... có sức quyến rũ ngay từ mới thoạt nhìn''. Theo Laeouture, Hồ Chí Minh được Paris thích, ''không những là cái Paris của ông, của Contrescarpe hay khu ngoại ô Batignoiies mà (...) cả cái thế giới mà suốt đời ông chống lại, cái Paris của giai cấp thống trị Pháp''. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc thâm nhập phương Tây dễ dàng, tự nhiên. Qua các chuyến đi khắp các lục địa, qua tiếp xúc quảng giao, hoạt động xã hội và cách mạng, anh nhanh chóng tăng vốn hiểu biết trí thức và kinh nghiệm cuộc đời. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Tư tưởng phương Tây lấy lý tính và khoa học làm tiêu chuẩn chân lý. Nguyễn Ái Quốc học ở đó phương pháp phân tích, nhất là phân tích duy vật biện chứng mác-xít. Nhà ngoại giao Pháp Sainteny, người được coi và một trong những nhân vật phương Tây biết rõ Bác nhất, nhận định và, bổ sung vào những tri thức truyền thống, ''vốn hiểu biết chung (mà Nguyễn Ái Quốc) tiếp thu được qua các chuyến đi, nhất là ở Paris, cũng đủ để phát triển khả năng phân tích, sự mềm dẻo và đầu óc tò mò tìm hiểu mà trong cuộc đời ông sẽ sử dụng rất tốt'' về đầu óc phân tích của Bác Hồ, Théo Roncho, phóng viên báo <i>L'Humanité </i>có đưa ra một dẫn chứng: năm 1968, ông được Hồ Chủ tịch mời đến trình bày về cuộc khủng hoảng tiền tệ Pháp. Ông viết: ''Tôi thu lượm được một ít tài liệu... Những câu hỏi của Hồ Chủ tịch đan một hệ thống chằng chịt quanh vấn đề rộng đớn và hóc búa ấy. Sự điều tra kiên trì này không để sót một khía cạnh nào. Chủ tịch muốn biết những nguyên nhân thực của cuộc khủng hoảng, quá trình, những tác động trước mắt và sau này của tình hình ấy, tại Pháp và ở nước ngoài. Liệu có phá giá đồng tiền hay không?...''. phong cách điều tra này thật khác xa lối ''chi hồ giả dã'' của các cụ Nho ta.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sau một thời gian ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã tóm tắt cảm tưởng của mình: ''Những người Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt. Song những người Pháp thực dân rất hung ác, vô nhân đạo''... ''Chủ nhiệm báo <i>Dân Chúng, </i>ông Charles Longuet, cháu ngoại của Các Mác và Nghị viện Quốc hội Pháp, đã tiếp ông Nguyễn. Ông Nguyễn lấy làm 1ạ vì chưa bao giờ ông ta được ai tiếp đón thân mật đến như thế. Ông Longuet gọi ông Nguyễn là đồng chí thân ái. Ông nói cho ông Nguyễn rõ tất cả cảm tình của ông đối với nhân dân Việt Nam. Ông khuyến khích ông Nguyễn viết bài và ông sẽ đăng trên báo <i>Dân Chúng </i>để nhân dân Pháp hiểu rõ những sự bất công xảy ra ở Việt Nam. Có thể nói rằng, cuộc gặp gỡ ấy đã mở đường cho sự hiểu biết chính trị của ông Nguyễn. Nó cũng làm cho ông Nguyễn hiểu rõ nhân dân Pháp''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc đã học được nhiều ở những đảng viên xã hội và cộng sản Pháp. Anh kết bạn với Jacques Duclos, Marcel Cachin, anh dự những buổi nói chuyện của nhà văn và nhà hoạt động chính trị Séverine. ở <i>Câu lạc bộ</i> <i>Ngoại ô, </i>anh thường phát biểu. Anh tham gia thảo luận đủ các vấn đề, từ thiên văn học, chính trị, văn học đến cách trồng rau cải xoong và nuôi ốc sên. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Năng khiếu phân tích của Nguyễn Ái Quốc càng được mài giũa từ khi anh bước vào lĩnh vực báo chí. Tổng biên tập báo <i>Sinh Hoạt </i><span style=""> </span><i>Công Nhân </i>dẫn dắt anh đi những bước đầu Ông bắt anh viết thật ngắn, độ năm sáu dòng, rồi viết dài ra, rồi lại rút ngắn lại. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cách thể hiện ý tứ một cách cô đọng, chú trọng đến cốt lõi vấn đề, rất hợp với triết lý Á Đông. Dĩ nhiên Bác Hồ thích làm thơ Đường, một thể thơ rất cô đọng. Tính trong sáng của văn hóa la-tinh và sự phân tích lý tính kiểu triết gia Pháp Descartes không hề bóp nghẹt trong Bác tư duy phương Đông hướng về tổng hợp và trực giác là một tiền đề của sự nhạy bén chính trị. Trong những hoàn cảnh hiểm nguy, Bác Hồ đã từng tóm gọn đường lối ứng xử trong một vài từ, theo truyền thống Bạch Vân cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Năm 1946, trước khi đi Pháp theo dõi Hội nghị Fontainebleau, trong khi vận mệnh quốc gia treo trên sợi tóc, Bác chỉ dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng, lúc đó là Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Quyền Chủ tịch nước, sáu chữ <i>''Dĩ</i> <i>bất biến ứng vạn biến''. </i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Do phương thức sản xuất châu Á, ở Việt Nam không hình thành được một giai cấp tư sản đủ mạnh để đập tan cơ cấu phong kiến và làm nảy mầm<i> </i>hạt giống Tự do, Dân chủ và Tiến bộ. Dưới góc độ triết học và lịch sử, khái niệm <i>''Tiến </i>bộ'' không có trong văn hóa phương Đông quá ư tồn cổ, hoài cổ. Khái niệm ấy cũng không có trong văn hóa phương Tây trước thời kỳ hiện đại vì văn minh cổ Hy Lạp luyến tiếc thời Hoàng kim và đức tin Ki Tô giáo thì bị ám ảnh bởi vườn Den, Thiên đàng đã mất. Khái niệm <i>''Tiến bộ'' </i>gắn với triết học ánh sáng Pháp, triết học này kế thừa chủ nghĩa nhân văn cổ Hy Lạp - La Mã và thời kỳ Phục hưng, nó dẫn đến trong lợi của lý tính và khoa học, đến chủ nghĩa tiến hóa của Darwin.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Xuất phát từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, Nguyễn Ái Quốc đã tôi luyện những lý tưởng cách mạng - Tiến bộ, Tự đo, Dân chủ ở phương Tây. Ở Việt Nam những tư tưởng này đã được truyền bá trong giới trí thức Nho học tiến bộ vào đầu thế kỷ XX qua những bản dịch Trung Quốc: trước tác của Montesquieu, Voltaire, Rousseau. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc tiếp nhận những khái niệm ấy qua lăng kính giải phóng dân tộc. Anh đã bỏ phiếu cho Đệ tam Quốc tế và Đảng Cộng sản Pháp chỉ vì hai tổ chức này bênh vực chính nghĩa của những dân tộc thuộc địa. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Edmond Michelet, Bộ trưởng các quân chủng Pháp, người được ủy nhiệm tiếp Hồ Chủ tịch ở Paris năm 1946, nhận định như sau về sắc thái chính kiến của Bác: ''Đó là một người cộng sản theo lý tưởng... Tôi thấy ông dường như luôn luôn chịu ảnh hưởng của tác giả lớn của ông là Marx, chắc chắn là cả Lê-nin nữa... Nhưng trong ông có Jaurès... Ông là người đã chọn chủ nghĩa cộng sản, đúng thế, nhưng có một chủ nghĩa nhân văn sâu sắc... Tôi cho và trong thế giới cộng sản, chắc chắn ông là một trong những người chấp nhận Cách mạng cộng sản chủ nghĩa, phải!... nhưng trong tự do''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sự đánh giá này của một chính khách đối phương không phải là không sáng suốt. Quả thật là Bác Hồ tìm một chủ nghĩa cộng sản có tình người, kế thừa những truyền thống cách mạng xã hội chủ nghĩa 1917, nhưng tiếp thu cả tinh hoa của những cuộc cách mạng tư sản, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc - một chủ nghĩa cộng sản tôn trọng cá nhân, biết khóc, biết cười, biết ngâm vịnh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Mở đầu bản <i>Tuyên ngôn độc lập </i>của Việt Nam, Hồ Chủ tịch trích dẫn những văn bản của hai cuộc cách mạng tư sản Pháp và Mỹ. Bác tâm sự với Lacouture: ''Một dân tộc như dân tộc (Pháp) của ông, một dân tộc đã đem lại cho thế giới nền văn học của tự do, sẽ luôn luôn thấy ở chúng tôi những người bạn, dù dân tộc ấy có làm gì chăng nữa. Chao ôi! Nếu ông biết được là hằng năm, tôi say sưa đọc Hugo và Michelet đến thế nào! Những tiếng nói ấy không ai có thể làm được, đó là tiếng nói của dân chúng các ông giống dân chúng tôi, y hệt như anh em''. Theo Thượng nghị sĩ Anh William Warbey, ''sự ngưỡng mộ của Hồ Chí Minh đối với những thành tích lịch sử và những hoài bão của nhân dân Mỹ bắt nguồn từ những chuyến thăm Neo York, Boston và những thành phố khác ở bờ biển phía Đông... Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, ông đã có cơ hội biết và yêu nhân dân Mỹ, và qua sách báo, ông đã ngưỡng mộ chính khách của họ là Abraham Lincoin. Cuộc chiến đấu của Lincoin chống chế độ nô lệ và sự bóc lột lao động đối với ông Hồ như là một tiếng vọng của chính sứ mạng của mình là giải phóng nhân dân Việt Nam''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trong khi đề cao nhân dân, Hồ Chí Minh - tuy xuất thân từ một nền văn hóa nặng về cộng đồng, tập thể - không hy sinh cá nhân con người. Phần nào đó cũng do ảnh hưởng văn hóa Pháp nặng về cá nhân, và theo đúng tinh thần của bản Tuyên ngôn cộng sản của Marx và Engels về quan hệ giữa tự do cá nhân và tự do tập thể. Lập trường giai cấp của Bác vững chắc mà lại rất nhân đạo. Chính Bác đã dũng cảm tuyên bố ''sửa sai cải cách ruộng đất''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trong <i>Di chúc, </i>Bác gửi lại muôn vàn thương mến cho trẻ em, người già, phụ nữ, chiến sĩ, thương binh, thanh niên xung phong... Là một cùng dân'' (pa ria), Bác và Tổng biên tập báo <i>Paria </i>cảm thông với số phận các cùng dân trên thế giới. Tình cảm của Bác thể hiện ngay từ sự lựa chọn những sách đọc đầu tiên ở phương Tây: Shakespeare, Dickens, Hugo, Zola, Anatoie France, Toistoi, Nguyễn Ái Quốc còn đọc Proudhon và Michelet cho những thanh niên Việt Nam tha hương, trong một căn hầm ở phố Marché den Patriarches. Anh quen nữ sĩ Colette và thán phục Jaurès. Mẫu số chung của các tác giả mà anh thích đọc và tình thương người cơ cực, bị áp bức... Thơ của Bác Hồ nói lên nỗi đau xót vì thiên hạ, hoài bão tự do của dân tộc, cái đẹp của thiên nhiên.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Thơ của Hồ Chí Minh ''hội tụ xúc cảm Á Đông và chủ nghĩa lãng mạn Pháp'' (Lacouture). Ở đó, tình thương tồn tại cùng mỉa mai, như trong sáng tác của Dickens và Anatole France. Làm thế nào giải thích được sự tương hợp giữa Hồ Chí Minh và Anatoie France, giữa một nhà cách mạng có niềm tin bất di bất dịch, hướng về hành động, lạc quan, và một trí thức tài tử chủ nghĩa, hoài nghi và bi quan? Phải chăng Hồ Chí Minh tìm thấy trong văn hào Pháp một văn phong giản dị và trong sáng, và những rung cảm của một trái tim đã khiến A. France trở thành một người cộng sản ''tình cảm'', vào Đảng vào cuối đời. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Hài hước Hồ Chí Minh cũng pha lẫn Đông và Tây, kết hợp nhiều thành tố: láu lỉnh và hồn nhiên nông dân và giọng châm biếm của nhà Nho Việt Nam, cái dí dỏm của dân Paris. Rất ghét tôn sùng cá nhân, Hồ Chí Minh biết tự nhạo mình và nhạo người khác, không ngần ngại đùa, nói vui với mọi người, tránh thói trịnh trọng câu nệ. Trong kháng chiến chống Pháp, có lần Bác đi bộ khá lâu trong rừng đến thăm một đơn vị bộ đội. Các chiến sĩ ta mừng rỡ đón Bác, hô vang: ''Hồ Chủ tịch muôn năm!''. Bác cười đáp lại: ''Hồ Chủ tịch muôn nằm!''. Năm 1946, sau khi đặt vòng hoa ở mộ người lính vô danh (Paris), Bác về qua đại lộ Champs - élysées. Một quan chức Pháp nói với Bác: ''Thưa Chủ tịch, có rất nhiều người đã đứng xem Ngài qua!''. Hồ Chí Minh bật cười đáp: ''Chắc chắn là thế, ông ạ! Người ta muốn xem hề Chariot Việt Nam! ''. Phải chăng Bác đã nhớ đến ca sĩ Maurice Chevaiier và có thể cả vũ nữ Mistinguett? Trước khi Bác qua đời ít lâu, Bác đã nhờ nhà báo Pháp Madeieine Riffaud gửi cho ít đĩa hát của Maurice Cheval1er. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Phương Đông và phương Tây, quốc gia và quốc tế, hành động và thi ca, truyền thống và cách mạng, lý tưởng và tình cảm, Hồ Chí Minh đã giải quyết những mâu thuẫn ấy một cách biện chứng tuyệt vời. Đúng như triết gia Pháp Pascal đã<span style="">  </span>viết, người ta không vĩ đại khi chỉ đứng ở một cực, mà phải nối liền hai cực và đắp đầy khoảng giữa.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"> </p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><strong><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nguồn</span></strong><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"> <strong><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Hồn Việt. – 2011. – Số 46</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">.</span><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"> – Tr. 4 - 8</span></strong></span></p>
<p> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần IV: Thế giới viết về Bác</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 3:10 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Lịch sử sẽ phủ nhận lời tiên tri ấy, một lời tiên tri thấm nhuần huyền thoại về &#39;&#39;gánh nặng trách nhiệm của người da trắng&#39;&#39; đối với người da màu trên trái đất. Trong thế kỷ 20, sự thách thức vũ khí nguyên tử nhen lên từ Hiroshima, những đảo lộn về kinh tế, chính trị và xã hội do cách mạng công nghiệp gần thứ ba gây ra, quá trình phi thực dân hóa và &#39;&#39;chủ nghĩa thế giới thứ ba&#39;&#39; (tiersmondisme), sự đối đầu với những vấn đề sống còn của nhân loại đã tăng cường sự giao tiếp giữa các quốc gia, xích các dân tộc lại gần nhau và làm nảy nở những mối tương tác văn hóa (acculturation) đầy hứa hẹn. Những nhân vật đại diện cho tinh hoa thế giới, những con người mà bà Indira Gandhi gọi và những &#39;&#39;hỗn hợp Đông Tây&#39;&#39;(2) đã xuất hiện. Hồ Chí Minh có thể được xếp vào dòng tinh thần ấy, dòng họ gồm Tagore, Gandhi, Aurobiondo, Romain Roiiand, Lafcadio Hearn, Peari Buck, Hermann Hesse, Kazantzakis.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.285</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần IV: Thế giới viết về Bác</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 08:17:11 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=56</guid>
    </item>
  </channel>
</rss>