﻿<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<!--RSS generated by Windows SharePoint Services V3 RSS Generator on 14/04/2026 4:42:35 CH-->
<?xml-stylesheet type="text/xsl" href="/100bacho/_layouts/RssXslt.aspx?List=78a705f5-bd75-4abd-b260-d077eadb24d7" version="1.0"?>
<rss version="2.0">
  <channel>
    <title>Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước: Bài đăng</title>
    <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    <description>Liên kết nạp tin tự động RSS cho Bài đăng danh sách.</description>
    <lastBuildDate>Tue, 14 Apr 2026 09:42:34 GMT</lastBuildDate>
    <generator>Windows SharePoint Services V3 RSS Generator</generator>
    <ttl>60</ttl>
    <image>
      <title>Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước: Bài đăng</title>
      <url>/100bacho/_layouts/images/homepage.gif</url>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    </image>
    <item>
      <title>Chủ tịch Hồ Chí Minh với Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=15</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass07E129587CEF45F6AD10B1674C32ACA6><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Để tăng cường mối liên hệ cách mạng với các nước bị áp bức ở Phương Đông, tăng thêm thanh thế cách mạng, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chung chống đế quốc, mùa hè năm 1925, Đảng cộng sản Trung Quốc đã đề xướng thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức, một đoàn thể cách mạng có tính chất quốc tế do những người ở các nước bị áp bức được phái đến Quảng Châu tập hợp lại. Giúp đỡ các dân tộc nhỏ yếu là chủ trương nhất quán của Tôn Trung Sơn. Cho nên đề xướng của Đảng cộng sản Trung Quốc được sự ủng hộ mạnh mẽ của Liêu Trọng Khải và phái tả trong Quốc dân đảng. Hồ Chí Minh mang tên gọi là Lý Thụy cũng tích cực tham gia mọi công việc của đoàn thể mang tính chất quốc tế này. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau một thời gian chuẩn bị, <i style="">Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức</i> tổ chức Đại hội thành lập, ngày 9 tháng 7 năm 1925. Căn cứ vào Điều lệ dược Đại hội thông qua, mục đích của Hội là: “Liên lạc với các dân tộc cùng làm cách mạng đặng đánh đổ đế quốc”. Cơ cấu tổ chức của Hội là thành lập “một tổng bộ có 6 ủy viên, một người làm bí thư kiêm tài chính”,<span style="">  </span>“chi bộ thì do các nước và các đoàn thể tự xây dựng”<sup>2</sup>.<span style="">  </span>Căn cứ vào qui định đó, những người cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu đã thành lập chi bộ Việt Nam thuộc <i style="">Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức</i>, Hồ Chí Minh trực tiếp phụ trách công tác của chi bộ Việt Nam. Thành viên của chi bộ này, ngoài các hội viên Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí, còn có sĩ quan người Việt giảng dạy ở trường quân sự Hoàng Phố như Đinh Tế Dân<sup>3</sup> v.v.<span style="">  </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đại hội thành lập đã ra Tuyên ngôn nói rõ: “Những người tham gia hội nghị này có các đồng chí Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên, Việt Nam. Đây là sự mở màn biểu hiện cao nhất sự giác ngộ căn bản của các dân tộc bị áp bức ở phương đông chúng ta”. Tuyên ngôn thành lập chỉ ra “Con đường duy nhất để xóa bỏ sự áp bức chính là liên hiệp các dân tộc nhỏ yếu bị áp bức với giai cấp vô sản toàn thế giới, dùng những biện pháp cách mạng lật đổ về căn bản bọn tư bản đế quốc cực kỳ hung ác, chỉ có như thế mới thực hiện được”. Bản tuyên ngôn hy vọng các nước và các đoàn thể bị áp bức ở phương Đông “hãy gia nhập Hội liên hiệp của chúng ta, hãy chiến đấu đến cùng chống đế quốc”<sup>4</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhờ sự giúp đỡ của sáng cộng sản Trung Quốc, sự ủng hộ của phái tả Quốc dân đảng, Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức đã nhanh chóng trở thành một đoàn thể cách mạng được mọi người chú ý Quảng Châu trong thời kỳ cách mạng. Chẳng những các nhà cách mạng Việt Nam, Triều Tiên, Ấn Độ, Miến Điện đang hoạt động trên đất Quảng Châu lần lượt thành lập các chi bộ, mà một số đoàn thể cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Trung Quốc, như Hiệp hội phụ nữ giải phóng tỉnh Quảng Đông. Hiệp hội nông dân Quảng Đông v.v. cũng gia nhập Hội, trở thành đoàn thể hội viên. Cùng với sự phát triển của tình hình đấu tranh, đầu năm 1926, Hội quyết định mở rộng tổ chức và cải tổ bộ máy lãnh đạo. Tổng bộ sau khi cải tổ có 7 ủy viên chấp hành lâm thời (trong đó có 1 chủ tịch), phân công theo dõi giao tế, tuyên truyền, tổ chức, văn thư, quản trị tài chính, điều tra. Bao Huệ Tăng, một đảng viên cộng sản, được bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành kiêm ủy viên giao tế, Lý Thụy, tức Hồ Chí Minh là ủy viên tài chính<sup>5</sup>. Từ đó về sau Hồ Chí Minh còn đảm nhiệm nhiều công tác cụ thể của Hội. Ngoài việc theo dõi về tài chính ra, do thông thạo nhiều thứ tiếng nước ngoài như Nga, Pháp, Anh... Người thường làm nhiệm vụ dịch các văn kiện, thư, điện của Hội. Ví như, ngày 4 tháng 5 năm 1926 Ban chấp hành Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức đã quyết định lấy danh nghĩa của Hội ra một bản Tuyên ngôn ủng hộ công nhân bãi công ở Anh, điện thăm hỏi và ủng hộ công nhân bãi công ở Anh. Các bức điện ủng hộ phong trào cách mạng ở các nước Xi-ri, Ma-rốc, Triều Tiên, Việt Nam. Những văn kiện và thư điện trên đây đều do Người dịch<sup>6</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lúc Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức thành lập, cũng là lúc có cuộc bãi công lớn ở Cảng Tỉnh. Cuộc bãi công lớn ở Quảng Châu và Hồng Công, kéo dài 1 năm 4 tháng đang gây chấn động ở trong và ngoài nước. Hồ Chí Minh đã tích cực tham gia công tác tuyên truyền cho cuộc bãi công lớn đó. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Được tin Ủy ban bãi công của Cảng Tỉnh tổ chức các đội diễn thuyết, chiều ngày 13 tháng 7, Hồ Chí Minh đến ủy ban bãi công đề nghị được tham gia đội diễn thuyết với “danh nghĩa là hội viên Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức”. Hồ Chí Minh đã ghi tên bằng bí danh Lý Thụy và báo cáo đề tài mình chuẩn bị diễn thuyết: “Mối quan hệ giữa nhân dân Trung Quốc với các dân tộc bị áp bức và tính tất yếu phải liên hiệp lại đánh đổ chủ nghĩa đế quốc”. Ủy ban bãi công hoan nghênh Hồ Chí Minh tham gia đội diễn thuyết và “giới thiệu ngay đến các khu công nhân, lần lượt diễn thuyết”. Ngày hôm sau, tờ <i style="">công nhân chi lộ đặc hiệu</i> đưa tin Hồ Chí Minh tham gia dội dân thuyết trong bài “Người Việt Nam gia nhập dội diễn thuyết”<sup>7</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Về hoạt động của Hồ Chí Minh tham gia diễn thuyết trong cuộc bãi công lớn ở Cảng Tỉnh, Vương Nhất Tri hồi tưởng như sau:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">“Hồ Chí Minh lúc ở Quảng Châu trong thời kỳ đại cách mạng, công việc rất bận rộn nhưng tinh thần hết sức dồi dào. Ngoài việc hoàn thành công tác ở phòng phiên dịch của cố vấn Bô-rô-đin, lãnh đạo <i style="">Hội Việt Nam thanh niên cách mệnh đồng chí</i> và chủ trì các lớp huấn luyện chính trị đặc biệt, Người còn tham gia hoạt động của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức, kề vai sát cánh với các đồng chí Trung Quốc cùng chiến đấu, góp phần cống hiến sức mình vào cuộc cách mạng của Trung Quốc. Trong cuộc bãi công lớn ở Cảng Tỉnh, Hồ Chí Minh đã tích cực tham gia các công tác tuyên truyền cổ động. Lúc bấy giờ có hơn 20 vạn công nhân Cảng Tỉnh trở về Quảng Châu. Ủy ban bãi công thường tổ chức quần chúng mít tinh và tuần hành. Tại Quảng trường Đông Hiệu thường được triệu tập những cuộc họp của quần chúng có hàng vạn người tham gia. Trong khu vực quảng trường được dựng lên những bục diễn thuyết, tham gia những cuộc diễn thuyết này có đại biểu công nhân bãi công, có các đồng chí phụ trách lãnh đạo Đảng cộng sản của Khu ủy Quang Tây ; các đồng chí phụ trách công tác công vận và có cả cố vấn Liên Xô Bô-rô-đin v.v. Hồ Chí Minh cũng thường tham gia diễn thuyết. Hồi đó ở một vài trường hợp công khai thì Hồ Chí Minh nói tiếng Pháp, nhưng khi diễn thuyết được công nhân bãi công thì dùng tiếng Trung Quốc. Người nói tiếng Trung Quốc rất khá, chỉ có điều hơi lai âm tiếng Quảng Đông. Trong những buổi nói chuyện đó, Hồ Chí Minh đã từ mối quan hệ giữa cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Trung Quốc với cuộc đấu tranh của các dân tộc và nhân dân bị áp bức trên toàn thế giới mà đánh giá cao cuộc bãi công lớn của Cảng Tỉnh, đồng thời nhiệt liệt cổ vũ công nhân bãi công đoàn kết nhất trí, kiên trì đấu tranh giành thắng lợi cuối cùng. Khi diễn thuyết, giọng của Người âm vang, giàu tính kêu gọi, được công nhân bãi công hết sức hoan nghênh<sup>8</sup>. Hồ Chí Minh tích cực tham gia hoạt động tuyên truyền trong cuộc bãi công lớn ở Cảng Tỉnh, bằng hành động thực tế ủng hộ cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Trung Quốc ủng hộ cuộc đại cách mạng của Trung Quốc, thể hiện một cách sinh động tinh thần quốc tế vô sản. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">* Trích dịch mục 4, chương II sách Hồ Chí Minh với Trung Quốc của Hoàng Tranh. Nhà xuất bản Giải phóng quân, Bắc Kinh (Trung Quốc), 1987. Nhan đề là của người dịch.<span style="">  </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">1. Về tên gọi của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức. từ trước tới nay một số sách báo ghi thêm hai chữ Á Đông là không đúng với tên gọi lúc thành lập. Ngay trên bìa sách Đường kách mệnh xuất bản năm 1927 cũng như con dấu đóng trên bìa đều ghi: Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức (chú thích của người dịch). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">2. Xem Công nhân chi lộ đặc hiệu cơ quan của Ủy ban bãi công Hồng Kông, số 18, ra ngày 12 tháng 7 năm 1925.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">3. Đinh Tế Dân, nhân sĩ người Việt Nam thời trẻ học ở Giảng Võ Đường, Vân Nam, sau đó giảng dạy ở trường quân sự Hoàng Phố (theo sách <i style="">Ghi chép của học sinh trường Hoàng phố</i>). Ngày 22 tháng 11 năm 1925, trong một cuộc đại hội do <i style="">Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức</i> triệu tập để hoan nghênh đại biểu thuộc địa, Đinh Tế Dân đã đọc diễn văn với tư cách là đại biểu chi bộ Việt Nam. Xem <i style="">Công nhân chi lộ đặc biệt</i>, số 151, ra ngày<span style="">  </span>24 tháng 11 năm 1925.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">4. Công nhân chi lộ đặc hiệu</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> ; số 26 ra ngày 20 tháng 7 năm 1925. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">5. Công nhân chi lộ đặc hiệu</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> ; số 240, ra ngày 23 tháng 2 năm 1926. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">6. Công nhân chi lộ đặc hiệu</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> ; số 320, ra ngày 15 tháng 5 năm 1926. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">7. Công nhân chi lộ đặc hiệu</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> ; số 20 ra ngày 14 tháng 7 năm 1925. Để giấu tên gọi Lý Thụy, tờ báo viết “Người Việt Nam Lý Mỗ”</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">8. Tác giả đã ghi lại lời Vương Nhất Tri trong buổi gặp gỡ ngày 6 tháng 10 năm 1982. Nội dung chủ yếu còn được tham khảo thêm ở bài của Vương Nhất Tri “Nhớ đồng chí Trương Thái Lôi”<span style="">  </span>đăng trên <i style="">Nghiên cứu lịch sử cận đại</i>, số 2 năm 1983.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lịch sử Đảng. -1989. –Số tháng 3. –Tr.44-46.</span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 8:15 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Ở Quảng Châu, Hồ Chí Minh còn tham gia tổ chức Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức1 và là thành viên tích cực của tổ chức ấy. Sự hình thành Quốc - Cộng hợp tác lần thứ nhất đã đẩy mạnh phong trào cách mạng của Trung Quốc, cuộc cách mạng được dấy lên sôi nổi rầm rộ với trung tâm là Quảng Đông. Trong tình hình đó, một số nước bị áp bức ở Đông Á đều phái người đến Quảng Châu để học tập kinh nghiệm cách mạng của Trung Quốc, chuẩn bị cho cuộc cách mạng ở nước mình. Ngoài các nhà cách mạng Việt Nam mà đại biểu là Hồ Chí Minh, trong thời gian đó còn có những nhà cách mạng của một số nước như Ấn Độ, Triều Tiên, Miến Điện, In-đô-nê-xi-a đến hoạt động ở Quảng Châu. Quảng Châu lúc ấy được gọi là “Mát-xcơ-va của phương Đông”.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.051</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 01:20:28 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=15</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1911-1930)</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=22</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass8A5C28360268408D970F42D9ABF3B3B9><p><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">1. Xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Việt Nam</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuối thế kỷ XIX, sau khi cơ bản kết thúc giai đoạn vũ trang xâm lược, thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa. Để bóc lột được lợi nhuận thuộc địa tối đa, thực dân Pháp duy trì phương thức sản xuất phong kiến, thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chúng thực hiện chính sách độc quyền kinh tế về các mặt: xuất nhập khẩu, khai thác mỏ, giao thông vận tải, ngân hàng, tài chính, thuốc phiện, muối, rượu, chiếm đất lập đồn điền, lập ra hàng trăm thứ thuế vô lý và vô nhân đạo. Chúng bóc lột dân ta đến tận xương tuỷ, khiến cho dân ta càng nghèo khổ, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng thực hành chính sách chuyên chế vềchính trị, làm cho dân ta không có một chút tự do, dân chủ nào. Để ngăn chặn tình đoàn kết của dân tộc ta, chúng thực hiện chính sách &quot;chia để trị&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cùng với độc quyền về kinh tế, chuyên chế về chính trị, về văn hoá, thực dân Pháp thi hành chính sách ngu dân, nhằm giam hãm dân tộc ta trong vòng nô lệ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những chính sách trên của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam thay đổi, từ một xã hội phong kiến độc lập, Việt Nam trở thành một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Về cơ cấu xã hội, bên cạnh giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân đã tồn tại từ lâu, xuất hiện giai cấp công nhân, giai cấp tiểu tư sản thành thị và giai cấp tư sản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhân dân ta bị bần cùng hoá, công nhân, nông dân nghèo đói, tiểu tư sản phá sản, trí thức thất nghiệp, tư sản dân tộc, địa chủ nhỏ và vừa bị chèn ép.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chính sách thống trị của Pháp và bọn tay sai đã tạo ra hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam thuộc địa, nửa phong kiến: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, chủ yếu là giữa nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến. Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với bọn thực dân Pháp và bè lũ tay sai. Độc lập dân tộc và người cày có ruộng là hai yêu cầu cơ bản của xã hội Việt Nam thuộc địa, nửa phong kiến, nhưng độc lập dân tộc là yêu cầu chủ yếu trước mắt, phản ánh nguyện vọng bức thiết của các tầng lớp, giai cấp trong dân tộc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">2. Phong trào giải phóng dân tộc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">a) Phong trào yêu nước của nông dân và sĩ phu yêu nước</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân lên đất nước ta, với tinh thần yêu nước nồng nàn, bất chấp chủ trương đầu hàng của triều đình phong kiến, nhân dân cả nước đã vùng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Chúng đã vấp phải một phong trào đấu tranh vũ trang quyết liệt và kéo dài, hễ phong trào này bị dập tắt, thìphong trào khác tiếp theo, không hề ngưng nghỉ, thật đúng với lời tuyên bố đanh thép của Nguyễn Trung Trực trước giờ xử tử: &quot;Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 5-7-1885, phái kháng chiến còn sót lại trong triều đình Huế do Tôn Thất Thuyết dẫn đầu đánh đồn Mang Cá và toà khâm sứ Trung Kỳ. Bị thất bại, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi ra vùng núi Quảng Trị. Ngày 13-7-1885, nhà vua xuống chiếu &quot;Cần Vương&quot;. Phong trào &quot;Cần Vương&quot; nhanh chóng lan ra nhiều địa phương ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ và cả Nam Kỳ. Ngày 1-11-1888, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt. Phong trào &quot;Cần Vương&quot; còn kéo dài cho đến khi cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng thất bại (1896). Trong thời gian đó, các cuộc khởi nghĩa của nông dân chống Pháp không ngừng bùng nổ ở khắp các miền của đất nước. Cuộc khởi nghĩa lớn nhất tiêu biểu cho ý chí chiến đấu bất khuất, kiên cường, bền bỉ của nông dân Việt Nam là cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Thực dân Pháp đã bốn lần dùng lực lượng lớn tiến công Yên Thế, nhưng đều bị nghĩa quân đánh bại. Chỉ sau khi Hoàng Hoa Thám hy sinh (10-3-1913), cuộc khởi nghĩa Yên Thế (kéo dài 30 năm từ 1883-1913) mới kết thúc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">b) Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau khi phong trào &quot;Cần Vương&quot; thất bại, nhiều sĩ phu yêu nước hướng ra nước ngoài tìm con đường cứu nước mới.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đầu thế kỷ XX, trào lưu dân chủ tư sản qua sách báo của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, gương Duy Tân của Nhật Bản, cuộc vận động hiến pháp của Trung Quốc (1898), cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (1911) đã lôi cuốn nhiều sĩ phu yêu nước, tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Là ngọn cờ của phong trào yêu nước chống Pháp hồi đầu thế kỷ, lúc đầu Phan Bội Châu chủ trương lập chế độ quân chủ lập hiến, năm 1904 đã lập Duy Tân hội để khôi phục độc lập dân tộc. Tuy vậy, ông vẫn chưa thấy vai trò chủ lực của nông dân. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1912, ông cùng một số nhà yêu nước lập raViệt Nam Quang phục hội, từ bỏ lập trường quân chủ lập hiến, chuyển sang lập trường dân chủ tư sản với chủ trương: đánh đuổi giặc Pháp, thành lập Cộng hoà dân quốc Việt Nam. Năm 1924, ông quyết định cải tổ Việt Nam Quang phục hội thành Việt Nam Quốc dân Đảng, vạch đường lối chính trị phỏng theo cương lĩnh Trung Hoa Quốc dân Đảng do Tôn Dật Tiên lãnh đạo. Ông cũng có cảm tình với nước Nga Xôviết, chủ nghĩa xã hội và có ý đặt hy vọng vào Nguyễn Ái Quốc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hạn chế lớn của ông là chủ trương dựa vào Nhật để đuổi Pháp. Sau này, trong tác phẩm Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Trần Dân Tiên đã nhận xét con đường đó chẳng khác gì &quot;đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Con đường cứu nước của Phan Bội Châu đã không thành công. Trong bản hồi ký cuối đời ông viết: &quot;Than ôi! Cuộc đời của tôi là một trăm thất bại mà không một thành công&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Phan Châu Trinh là nhà yêu nước dân chủ nhiệt thành. Ông kịch liệt tố cáo bọn quan lại phong kiến sâu mọt, kết tội tên vua bù nhìn Khải Định và tố cáo tội ác của thực dân Pháp. Ông chủ trương &quot;khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh&quot;. Hạn chế lớn của Phan Châu Trinh là đường lối cải lương phản đối bạo động (&quot;bạo động tắc tử&quot;) và muốn dựa vào Pháp để chống phong kiến. Dù là cải lương, ông vẫn bị thực dân Pháp bắt giam, đày đi Côn Đảo. Con đường cứu nước của Phan Châu Trinh đã thất bại, đúng như nhận xét của Trần Dân Tiên, vì sai lầm chẳng khác gì &quot;xin giặc rủ lòng thương&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lòng yêu nước và gương hoạt động của hai cụ Phan đã cổ vũ nhân dân ta qua nhiều thế hệ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh có điểm giống nhau là chưa tiếp cận được xu thế của thời đại mới, do đó không tìm ra con đường cứu nước mới, con đường giành độc lập triệt để do nhân dân lao động làm chủ đất nước, lấy sức ta mà tự giải phóng cho ta.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thất bại của phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đã nói lên một sự thật: con đường dân chủ tư sản cũng không cứu được nước. Ở nước thuộc địa, nửa phong kiến Việt Nam, giai cấp tư sản dân tộc có vai trò nhất định trong sự nghiệp cứu nước, nhưng họ chỉ có thể phát huy vai trò đó với sự giúp đỡ của Đảng, của giai cấp công nhân.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), tính chất thời đại thay đổi, đòi hỏi con đường giải quyết mâu thuẫn xã hội phải thay đổi và giai cấp lãnh đạo cách mạng cũng phải thay đổi.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Vào những năm đầu thế kỷ XX, cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước đã diễn ra sâu sắc, trầm trọng trên đất nước ta. Việc tìm lối ra cho cuộc khủng hoảng là nhu cầu nóng bỏng nhất của dân tộc ta lúc bấy giờ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">II. NGUYỄN ÁI QUỐC TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">1.Quá trình tìm tòi con đường cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19-5-1890, quê ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Lúc nhỏ có tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học lấy tên là Nguyễn Tất Thành. Lớn lên giữa lúc nước mất nhà tan, đau xót trước cảnh lầm than của đồng bào, Nguyễn Tất Thành sớm có chí đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành rời đất nước ra đi tìm đường cứu nước, xem các nước làm thế nào rồi trở về giúp đồng bào.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trên lộ trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã trải qua những bước ngoặt lớn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một là: Nhận ra hạn chế của các nhà yêu nước đương thời.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc rất khâm phục tinh thần yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám, nhưng không đồng ý đi theo con đường của một người nào. Trong khi nhiều người còn ngưỡng mộ cách mạng tư sản, Người đã vượt qua sự hạn chế tầm nhìn của họ, đi tìm con đường cứu nước khác.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hai là: Tìm ra chỗ hạn chế của cách mạng dân chủ tư sản là những cuộc cách mạng không giải phóng được công nông và quần chúng lao động.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một cuộc khảo sát có một không hai ở Mỹ, Anh và Pháp đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhận ra là ở đâu cũng có hai loại người: người giàu và người nghèo, người áp bức và người bị áp bức. Càng ngày Người càng hiểu sâu sắc bản chất của chủ nghĩa đế quốc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 6-7-1911, Nguyễn Tất Thành đến cảng Mácxây, thấy nhiều phụ nữ nghèo khổ, Nguyễn Tất Thành nói với người bạn &quot;Tại sao người Pháp không &quot;khai hóa&quot; đồng bào của họ trước khi đi &quot;khai hóa&quot; chúng ta?&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Làm thuê trên chiếc tàu đi vòng quanh châu Phi, tận mắt trông thấy những cảnh khổ cực, chết chóc của người da đen dưới roi vọt của bọn thực dân, Nguyễn Tất Thành nghĩ: Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Giữa tháng 12-1912, Nguyễn Tất Thành tới nước Mỹ, Người dành một phần thời gian để lao động kiếm sống, còn phần lớn thời gian dành cho học tập, nghiên cứu Cách mạng tư sản Mỹ năm 1776. Khi thăm pho tượng Thần Tự do, Nguyễn Tất Thành không để ý đến ánh hào quang quanh đầu tượng mà xúc động trước cảnh những nô lệ da đen dưới chân tượng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuối năm 1913, Nguyễn Tất Thành từ Mỹ sang Anh và cuối năm 1917 trở lại Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) giết hại biết bao sinh mạng, phá huỷ vô vàn của cải. Qua đó, Nguyễn Ái Quốc càng hiểu thêm bản chất của chủ nghĩa tư bản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Quá trình nghiên cứu, xem xét Cách mạng tư sản Mỹ (1776) và Cách mạng tư sản Pháp (1789) đã giúp Nguyễn Ái Quốc học hỏi được nhiều điều. Tuy vậy, Người vẫn đánh giá những cuộc cách mạng tư sản là &quot;những cuộc cách mạng không đến nơi&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chiến tranh kết thúc, các nước thắng trận họp Hội nghị hoà bình ở Vécxây (Pháp) để chia phần. Thay mặtHội những người Việt Nam yêu nước, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị bản yêu sách 8 điểm. Trong khi chờ đợi giải quyết vấn đề dân tộc tự quyết, Người chỉ đề cập những yêu sách &quot;tối thiểu&quot; và &quot;cấp thiết&quot;. Tổng thống Mỹ Uynxơn (Wilson), tác giả chương trình 14 điểm với chiêu bài dân tộc tự quyết cũng có mặt ở Hội nghị. Nhưng những yêu sách dù khiêm tốn của Người không được Hội nghị đáp ứng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sự kiện này đã giúp Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ &quot;chủ nghĩa Uynxơn chỉ là một trò bịp bợm lớn...&quot;. Những lời tuyên bố tự do của nhà chính trị tư sản trong lúc chiến tranh thực ra chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc. Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình. Đầu năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một đảng tiến bộ hồi bấy giờ, Người có dịp tiếp xúc, hoạt động với nhiều nhà chính trị nổi tiếng ở Pháp. Nguyễn Ái Quốc tìm hiểu và hoạt động trong phong trào công nhân, liên lạc và cùng hoạt động với nhiều nhà cách mạng ở nhiều thuộc địa Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ba là: Đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, đi theo Quốc tế Cộng sản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi là sự kiện chính trị lớn nhất của thế kỷ XX, mở ra thời đại mới trong lịch sử loài người, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, thời đại thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đặt ra sự lựa chọn mới đối với những người cách mạng Việt Nam: Độc lập dân tộc cho một số ít người hay cho đại đa số người? Độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa tư bản hay độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội?</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Khi được biết thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc ngưỡng mộ cuộc cách mạng đó, kính phục Lênin. Người đã tham gia nhiều cuộc vận động ủng hộ nhân dân Nga bảo vệ thành quả cách mạng. Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ ba) ra đời, có ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng thế giới. Năm 1920, cuộc đấu tranh giữa hai con đường diễn ra quyết liệt trong nhiều đảng công nhân và ngay trong Đảng Xã hội Pháp: tiếp tục theo Quốc tế thứ hai tức là tiếp tục con đường cải lương hay đi theo Quốc tế thứ ba, con đường cách mạng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộcđịa của Lênin. Luận cương đã giải đáp trúng những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở tìm hiểu, giúp Người thấy rõ con đường thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, nhận rõ lập trường của Lênin và Quốc tế thứ ba khác hẳn với những lời tuyên bố suông của Quốc tế thứ hai. Luận cương của Lênin đã có ảnh hưởng quyết định đến lập trường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc: Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tán thành Quốc tế thứ ba, đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo cách mạng vô sản, trở thành một trong những nhà sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Qua mười năm sống và làm việc ở những nước tư bản phát triển, Nguyễn Ái Quốc không choáng ngợp trước sự giàu có của giai cấp tư sản mà lại nhận thấy chế độ tư bản có nhiều khuyết tật. Người khẳng định dứt khoát chủ nghĩa tư bản không cứu được nước, không cứu được dân. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhanh chóng nhận ra chân lý thời đại: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Khác với các nhà yêu nước đương thời, Nguyễn Ái Quốc có một phương pháp nghiên cứu độc lập, tự chủ, sáng tạo, đem lý luận đối chiếu với thực tiễn, lấy mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội làm tiêu chuẩn đánh giá các học thuyết, tiếp thu kinh nghiệm cách mạng thế giới có chọn lọc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc đã được thể hiện nổi bật trong việc vận dụng học thuyết Mác - Lênin, vạch ra đường lối cứu nước đúng đắn cho dân tộc ta.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">2. Truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin và chuẩn bị thành lập Đảng</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">a) Tố cáo tội ác của bọn thực dân Pháp, liên kết cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa với cách mạng vô sản ở các nước đế quốc</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trở thành người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc bắt tay vào truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về nước. Quá trình đó cũng là quá trình Người từng bước vạch đường lối chiến lược cho cách mạng Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 4-1921, khi còn ở Pháp, trong bài báoĐông Dương, Người phê phán sai lầm của một số đảng cộng sản ở các nước tư bản phát triển &quot;chưa quan tâm đến vấn đề thuộc địa&quot;. Tháng 5 năm đó cũng trong bài báo Đông Dương, Người cho rằng &quot;chế độ cộng sản có áp dụng được ở châu Á nói chung và ở Đông Dương nói riêng&quot;. Người dự đoán &quot;ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 7-1921, Nguyễn Ái Quốc cùng một số chiến sĩ cách mạng ở nhiều nước thuộc địa Pháp lập Hội liên hiệp thuộc địa. Tuyên ngôn của Hội do Người khởi thảo đã nêu bật tư tưởng tự lực tự cường: &quot;Công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hội đã ra tờ báoNgười cùng khổ (Le Paria).Trong truyền đơn cổ động mọi người mua báo, Nguyễn Ái Quốc đã phát triển lời kêu gọi đoàn kết quốc tế của Mác và Lênin: &quot;Lao động tất cả các nước đoàn kết lại!&quot;. BáoNgười cùng khổ đã tạo &quot;một luồng gió mới thổi đến nhân dân các nước bị áp bức&quot;, &quot;đã làm cho nước Pháp chân chính biết rõ những việc xảy ra trong các thuộc địa&quot;, &quot;đã thức tỉnh đồng bào chúng ta&quot;, &quot;khiến cho đồng bào chúng ta nhận rõ nước Pháp, nước Pháp tự do, bình đẳng, bác ái&quot;. Ngoài việc viết bài cho báo Người cùng khổ, Nguyễn Ái Quốc còn viết bài cho các báoNhân đạo, Đời sống công nhân. Người đã dự Đại hội lần thứ nhất và thứ hai của Đảng Cộng sản Pháp. Người tiếp tục chỉ ra sai lầm của Đảng Cộng sản Pháp về vấn đề thuộc địa.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu viết tác phẩm nổi tiếngBản án chế độ thực dân Pháp nhằm vạch trần bản chất chủ nghĩa đế quốc và kêu gọi &quot;Dân bản xứ không cam chịu nhục được mãi, phải vùng lên&quot;. Người nêu lên mối quan hệ giữa cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc qua hình ảnh chủ nghĩa đế quốc là một con đỉa hai vòi. Muốn giết con vật ấy &quot;người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra&quot;. Tác phẩmBản án chế độ thực dân Pháp có giá trị lớn về mặt lý luận, thực tiễn, đồng thời có giá trị về văn học.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1922, Nguyễn Ái Quốc phê phán vua Khải Định khi ông ta sang Pháp dự hội chợ thuộc địa. Qua truyện ngắnLời than vãn của Bà Trưng Trắc, vở kịch Con rồng tre, Người lên án ông ta là &quot;đớn hèn, bất lực và ngu dốt&quot;, cam tâm làm tôi tớ cho thực dân Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Giữa năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Pêtơrôgrát (Liên Xô). Ở đó, Người có điều kiện học tập, nghiên cứu sâu sắc hơn chủ nghĩa Mác - Lênin. Người phát triển thêm những quan điểm chính trị của mình đã hình thành ở Pháp. Người tiếp tục tố cáo tội ác của chủ nghĩa đế quốc. Qua bài Hành hình kiểu Linsơ, Người coi tội ác đó &quot;chiếm vị trí vinh dự trong toàn bộ những tội ác của nền văn minh Mỹ&quot;.Người vạch trần&quot;chính sách thực dân trá hình&quot; của đế quốc Anh muốn chiếm cả Trung Quốc, phê phán đế quốc Ý đồng lõa với đế quốc Pháp đàn áp phong trào cách mạng ở Bắc Phi.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 10-1923, Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội lần thứ nhất Quốc tế Nông dân. Đại hội bầu Người vào Ban Chấp hành Quốc tế Nông dân và Ban Chấp hành cử Người làm uỷ viên Đoàn chủ tịch. Năm 1924, Người dự các Đại hội của Thanh niên, Phụ nữ quốc tế. Công hội đỏ và Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản. Người tiếp tục phê bình thiếu sót của nhiều đảng cộng sản ở Tây Âu về vấn đề thuộc địa và thẳng thắn nêu thiếu sót đó của cả Quốc tế Cộng sản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người rất chú ý nghiên cứu chế độ mới ở Liên Xô. Người nhận rõ lúc này dù thiếu thốn, nhân dân Liên Xô đã dành cho trẻ em những &quot;cái gì tốt nhất&quot;, nhà nước hết sức chăm lo việc giáo dục và y tế cho nhân dân. Người viết nhiều bài báo nêu cao công lao vĩ đại, đạo đức cao cả của Lênin.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 11-11-1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc) làm nhiệm vụ đặc phái viên của Quốc tế Cộng sản và trực tiếp chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người cùng với một số nhà cách mạng lậpHội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông, do ông Liêu Trọng Khải (Trung Quốc) làm Hội trưởng và Người làm Bí thư.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">b) Thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội)</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 6-1925, từ nhóm cách mạng đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, nhằm tập hợp những thanh niên yêu nước Việt Nam có xu hướng cộng sản chủ nghĩa, chuẩn bị thành lập Đảng. Người mở những lớp huấn luyện cán bộ và ra tờ báoThanh niên. Phần lớn những thanh niên đã được huấn luyện trở về nước hoạt động và số còn lại sang Liên Xô tiếp tục học tập. Hội đã truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối cứu nước của Nguyễn Ái Quốc vào công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1928, Hội đề ra chủ trương &quot;vô sản hoá&quot;, đưa hội viên vào các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền. Chủ trương này có tác dụng rèn luyện những người trí thức tiểu tư sản về lập trường giai cấp công nhân và bước đầu kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hội kết nạp ngày càng nhiều hội viên, năm 1928 có 300 hội viên, năm 1929 có 1.700 hội viên, nếu kể cả hội viên dự bị thì có gần 3.000 người. Từ năm 1926 đến năm 1929, Hội có cơ sở ở nhiều trung tâm kinh tế, chính trị trong cả nước, trở thành lực lượng chính trị yêu nước lớn mạnh nhất đất nước, hoàn thành ý định của người sáng lập hội là chuẩn bị tiền đề cho việc thành lập Đảng Cộng sản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">c) Phác thảo đường lối cứu nước</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc phác thảo đường lối cứu nước từ năm 1921 và thể hiện tập trung trong tập bài giảng ở lớp chính trị tại Quảng Châu, năm 1927 được in thành sách lấy tên là Đường Cách mệnh. Nội dung cơ bản của tác phẩm như sau:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một là: Chỉ có cách mạng vô sản là cách mạng triệt để, vì lợi ích của đại đa số dân chúng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc giới thiệu những cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, từ Cách mạng tư sản Mỹ năm 1776 đến Cách mạng tư sản Pháp năm 1789, từ Công xã Pari năm 1871 đến Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và sau khi so sánh cách mạng tư sản với cách mạng vô sản, Người khẳng định: &quot;Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa.Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người khẳng định: &quot;Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam&quot;. Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: &quot;làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc&quot;.Đây là điểm xuất phát và là điểm khác nhau cơ bản giữa con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc với các con đường cứu nước trước kia.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hai là:Mục tiêu và con đường đi lên của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa xã hội, muốn xoá bỏ chế độ người bóc lột người, muốn có tự do, hạnh phúc, bình đẳng thật sự thì phải qua hai cuộc cách mạng: cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai cuộc cách mạng này có quan hệ mật thiết với nhau.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ba là: Về lực lượng cách mạng, công nông là gốc của cách mệnh, học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ là bầu bạn của công nông. &quot;Ai mà bị áp bức càng nặng, thì lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết&quot;. Cách mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải là việc của một hai người.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Bốn là: Về phương pháp cách mạng.</span>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cùng với việc hoạch định đường lối cách mạng, Nguyễn Ái Quốc phác thảo cả phương pháp cách mạng. Người cho rằng giải phóng gông cùm nô lệ cho đồng bào, cho nhân loại là công việc &quot;to tát&quot;, cho nên phải &quot;dùng hết sức&quot;, phải &quot;quyết tâm làm thì chắc được&quot;, &quot;thà chết tự do hơn sống làm nô lệ&quot;. Nhưng phải &quot;biết cách làm thì mới chóng&quot;. &quot;Cách mệnh trước hết phải làm cho dân giác ngộ&quot;.</span></p>
<p><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nguồn <a href="http://dangbo.most.gov.vn/"><span style="color:black">http://dangbo.most.gov.vn</span></a>. </span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">–2010. –Ngày 3 tháng 2</span></p>
</span></p>
</p>
</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 8:55 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> I. CUỘC KHỦNG HOẢNG VỀ CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC ĐẦU THẾ KỶ XX
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả chuẩn bị công phu về tư tưởng, chính trị và tổ chức của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và của các chiến sĩ cách mạng tiền bối, đáp ứng nhu cầu lịch sử của đất nước ta đầu thế kỷ XX, phù hợp xu thế phát triển của thời đại.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.574</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 01:57:20 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=22</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo Cách mạng xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ Quốc (1954 – 1969)</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=36</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass63D932C4B0564DFFA7561DD9A7E8EEB5><p>
<table class=MsoTableGrid border=1 cellspacing=0 cellpadding=0 align=left style="border-bottom:medium none;border-left:medium none;margin:auto 6.75pt;border-collapse:collapse;border-top:medium none;border-right:medium none">
    <tbody>
        <tr style="height:21.75pt">
            <td valign=top width=320 style="border-bottom:windowtext 1pt solid;border-left:windowtext 1pt solid;padding-bottom:0cm;background-color:transparent;padding-left:5.4pt;width:239.8pt;padding-right:5.4pt;height:21.75pt;border-top:windowtext 1pt solid;border-right:windowtext 1pt solid;padding-top:0cm">
            <p class=MsoNormal style="text-align:center;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><img width=302 height=200 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-6/BacHo762011_11106.jpg"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
            </td>
        </tr>
    </tbody>
</table>
</p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nǎm 1958 Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, trong đó Người nêu lên tư cách của một người đảng viên là: Phải trung thành tuyệt đối với Đảng, quyết tâm suốt đời phấn đấu cho Đảng, cho cách mạng; ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên lợi ích của cá nhân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, vì Đảng vì dân mà đấu tranh; gương mẫu trong mọi việc, ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn luôn dùng phê bình và tự phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và đồng chí mình tiến bộ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Về phần mình, lời nói đi đôi với việc làm, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là gương sáng về thực hành đạo đức cách mạng. Những kỷ vật của Người để lại được giới thiệu trong bảo tàng (như bộ quần áo gụ, đôi dép cao su v.v...) không chỉ nói về cuộc sống giản dị, đức khiêm tốn của một con người mà còn nói lên nhân cách của một vị lãnh tụ của nhân dân.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: ‘Một ngày Tổ quốc chưa thống nhất, miền Nam chưa được giải phóng là một ngày tôi ǎn không ngon, ngủ không yên”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người luôn dành tình cảm sâu đậm với miền Nam, quan tâm theo dõi và cổ vũ từng bước tiến của cách mạng miền Nam. Trong Thư gửi đồng bào cả nước ngày 6 tháng 7 nǎm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta. Đại đoàn hết là một lực lượng tất thắng”. Đồng bào miền Nam luôn hướng về Bác Hồ, về Thủ đô Hà Nội, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Những vật lưu niệm từ miền Nam gửi tới Người được trưng bày đã nói lên tình cảm tha thiết của nhân dân miền Nam đối với Người.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Lao động Việt Nam, tháng 9 nǎm 1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: &quot;Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà&quot;. Đại hội đã bầu lại Chủ tịch Hồ Chí Minh là Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III miền Bắc bước vào thực hiện kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất. Cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh động viên toàn Đảng toàn dân vừa xây dựng, phát triển kinh tế, giữ gìn và phát triển nền vǎn hoá dân tộc, vừa chǎm lo đến đời sống hàng ngày của nhân dân. Người cổ vũ nhân dân miền Nam ruột thịt đang chiến dấu anh dũng để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến việc xây dựng con người mới, Người nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Người đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và chỉ rõ: “Trong công tác giáo dục phải luôn luôn kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực hành, giữa giáo dục với lao động, vǎn hoá với đạo đức cách mạng; phải đẩy mạnh phong trào thi đua hai tốt: Dạy thật tốt và học thật tốt”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao nhiệm vụ miền Bắc phải là nền tảng, là niềm tin đối với đồng bào miền Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nǎm 1962, khi tiếp Đoàn đại biểu nhân dân miền Nam ra thǎm miền Bắc, Chủ tịch Hổ Chí Minh nói: &quot;Hình ảnh miền Nam yêu quý luôn luôn ở trong trái tim tôi&quot;. Người mong muốn miền Nam sớm được giải phóng để vào thǎm đồng bào, cán bộ và chiến sĩ thân yêu. Nǎm 1963 khi Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đề nghị tặng Huân chương Sao vàng cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đề nghị: “Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, Quốc hội cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi Huân chương cao quý đó. Như vậy thì toàn dân ta sẽ sung sướng, vui mừng”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 8 nǎm 1964 đế quốc Mỹ gây ra sự kiện “Vịnh Bắc Bộ”, và từ tháng 2 nǎm 1965 đã mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc và ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Trước tình hình đó Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn thể nhân dân Việt Nam: “Lúc này chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước”. Tháng 7 nǎm 1966 Mỹ đã dùng máy bay ném bom Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng, Chủ tịch Hồ Chí Minh động viên nhân dân Việt Nam vượt qua hy sinh gian khổ và kêu gọi: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 nǎm, 10 nǎm, 20 nǎm, hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng tình đoàn kết giúp đỡ của nhân dân thế giới đối với nhân dânViệt Nam và luôn gắn cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam với cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong những nǎm kháng chiến cứu nước gian khổ, Người nói với nhân dân Việt Nam: “Nhân dân ta chiến đấu hy sinh chẳng những vì tự do, độc lập riêng của mình mà còn vì tự do, độc lập chung của các dân tộc và hoà bình thế giới”. Tháng 11 nǎm 1964, Hội nghị quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt Nam đã được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội với sự tham dự của 64 đoàn đại biểu của 52 nước và tổ chức quốc tế là sự cổ vũ to lớn đối với cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Về quan hệ với nước Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn phân biệt sự khác nhau giữa những người Mỹ xâm lược và nhân dân Mỹ; Người thông cảm sâu sắc với nỗi đau của những gia đình, những người phụ nữ Mỹ có người thân tham gia cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều thư gửi nhân dân Mỹ, coi họ là những người bạn thân thiết. Trong bức thư gửi nhân dân Mỹ tháng 1 nǎm 1962, Người viết: “Nhân dân Mỹ và nhân dân Việt Nam không thù oán gì nhau. Nhân dân Việt Nam kính trọng các bạn là nước đầu tiên phất cờ chống chủ nghĩa thực dân và chúng tôi mong muốn có quan hệ hữu nghị với các bạn”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ nǎm 1965, khi tròn 75 tuổi, chuẩn bị cho cuộc “ra đi” của mình, Bác Hồ bắt đầu viết Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta. Trong những nǎm còn lại, cứ đến tháng 5, Bác Hồ lại sửa chữa và viết thêm vào vǎn kiện “tuyệt đối bí mật” này. Trong Di chúc Người viết: &quot;Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân... Đảng cần có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế, vǎn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sốngcủa nhân dân...</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Vào hồi 9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9 nǎm 1969, trái tim của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngừng đập, để lại nỗi tiếc thương vô hạn cho toàn thể nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế. Nhà thơ Tố Hữu đã viết về những ngày tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">“Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa....”</span></p>
<p><strong>Nguồn <span style="font-family:Arial;font-size:10pt">http://bacho.camau.gov.vn</span></strong></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 11:05 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trở lại Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn cách mạng mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ nhiệm vụ của nhân dân Việt Nam là thi hành đúng Hiệp nghị Giơ ne vơ nǎm 1954 về Đông Dương; củng cố hoà bình, đấu tranh để thực hiện thống nhất đất nước bằng Tổng tuyển cử tự do; củng cố miền Bắc về mọi mặt; mở rộng và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất trong cả nước. Đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng, Người nhắc nhở đảng viên phải phấn đấu, chú trọng nâng cao đạo đức cách mạng, coi đó là nền tảng của mỗi đảng viên để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của mình.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.067</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 04:12:33 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=36</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nguyễn Ái Quốc với tổ chức Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp (1917-1923)</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=24</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassCAF3E98FCF9D4E43BE1E41E54D4DF952><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những tài liệu có nhiều ý kiến khác nhau đó là: Sách <i style="">Kiều bào và quê hương</i> của Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài (Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2006, tr.300), viết<span style="">  </span>tháng 1-1919 hội đoàn ra đời lấy tên là <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước,</i> do Nguyễn Ái Quốc và một số người cùng chí hướng thành lập. <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước</i> là hội tiền thân của <i style="">Hội người Việt Nam tại Pháp</i> ngày nay. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sách Hồ Chí Minh một cuộc đời</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> của William J. Duiker, (Hyperion New York 2000, tr.37-38) viết “Mùa hè năm 1919, được hai đồng sự lớn tuổi đồng ý, Thành đã thành lập một tổ chức mới của nhũng người Việt Nam sống tại Pháp - Hội những người yêu nước An Nam... Ông Trinh và Phan Văn Trường trong danh sách là những người lãnh đạo của tổ chức, nhưng Thành với tư cách là thư ký”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sách <i style="">Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch</i> của Trần Dân Tiên (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.31-32) viết: Ông Nguyễn tổ chức <i style="">Nhóm người Việt Nam yêu nước</i> vào lúc chiến tranh chấm dứt; Những đoàn đại biểu các nước thắng trận và các nước bại trận đến Véc xây họp Hội nghị hoà bình. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sách <i style="">Nguyễn Ái Quốc tại Pari 1917- 1923</i> của Thu Trang (Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1989) đưa ra Báo cáo của mật thám Pháp gửi Bộ Thuộc địa, ngày 30-1-1920 có đoạn như sau “Theo sự điều tra về những hành vi của nhiều người An Nam, phản ứng của họ về <i style="">Bản yêu cầu</i> của người Đông Dương, thì kết quả cho biết linh hồn của những người này chính là Nguyễn Ái Quốc. Ông này tự nói là Tổng thư ký của <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước</i>, và đồng thời cũng là thư ký của <i style="">Nhóm những người cách mạng An Nam</i>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Vấn đề đặt ra là: </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tổ chức hội của những người Việt Nam yêu nước ở Pháp thành lập vào tháng 1-1919 hay mùa Hè năm 1919? </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc đã tái lập <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i> hay thành lập <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước</i>? </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">1. Cộng đồng người Việt Nam tại Pháp đầu thế kỷ XX </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những nắm đầu thế kỷ XX, một số người Việt Nam xuất dương sang sống và làm việc tại nước Pháp. Họ thuộc các thành phần thuỷ thủ, tiểu thương, thợ thủ công, giúp việc trong gia đình người Pháp, sinh viên và một số trí thức... Họ sống rải rác nhiều nơi trên đất Pháp, số lượng khoảng vài trăm người, đông nhất là ở các hải cảng Marseille, Le Havre, Bordeaux hoặc những nơi có trường học như Paris, Montpellier, Toulouse,... Phần đông trong số họ có tinh thần yêu nước, nhưng vẫn chưa có sự liên hệ với nhau, chưa tập hợp thành một hội đoàn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đến đầu năm 1912, nhờ uy tín của nhà yêu nước Phan Châu Trinh, <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i><sup>1</sup><i style=""> </i>được thành lập do ông Phan Văn Trường làm Hội trưởng<sup>2</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những hoạt động của <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i> đã tác động mạnh tới cả trong nước. Vì thế, năm 1913, <i style="">Việt Nam Quang phục hội</i> đã phái người sang Pari đưa thư cho ông Phan Châu Trinh để liên kết hoạt động. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chính quyền Pháp lo ngại những hoạt động của Hội người An Nam yêu nước và đã tìm cách ngăn cản những hoạt động của Hội. Họ vu cho hai ông Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh có quan hệ với Đức “âm mưu chính trị chống nước Pháp”. Tháng 9-1914, Chính phủ Pháp đã bắt giam cả hai ông và cấm Hội người An Nam yêu nước hoạt động. Sự kiện Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường bị bắt giam đã làm cho nhiều người Pháp tiến bộ phản đối. Hội nhân quyền và nhiều chính khách thuộc Đảng Xã hội Pháp đã can thiệp. Vì thế gần một năm sau, tháng 7-1915, chính quyền Pháp buộc phải trả lại tự do cho hai ông. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau khi được trả tự do, để tránh nhà cầm quyền Pháp kiếm cớ bắt giam trở lại, hai ông đã tránh hoạt động công khai. Vì thế <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i> vẫn chưa hoạt động trở lại. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp tham gia chiến tranh. Để làm bia đỡ đạn cho “nước mẹ”, hàng vạn người dân thuộc địa trong đó có nhân dân Đông Dương bị chính quyền thực dân bắt đưa sang Pháp. Hàng ngàn người đã phải ra trận và bỏ xác trên chiến trường. Hàng vạn người đã phải vào làm việc cực nhọc trong các nhà máy quốc phòng và các công việc khác phục vụ tiền tuyến. Đến năm 1917, người Việt Nam ở Pháp tăng lên với số lượng khoảng chín vạn người<sup>3</sup>. Cuộc đấu tranh cho vấn đề độc lập dân tộc, trước hết là bảo vệ quyền lợi của người Việt Nam ngay trên đất Pháp được đặt ra ngày càng cấp thiết. Tuy vậy, Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường vẫn chưa công khai lãnh đạo <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i> hoạt động trở lại. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">2. Nguyễn Ái Quốc với tổ chức hội của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp những năm 1917-1923</span></b><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành lấy tên là Văn Ba, làm phụ bếp trên tàu L’Amiral Latouche-Treville của hãng Chargeurs<span style="">  </span>Reunis, đã tạm biệt Tổ quốc để ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Ngày 6-7-1911, tàu cập bến Mác xây- Pháp. Nguyễn Tất Thành lúc này chưa quen biết người Việt Nam nào sống trên đất Pháp, ngoài nhà yêu nước Phan Châu Trinh, người bạn đồng khoa với cụ thân sinh ra anh. Đầu năm 1911, Phan Châu Trinh sang Pháp cư trú. Việc Phan Châu Trinh đi Pháp thì anh Thành đã nghe tin, nhưng anh Thành đi Pháp thì cụ Phan không biết<sup>4</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Tất Thành đã không dừng lại ở Pháp. Khoảng cuối năm 1912, anh sang Mỹ, đầu năm 1914 sang nước Anh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngay khi đến nước Pháp, Nguyễn Tất Thành đã có liên hệ với nhà yêu nước Phan Châu Trinh. Trong thời gian sống và làm việc ở nước Mỹ và ở nước Anh, Nguyễn Tất Thành vẫn thường xuyên liên hệ với nhà yêu nước Phan Châu Trinh qua thư từ. Nhờ đó, anh biết Luật sư Phan Văn Trường. Ngược lại Luật sư Phan Văn Trường và nhà yêu nước Phan Châu Trinh cũng biết đến Nguyễn Tất Thành là một người yêu nước “hăng say”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những năm tháng sống ở nước Anh, Nguyễn Tất Thành đã tích luỹ thêm những hiểu biết về chế độ chính trị của xã hội tư sản về đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa chính quốc và thuộc địa, nhất là trang bị cho mình vốn tiếng Anh vững vàng. Nhưng ở nước Anh, Nguyễn Tất Thành vẫn bị cách biệt với tình hình trong nước; không liên hệ được với đồng bào mình ở nơi đất khách quê người; xa những nhà yêu nước lưu vong; khó khăn trong việc đi sâu tìm hiểu kẻ thù trực tiếp áp bức, bóc lột dân tộc mình để có thể chọn lựa con đường cứu nước đúng đắn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhận thấy nước Pháp là nơi có những điều kiện khách quan thuận lợi có thể đáp ứng cho những hoạt động của mình. Khoảng cuối năm 1917<sup>5</sup>, Nguyễn Tất Thành trở lại nước Pháp để có điều kiện trực tiếp hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thời gian đầu đến Pari, khi chưa có giấy tờ hợp pháp, Nguyễn Tất Thành đã được các đồng chí trong Ban đón tiếp những người lao động nhập cư của Đảng Xã hội Pháp giúp đỡ. Trong khi chờ các đồng chí tìm cho giấy tờ quân dịch hợp pháp, anh đã phải sống ẩn náu, hạn chế đi lại để tránh sự kiểm tra của cảnh sát. Cuộc sống của anh lúc đó gặp rất nhiều khó khăn, vừa hoạt động chính trị vừa phải kiếm sống một cách chật vật, khi thì làm thuê cho một hiệu ảnh, khi thì vẽ thuê cho một xưởng đồ cổ mỹ nghệ Trung Hoa... Nhưng Nguyễn Tất Thành vẫn kiên trì, hăng say học tập và hoạt động; thường xuyên gặp gỡ với những người Việt Nam ở Pháp có tư tưởng tiến bộ như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Phan Châu Trinh lúc này đã được Chính phủ Pháp trả tự do nhưng Bộ Thuộc địa Pháp cắt khoản trợ cấp Cụ phải kiếm sống bằng nghề thợ ảnh do ông Nguyễn Đình Khánh (tức Khánh Ký) truyền dạy. Nguyễn Tất Thành khi mới đến Pari, đã nhận được sự giúp đỡ của cụ Phan và được cụ Phan dạy lại cho nghề thợ ảnh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ông Phan Văn Trương khi ra tù sức khoẻ bị giảm sút, nhưng chính quyền Pháp vẫn bắt phải tại ngũ và được chuyển sang làm phiên dịch tiếng Việt ở xưởng đóng tàu của quân đội Pháp tại Tuludơ. Đến tháng 4-1919, ông mới được xuất ngũ. Trở lại Pari, ông thuê ngôi nhà số 6, Vila đờ Gôbơlanh ở Quận 13 Pari và mời Phan Châu Trinh cùng Nguyễn Tất Thành về ở cùng. Nơi đây trở thành điểm hội tụ của nhiều người Việt Nam yêu nước sinh sống trên đất Pháp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Khi được hỏi về lý do gia nhập Đảng, Anh trả lời: vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, đầu năm 1919, đại biểu chính phủ các nước tham gia chiến tranh đến Véc xây - Pháp họp hội nghị hoà bình. Thực chất hội nghị này là nơi chia phần giữa các nước đế quốc thắng trận và trút hậu quả chiến tranh lên đầu nhân dân các nước thua trận và các dân tộc bị áp bức. Văn kiện chính của hội nghị là Hiệp ước Vécxây xác định sự thất bại của nước Đức và các nước đồng minh của Đức, phân chia lại bản đồ thế giới theo hướng có lợi cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những người yêu nước Triều Tiên, Ai Cập, Trung Quốc và 57 đại biểu đại diện cho chủng tộc da đen sống ở các thuộc địa của Mỹ, Anh, Pháp và quần đảo Ăng ti đưa yêu sách của mình đến Hội nghị và mong được xem xét, giải quyết. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhận thấy đây là một dịp thuận lợi cho việc vận động dư luận thế giới và nhân dân Pháp ủng hộ nền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam, Nguyễn Tất Thành đã đề nghị Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường cùng đứng ra thành lập một hội đoàn của người Việt Nam để đưa nhũng yêu sách của nhân dân Việt Nam đến Hội nghị Véc xây. Nhưng hai ông cho rằng đó là một việc làm không có kết quả nên đã không tán thành. Vì thế <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i> không được tái lập. Đứng trước hoàn cảnh đó, Nguyễn Tất Thành đã cùng với một số người yêu nước trẻ tuổi đứng ra thành lập <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước. </i>Chủ trương của <i style="">Nhóm người An Nm yêu nước</i> là vận động đồng bào đoàn kết chống chế độ áp bức thực dân Pháp, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân Pháp và nhân dân các nước, đòi độc lập tự do và thống nhất đất nước. Trong danh sách những người lãnh đạo hội, Nguyễn Tất Thành làm thư ký<sup>6</sup> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Tất Thành đã thuyết phục hai nhà yêu nước Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường dù hai ông không tán thành nhưng vẫn cùng với Nguyễn Tất Thành thảo ra bản Yêu sách tám điểm của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Vécxây<sup>7</sup>. Dưới bản yêu sách, Nguyễn Tất thành ký tên Nguyễn Ái Quốc. Đây là lần đầu tiên tên gọi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện. Nguyễn Tất Thành gửi bản Yêu sách tới Hội nghị. Yêu sách còn được Nguyễn Tất Thành bỏ tiền ra thuê in 6.000 tờ dưới dạng truyền đơn bằng tiếng Pháp, với ba khuôn in khác nhau. Hai khuôn in cùng mang một đầu đề <i style="">Những yêu sách của nhân dân An Nam</i>, dưới viết “Thay mặt Nhóm người yêu nước An Nam: Nguyễn Ái Quốc”. Một khuôn in mang đầu đề <i style="">Quyền của dân tộc An Nam</i>, dưới viết: Thay mặt nhân dân An Nam: Nguyễn Ái Quốc”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau khi bản Yêu sách bằng tiếng Pháp được in trên báo ngày 18-6-1919, Nguyễn Tất Thành còn tự tay viết Yêu sách bằng hai thứ tiếng một bản bằng chữ quốc ngữ theo thể văn vần, nhan đề <i style="">Việt Nam yêu cầu ca</i> và một bản chữ Hán nhan đề <i style="">An Nam nhân dân</i> <i style="">thỉnh nguyện thư,</i> chụp in thành truyền đơn. Nguyễn Tất Thành đã cùng với một số kiều bào trong Nhóm người An Nam yêu nước đem phân phát trong các cuộc hội họp, mít tinh, các buổi sinh hoạt câu lạc bộ. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tuy Yêu sách đưa đến Hội nghị Véc xây không được hồi âm, nhưng đã tác động mạnh mẽ đến người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài. Thực dân Pháp vừa lo sợ vừa cho theo dõi những người trong ngôi nhà số 6 Villa đờ Gôbơlanh, vừa điều tra xem Nguyễn Ái Quốc đích thực là ai. Những phản ứng của chính quyền thuộc địa ở Đông Dương đối với bản Yêu sách và việc tìm kiếm lai lịch Nguyễn Ái Quốc làm tăng thêm sự chú ý của dư luận trong nước đối với bản Yêu sách, và làm tăng thêm lòng kính trọng, tin tưởng của nhân dân Việt Nam đối với Nguyễn Ái Quốc. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong một lần đến theo dõi buổi nói chuyện ở Hội trường Hooctiquyntơ tại Pari, viên mật thám Pháp Pôn Ácnu chuyên theo dõi người Việt Nam sống ở Pari, tận mắt chứng kiến Nguyễn Tất Thành đang phân phát truyền đơn in bản Yêu sách cho những người có mặt, đã phải thốt lên dự cảm: Con người thanh niên mảnh khảnh và đầy sức sống này có thể là người sẽ đặt chữ thập cáo chung lên nền thống trị của chúng ta ở Đông Dương. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ thực tế hành động và đấu tranh của Nguyễn Ái Quốc, các nhân viên mật thám Pháp đã nhận định anh thực sự là linh hồn của <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước tại Pháp</i>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Kế thừa <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước</i> là <i style="">Hội người Việt Nam tại Pháp </i>(đến năm 1955 là <i style="">Hội Liên hiệp Việt kiều tại Pháp</i>) với đường lối rõ ràng chống thực dân, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các đoàn thể, nhân dân Pháp và thế giới, đoàn kết với tất cả đồng bào yêu nước, cả những người có những bước đi khác nhau nhưng cùng mục đích hướng về Tổ quốc Việt Nam, gắn bó vơi đồng bào trong nước. Thực tế quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, qua hai cuộc kháng chiến chống xâm lược và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay ra chứng ninh sự đóng góp sức người, sức của của Việt kiều yêu nước ở Pháp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">1. Theo tư liệu của Hội người Việt Nam tại Pháp </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">2. Những sáng lập viên của <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i> là các ông Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Đình Khánh (tức Khánh Ký) </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">3 . Theo sách <i style="">Nguyễn Ái Quốc tại Pari 1917- 1923 </i>của Thu Trang, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1989 có đưa ra một báo cáo tổng quát về sự kiểm tra số lính khố đỏ và thợ người Đông Dương tại Pháp, ký tên Guesde, đã viết: “Vào tháng 11 năm 1917, khi tôi nhận chức Giám đốc Tổng thanh tra toàn Đông Dương thì có 45.000 người, và số thợ cũng tương đương, tổng số gần 90.000 người. Con số này không chênh lệch gì mấy, so với lúc ký hiệp ước đình chiến vào 1 tháng 11 năm 1918”</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">4. Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài: <i style="">Kiều bào và quê hương</i>, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2006, viết: “Là người yêu nước nhiệt tình, anh đến Pari bắt liên lạc ngay với Hội người An Nam yêu nước và giữ quan hệ tốt với các ông Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường”</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sách Hồ Chí Minh của William J. Duiker, Hyperion New York 2000, còn viết: “Thành 1 đã tới Pari gặp Phan Châu Trinh. Cha của Thành đã đưa cho Thành thư giới thiệu gửi<span style="">  </span>người bạn cùng đỗ phó bảng trước khi Thành rời Việt Nam” </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">5. Về thời gian Nguyễn Tất Thành từ nước Anh trở lại nước Pháp có nhiều ý kiến khác nhau, song số đông các nhà nghiên cứu cho rằng Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp vào khoảng cuối năm 1917 </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">6. Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài: <i style="">Kiều bào và quê hương</i>, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2006 </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">7. Theo Trần Dân Tiên “Ý kiến đưa ra yêu cầu do ông Nguyễn đề ra nhưng lại do luật sư Phan Văn Trường viết, vì lúc bấy bấy giờ ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp”. <i style="">Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch</i>, ST, H, 1975, tr.29.</span></p>
<p>Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lịch sử Đảng. -2009. –Số 7. –Tr.38-43.</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 9:00 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Qua những tài liệu mà chúng tôi có được, cho đến nay, vẫn còn có một số ý trên khác nhau về thời điểm thành lập và tên gọi của tổ chức Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Các ý kiến dù khác nhau nhưng đều rất nhất trí rằng, việc tái lập hay thành lập một tổ chức của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gắn liền với những hoạt động yêu nước của Nguyễn Ái Quốc ở Pháp từ năm 1917  đến năm 1923. Trong bài viết này, chúng tôi muốn tiếp tục góp bàn về vấn đề đó.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.359</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 02:01:13 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=24</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Bác Hồ tại Đại hội II của Đảng và những ngày Xuân Tân Mão</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=33</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass1AA7BB29CB4D421FAE6B839E1C965607><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Xuân này kháng chiến đã năm xuân, </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhiều xuân thắng lợi càng gần thành công. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Toàn dân hăng hái một lòng<span style="">  </span></span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thi đua chuẩn bị, tổng phản công kịp thời. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những ngày đầu xuân 1951 càng có ý nghĩa hơn khi diễn ra một sự kiện lịch sử trọng đại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng ta khai mạc tại chiến khu Việt Bắc (2-1951). Đây là Đại hội đầu tiên được tổ chức trên đất nước Việt Nam. Tết Tân Mão đến trước Đại hội vài ngày. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ khi thành lập năm 1930 cho tới lúc đó 21 năm Đảng giữ vai trò quyết định đối với vận mệnh dân tộc. Tuy vậy, Đảng ta vẫn hoạt động trong bí mật, bởi những người cộng sản Việt Nam là đối tượng bị theo dõi, đàn áp, săn đuổi của không chỉ chính quyền thực dân, phong kiến trong nước; mà cả ở một số nước tư bản, nước thuộc địa thuộc các châu lục. Cách mạng Tháng Tám thành công, trong tình thế thù trong giặc ngoài hết sức phức tạp, cân nhắc từng bước đi để bảo đảm an toàn và phát triển, ngày 11-11-1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán. Thật ra là Đảng rút vào hoạt động bí mật dưới tên gọi mới <i style="">Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương.</i> Mọi hoạt động công khai của Đảng từ đó đều thông qua Mặt trận Việt Minh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Yêu cầu mới của cuộc kháng chiến đặt ra cho Đảng ta nhiều nhiệm vụ nặng nề, đòi hỏi Đảng phải trở lại hoạt động công khai nhằm đẩy mạnh cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi. Đầu năm 1950, sau chuyến đi bí mật gặp các đồng chí lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc trở về, Bác và Trung ương đã bàn tới việc đưa Đảng ra hoạt động công khai. Đến thời điểm này, tình hình cách mạng trong nước cũng như trên thế giới đã thay đổi nhiều. Hơn 20 năm, lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo kháng chiến, uy tín của Đảng trong nhân dân rất lớn. Các nước XHCN anh em đã công nhận và đặt quan hệ với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tạo thế vững chắc cho cuộc kháng chiến của ta. Sự xuất hiện công khai của Đảng lúc này sẽ mang lại một nguồn động viên mới trong nhân dân, thúc đẩy cuộc kháng chiến sớm đi tới thắng lợi. Mặc dù, tổ chức một Đại hội Đảng giữa thời kỳ chiến tranh ác liệt và rất khẩn trương là điều không dễ dàng, nhưng Bác và Trung ương đã quyết định triệu tập Đại hội vào tháng 2-1951. Công việc chuẩn bị cho Đại hội được khẩn trương triển khai ngay sau chiến dịch Trung du. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Để chuyển sang giai đoạn mới, Đảng chủ trương củng cố bộ máy chính quyền, và cuộc họp Hội đồng Chính phủ được triệu tập đúng ngày mồng 1 Tết Tân Mão (6-2-1951). Sáng sớm, trước cuộc họp, Bác Hồ sang chúc Tết các đồng chí Bộ trưởng, Thứ trưởng và tặng mỗi người một tờ thiếp hồng có bài thơ Xuân của Người. Chiều mồng 2 Tết, phiên họp kết thúc, Bác và một số đồng chí lên đường tới địa điểm Đại hội ở xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Đây cũng là nơi Bác Hồ ở trong suốt thời gian diễn ra Hội nghị (từ ngày 5 đến ngày 19-2-1951). Từ mồng 3 đến mồng 5 Tết (8 đến 9-2-1951), Bác Hồ dự thảo luận các văn kiện và Điều lệ Đảng. Sau một thời gian họp trù bị, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương chính thức khai mạc sáng mồng 6 Tết - 11-2-1951 và kết thúc ngày 19-2-1951. Ở Đại hội này, nhiều đại biểu không biết mặt và tên của nhau. Bởi từ khi ra đời, chưa bao giờ Đảng ta có được một lần họp mặt đông đủ như thế. Văn phòng Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương phải chuẩn bị cho mỗi đại biểu một tấm bìa các-tông có ghi số từ 1 đến 158. Đó là số đại biểu chính thức (53 đại biểu dự khuyết) tham dự Đại hội. Chiều 11-2, Bác Hồ thay mặt Trung ương Đảng đọc Báo cáo Chính trị trước Đại hội, điểm lại quá trình hoạt động của Đảng từ khi thành lập, nêu lên những nhiệm vụ trong thời kỳ cách mạng mới để đưa kháng chiến đến thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ nhiệm vụ chính trị của Đảng là đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và tổ chức Đảng Lao động Việt Nam, Người nói:<i style="">“Chúng ta phải có một đảng công khai, tổ chức hợp với tình hình thế tới và tình hình trong nước để lãnh đạo toàn dân đấu tranh cho đến thắng lợi. Đảng đó lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Đảng Lao động Việt Nam phải là một đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để. Nhiệm vụ cấp bách nhất của Đảng ta ngày nay là phải đưa kháng chiến đến thắng lợi các nhiệm vụ khác đều phải phụ thuộc vào đó”.</i> Vấn đề lớn nhất trong những ngày đầu của Đại hội là việc chia tách Đảng Cộng sản Đông Dương thành ba Đảng của Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia. Cuộc thảo luận diễn ra khá căng thẳng nhưng cũng đã được thống nhất Quyết định tách Đảng Cộng sản Đông Dương để thành lập ở mỗi nước Đông dương Đảng Mác - Lê-nin riêng. Ở Việt Nam, Đại hội thành lập Đảng Lao động Việt Nam và đưa Đảng ra hoạt động công khai. Theo đồng chí Hoàng Tùng: Trước khi lấy biểu quyết về việc đổi tên Đảng Bác đã dành thời gian khá dài để thuyết trình về việc đổi tên Đảng. Việc đổi tên Đảng đã được 98% số đại biểu bỏ phiếu thông qua. Đại hội cũng tiếp tục khẳng định đường lối kháng chiến “toàn dân toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh”. Nhiều vấn đề khác liên quan tới sự nghiệp của dân tộc và quốc tế đã được thảo luận sôi nổi. Những ngày cuối, Đại hội tiến hành bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đặc biệt trước khi bỏ phiếu, tất cả các đại biểu đều nhất trí tôn vinh Bác là Chủ tịch Đảng. Đại hội đã bầu Bác làm Chủ tịch Đảng và đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư, đồng thời thông qua Báo cáo Chính trị do Bác soạn thảo. Ngày 19-2-1951, Đại hội Đảng Lao động Việt Nam bế mạc thành công tốt đẹp. Ngày 11-3-1951, Đảng ra công khai, báo của Đảng lấy tên là Báo Nhân Dân đã ra số đầu. </span></p>
<p><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đạị hội đại biểu lần thứ II của Đảng đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược từ Xuân này bước vào một giai đoạn mới: đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và cuối cùng là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.</span></p>
<p><strong>Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhân dân. -2011. –Số Xuân. –Tr.2</span></strong></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 10:50 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Tết Tân Mão (1951) đến sau chiến dịch Trung du kết thúc được ba tuần. Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo cùng cán bộ, chiến sĩ đón Tết trong niềm vui lớn Quân dân ta thắng lợi giòn giã ở chiến dịch Biên giới (10-1950) và ở chiến dịch Trung du (1-1951). Thơ chúc Tết của Bác mang tinh thần phấn khởi của thắng lợi và niềm vui khi cuộc kháng chiến đã có:</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.959</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 03:55:42 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=33</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nguyễn Ái Quốc với “người cùng khổ” ở Pari</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=23</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassB3E7BD374D74413EB55FF8E2461ED1CB><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><b><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">ĐẶT TÊN BÁO &quot;NGƯỜI CÙNG KHỔ''</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Năm 1920 - ba năm sau khi tới Pa-ri, Nguyễn Ái Quốc tham gia Đại hội thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Ngay sau đó anh tích cực vận động để thành lập Ban Nghiên cứu thuộc địa, rồi Hội Liên hiệp thuộc địa (7-1921). Lúc này, để đẩy mạnh tuyên truyền cổ động giúp vào việc tổ chức và chỉ đạo phong trào ở các thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy cần phải thành lập một tờ báo riêng của Hội. Sáng kiến của anh được mọi người ủng hộ, tuy nhiên không phải không có những khó khăn. Người viết thì không lo. Nhưng tiền ở đâu? ăn ở đâu? Gửi báo đến các thuộc địa như thế nào? Ra một tờ báo không chỉ có khó khăn lúc ban đầu mà cần duy trì, giữ vững và phát huy thế nào không phải là việc dễ. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Pa-ri, thủ đô nước Pháp được mệnh danh là thủ đô ánh sáng, là trung tâm chính trị, văn hóa của nước Pháp, có một lịch sử khá lâu đời. Hàng hóa, đồ dùng Pa-ri đẹp và sang, mốt Pa-ri đặc biệt, người Pa-ri lịch thiệp... Lê-nin cũng từng nhận xét là, lúc đó, không có thành phố nào đẹp và vui hơn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Xuất bản một tờ báo ngay ở Pa-ri như vậy, lại là tiếng nói chung của dân chúng các thuộc địa, lấy đó làm vũ khí để chiến đấu, đặt tên báo như thế nào đây? Mọi người bàn bạc mãi, rất nhiều ý kiến, khá nhiều đề nghị...</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.55pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.45pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc đề xuất: ''Người xứ Nghệ nhà choa hay chơi chữ. Nhân dân Pháp cũng thích chơi chữ. Nay ra tờ báo nhỏ ở ngay Pa-ri tuy là tiếng nói đầu tiên của dân chúng thuộc địa, nhưng chưa có thanh thế, thì lấy tên báo là Paria là hay nhất! Paria nguyên là tiếng của Ấn Độ dùng để gọi những người đã mất hết mọi quyền lợi về tôn giáo và xã hội. Nghĩa rộng người Pháp dùng để gọi những &quot;người cùng khổ&quot;. Một lần nữa ý kiến của Nguyễn Ái Quốc được mọi người tán thành. &quot;Người cùng khổ&quot;. Đúng! Cái tên ấy phản ánh chính xác hoàn cảnh sống của các dân tộc bị áp bức và bị khinh miệt. Vậy là, Le Paria (Người cùng khổ) ra mắt số đầu tiên giữa thủ đô Pa-ri hoa lệ đúng vào ngày 01-4-1922. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.55pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.45pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trong lời chào của Le Paria gửi độc giả, báo viết: &quot;Le Paria tố cáo những sự lạm quyền về chính trị, lối cai trị độc đoán, tình trạng bị bóc lột về kinh tế... nhằm mục đích giải phóng những người bị áp bức khỏi các lực lượng thống trị... Các bạn da vàng, da trắng, da đen, hãy đặt mua báo của chúng tôi, hãy gửi cho chúng tôi tài liệu, hãy đứng bên cạnh chúng tôi...&quot;. Lúc đầu &quot;Người cùng khổ&quot; mỗi tháng ra 01 số sau tăng lên 02 số. Nguyễn Ái Quốc trở thành nòng cốt của &quot;người cùng khổ''. Anh vừa làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, vừa là người biên tập, nhiếp ảnh, vẽ tranh châm biếm, tổ chức, quản lý, phát hành, vừa là người cổ động bán báo, gửi báo về các thuộc địa.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><b><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">NHỮNG CUỘC TRUY LÙNG GẮT GAO</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Là tiếng nói của Hội Liên hiệp thuộc địa, ''Người cùng khổ&quot; phản ánh những biến cố quan trọng đang diễn ra ở Đông Dương và tại các thuộc địa khác của Pháp. &quot;Người cùng khổ&quot; ủng hộ Quốc tế cộng sản, tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa. Trên mặt báo, Nguyễn Ái Quốc nêu rõ chính kiến của mình &quot;chỉ có Đảng cộng sản, Đảng của giai cấp công nhân mới có thể lãnh đạo được cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và đưa cuộc đấu tranh đó đến thắng lợi hoàn toàn&quot;. Việc phổ biến ''Người cùng khổ'' đến với các thuộc địa ban đầu qua đường bưu điện, nhưng chỉ được vài số đầu, những số báo sau bị cảnh sát địa phương tịch thu nên phải thay đổi phương thức phát hành bằng đường biển thông qua các thủy thủ. Ở Việt Nam, ''Người cùng khổ'' được công nhân làm việc trên các chuyến tàu buôn bí mật chuyển về Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Đà Nẵng... làm thức tỉnh, cổ vũ và lôi cuốn lớp thanh niên yêu nước hướng về chân lý cách mạng, về con đường mới để cứu nước cứu dân.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:32.65pt;margin:0cm 0cm 6pt 3.35pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sự xuất hiện ''Người cùng khổ'' giữa Pa-ri và từ Pa-ri tờ báo này được đưa đến các thuộc địa khiến mật thám Pháp vô cùng tức tối. Một mặt chúng sai người theo dõi gắt gao Nguyễn Ái Quốc, mặt khác chúng tăng cường kiểm soát các tàu buôn tứ Pháp đến các thuộc địa. Báo chí ở thuộc địa cũng được lệnh tấn công ''Người cùng khổ''. Đích thân Albert Sarraut (An-be Xa-rô), Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp đã l triệu tập Nguyễn Ái Quốc đến để hăm dọa, <span style=""> </span>dụ dỗ. An-be Xa-rô nói: <span style=""> </span>''Tôi rất thích những thanh niên có chí khí như ông. Có chí khí là <span style=""> </span>tốt, nhưng còn phải ''thức thời'' mới ngoan. Ồ này, khi nào ông cần gì, tôi luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ ông. Từ nay, chúng ta đã quen biết nhau, ông không nên<i> </i>khách sáo''. Nguyễn Ái Quốc đáp lại: ''Cảm ơn ngài! Cái mà tôi cần nhất trên đời là đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập. Có thể nói, từ sau khi Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Cộng sản Pháp và làm chủ bút báo ''Người cùng khổ'', mật thám Pháp không còn che giấu sự theo dõi của chúng đối với anh. Chỉ những khi anh hội họp hoặc dự mít tinh, vì sợ anh em công nhân nên bọn chúng mới theo dõi anh từ xa, còn lại lúc nào chúng cũng theo anh như hình với bóng. Để đối phó với mật thám, Nguyễn Ái Quốc buộc phải học hỏi và áp dụng phương pháp hoạt động bí mật. Mặc dù vậy, dưới áp lực của mật thám, người chủ hiệu ảnh nơi<i> </i>anh làm việc đã phải hủy hợp đồng lao động với anh, cảnh sát cũng hủy căn cước của anh và buộc anh phải làm lại tờ khai xin cư trú. Mật thám Pháp thừa thủ đoạn để gây khó khăn cho Nguyễn Ái Quốc, nhưng có điều chúng không hề hay biết là vào một buổi tối cuối tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc - với cái tên mới Chen Vang, đã bí mật rời Pa-ri qua Đức để đến với nước Nga Xô-Viết và làm việc ở Ban Phương Đông của Quốc tế cộng sản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:33.85pt;margin:0cm 0cm 6pt 2.15pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Việc Nguyễn Ái Quốc biến khỏi Pa-ri làm mật thám Pháp cuống cuồng lo sợ, chúng mở các đợt truy lùng gắt gao. Báo cáo của Cục An ninh gửi An-be Xa-rô ngày 30 tháng 7 năm 1923 viết: ''Nguyễn Ái Quốc đi nghỉ 10 ngày nhưng đã một tháng rồi vẫn chưa thấy về. Người An Nam ấy giữ vai trò chủ chốt của phong trào cộng sản ở thuộc địa...''. Lại một báo cáo khác để ngày 08 tháng 10 năm 1923: người An Nam có chân trong các tổ chức cộng sản là chủ bút báo ''Người cùng khổ''. Tôi hân hạnh báo để ông rõ là Nguyễn Tất Thành dưới tên gọi quen biết - Nguyễn Ái Quốc, cho đến nay được truy tìm ráo riết nhưng không có kết quả''. Mãi một năm sau, tháng 10 năm 1924, khi Pháp thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Nga Xô-Viết thì từ Đại sứ quán Pháp ở Mát-cơ-va gửi về một bức mật điện: ''tại Mát-cơ-va có người cộng sản Nguyễn Ái Quốc''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:33.85pt;margin:0cm 0cm 6pt 2.15pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Là người hiểu rất rõ vai trò của báo chí đối với tuyên truyền cách mạng, trong suốt cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước cứu dân, Nguyễn Ái Quốc tự coi mình ''là người có duyên nợ với báo chí''. Gần ba năm sau ngày ''Người cùng khổ'' ra đời ở Pa-ri, ngày 21 tháng 6 năm 1925, tại Quảng Châu - Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc lại khai sinh ra báo ''Thanh Niên'', chính thức đặt nền<i> </i>móng cho nên báo cách mạng nước nhà.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:33.85pt;margin:0cm 0cm 6pt 2.15pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ngôn Luận. – 2011. – Số xuân. – Tr. 6 - 7</span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 8:55 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Hiểu rõ vai trò của báo chí đối với việc tuyên truyền cách mạng, Nguyễn Ái Quốc thấy cần thiết phải thành lập một tờ báo để làm tiếng nói chung cho người dân bị áp bức ở các thuộc địa của Pháp. Le Paria (Người cùng khổ) ra đời. Sự xuất hiện &quot;người cùng khổ&#39;&#39; giữa thủ đô Pa-ri hoa lệ, khiến mật thám Pháp điên cuồng. Bộ Thuộc địa Pháp xếp &quot;người cùng khổ&quot; vào loại sách báo phá hoại và cấm lưu hành ở các thuộc địa.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.194</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 01:59:27 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=23</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo cuộc đấu tranh giữ vững chính quyền cách mạng và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954)</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=35</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass2F6773C480754512A1866FE5A5944EDD><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Để giữ vững thành quả cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những biện pháp cần thiết để xây dựng hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân từ Trung ương tới địa phương, một chính quyền thực sự của dân, do dân và vì dân. Trong thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng tháng 10 nǎm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: &quot;Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng, nếu không có Chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ với dân phải đoàn kết thành một khối.... Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm hàng đầu tới việc xây dựng chính sách đại đoàn kết dân tộc. Ngày 3 tháng 12 nǎm 1945, Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam đã khai mạc tại Thủ đô Hà Nội. Nhân dịp này Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi tới đồng bào các dân tộc thiểu số, Người khẳng định: &quot;Nhờ sự đoàn kết giữa các dân tộc, nhờ sự hy sinh của tất cả các đại biểu mà chúng ta tranh được quyền tự do độc lập và xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà&quot;. Từ đây về sau các dân tộc đã đoàn kết phải đoàn kết thêm, đã phấn đấu càng phải phấn đấu thêm nữa, để giữ gìn quyền độc lập cho vững vàng để xây dựng một nước Việt Nam mới&quot;. Một phần quan trọng trong trưng bày ở phần này là giới thiệu các tài liệu hiện vật về hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm bảo vệ nền độc lập, giữ vững hoà bình ở Việt Nam. Trong bức thư ngày 23 tháng 11 nǎm 1946 gửi người Việt Nam, người Pháp và thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: &quot;Chính phủ và nhân dân Việt Nam kiên quyết cộng tác thật thà với người Pháp. Trong khi phải giữ chủ quyền của Tổ quốc, cần hy sinh thì cũng phải kiên quyết hy sinh.... Người Việt và người Pháp có thể và cần phải bắt tay nhau trong một sự nghiệp cộng tác bình đẳng, thật thà để gây dựng hạnh phúc chung cho cả hai dân tộc&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước dã tâm của thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến trên phạm vi cả nước. Sáng ngày 20 tháng 12nǎm 1946, trên làn sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam, lời kêu gọi cứu nước của Người đã truyền đi khắp nước: </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">&quot;Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ... Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước&quot;.</span></p>
<p>
<table class=MsoNormalTable border=0 cellspacing=0 cellpadding=0 width=150 align=left style="width:112.5pt;border-collapse:collapse">
    <tbody>
        <tr style="">
            <td style="border-bottom:#ece9d8;border-left:#ece9d8;padding-bottom:0cm;background-color:transparent;padding-left:0cm;padding-right:0cm;border-top:#ece9d8;border-right:#ece9d8;padding-top:0cm">
            <p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
            </td>
        </tr>
        <tr style="">
            <td style="border-bottom:#ece9d8;border-left:#ece9d8;padding-bottom:0cm;background-color:transparent;padding-left:0cm;padding-right:0cm;border-top:#ece9d8;border-right:#ece9d8;padding-top:0cm">
            <p class=MsoNormal style="text-align:center;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><img width=200 height=133 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-6/1953-1954762011_11535.jpg"></span></p>
            <p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng quyết định chiến cục Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ</span></p>
            </td>
        </tr>
    </tbody>
</table>
</p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một trong những nhân tố quan trọng đảm bảo kháng chiến thắng lợi là sự lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể về xây dựng Đảng nhằm nâng cao vai trò tập hợp, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân. Trong tác phẩm: &quot;Sửa đổi lối làm việc&quot; viết nǎm 1947, Người nêu lên những kinh nghiệm, những bài học thực tiễn có tính lý luận, bồi dưỡng tác phong lãnh đạo của người đảng viên cộng sản. Người đặc biệt chú trọng đến việc nâng cao tư cách và đạo đức cách mạng của đảng viên và khẳng định: &quot;Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng phong trào Thi đua yêu nước. Người nhắc nhở toàn dân: &quot;Mỗi một người lấy việc xung phong trong phong trào thi đua ái quốc làm nhiệm vụ thiêng liêng của mình&quot;. Người yêu cầu các cán bộ Đảng, Chính quyền và các đoàn thể phải thấm nhuần và thực hiện tư tưởng: Nước lấy dân làm gốc&quot;, và chỉ rõ: &quot;Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân, vậy tất cả anh chị em, các bộ đội cơ quan chính phủ và các đoàn thể trong khi tiếp xúc hoặc chung sống với dân, ai cũng phải nhớ và thực hành. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">“Gốc có vững, cây mới bền</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 2 nǎm 1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng khai mạc tại chiến khu Việt Bắc. Trong Báo cáo Chính trị trình bày tại Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ nhiệm vụ chính trị của Đảng là : Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và tổ chức Đảng Lao động Việt Nam, Người nói: &quot;Chúng ta phải có một Đảng công khai, tổ chức hợp với tình hình thế giới và tình hình trong nước để lãnh đạo toàn dân đấu tranh cho đến thắng lợi Đảng Lao động Việt Nam phải là một đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để. Nhiệm vụ cấp bách nhất của Đảng ta ngày nay là phải đưa kháng chiến đến thắng lợi, các nhiệm vụ khác đều phải phụ thuộc vào đó&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 6 tháng 12 nǎm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị Trung ương Đảng thông qua kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng Tư lệnh và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Người chỉ thị cho Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp: &quot;Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà còn đối với quốc tế. Vì vậy toàn quân toàn dân, toàn Đảng, phải tập trung hoàn thành cho kỳ được&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><strong><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn <span style="font-family:Arial;font-size:10pt">http://bacho.camau.gov.vn </span></span></strong></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 11:00 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn dân đấu tranh xây dựng, củng cố và giữ vững chính quyền non trẻ. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời 3-9-1945, Người đề ra những nhiệm vụ cấp bách lúc đó là động viên toàn dân chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.012</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 04:05:47 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=35</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Ba mùa xuân đáng nhớ trong cuộc đời cách mạng của Bác Hồ</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=11</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass8F75076B50ED4A4382B82DE038F660B5><p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">I. Xuân 1930: mùa xuân của Đảng</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Thái Lan thì được tin Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội đang bị tan rã. Người lập tức từ Thái Lan về Trung Quốc để chuẩn bị việc hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đến Thượng Hải, sau những buổi bàn luận kỹ càng, Người đã quyết định triệu tập Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng. Nhận được tin, các đoàn đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng lần lượt đến Hồng Kông vào những ngày giáp Tết. Hội nghị bắt đầu ngày mùng năm Tết Canh Ngọ (tức ngày 3/2/1930) khi không khí Tết ở Hồng Kông còn rộn ràng. Sau năm ngày thảo luận sôi nổi và khẩn trương. Hội nghị đã nhất trí tán thành hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị cũng đã nhất trí thông qua Chánh cương Sách lược, Chương trình và Điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo. Sự nhất trí cao và nhanh chóng của Hội nghị là nhờ vào vai trò lãnh đạo, hướng dẫn của Nguyễn Ái Quốc. Nhờ uy tín và công lao to lớn của Người, Đảng ta đã ra đời, đảm nhận sứ mệnh cao cả và thiêng liêng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Theo lời của T.Lan kể lại trong cuốn &quot;Vừa đi đường vừa kể chuyện&quot;, để mừng Đảng ra đời và mừng Xuân, Người đã đãi những người dự họp một bữa cơm Tết Nguyên đán trong không khí đầm ấm đầy tình đồng chí, đồng bào.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">II. Xuân 1993: Xuân Hương Cảng thoát khỏi tù ngục</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 6/1931, Nguyễn Ái Quốc lúc đó lấy tên là Tống Văn Sơ, bị cảnh sát Anh bắt tại số nhà 186 phố Tam Lung (Cửu Long) và giam ở nhà tù của thực dân Anh ở Hồng Kông. Được tin Nguyễn Ái Quốc bị bắt, thực dân Pháp ở Việt Nam rất vui mừng. Chúng phái cả bầy mật thám sang chầu chực ở Hồng Kông, tìm mọi cách vận động chính phủ, tòa án và cảnh sát Anh trao Nguyễn Ái Quốc cho chúng. Chúng đưa tàu thủy chực sẵn ở Hồng Kông, nếu tòa án Anh ký lệnh “trục xuất&quot; là chúng bắt ngay Nguyễn Ái Quốc và đưa về Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhưng thực dân Pháp đã thất bại, Nguyễn Ái Quốc đã được Lô-dơ-bai, một luật sư người Anh có thiện tâm, tìm mọi cách giúp đỡ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Giữa những ngày đầu xuân Quý Dậu, Nguyễn Ái Quốc đã thoát khỏi nhà tù của thực dân Anh. Đây là niềm vui, sự may mắn rất lớn cho cách mạng Việt Nam. Chúng ta biết rằng, tháng 11/1929, thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn đã xử Nguyễn Ái Quốc vắng mặt với mức án tử hình. Chúng chỉ chờ bắt được Người là thi hành án. Thực dân Pháp cũng đã treo giải thưởng 75 ngàn đồng tiền Đông Dương (một số tiền rất lớn hồi đó) cho ai bắt được Người (khi đó 1 tạ gạo chỉ 3 đồng).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thoát cảnh tù ngục, nhận lời mời của đồng chí và bầu bạn. Người đã lưu lại Hạ Môn (Trung Quốc) nhiều tháng, vừa tìm cách bắt liên lạc với tổ chức, vừa tránh sự theo dõi của mật thám. Sau đó Người đi Thượng Hải.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Vào một ngày đầu xuân năm 1934, Người lên một chiếc tàu hàng Xô viết ở Thượng Hải để đi Liên Xô. Sau khi tới cảng Vla-đi-vô-xtôc (Liên Xô), Người đến Mat-xcơ-va. Tại đây, Người đã gặp lại đông đảo đồng chí, bạn bè thân thiết, trong niềm vui lớn mà sau này được T.Lan diễn đạt lại bằng hai câu thơ:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ba năm lưu lạc lênh đênh</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nay đã trở lại trong đại gia đình công nông.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">III. Xuân 1941: Tổ quốc vào Xuân</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lúc Còn ở Quế Lâm (1940), Nguyễn Ái Quốc đã nhận định rằng thời cơ về nước đã tới. Đến cuối năm đó, Người cùng một số cán bộ Việt Nam rời Quế Lâm, đến Nam Ninh rồi đến Tỉnh Tây. Tại đây, Người đã cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên... mở lớp huấn luyện cán bộ trước khi về nước. Bốn mươi ba cán bộ cách mạng Việt Nam đã theo học lớp này tại làng Nậm Quang (Tỉnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc). Ngày 29 tháng Chạp năm Canh Thìn (tức ngày 26/1/1941), lớp học làm lễ bế mạc dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, trong khu rừng vắng vẻ rìa làng Nậm Quang. Hôm sau, ngày mùng Một Tết Tân Tỵ, Nguyễn Ái Quốc cùng với anh em cán bộ đi chúc tết bà con dân làng Nậm Quang. Người mặc bộ quần áo Nùng màu chàm, quần xắn cao, đầu vấn khăn, tay chống gậy. Người đi thăm hỏi từng gia đình, nói chuyện với người già bằng tiếng dân tộc. Theo phong tục người Nùng ở đây, Người tặng mỗi nhà một tờ giấy hồng điều, trên đó Người viết dòng chữ Hán “Cung chúc tân niên&quot; (Chúc mừng năm mới).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày mùng Hai tháng Giêng âm lịch, giữa lúc nhân dân Nậm Quang và khắp nơi đang vui vẻ ăn Tết thì Người rời Nậm Quang trở về nước, với sự tháp tùng của các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên và một số đồng chí khác.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau đó ít ngày, Người đến ở hang Pắc Bó, với bí danh già Thu. Cũng trong mùa xuân này, Người đã sáng tác bài thơ mô tả cảnh Pắc Bó hùng vĩ:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Non xa xa, nước xa xa,</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nào phải thênh thang mới gọi là...</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đây suối Lê-nin, kia núi Mác,</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hai tay xây dựng một sơn hà.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cũng tại đây, Người tiếp tục dịch cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Nga ra tiếng Việt để làm tài liệu huấn luyện đảng viên.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 5/1941, Người chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Hội nghị đã xác định rõ nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết của cách mạng Đông Dương. Hội nghị đã quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất. Từ đó, cách mạng Việt Nam chuyển hẳn sang một thời kỳ mới. Hơn 4 năm sau, Cách mạng Tháng Tám thành công. Tổng khởi nghĩa thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời .</span></p>
<p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cũng chính từ đó, Tổ quốc ta bước vào một mùa Xuân mới - Xuân của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - từ sức xuân truyền thống của mình.</span></p>
<p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sưu tầm tài liệu và biên soạn theo “Chuyện xưa góp nhặt” của Nguyễn Trọng Thu – cán bộ tiền khởi nghĩa / Đoàn Minh Tuấn // Du lịch. – 2011. –Số Xuân Tân Mão. – Tr. 5</span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/06/2011 3:45 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Bác Hồ đã nhiều năm bôn ba ở nước ngoài để tìm đường cứu nước và đã từng đón Xuân ở nhiều nước, trong đó có ba mùa xuân thật đáng nhớ, đánh dấu những mốc quan trọng trên hành trình tìm đường cứu nước của Người và của cách mạng nước ta.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.935</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Mon, 06 Jun 2011 08:48:01 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=11</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Tìm hiểu vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến dịch Việt Bắc năm 1947</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=46</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass6F78C9AF0E2047AF8C195A3A5D7DE7AD><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chiến thắng Việc Bắc nhờ chủ trương đường lối sáng suốt của Đảng, tinh thần dũng cảm, kiên cường của quân và dân ta, đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì đấu tranh ngoại giao để vãn hồi hoà bình.</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> Mặc dù kháng chiến toàn quốc đã bùng nổ nhưng Người vẫn kiên trì tìm cách ngoại giao với Quốc hội và Chính phủ Pháp nhằm chấm dứt chiến tranh xâm lược của Pháp. Theo Người, nhân dân Việt Nam chỉ mong muốn: “Tự do, hoà bình và độc lập”. Người kêu gọi nhân dân và binh lính Pháp, nhân dân các nước đồng minh hãy tìm cách ngăn chặn bàn tay của bọn thực dân hiếu chiến Pháp. Trong thư gửi Chính phủ và nhân dân Pháp nhân dịp đầu năm mới 1947, Hồ Chí Minh viết: “Tôi kêu gọi nhân dân Pháp để chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn và năm 1947 mang lại nền hoà bình và tình hữu ái giữa nước<span style="">  </span>Pháp và nước Việt Nam”<sup>1</sup> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ ngày<span style="">  </span>1-1 đến ngày 1-10-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 21 lần trực tiếp hoặc gián tiếp đề nghị Chính phủ Pháp thương lượng để chấm dứt chiến tranh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 1-10-1947, Hồ Chí Minh lại gửi điện trả lời chi bộ Đảng Xã hội Pháp ở Sài Gòn, đề nghị Chính phủ Pháp giữ “tinh thần hữu hảo, sự tin cậy và sự hợp tác giữa hai dân tộc Việt – Pháp”. Đồng thời, chính phủ và nhân dân Việt Nam lúc nào cũng sẵn sàng chấm dứt cuộc xung đột”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đáp lại thực dân Pháp xua quân đánh vào căn cứ địa Việt Bắc. Vì vậy nhân dân Việt Nam buộc phải cầm súng chống lại. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn Việt Bắc làm căn cứ kháng chiến hậu phương của cả nước.</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> Trong lịch sử dân tộc ta có nhiều kinh nghiệm và xây dựng căn cứ địa hậu phương cho các cuộc khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Tháng 5-1945 từ Cao Bằng về Tuyên Quang, Người đã chọn Tân Trào (Tuyên Quang) làm căn cứ để lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngay sau cách mạng tháng Tám thành công Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự kiến trước thực dân Pháp sẽ quay lại xâm lược nước ta. Vì thế, trước khi về Thủ đô Hà Nội, Người đã chủ trương tiếp tục xây dựng, củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Tháng 11-1946, khi thực dân Pháp khiêu khích ở Hải Phòng và Hà Nội, Người gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp hỏi nếu địch mở rộng chiến tranh trên miền Bắc thì Hà Nội giữ được bao lâu? Đại tướng thưa rằng Giữ được một tháng, các thành phố khác ít khó khăn hơn, vùng nông thôn nhất định ta giữ được. Suy nghĩ trong giây lát, Người nói “Ta lại trở về Tân Trào”. Sau đó, Người đã cử đồng chí Nguyễn Lương Bằng trở lại Việt Bắc chuẩn bị căn cứ địa kháng chiến. Trong thời gian ngăn, các cơ sở chính trị của ta được củng cố, hoàn thiện. Hệ thống thông tin liên lạc, phòng gian bảo mật và lực lượng vũ trang cũng được xây dựng và củng cố đồng bộ. Hơn 42.000 tấn máy móc, nguyên liệu để sản xuất vũ khí và 20.000 tấn muối đã đưa lên Việt Bắc. Trước và sau ngày toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng cơ quan lãnh đạo của Đảng và Chính phủ di chuyển lên Việt Bắc an toàn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau khi vồ hụt cơ quan lãnh đạo của ta ở Hà Nội cuối năm 1946, thực dân Pháp vẫn nuôi mộng bắt bằng được cơ quan lãnh đạo cao nhất của cuộc kháng chiến. Ỷ vào binh hoả lực mạnh, sức cơ động cao thực dân Pháp định nhảy vào Việt Bắc bắt Chính phủ Hồ Chí Minh. Nhưng núi rừng Việt Bắc đã trở thành mồ chôn giặc Pháp. Đúng như Hồ Chí Minh nhận định: Căn cứ địa Việt Bắc có thế chiến lược lợi hại, tiến có thể đánh, lui có thể giữ. Nhờ vậy, mỗi chiến khu, mỗi tỉnh, thậm chí huyện cũng có thể xây dựng được căn cứ địa, căn cứ du kích. Tiêu biểu như các căn cứ Lang Tài (Bắc Ninh), Kim Môn (Hồng Quảng), Bác Ái (Ninh Thuận). Các làng chiến đấu như: Cự Nẫm, Cảnh Dương (Quảng Bình), Chi Lăng (Lạng Sơn), Xi Tơ (Tây Nguyên), Cao Pha (Tây Bắc), Nguyên Xá (Thái Bình). Căn cứ địa Việt Bắc là một đóng góp lớn của Hồ Chí Minh. Hậu phương Việt Bắc đã góp phần tạo lên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tư tưởng chiến lược chính trị, quân sự thiên tài Hồ Chí Minh toả sáng trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947.</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> Thiên tài đó đã được thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam kiêm nghiệm. Trước Cách mạng tháng Tám, Người đã quyết định nhiều vấn đề quân sự quan trọng như hoãn cuộc khởi nghĩa Cao - Bắc - Lạng, chỉ thị xây dựng Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và chỉ đạo tổng khởi nghĩa năm 1945. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong những năm củng cố chính quyền cách mạng sau tổng khởi nghĩa, Người lo tổ chức chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang và kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ. Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng BCHTƯ Đảng vạch ra đường lối Kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Lúc đầu thế địch mạnh muốn nhanh chóng bóp chết lực lượng vũ trang nhỏ bé, trang bị thô sơ của ta. Người chỉ đạo: Nhanh chóng tổ chức đánh du kích giam chân địch trong các thành phố, tiêu thổ kháng chiến tổ chức tản cư lên vườn không nhà trống; chuyển toàn bộ đất nước từ thời bình sang thời chiến. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Mùa hè 1947 từ khu V trở ra ta có 12 vạn quân trong đó chỉ có 1/4 chiến sĩ được trang bị súng. Riêng chiến trường Việt Bắc, ta chỉ có 20 tiểu đoàn quân chủ lực. Trong khi đó thực dân Pháp tập trung gần 30 tiểu đoàn tinh nhuệ có phi pháo mạnh yểm trợ. Người phân tích: Âm mưu của địch là hội quân ở Bắc Cạn tạo thành cái ô bọc lấy Việt Bắc, hai cánh quân tạo thành hai gọng kìm. Một theo đường số 4 ở phía Đông; hai theo đường sông Hồng, sông Lô ở phía Tây kẹp chặt lấy Việt Bắc. Chúng chỉ mạnh ở hai gọng kìm Đông và Tây. Nếu ra cùng lực lượng bao vây chặt và tiêu hao quân dù ở Bắc Cạn tập trung lực lượng kiên quyết phản công tiêu diệt các cánh quân địch ở Đông và Tây thì cái ô sẽ cụp xuống thành cái ô rách. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ta không chủ trương đem quân chủ lực ra chọi nhau với địch mà dùng lực lượng nhỏ thực hiện phương châm: “đại đội độc lập tiểu đoàn tập trung”, phục kích đánh địch trên các địa hình hiểm trở. Bằng phương thức đó, ta đã vô hiệu hoá sức mạnh phi pháo và đội quân vừa đông vừa thiện chiến của địch. Rừng Việt Bắc trở thành “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuộc tấn công lên Việt Bắc của Pháp bị thất bại nặng nề làm cho chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của chúng bị phá sản. Buộc chúng phải đánh theo cách đánh của ta – đánh lâu dài.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Kỷ niệm một năm ngày toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “…bọn quân phiệt thực dân khoe miệng rằng chóng thì dăm tuần, chậm th2i ba tháng chúng sẽ chinh phục được ta”. Đến nay, “Lực lượng của chúng cũng như mặt trời vào lúc hoàng hôn, hống hách lắm nhưng đã gần tắt nghỉ… lực lượng của ta ngày càng thêm mạnh, như suối mới chảy, như lửa mới nhóm, chỉ có tiến, không có thoái”<sup>2</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thắng lợi Việt Bắc, Thu – Đông 1947 là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện của Đảng ta, thể hiện rực rỡ nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh tài tình, sắc bén, sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thắng lợi này của quân và dân ta đã làm cho quân Pháp từ chủ động sang thế bị động.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tìm hiểu vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến thắng Việt Bắc, Thu – Đông 1947, chúng ta càng thấy: Tư tưởng quân sự của Người, một trong những nền tảng tư tưởng quân sự của Đảng ta, đã được phát triển trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954).</span></p>
<p><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">1, 2. Hồ Chí Minh Toàn tập, CTQG, H, 1995, T.5, tr.3, 313.</span></p>
<p><strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn</span></strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Lịch sử Đảng. -1997. –Số 11. –Tr. 25-26, 32.</strong></span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 2:50 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Khi thực dân Pháp mở cuộc tấn công vào căn cứ địa Việt Bắc (10-1947), dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chủ Minh bộ đội, dân quân, du kích và toàn thể đồng bào ta ra sức tiêu diệt địch. Sau hai tháng chiến đấu ngoan cường dũng cảm, quân dân Việt Bắc loại khỏi vòng chiến đấu hơn 7.000 tên địch. Thực dân Pháp phải rút chạy khỏi Việt Bắc.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 6.220</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 07:53:14 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=46</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=53</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassDDF565B53AEE4E13A34D363823F328FF><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></p>
<p>
<table class=MsoTableGrid border=0 cellspacing=0 cellpadding=0 align=left style="margin:auto 6.75pt;border-collapse:collapse">
    <tbody>
        <tr style="height:13.8pt">
            <td valign=top width=223 style="border-bottom:#ece9d8;border-left:#ece9d8;padding-bottom:0cm;background-color:transparent;padding-left:5.4pt;width:167.55pt;padding-right:5.4pt;height:13.8pt;border-top:#ece9d8;border-right:#ece9d8;padding-top:0cm">
            <p class=MsoNormal style="text-align:center;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><img width=250 height=174 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-6/BacHo2762011_151035.jpg"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
            </td>
        </tr>
        <tr style="height:13.8pt">
            <td valign=top width=223 style="border-bottom:#ece9d8;border-left:#ece9d8;padding-bottom:0cm;background-color:transparent;padding-left:5.4pt;width:167.55pt;padding-right:5.4pt;height:13.8pt;border-top:#ece9d8;border-right:#ece9d8;padding-top:0cm">
            <p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><i style=""><span style="font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">(Nhân dân Thủ đô Vác-xa-va nhiệt liệt chào đón Hồ Chủ tịch sang thăm nước Cộng hòa nhân dân Ba Lan (năm 1957). Ảnh tư liệu)</span></i></p>
            <p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></p>
            </td>
        </tr>
    </tbody>
</table>
</p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong những năm nhân dân ta gian khổ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhân dân thế giới vẫn luôn tin tưởng vào thắng lợi của ta và ca ngợi Bác Hồ. Hu-a-ri Bu-mê-điêng - Chủ tịch Hội đồng Cách mạng An-giê-ri viết: &quot;Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những nhà cách mạng đầu tiên đã chiến đấu chống những hình thức khác nhau của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc và là một trong những người mà bằng lời nói và hành động của mình đã đập tan cơ cấu của sự tàn bạo và góp phần vào sự nghiệp chính nghĩa của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới... Tấm gương của Người và cuộc chiến đấu của Người sẽ là kim chỉ nam hành động cho tất cả các dân tộc đang đấu tranh, cho thanh niên và cho các nhà lãnh đạo trên thế giới&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhân ngày sinh lần thứ 70 của Người, báo Pravđa (Liên Xô) viết: “Đồng chí Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ lừng danh của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông. Cuộc đời của Người là tấm gương hy sinh tận tụy phục vụ nhân dân, phục vụ sự nghiệp của giai cấp vô sản thế giới”. Còn Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp Marche khẳng định: “Nhà yêu nước vĩ đại của Việt Nam cũng không chỉ thuộc duy nhất về nhân dân nước ông. Hồ Chí Minh còn là người của phong trào cách mạng thế giới, người của phong trào cộng sản quốc tế. Vị nguyên thủ ấy, nhà lãnh đạo được mọi người tôn kính ấy, người đã làm cho bọn đế quốc phải kinh hồn khiếp vía ấy, chính là một người có đức tính khiêm tốn, chỉ nghĩ đến người khác”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Gớt-hô - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mỹ viết: “Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ thế giới vào lúc loài người đang ở bước ngoặt có tính chất cách mạng nhất. Đồng chí là một nhà kiến trúc và tạo hình làm nên quá trình cách mạng thế giới. Người am hiểu một cách vô cùng sáng suốt phương hướng và mục tiêu của quá trình đó. Người biết rõ động lực và sức mạnh của nó... Một mặt, Người thể hiện những nguyện vọng và mục tiêu dân tộc cao đẹp nhất của nhân dân Việt Nam, mặt khác Người là một người theo chủ nghĩa quốc tế chân chính và vĩ đại của giai cấp công nhân”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đặc biệt, năm 1971, cuốn sách “Ông Hồ” in bằng tiếng Anh - tác giả là nhà báo lừng danh Da vid Halberstam xuất bản tại Mỹ đã được đông đảo dư luận Mỹ và thế giới chú ý. Tác giả viết: “Ông Hồ Chí Minh là một nhân vật kỳ lạ của thời đại này. Hơi giống Granđi. Hơi giống Lê-nin. Hoàn toàn Việt Nam. Đối với dân tộc của ông và cả đối với thế giới ở thế kỷ XX này, có lẽ hơn hẳn bất kỳ ai khác, ông là hiện thân của cách mạng, của đổi mới và sự sáng tạo... Ông Hồ đã trải qua cách mạng, chiến tranh, phát triển sau chiến tranh, lại một cuộc chiến tranh nữa, mà không hề thanh lọc một người nào. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng độc nhất không có xáo trộn, chủ yếu là nhờ ở uy tín rất cao và đức tính quán xuyến của lãnh tụ”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1980, tại hội nghị quốc tế kỷ niệm 90 năm Ngày sinh  Chủ tịch Hồ Chí Minh  tổ chức tại Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng  Hòa bình thế giới R. Chanđra đã khẳng định: “Bất cứ ở nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó có Hồ Chí Minh  và ngọn cờ Hồ Chí Minh  bay cao. Ở bất cứ đâu nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới chống đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh  và ngọn cờ Hồ Chí Minh  bay cao”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Mười năm sau, tại hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh,  Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương đại diện đặc biệt của Tổng giám đốc UNESCO, tiến sĩ M.Amét đã viết: “Chỉ có ít nhân vật lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh  là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng ra khỏi trái đất này”.</span></p>
<p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Gần đây, tạp chí Time (Mỹ) đã bình chọn các nhân vật kiệt xuất của thế kỷ XX. Chủ tịch Hồ Chí Minh  đã được bình chọn là một trong 100 nhân vật đó. Đây là một trong những lời bình chọn: “Chủ tịch Hồ Chí Minh  là một trong những lãnh tụ và nhà cách mạng đã ghi dấu ấn vào lịch sử thế giới 100 năm qua. Một trong những con người vĩ đại đã góp phần thiết lập nên cơ cấu chính trị - xã hội của thời đại ngày nay” và trên trang  Web của tạp chí Time, nhà báo S.Kamow viết về  Chủ tịch Hồ Chí Minh  như sau: “Hồ Chí Minh gợi lên một hình ảnh  khiêm tốn và nhân từ như tên gọi Bác Hồ. Người là nhà cách mạng dày dạn kinh nghiệm, với lòng yêu nước nồng nàn, theo đuổi một mục tiêu duy nhất: Giành độc lập cho đất nước. Hồ Chí Minh đã kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa cộng sản, đã làm hoàn hảo nghệ thuật chiến tranh du kích đến mức độ vô cùng hiệu quả”. Và tác giả kết luận: “Với tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh  là biểu tượng tuyệt vời của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa cộng sản. Người đã đưa nghệ thuật chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích lên tầm cao mới. Ở tuổi 20 tôi đã có ấn tượng mạnh mẽ về con người mà hàng triệu người Việt Nam gọi bằng cái tên trìu mến  “Bác Hồ”. Một  con người mà mong ước lớn nhất của cuộc đời là làm sao cho dân tộc Việt Nam được độc lập tự do. Và Người đã cống hiến đến hơi thở cuối cùng vì nỗi ước ao cao cả ấy. Hồ Chí Minh không chỉ là một chính trị gia đại tài mà còn là một nhà tiên tri, nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà văn”.</span></p>
<p><strong><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn </span></strong><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>http://www.baobacgiang.com.vn</strong></span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần IV: Thế giới viết về Bác</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 3:05 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những tình cảm, ấn tượng tốt đẹp, thành kính không chỉ đối với nhân dân Việt Nam mà còn với cả nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác, xin điểm lại những bài viết, câu nói của bạn bè trên thế giới viết về Người.</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.534</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần IV: Thế giới viết về Bác</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 08:11:13 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=53</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chủ tịch Hồ Chí Minh thời niên thiếu</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=2</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassA38C33C3706241A4BF7A0D142CD7B0BE>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Thân phụ là Nguyễn Sinh Sắc, sinh năm 1862, quê ở làng Kim Liên (thường gọi là làng Sen), cùng thuộc xã Chung Cự, cách Hoàng Trù 2km (nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Xuất thân từ gia đình nông dân, sớm mồ côi cha, mẹ, từ nhỏ đã chịu khó lao động và ham học. Vì vậy, được cụ Hoàng Đường ở làng Hoàng Trù xin họ Nguyễn Sinh đem về nuôi. Ông vừa lao động vừa tiếp tục học tập. Khi trưởng thành ông thành hôn với người con gái đầu của cụ.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Thân mẫu là Hoàng Thị Loan, sinh năm 1868. Bà là một phụ nữ cần mẫn, đảm đang, đôn hậu, sống bằng nghề làm ruộng và dệt vải, hết lòng chăm lo cho chồng con ăn học.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nguyễn Sinh Cung là con thứ ba trong gia đình.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chị là Nguyễn Thị Thanh, còn có tên là Nguyễn Thị Bạch Liên, sinh năm 1884.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Anh là Nguyễn Sinh Khiêm, còn có tên là Nguyễn Tất Đạt, sinh năm 1888.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Gia đình Nguyễn Sinh Cung sống trong một căn nhà nhỏ ba gian, lợp tranh, trên đất vườn của ông bà ngoại tại Hoàng Trù.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Năm 1890 - 1895, Nguyễn Sinh Cung sống ở làng Hoàng Trù trong tình thương yêu và chăm sóc của bố mẹ và ông bà ngoại. Ông ngoại là Hoàng Đường, dạy chữ Hán ngay tại nhà cho một số trẻ em trong làng. Bà ngoại là Nguyễn Thị Kép, làm ruộng để nuôi gia đình.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ngày 22 tháng 5 năm 1893, Nguyễn Sinh Cung chịu tang ông ngoại.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Khoảng tháng 6 năm 1894, Nguyễn Sinh Cung đón nhận tin vui: Cha đậu cử nhân, khoa thi giáp Ngọ năm thành Thái thứ 6 tại trường thi Nghệ An.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Khoảng gần cuối năm 1895, Nguyễn Sinh Cung cùng anh theo cha mẹ vào Huế. Thời kỳ này từ Nghệ An đi Huế chưa có đường xe lửa và ô tô. Mọi người phải đi bộ, trẻ em thường ngồi trong quang gánh của người lớn. Tới Huế, lúc đầu gia đình Nguyễn Sinh Cung phải ở nhờ những người quen, sau ở tạm trong một gian trại lính gần Viện đô sát (ngày nay là nhà số 114, đường Mai Thúc Loan).</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Gần cuối năm 1898, Nguyễn Sinh Cung cùng anh theo cha đến ở nhà ông Nguyễn Sĩ Khuyến, làng Dương Nổ, xã Phú Dương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Lúc này, ông Nguyễn Sinh Sắc mở lớp dạy chữ Hán cho một số học sinh trong làng, Nguyễn Sinh Cung cũng theo học.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ngày 10 tháng 2 năm 1901, Nguyễn Sinh Cung chịu tang lớn trong tuổi thiếu niên: bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu lâm bệnh qua đời tại Huế. Bà đã được những người láng giềng thân thiết lo việc mai táng, vì lúc này ông Nguyễn Sinh Sắc và Nguyễn Sinh Khiêm đang ở quê nhà.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sau khi mẹ mất, Nguyễn Sinh Cung và Nguyễn Sinh Xin (em trai Nguyễn Sinh Cung, sinh vào cuối năm 1900 tại Huế; sau khi bà Hoàng Thị Loan mất, Nguyễn Sinh Xin được ông Nguyễn Sinh Sắc đưa về Hoàng Trù gửi bà ngoại trông nom, nhưng yếu sức nên mấy tháng sau thì chết) về quê.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Tại quê, Nguyễn Sinh Cung học chữ Hán với thầy Hoàng Phan Quỳnh, lớp học mở tại xóm Vang, làng Hữu Biệt, cách Hoàng Trù 3km (nay thuộc xã Nam Giang, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Tháng 5 năm 1901, một tin vui đến với gia đình Nguyễn Sinh Cung và dân làng: Ông Nguyễn Sinh Huy (Nguyễn Sinh Sắc) đậu Phó bảng khoa thi Hội, Tân Sửu, năm Thành Thái thứ 13.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Dân trong xã ai cũng biết rằng, nhờ công lao cụ Hoàng Đường cùng gia đình bên vợ ở Làng Trùa, ông Sắc mới thành đạt. Song theo tập tục địa phương và ý nguyện bà con họ Nguyễn Sinh, ông Sắc đã vinh quy tại Làng Sen quê nội (khoảng tháng 9 năm 1901). Trước khi ông Sắc được đón về, làng Kim Liên đã cấp đất công, xuất quỹ làm cho một ngôi nhà (đó là ngôi nhà và khoản vườn hiện nay còn được bảo tồn ở Kim Liên).</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nhân dịp này, ông Nguyễn Sinh Sắc làm lễ &quot;Vào làng&quot; cho hai con trai, với tên mới là Nguyễn Tất Đạt (Sinh Khiêm) và Nguyễn Tất Thành (Sinh Cung).</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cũng như nhiều vùng khác ở nông thôn Nghệ An, Làng Sen vốn đã nghèo lại càng nghèo thêm từ khi mất nước. Tại đây, ngoài nghề làm ruộng, bà con nông dân còn làm nhiều nghề khác như dệt vải, đan lát hoặc nghề sơn tràng, kiếm củi, đốt than...</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Xưa kia, vùng này gọi là Trại Sen với những địa danh toàn sen: nào Đồng Sen Cạn, Đồng Sen Sâu, Giếng Sen, Đầm Sen; nào Vực Sen, Bàu Sen, Chợ Sen, Cồn Sen...</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sen góp phần tạo nên cảnh trí thiên nhiên đặc sắc ở đây nên mới gọi là Làng Sen. Nhân dân Làng Sen tự hào vì làng mình đẹp, lại có nhiều nho sĩ thường hay lui tới đàm đạo văn chương, thời thế.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Với tâm hồn thơ mộng, rất yêu thiên nhiên, Nguyễn Tất Thành tự hào với cảnh đẹp của làng quê mình. Nhưng điều đáng tự hào hơn cả là làng Kim Liên có nhiều di tích lịch sử và anh hùng hào kiệt. Ngay trước ngõ nhà cậu, chếch về phía phải là Giếng Cốc, nơi bọn thực dân Pháp đã ra lệnh tát cạn nước để tìm vũ khí của &quot;chung nghĩa binh&quot;, khi chúng đã đàn áp được cuộc khởi nghĩa Vương Thúc Mậu (năm 1886). Hình ảnh người anh hùng của quê hương, <a name=VNS0002>người</a> bạn dạy học của ông ngoại cậu đã hy sinh ngay tại làng để bảo toàn khí tiết đã từng gây xúc động mạnh trong lòng Nguyễn Tất Thành.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sau tháng 9 năm 1901, một vinh dự lớn cho Nguyễn Tất Thành là được cha gửi sang học chữ Hán với thầy Vương Thúc Quý và thầy Trần Thân ở ngay trong làng Kim Liên. Thầy <a name=VNS0003>Vương</a> Thúc Quý vốn là nhà nho, giàu lòng yêu nước cho nên Nguyễn Tất Thành và bạn học đều chịu ảnh hưởng chí hướng của thầy. Nguyễn Tất Thành là một học trò nhanh trí và có trí nhớ tốt, được thầy yêu mến. Học với thầy Vương Thúc Quý, Tất Thành cảm thấy thoải mái, dễ hiểu vì thầy thức thời, không nệ cổ, không bắt học trò nhồi sọ cổ văn theo lối &quot;tầm chương trích cú&quot;. Là tấm gương sáng cho học trò noi theo, thầy gợi cho Nguyễn Tất Thành những vấn đề mà trong bước trưởng thành, anh còn phải tìm hiểu cho đến nơi đến chốn.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Khoảng năm 1901-1902, Nguyễn Tất Thành <a name=VNS0004>bước</a> đầu tiếp thu tư tưởng yêu nước của các bậc cha chú thông qua mối quan hệ giữa cha với các sĩ phu trong vùng. Phan Bội Châu, trong tác phẩm <i>Phan Bội Châu niên biểu</i>, kể lại rằng: Nguyễn Tất Thành thường nghe cụ ngâm hai câu thơ và sau này anh vẫn nhắc lại:</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch</span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"></span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Lập thân tối hạ thị văn chương</span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"></span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nghĩa là:</span><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"> </span></i></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Mỗi bữa (ăn) không quên ghi sử sách</span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"></span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Lập thân hèn nhất ấy (là) văn chương</span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"></span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Mùa xuân năm 1903, Nguyễn Tất Thành theo cha đến ở xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, Nghệ An và tiếp tục học chữ Hán. Thời gian này, ông Nguyễn Sinh Sắc (thân phụ) dạy tại nhà ông Nguyễn Thế Văn.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ngày 13 tháng 4 năm 1904, Nguyễn Tất Thành chịu tang bà ngoại. Đây là cái tang lớn của cả gia đình. Sở dĩ ông Nguyễn Sinh Sắc học hành và đỗ đạt được chủ yếu là nhờ sự bù trì, giúp đỡ của gia đình phía vợ. Bà ngoại cũng đã giành cho Thành và những người cháu sớm mồ côi mẹ lòng yêu thương sâu sắc. Bà mất, Tất Thành đau xót, nghẹn ngào. Hình ảnh ông ngoại, mẹ và em Xin lại hiện lên rõ nét trong trí nhớ của Tất Thành. Thế là trong tuổi thiếu niên, Tất Thành phải chịu bốn cái tang của gia đình. Nhìn lên bàn thờ bà ngoại, Tất Thành xót xa, nhớ tiếc với bao kỷ niệm thân thương của hai bà cháu quanh góc sân, mảnh vườn.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sau kỳ đại tang đó, Nguyễn Tất Thành theo cha sang làng Du Đồng, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh (nay thuộc xã Đức Đồng, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Thời gian này, ông Nguyễn Sinh Sắc dạy học ở nhà ông Nguyễn Bá Uy.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ngoài giờ học tập, Nguyễn Tất Thành thường theo cha đến các vùng trong tỉnh thăm các nhân sĩ yêu nước (đến làng Đông Thái - quê hương của Phan Đình Phùng, làng Trung Lễ - quê hương của của Lê Ninh, v.v...) hoặc thăm các di tích lịch sử như thành Lục Niên, miếu thờ La Sơn phu tử, v.v...</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Tháng 7 năm 1905, Nguyễn Tất Thành theo cha đến huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình trong dịp ông Nguyễn Sinh Sắc đi gặp các sĩ phu ở vùng đó.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Theo cha đi khắp đó đây, tầm mắt Tất Thành được mở rộng, quả là &quot;đi một đoạn đàng, học một sàng khôn&quot;. Anh thấy đâu đâu cảnh nghèo đó cũng phơi bày ra trước mắt. Nhan nhản người ăn xin ở khắp mọi nơi. Hầu như làng quê nào cũng chỉ nổi lên vài ba ngôi nhà đồ sộ bên cạnh hàng trăm túp lều xơ xác, tiêu điều. Mùa đông giá lạnh càng nhiều cảnh thê thảm hơn. Không đủ manh áo che thân, nhiều người phải quấn tơi, chiếu hoặc bao tải rách. Bọn đế quốc và địa chủ phong kiến đang hút tủy, rút xương dân chúng bằng hàng trăm thứ thuế nặng nề và phu đài, tạp dịch. Từ người lớn đến trẻ con ai ai cũng sợ &quot;ông Tây&quot;. Anh Thành cảm thấy nỗi nhục mất nước hằn rõ trên gương mặt mỗi người Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Tháng 9 năm 1905, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt được thân phụ xin cho theo học lớp dự bị Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh, cách Kim Liên khoảng 14 km.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Hai anh em trọ ở một gia đình nghèo mạn Cầu Rầm (Vinh) và thường thường chiều thứ bảy đi bộ về thăm nhà, sáng thứ hai lại xuống Vinh.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chính tại Trường tiểu học này, Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên tiếp xúc với khẩu hiệu TỰ DO - BÌNH ĐẲNG - BÁC ÁI.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cái nôi quê hương giàu truyền thống bất khuất với bản sắc riêng của xứ Nghệ đã tạo cho Nguyễn Tất Thành sớm có lòng yêu nước, thương dân, căm thù giặc và ý chí &quot;Làm trai cho đáng nên trai&quot;. Những tấm gương của các thầy giáo và những hoạt động sôi nổi của các bậc cha chú như Phan Bội Châu... đã kích thích cao độ chí làm trai của anh. Thái độ bất hợp tác, ngầm chống đối thực dân, phong kiến và nhận thức được thời cuộc, lòng thương dân, yêu nước của thân phụ có ảnh hưởng sâu xa đến sự hình thành nhân cách của anh.</span><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt" lang=EN-US></span></p>
<p>Nguồn <span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"><a href="http://www.baobinhdinh.com.vn/"><span style="color:black;text-decoration:none;text-underline:none">http://www.baobinhdinh.com.vn</span></a></span><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt" lang=EN-US>. -2005. -Ngày</span><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"> 1</span><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt" lang=EN-US> tháng </span><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">3</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần I: 1890 - 1911</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/06/2011 2:30 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Chủ tịch Hồ Chí Minh (sinh ngày 19-5-1890), thời niên thiếu tên là Nguyễn Sinh Cung, ra đời tại quê mẹ là làng Hoàng Trù (thường gọi là làng Trùa), xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.271</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần I: 1890 - 1911</category>
      <pubDate>Mon, 06 Jun 2011 07:33:16 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=2</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chuyến đi Liên Xô, Trung Quốc đấu năm 1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=16</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass2331EB7F44B1436786E0D3B908844FEF><p><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đ</span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">ầu năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật sang thăm không chính thức Trung Quốc, Liên Xô. Đây là sự kiện lớn, có quan hệ nhiều mặt đến lịch sử cách mạng Việt Nam. Việc xác định đầy đủ thời gian và nội dung của sự kiện là rất quan trọng, thu hút nhiều tổ chức và các nhà nghiên cứu.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 8-1976, lần đầu tiên Viện bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức buổi tọa đàm về sự kiện này. Sau đó, Nguyễn Hoàng Tửu, Trần Thị Hiền đã viết bài: &quot;Xung quanh sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Liên Xô cuối năm 1949, đầu năm 1950&quot; đăng trên <i style="">Tạp chí Lịch sử Đảng</i> số 18-19, năm 1987. Mặc dù, những vấn đề cơ bản đã được xới xáo, nhưng các tác giả cũng thừa nhận, do thiếu tư liệu nên nhiều vấn đề quan trọng chưa thể làm sáng tỏ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1990, NXB Sự thật, Hà Nội cho ra mắt bạn đọc cuốn <i style="">Chủ tịch Hô Chí Minh với công tác ngoại giao</i> của Viện quan hệ quốc tế, Bộ ngoại giao. Cùng năm, NXB Sao mới Quảng Tây Trung Quốc công bố cuốn <i style="">Hồ Chí Minh với Trung Quốc </i>của nhà sử học Hoàng Tranh. Đây là những bước tiến quan trọng về mặt tư liệu. Bước tiến này được ghi nhận và khẳng đinh khi NXB CTQG cho ra mắt cuốn <i style="">Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử</i> của Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào tháng 9-1994. Đây là công trình được biên soạn rất công phu, nhưng do tính chất &quot;biên niên&quot;, sách đã không thể trình bày đầy đủ những diễn biến chính của sự kiện, nhất là những trao đổi giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà lãnh đạo Liên Xô, Trung Quốc về tình hình và triển vọng của cách mạng Việt Nam, cũng như những thỏa thuận đạt được trong các cuộc hội đàm.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngoài ra, còn có một số bài đề cập đến sự kiện như: &quot;Hồ Chí Minh với Stalin&quot; của Mai Hương, &quot;Nhớ lại một vài hoạt động ngoại giao của Bác Hồ với Trung Quốc&quot; của Bích Ngọc, đăng trên <i style="">Tạp chí quan hệ quốc tế</i> năm 1990; một số thông tin quan trọng trong các cuốn hồi ký, hồi ức của các nhân chứng lịch sử như: Hồi ký <i style="">Khơrusốp</i>, New york, 1971; <i style="">Con đường theo</i> Bác của Hoàng Quốc Việt, NXB Thanh niên, Hà Nội, 1990. Đặc biệt năm 1995, NXB Quân đội nhân dân và NXB Thanh niên phát hành cuốn <i style="">Chiến đấu trong vòng vây</i> của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Cuốn sách này cung cấp khá nhiều thông tin liên quan đến sự kiện.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Mặc dù chưa có nguồn tư liệu gốc, nhưng những tài liệu có được gợi cho chúng tôi khả năng khôi phục lại thời gian và diễn biến chính của sự kiện.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuối năm 1949, trước những thay đổi to lớn của tình hình quốc tế, một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chuẩn bị cho chuyến ra nước ngoài của mình. Đây là chuyến đi thứ tư kể từ khi Người về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Mục tiêu cơ bản là phát triển ngoại giao, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và bạn bè quốc tế, nhằm, đẩy nhanh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đưa cách mạng Việt Nam nhập vào trào lưu thời đại.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Vấn đề tiên quyết là phải liên lạc và thông báo cho Ban lãnh đạo nước Trung Hoa mới về yêu cầu của chuyến đi. Qua một cán bộ cao cấp Việt Nam hoạt động ở vùng Triều Châu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi cho Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai bức thư Thủ tướng Chu Ân Lai đã nhận được bức thư này. Công việc chuẩn bị được chính Người xúc tiến tích cực.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Theo số liệu thống kê của chúng tôi, để giữ bí mật, đảm bảo an toàn cho chuyến đi, Người đã viết trước hàng chục bài báo, thư từ, lời kêu gọi... ký sẵn trên ba mươi sắc lệnh để các đồng chí trong nước phối hợp, công bố dần trong thời gian Người đi công tác. Trước ngày lên đường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho đồng chí Võ Nguyên Giáp viết bản báo cáo về tình hình quân sự để Người mang theo. Ngày 29-12-1949, Bộ trưởng tài chính Lê Văn Hiến đã trao 50 đồng tiền vàng trong số 200 đồng tiền vàng đầu tiên do Sở đúc tiền của nước ta đúc, để Người làm quà tặng trong chuyến đi công tác.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 1-1-1950, theo chỉ thị của Người, đồng chí Lâm Cẩm Như (bí danh Lâm Kính) cùng hai cán bộ quân đội: Lê Phát (bảo vệ, phiên dịch) và Ngô Vi Thiện (điện đài) lên đường làm nhiệm vụ tiền trạm. Ngày 2-1-1950, phái đoàn tập trung tại Phủ Chủ tịch đóng ở châu Tự Do (Tuyên Quang). Trước khi đi, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp riêng một số đồng chí để dặn dò và giao nhiệm vụ trong thời gian Người ra nước ngoài. Buổi chiều, Người rời Phủ Chủ tịch, bắt đầu cuộc hành trình bí mật sang thăm không chính thức Trung Quốc, Liên Xô. Cùng đi với Người có đồng chí Trần Đăng Ninh (đóng vai trưởng đoàn), bác sĩ Chánh và đồng chí Nhất (cảnh vệ).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuộc hành trình hết sức nguy hiểm. Phái đoàn vượt qua biên giới Việt - Trung, khu vực quân viễn chinh Pháp còn đang chiếm đóng dày đặc. Phía bên kia biên giới, tàn quân Tưởng và các lực lượng ô hợp khác có mặt nhiều nơi trong tỉnh Hoạ Nam. Phái đoàn phải đi bộ, đi ngựa qua rừng núi. Từ Phục Hòa (Cao Bằng) sang chợ Thủy Khẩu (Trung Quốc), phái đoàn gặp bộ phận tiền trạm của đồng chí Lâm Cẩm Như. Ngày 19-1-1950 đoàn đến Long Châu (Quảng Tây, Trung Quốc). Về sự kiện này, nhà sử học Trung Quốc Hoàng Tranh viết: &quot;Đó là một ngày sau Tết nguyên đán năm Canh Dần, Hồ Chí Minh từ huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng, Việt Nam sang chợ Thủy Khẩu, huyện Long Châu, Quảng Tây... Quân khu Quảng Tây. Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc phái một cán bộ dẫn một trung đội vũ trang đến Thủy Khẩu nghênh đón và hộ tống Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thị trấn... Tối hôm đó, Người ngụ ở Bộ tư lệnh phân khu Long Châu giải phóng quân&quot;. Sáng ngày 20-1-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi ô tô đến Nam Ninh, nghỉ tại Kim Sơn Tửu Điếm. Ngày hôm sau, Người đi ô tô đến Lai Tân và tiếp tục đến Bắc Kinh bằng tàu hỏa.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Khi đến Bắc Kinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh được Thủ tướng Chu Ân Lai đón tiếp nồng hậu. Về danh nghĩa, đây là phái đoàn của Trung ương Đảng ta sang thăm ĐCS Trung Quốc. Trong các cuộc hội đàm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thông báo về đường lối cách mạng Việt Nam, về tình hình cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của Ban lãnh đạo Trung Quốc. Phía Trung Quốc cho rằng trước đây chưa có điều kiện giúp đỡ cách mạng Việt Nam; từ nay, sẽ hết sức chi viện cho kháng chiến của ta; đồng thời khuyên Việt Nam kiên trì kháng chiến lâu dài .</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Theo đề nghị của ta, Trung Quốc đã điện báo cho Nguyên soái Xtalin về sự có mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Bắc Kinh và ngỏ ý muốn sang Liên Xô để trực tiếp thông báo về tình hình cách mạng Việt Nam. Đồng chí Xtalin mời Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm không chính thức Liên Xô.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 3-2-1950, với bí danh là &quot;Đại Hồ&quot; và “Tiểu Hồ&quot;, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Thủ tướng Chu Ân Lai đáp tàu hỏa đi Mátxcơva. Đồng chí Trần Đăng Ninh đi theo Người.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tới Mátxcơva, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm việc với các đồng chí trong Ban lãnh đạo Liên Xô, Trung Quốc như Xtalin, Môlôtốp, Kazanôvích, Khơrútsốp, Mao Trạch Đông, Chu ân Lai... Khi được thông báo về tình hình Việt Nam, Xtalin đã đồng ý với đường lối chiến lược, sách lược của Đảng ta, song cũng ngỏ ý muốn Việt Nam phải nhanh chóng làm cách mạng ruộng đất. Về quân sự, Xtalin khuyên Việt Nam nên chú trọng toàn bộ vùng rừng núi phía tây, nắm được vùng đó, sẽ nắm được quyền làm chủ đất nước; đồng thời thỏa thuận với Trung Quốc một số giải pháp nhằm hỗ trợ cho cách mạng Việt Nam. Trước mắt, Liên Xô sẽ viện trợ cho Việt Nam một trung đoàn pháo cao xạ 37 ly, một số xe vân tải Môlôtôva, thuốc và dụng cụ quân y. Phía Trung Quốc sẽ chịu trách nhiệm vận chuyển hàng viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam; sẽ trang bị vũ khí cho một số đại đoàn bộ binh, một đơn vị pháo binh; sẽ cử một số cán bộ có kinh nghiệm sang làm cố vấn quân sự, cũng như kinh nghiệm về phát động quần chúng tiến hành cải cách ruộng đất.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 16-2-1950, nhận lời mời của Ban lãnh đạo Liên Xô. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tới dự buổi chiêu đãi trọng thể tại điện Kremlin do Xtalin tổ chức để chào mừng &quot;Hiệp ước hữu nghị tương trợ đồng minh Xô - Trung&quot; vừa ký kết.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong những ngày lưu lại Mátxcơva, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành thời gian gặp gỡ đại diện ĐCS Pháp và nhiều tổ chức quốc tế khác để tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của họ với cách mạng nước ta.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 4-3-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở lại Bắc Kinh và lưu lại đó một tuần.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tối ngày 11-3-1950, Người lên tàu hỏa về nước. Trên đường về, Người đã sáng tác năm bài thơ chữ Hán có đầu đề: &quot;Ly Bắc Kinh&quot;, “Qúa Hồ Bắc&quot;, &quot;Thập Tam tảo, quá Trường Sa&quot;. &quot;Ngọ Qua Thiên giang&quot;, </span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">“C</span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">ận Long Châu</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">”</span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hạ tuần tháng 3-1950, Người tới biên giới Trung - Việt Ngày 2-4-1950, Người về đến Bắc Cạn. Sau khi gặp gỡ và làm việc với Ban lãnh đạo tỉnh, Người về An toàn khu bằng xe tải. Tới Quán Vuông (đường Bắc Cạn - Thái Nguyên), đoàn gặp đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng một số đồng chí trong cơ quan Bộ tổng tư lệnh ra đón. Nghỉ lại đây một hôm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kể vấn tắt chuyến đi công tác tại Trung Quốc, Liên Xô của Người. Hôm sau, Người về sớm để chuẩn hoàn bị cho phiên họp Thường vụ Trung ương Đảng .</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 6-4-1950, tại phiên họp của Thường vụ Trung ương ĐCS Đông Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức thông báo tình hình và kết quả chuyến đi của Người, đồng thời nghe Thường vụ Trung ương báo cáo tình hình trong nước từ sau Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chuyến đi bí mật đầy gian lao, nguy hiểm, song cũng hết sức mưu lược, tài trí của Chủ tịch Hồ Chí Minh kết thúc tốt đẹp. Nghiên cứu chuyến đi này, chúng tôi có một vài suy nghĩ:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đây là sự phối hợp tuyệt vời trong hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta. Nếu như với tuyên bố ngày 14-1-1950, Chính phủ ta đã giành được sự công nhận về mặt Nhà nước của Trung Quốc, Liên Xô và các nước khác trong phe XHCN, thì chuyến đi ngày 2-1-1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh có tác dụng thúc đẩy các quan hệ đó phát triển toàn diện, vững chắc, và hiệu quả hơn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong chuyến đi này, đứng ở cương vị mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho Liên Xô, Trung Quốc hiểu rõ hơn thực chất của cách mạng Việt Nam và sự uyển chuyển của đường lối chiến lược và sách lược của ĐCS Đông Dương trong tiến trình Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp, góp phần làm bạn bè quốc tế nhận thức rõ hơn về cách mạng Việt Nam. Nhờ đó đã dấy lên một phong trào ủng hộ cách mạng Việt Nam ngày càng lan rộng, đưa nước ta lên vị thế mới trên trường quốc tế. Sự ủng hộ của các nước trong phe XHCN, đặc biệt là viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc, có ý nghĩa tinh thần và vật chất to lớn đối với cuộc kháng chiến chống Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: &quot;... mấy năm kháng chiến đã đưa lại cho nước ta một cuộc <i style="">thắng lợi to nhất trong lịch sử Việt Nam</i>, tức là hai nước lớn nhất trên thế giới - Liên Xô và Trung Quốc dân chủ, và các nước dân chủ mới đã thừa nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một nước ngang hàng trong đại gia đình dân chủ thế giới...</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chắc rằng cuộc thắng lợi chính trị ấy sẽ là <i style="">cái đà cho những thắng lợi quân sự sau này</i>”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chuyến đi của Người thể hiện đường lối đối ngoại trước sau như một của Đảng ta, phản ánh xu thế phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam. Bằng lộ trình Việt Bắc - Bắc Kinh - Mátxcơva và tài ngoại giao xuất chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thiết lập được mối quan hệ tay ba Việt – Xô - Trung, một mối quan hệ chiến lược, có ảnh hưởng to lớn và thường xuyên đến cách mạng Việt Nam trong nhiều thập kỷ sau đó.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chuyến đi này cũng chứng tỏ, trong quan hệ quốc tế, việc đi thăm chính thức, không chính thức, thăm cá nhân hay tiếp xúc bí mật... là việc thường thấy trong hoạt động ngoại giao. Song ở mỗi thời đoạn lịch sử cụ thể, việc lựa chọn phương án sao cho hoạt động ngoại giao đạt được hiệu quả cao nhất, thực chất là vấn đề có tính nghệ thuật. Mặc dù đây là chuyến đi ngoại giao không chính thức, song Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi vào lịch sử quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước ta một mẫu mực tuyệt vời về việc chủ động lựa chọn giải pháp và việc phối hợp các hoạt động trong công tác ngoại giao.</span></p>
<p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chúng tôi hy vọng cùng với thời gian và sự xuất hiện của những tư liệu mới, nhất là tư liệu từ các cơ quan lưu trữ của Trung Quốc và Nga, lưu trữ Quốc tế cộng sản, những chi tiết về chuyến di của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ dược bổ sung phong phú thêm.</span></p>
</span></p>
<p> </p>
<p><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn Lịch sử đảng. – 1996. – Số 3. – Tr. 65-67.</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 8:20 SA</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.022</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 01:21:56 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=16</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chủ tịch Hồ Chí Minh với ngày toàn quốc kháng chiến</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=38</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassD1AADC788D1E4FF1995DC638F6D907D0><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử Thứ trưởng ngoại giao Hoàng Minh Giám đến gặp trao tận tay cho Xanhtơni một bức thư ngắn, nội dung tỏ ý rất đáng tiếc về tình hình đã trở nên quá xấu và đề nghị: ''Trong khi chờ đợi quyết định của Pa-ri, tôi mong rằng ông sẽ cùng ông Hoàng Minh Giám tìm một giải pháp để cải thiện bầu không khí hiện tại,<sup>(1)</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nhưng Xanhtơni đã từ chối không tiếp và hẹn đến hôm sau mới nhận thư. Như vậy, mọi nỗ lực của ta nhằm duy trì hoà bình đã bị kẻ thù bác bỏ. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chủ toạ phiên họp bất thường của Thường vụ Trung ương Đảng được bắt đầu từ ngày 18/12/1946. Hội nghị đã quyết định phát dộng cuộc kháng chiến toàn quốc vào lúc 20 giờ ngày 19/12/1946.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sau khi Bộ trưởng Bộ quốc phòng Võ Nguyên Giáp trao mật lệnh cho các mặt trận về ngày giờ cuộc giao chiến trong toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết <b><i>Lời Kêu gọi toàn quốc kháng chiến</i></b><i> </i>tại gác 2 ngôi nhà của ông Nguyễn Văn Dương làng Vạn Phúc (Hà Đông).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:34.1pt;margin:0cm 0cm 6pt 1.9pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Đúng 20 giờ ngày 19/12/1946, tiếng súng kháng chiến toàn quốc vang rền, bắt đầu từ mặt trận Hà Nội, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được truyền thanh khắp cả nước. Đây là một lời hịch cứu nước kết tinh ý chí sắt đá và trí tuệ sáng suốt của Hồ Chí Minh và của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc ta quyết tâm đứng lên chiến đấu vì độc lập của dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Văn kiện lịch sử quan trọng này chỉ có 205 chữ, song nó đã phác thảo ra những nét cơ bản về đường lối của kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta là: toàn dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến và dựa vào sức mình là chính.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:32.2pt;margin:0cm 0cm 6pt 3.8pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ngày Toàn quốc kháng chiến là một ngày lịch sử, đánh một dấu mốc son chói lọi trên con đường đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc ta trên 2 phương diện:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:32.2pt;margin:0cm 0cm 6pt 3.8pt"><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Một là, </span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">quyết định toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh và Đảng ta, một quyết định đúng đắn vốn là kết quả của một thời kỳ Người và Đảng ta sáng suốt chèo lái đưa con thuyền cách mạng vượt qua những thử thách ghê gớm nhất.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:32.2pt;margin:0cm 0cm 6pt 3.8pt"><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"><span style=""> </span>Hai là, </span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Quyết định <span style=""> </span>lịch sử này mở ra một thời kỳ kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài đánh bại đế quốc Pháp, mở<i> </i>ra thời kỳ sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:32.2pt;margin:0cm 0cm 6pt 3.8pt"><b><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">2.</span></b><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"> Sau Cách mạng tháng Tám (1945), chính quyền Việt Nam dân chủ Cộng hoà ra đời là chính quyền cách mạng đầu tiên của khu vực Đông Nam Châu Á. Nhưng chính quyền cách mạng non trẻ đứng trước rất nhiều khó khăn, thách thức. Về kinh tế, trận đói năm Ất Dậu (1945) đã giết hại hơn 2 triệu người, nền tài chính đất nước kiệt quệ. Về mặt văn hoá, đa số nhân dân ta rơi vào tình trạng mù chữ do hậu quả của chính sách ngu đần của thực dân Pháp đã duy trì trong suốt quá trình thống trị đất nước ta, làm<i> </i>giảm sức mạnh của một dân tộc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:34.1pt;margin:0cm 0cm 6pt 1.9pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sự tồn tại của chính quyền cách mạng và nền độc lập của dân tộc bị đe doạ do sự trỗi dạy mạnh mẽ của nhiều lực lượng phản động trong nước và sự bao vây của các lực lượng quân đội nước ngoài. Từ vĩ tuyến 16 ra Bắc, với danh nghĩa và quân đồng minh đến giải giáp quân đội Nhật, 20 quân Tưởng ô hợp đã tràn vào nước ta với mục tiêu: ''diệt Cộng, cầm Hồ''. Từ vĩ tuyến 16 vào Nam, quân Anh tràn vào, đi theo quân Anh là một đại đội lính Pháp và ngay trong ngày 23/9/1945, quân Pháp đã nổ súng tấn công và xâm lược miền Nam nước ta. Đằng sau những hành động lấn tới đó của các lực lượng nước ngoài vào nước ta đều có sự yểm trợ của Mỹ. Các lực lượng phản động trong và ngoài nước xuất hiện và đến nước ta với nhiều danh nghĩa khác nhau nhưng chúng có cùng chung một mục đích là tiêu diệt chính quyền Việt Nam dân chủ Cộng hoà và nền độc lập dân tộc mà ta mới giành được. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:33.15pt;margin:0cm 0cm 6pt 2.85pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trước tình thế đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng ta đã sáng suốt, chủ động lựa chọn những đối sách đúng đắn nhằm giải quyết kịp thời, có hiệu quả những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp nhất trong tình thế vận nước đang ở thế ''ngàn cân treo sợi tóc''. Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc đã được coi là nhiệm vụ có tính chiến lược của cách mạng nước ta trong giai đoạn này.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:33.15pt;margin:0cm 0cm 6pt 2.85pt"><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Một là: Về kiên quốc, củng cố và xây dựng chế độ mới.</span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo Đảng ta xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng. Tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội. Một cuộc Tổng tuyển cử thành công sớm nhất trong các cuộc cách mạng trên thế giới. Xây dựng và thông qua Hiến pháp, xác lập cơ sở pháp lý và những nguyên tắc dân chủ của chính quyền nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ tọa các phiên họp của Hội đồng chính phủ, ký hơn 200 Sắc lệnh về tổ chức bộ máy Nhà nước, các Bộ và Uỷ ban hành chính các cấp về tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Ngày 2/3/1946, thành lập Chính phủ liên hiệp Kháng chiến. Để diệt ''giặc đói'', Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào ''hũ gạo cứu đói, kêu gọi đồng bào ta sẻ cơm, nhường áo để giúp đỡ lẫn nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: ''lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo&quot;<sup>(2)</sup>, Hưởng ứng lời kêu gọi mang đầy nhiệt huyết cách mạng và thấm đậm chất nhân văn dó, cán bộ, nhân dân cả nước dã đồng lòng thực hiện, lá lánh đùm lá rách và tầng bước khắc phục những khó khăn trong đời sống nhân dân.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: ''một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Do đó, Người khẳng định, dốt cũng là một loại giặc và nhiệm vụ diệt ''giặc đến'' đã được đẩy mạnh thông qua phong trào bình dân học vụ triển khai trên phạm vi toàn quốc. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Hai là: Lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp ở miền Nam. Thực hiện sách lược hòa hoãn, nhân nhượng với Tưởng ở miền Bắc từ tháng 9-1945 đến tháng 3-1946.</span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Mặc dù luôn xác định kẻ thù chính của dân tộc ta là thực dân Pháp nhưng trong tình thế đầy khó khăn thử thách, để tránh tình trạng cùng một lúc dân tộc ta phải đối phó với nhiều kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đề ra nhiều đối sách phù hợp và sáng tạo. Trước tiên là hoà Tưởng đánh Pháp. Từ tháng 9/1945 đến tháng 3/1946, ta thi hành sách lược hoà hoãn với Tưởng và đẩy mạnh kháng chiến chống Pháp ở miền Nam. Đối sách ngoại giao ''hoà Tưởng'' được thực hiện trong giai đoạn này là: triệt để khai thác, lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ quân Tưởng, giữa Tưởng với Pháp, mặt khác nhân nhượng cho chúng một số yêu sách cục bộ, nhất là về kinh tế. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Để mở rộng Mặt trận đoàn kết thống nhất dân tộc cô lập bọn phản động và tay sai, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã phải quyết đoán mau chóng, phải dùng mọi phương pháp, dù là những phương pháp đau đớn nhất để cứu vãn tình thế. Đảng phải tuyên bố tự giải tán, rút vào hoạt động bí mật.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nhờ sách lược hoà hoãn đó, chúng ta đã làm thất bại âm mưu đen tối của bọn quân phiệt Tưởng và bè lũ tay sai, giữ vững được chính quyền cách mạng non trẻ. Tạm thời biến quân đội Tưởng thành hàng rào ngăn cách quân Pháp đang tìm cách tiến ra Bắc. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ba là: Tạm thời <span style=""> </span>hoà hoãn</span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"> <i>với thực dân Pháp, chuẩn bị kháng chiến toàn quốc, từ tháng 3/1946</i> <i>đến tháng 12/1946.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sau khi chiếm được Sài Gòn và đánh ra Nam Trung bộ, Thực dân Pháp nóng lòng đánh ra miền Bắc. Theo dõi quan hệ Pháp - Hoa, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ cả Pháp và Tưởng sẽ đi đến chấm dứt xung đột, chúng sẽ dàn xếp để Quân Pháp đổ bộ ra Bắc, nên đã đưa ra giải pháp nước Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do trong khối liên hiệp Pháp với việc Ký Hiệp định Sơ bộ Pháp Việt ngày 6/3/1946.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Việc này đạt được mục tiêu loại bớt kẻ thù. Thúc đẩy quân Tưởng sớm rời khỏi Việt Nam cùng lũ tay sai của chúng. Phía ta có thêm thời gian ngừng chiến và hoà bình mỏng manh để củng cố, xây dựng, phát triển lực lượng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thăm chính thức nước Pháp nhân dịp Hội nghị Phôngtennơbơlô, nhằm giương cao ngọn cờ độc lập và thiện chí hoà bình của Việt Nam. Tiếp tục thực hiện chủ trương &quot;Hoà để tiếng&quot;, Người đã ký Bản Tạm ước Việt - Pháp, ngày 14/9/1946.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:33.6pt;margin:0cm 0cm 6pt 2.4pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa chỉ đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ vừa chỉ đạo việc chuẩn bị mọi mặt để bước vào cuộc kháng chọn toàn quốc lâu dài. Phát triển lực lượng vũ trang. Xây dựng căn cứ địa Việt bắc. Công bố các bài viết, bài nói tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ thế giới, phổ biến chiến lược chiến thuật quân sự, xác định tư tưởng, phương hướng của cuộc kháng chiến. Củng cố chính quyền cách mạng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:33.6pt;margin:0cm 0cm 6pt 2.4pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Từ ngày 2/9/1945 đến 19/12/2006 bắt đầu ngày toàn quốc Kháng chiến, chỉ có 16 tháng với gần 500 ngày đêm; Theo Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử Tập 3 ghi lại, Hồ Chí Minh đã có trên 1300 hoạt động quan trọng chuẩn bị cho ngày Toàn quốc Kháng chiến.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:33.6pt;margin:0cm 0cm 6pt 2.4pt"><b><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">2.</span></b><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"> Phát động toàn quốc kháng chiến vào ngày 19/12/1946 đó là kết quả của sự lãnh đạo hết sức sáng suốt và tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta. Như Đại tướng Võ Nguyên Giáp danh giá có quyết định đó là do Hồ Chí Minh và Đảng ta: ''Đã bám sát tình hình thực tiễn, nắm vững thời cơ chọn đúng mặt trận chính, tính toán thời điểm nổ súng chính xác, biến bị động thành chủ động, tạo nên thế trận mới cho mặt trận Hà Nội có điều kiện giam chân quân địch hai tháng, để cả nước chuyển vào kháng chiến trường kỳ. Nổ súng phát động toàn quốc kháng chiến ngày 19/12 giữa Thủ đô là một trường hợp hiếm thấy trong lịch sử, thể hiện một<i> </i>nghệ thuật khởi đầu cuộc chiến tranh cách mạng thật đúng đắn, quả cảm, sáng tạo''<sup>(3)</sup>.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:34.6pt;margin:0cm 0cm 6pt 1.4pt"><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Lời kêu gọi Toàn quốc khái chiến, </span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">là kết tinh trực tiếp của Quyết định đúng đắn, sáng suốt đó. Trong lời kêu gọi lịch sử này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch rõ nguyên nhân của cuộc kháng chiến. Chỉ ra dã tâm xâm lược muốn đặt ách nô lệ lên dân ta một lần nữa của thực dân Pháp. Người nêu rõ lập trường của dân tộc trước sự lấn tới và dã tâm xâm<i> </i>lược của thực dân Pháp: ''Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa''<sup>(4)</sup>.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Người đã nêu cao tinh thần yêu nước, quật khởi của dân tộc ta, quyết liệt hành cuộc kháng chiến chính nghĩa để dành độc lập tự đo: ''Không chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ...</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ dân quân!</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước''<sup>(1)</sup>.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Người đã phát động cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và chỉ rõ phải đánh địch bằng mọi lực lượng, mọi quy mô, mọi cách đánh bằng mọi thứ vũ khí, trang bị. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">''Hỡi đồng bào!</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, <span style=""> </span>người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp cứu tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”<sup>(6)</sup>.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Với niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân, sức mạnh của một dân tộc có truyền thống chống xâm lăng anh hùng, bất khuất, lại có đường lối kháng chiến đúng đắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">''Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta&quot;<sup>(3)</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy, Lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cổ vũ cả dân tộc ta quyết tâm một lòng một dạ đứng lên đánh quân xâm lược. Tinh thần quyết chiến quyết thắng của ngày Toàn quốc kháng chiến đã liên tục được phát huy trong hơn ba ngàn ngày kháng chiến, chính là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến thắng lợi Điện biên lịch sử huy hoàng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><b><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Bài học và ý nghĩa lịch sử của ngày Toàn quốc kháng chiến với hôm nay</span></b><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 6pt"><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Một là: Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã quyết định thời điểm phát động cuộc kháng <span style=""> </span>chiến toàn quốc đúng lúc, đúng thời cơ.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Khi không còn đường nào khác. Khi đã không còn một chút hy vọng nào cứu vãn hoà bình do dã tâm xâm lược và sự ngoan cố của kẻ thù đế quốc thì phải chủ động vùng lên chống lại chúng. Muốn vậy, phải luôn luôn tranh thủ thời gian, chủ động chuẩn bị lực lượng về mọi mặt, luôn luôn sẵn sàng và khi đã hạ quyết tâm kháng chiến thì phải chủ động và kiên quyết không ngừng thế tấn công kẻ thù xâm lược.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Hai là: <span style=""> </span>khẳng định quyết tâm sắt đá bảo vệ độc lập, tự do, giải phóng dân tộc và những mục tiêu cơ bản của cách mạng nước ta, “Dĩ bất biến ứng vạn biến”.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:32.65pt;margin:0cm 0cm 6pt 3.35pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Kiên trì kháng chiến không nao núng trước sức mạnh và mọi sự uy hiếp của kẻ thù. Nêu cao ngọn cờ chủ nghĩa yêu nước, tiếp nói và phát huy truyền thống kiên cường chống ngoại xâm của dân tộc Phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc và tinh thần yêu nước của nhân dân ta.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:32.65pt;margin:0cm 0cm 6pt 3.35pt"><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ba là: sớm hoạch định đường lối kháng chiến và kiến quốc đứng đắn, sáng tạo.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:32.65pt;margin:0cm 0cm 6pt 3.35pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Để có quyết định Kháng chiến toàn quốc kịp thời đúng lúc, thì trước đó, từ ngày 5/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra chỉ thị “Công việc khẩn cấp bây giờ” nêu rõ chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc và đường lối Trường kỳ kháng chiến. Ngày 12/12/1946, một tuần trước ngày Toàn quốc kháng chiến, Thường vụ Trung ương Đảng ta dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra bản chỉ thị ''Toàn dân kháng chiến&quot;. Trong đó, đã nêu ra mục đích cuộc Trường kỳ kháng chiến của dân tộc ta. Nêu rõ: Tính chất, Chính sách, Cách đánh, Chương trình, kháng chiến, Cơ quan chỉ đạo kháng chiến, Những điều răn trong khi kháng chiến, Các khẩu hiệu chỉ đạo hành động trong kháng chiến...</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:34.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 1.2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Đường lối kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã khơi dậy và phát huy đầy đủ sức mạnh của dân tộc, khai thác động viên được sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc của dân tộc ta.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:34.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 1.2pt"><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Bốn là: Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã sáng tạo một phương thức tiến hành chiến tranh cách mạng – chiến tranh toàn dân.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:34.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 1.2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Với khoa học, nghệ thuật quân sự độc đáo tổ chức được toàn dân kháng chiến, cả nước đánh giặc, làm giảm hiệu lực hoặc vô hiệu hoá mặt mạnh và sở trường tác chiến của đối phương là thực dân Pháp. Chúng có một đội quân xâm lược nhà nghề với các phương tiện chiến tranh hiện đại hơn hẳn lực lượng võ trang của chúng ta, chúng muốn đánh nhanh thắng nhanh nhưng cuối cùng đã bị thất bại thảm hại.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.55pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.45pt"><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Hôm nay, </span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">nghiên cứu, học tập, ôn lại những hoạt động quan trọng, đúng đắn, sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí minh với Ngày toàn quốc kháng chiến, thật sự là một việc làm<i> </i>cần thiết và có nhiều ý nghĩa về lý luận và thực tiễn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.55pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.45pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chúng ta thêm tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng ta. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.55pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.45pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ôn cố tri tân, chúng ta thêm kiên trì sự nghiệp đổi mới với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tin tưởng và tự hào vì thực tiễn lịch sử 60 năm qua chứng tỏ rằng nhân dân ta có một lòng yêu nước nồng nàn. Nhân dân ta rất anh hùng, có Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng và đường lối đúng đắn của Đảng thì khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Sự nghiệp cách mạng, đổi mới nhất định sẽ thành công.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.55pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.45pt"><strong><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nguồn </span></strong><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"><strong>Giáo dục lý luận. – 2006. – Số 12. – Tr. 22-27</strong></span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 2:05 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> 1. Sáng sớm ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận được bức tối hậu thư thứ 3 của quân Pháp đòi tước vũ khí tự vệ Hà Nội, đòi ta phải đình chỉ các hoạt động chuẩn bị kháng chiến. Nếu trong 24 giờ, những yêu cầu trên không được thực hiện, quân Pháp sẽ hành động.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.224</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 07:08:42 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=38</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=40</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass538A4B15801D403187B7717F928EA373><p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, trên vũ đài chính trị đã xuất hiện nhiều giai cấp, lực lượng đứng ra “thử sức&quot; giải quyết hai mâu thuẫn nêu trên, song kết cục không thành công. Sự thất bại của phong trào Cần Vương vào cuối thế kỷ XIX chứng to ngọn cờ phong kiến không đủ sức tập hợp quần chúng thực hiện mục tiêu giai phóng dân tộc. Thất bại của khởi nghĩa Yên Thế và các phong trào yêu nước tiểu tư sản đã minh chứng rõ thêm nông dân và tiểu tư sản không thể lãnh đạo được cách mạng vì không có hệ tư tưởng riêng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đầu thế kỷ XX, nhiều phong trào yêu nước theo lập trường giai cấp tư sản nổi lên, tiêu biểu là phong trào cải cách của Phan Chu Trinh, phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, hoạt động của Quốc dân đảng, đã thu hút đông đảo quần chúng tham gia, song kết cục cũng không thành công. Sau này lãnh tụ Hồ Chí Minh đã đánh giá chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải cách khác nào &quot;xin giặc rủ lòng thương&quot;; chủ trương cầu viện người Nhật Bản giúp Việt Nam đánh Pháp của cụ Phan Bội Châu khác nào &quot;đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Điều đáng chú ý là ở Việt Nam giai cấp tư sản chưa bao giờ lãnh đạo cách mạng, các phong trào yêu nước theo lập trường tư sản lại do các trí thức, tiểu tư sản tiếp nhận tư tưởng tư sản từ bên ngoài mà phát động nên. Do đó, ngay từ đầu các phong trào cải cách có người chủ trương bạo động, người trông chờ nước này, người trông chờ nước khác, không thấy được sức mạnh nội tại của dân tộc Việt Nam. Hạn chế ấy cũng là tất yếu khi tư sản dân tộc Việt Nam với thế lực kinh tế nhỏ bé, tinh thần bạc nhược, không đủ sức mạnh và bản lĩnh làm hậu thuẫn cho cuộc cách mạng theo lập trường giai cấp của nó. Sự thất bại của khuynh hướng cứu nước theo lập trường giai cấp tư sản chứng tỏ hệ tư tưởng tư sản không đủ sức tập hợp quần chúng làm cho cuộc khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo cách mạng ở Việt Nam thêm sâu sắc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lịch sử chỉ còn trông chờ vào một giai cấp cách mạng đang lên: giai cấp công nhân. Nhưng công nhân Việt Nam đầu thế kỷ XX chỉ mới có các yếu tố “cần”, còn thiếu các yếu tố “đủ”, để vươn lên trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng - tức là còn thiếu chủ nghĩa Mác- Lênin và đội tiên phong của nó dẫn đường. Điều đó càng nói lên tính chất<span style="">     </span>khủng hoảng nghiêm trọng về đường lối và giai cấp lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX, như lãnh tụ Hồ Chí Minh sau này diễn đạt bằng hình ảnh: cách mạng Việt Nam ở trong đêm tối tưởng chừng như không có đường ra. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong bối canh đó, năm 1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành đi ra nước ngoài tìm đường cứu nuớc. Trải qua một quá trình bôn ba khắp năm châu, bốn bể, hoà mình trong cuộc sống của các tầng lớp lao khổ, Người từng bước nhận thức rõ tình hữu ái giai cấp và tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc bị áp bức. Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra <i style="">Hội những người Việt Nam yêu nước</i> để tập hợp Việt kiều yêu nước ở Pháp. Năm 1918, Nguyễn Ái Quốc tham gia đảng xã hội Pháp, hoạt động trong phong trào công nhân Pháp, tìm hiểu những kinh nghiệm của cách mạng Pháp, tranh thủ sự đồng tình của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp đối với cuộc đấu tranh yêu nước của Việt Nam và tìm hiểu Cách mạng tháng Mười Nga. Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được bản <i style="">“Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa</i>” của Lênin. <i style="">&quot;Sơ thảo…”</i> đã vạch ra chiến lược và sách lược cho các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh giải phóng. Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy ở đó con đường cứu nước đúng đắn - con đường cứu nước theo lập trường giai cấp vô sản. Cuối năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp và tán thành đường lối quốc tế III, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đến với chủ nghĩa Mác-Lênin là đến với cách làm chính trị hiện đại. Tức là muốn làm cách mạng, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc thì phải có sự lãnh đạo của một chính đảng vô sản được vũ trang bởi lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ năm 1921, Người tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin về nước, chuẩn bị mọi điều kiện cho việc thành lập một chính đảng vô sản ở Việt Nam. Từ 1921-1929, Nguyễn Ái Quốc tiến hành nhiều hoạt động kiên trì, bền bỉ, gian khổ nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào công nhân, nông dân và nhân dân lao động, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho việc thành lập Đảng. Năm 1921, ở Pari, Người sáng lập <i style="">Hội liên hiệp thuộc địa</i>, nhằm tập hợp các lực lượng chống đế quốc trong các nước thuộc địa của Pháp. Người ra báo <i style="">Người cùng khổ</i> và dành nhiều thời gian viết báo, chuyển về trong nước tố cáo ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Pháp, vạch rõ cho nhân dân Việt Nam thấy rõ nguyên nhân nỗi khổ cực và con đường giải thoát nỗi khổ ấy là tiến hành cách mạng tự giải phóng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc sang Liên Xô, hoạt động trong các tổ chức quốc tế viết nhiều bài báo vừa tố cáo ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, vừa truyền bá chủ nghĩa Mác-lênin, xây dựng những luận điểm cơ bản về cách mạng giải phóng dân tộc ở Việc Nam. Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về đến Quảng Châu (Trung Quốc) trong phái đoàn Quốc tế cộng sản. Tháng 6-1925, lập <i style="">Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên</i> (gọi tắt là tổ chức Thanh niên), ra báo Thanh niên và mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ. Trong các tác phẩm, bài báo và các bài giảng của<span style="">  </span>mình, nhất là trong cuốn <i style="">Bản án chế độ thực dân Pháp</i> và cuốn <i style="">Đường cách mệnh</i>, Nguyễn Ái Quốc đã<span style="">  </span>kết hợp việc truyền bá chủ nghĩa Mác-lênin với việc trình bày những luận điểm cơ bản làm cơ sở hình thành đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau khi được vũ trang lý luận chủ nghĩa Mác-lênin các hội viên Thanh niên (và cả Tân Việt cách mạng đảng gọi tắt là Tân Việt) được Nguyễn Ái Quốc đưa vào nhà máy, hầm mỏ hoạt động (gọi là phong vào &quot;vô sản hoá”). Qua phong trào này, một mặt để truyền bá chủ nghĩa Mác-lênin sâu rộng trong công nhân, mặt khác giúp những thanh niên giàu nhiệt huyết, yêu nước trong tổ chức Thanh niên và Tân Việt trở thành những người vô sản thực thụ. Nhờ được tiếp thu có hệ thống chủ nghĩa Mác-lênin, phong trào công nhân nhanh chóng chuyển từ tự phát sang tự giác. Trong những năm 1927-1929 đã xuất hiện nhiều cuộc đấu tranh thể hiện tính chất chính trị rõ nét. Phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ đã cuốn hút phong trào nông dân, tiểu tư sản đi theo quỹ đạo của nó. Qua nhận thức lý luận và thực tiễn đấu tranh, những người Việt Nam yêu nước chân chính nhận thấy chỉ có đi theo ngọn cờ chủ nghĩa cộng sản mới có thế giải phóng được dân tộc và giải phóng giai cấp, từng bước chuyển từ <i style="">lập trường quốc gia sang khuynh hướng mác xít, rồi từ khuynh hướng mác xít chuyển sang lập trường cộng sản.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đứng trước sự phát triển của phong trào cách mạng, các hội viên cấp tiến trong Thanh niên nhận thấy rằng, một tổ chức mang tính quốc gia không để đáp ứng được yêu cầu của quần chúng, mà phải thiết lập một tổ chức cộng sản. Chi bộ cộng sản đầu tiên ra đời tại Hà Nội vào tháng 3-1929 từ sự chuyển biến nhận thức nêu trên. Đến tháng 5-1929, tại : Đại hội của tổ chức Thanh niên ở Hương Cảng, các đại biểu Bắc kỳ đã nêu yêu cầu thành lập Đảng cộng sản, nhưng không được nhất trí trong toàn Hội, nên bỏ về thành lập Đông Dương cộng sản Đảng vào tháng 6-1929 ở Bắc kỳ. Đông Dương cộng sản Đảng ra đời đã đặt vô chức Thanh niên trước nguy cơ bị mất dần hội viên và quần chúng, do không còn sức hấp dẫn. Vì vậy, tháng 7-1929, những hội viên còn trong Thanh niên quyết định thành lập An Nam cộng sản Đảng ở Nam kỳ. Tiếp đó, tháng 9-1929, các đảng viên của Tân Việt ra “Tuyên đạt” tuyên bố thành lập tổ chức cộng sản và tháng 1-1930 thì Đông Dương cộng sản liên đoàn chính thức ra đời.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Như<span style="">  </span>vậy, đến đầu 1930, trên dải đất Việt Nam đã có 3 tổ chức cộng sản, nhưng lại tranh giành quần chúng, công kích nhau, có nguy cơ làm tổn hại đến phong trào cách mạng đang lên. Một lần nữa, lịch sử lại đặt lên vai lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trách nhiệm thống nhất các tổ chức cộng sản. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản từ 3 - 2 đến 7-2- 1930 do Người chủ trì đã làm nhiệm vụ đó Hội nghị đã thông qua <i style="">Chính cương vắn tắt</i>, <i style="">Sách lược vắn tắt</i>, <i style="">Điều lệ vắn tắt</i>, <i style="">Lời kêu gọi</i>... do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, được xem là Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Cương lĩnh đã vạch ra những vấn đề chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, từ tính chất, mục đích, nhiệm vụ, phương pháp, lực lượng, và trò lãnh đạo mối liên hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới...</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cương lĩnh khẳng định, Đảng cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân - là lực lượng có sứ mệnh lãnh đạo nhân dân làm &quot;tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng&quot; để &quot;đi tới xã hội cộng sản&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đảng ta ra đời xuất phát từ đòi hỏi khách quan của lịch sử dân tộc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Sở dĩ Đảng nắm được quyền lãnh đạo cách mạng là nhờ đã nắm bắt được xu thế của dân tộc và thời đại, gắn giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, đề ra được phương pháp cách mạng thích hợp, đặt cách mạng Việt Nam trong trào lưu chung của cách mạng thế giới.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Càng lùi xa về thời gian càng thấy rõ vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước, đưa phong trào công nhân chuyển từ tự phát sang tự giác, đưa phong trào yêu nước dần chuyển sang khuynh hướng mác xít, rồi từ khuynh hưởng mác xít chuyển sang lập trường cộng sản. Hệ quả cuối cùng là Đảng cộng sản Việt Nam ra đời trên cơ sở hội tụ, kết hợp đầy đủ cả 3 yếu tố chủ nghĩa Mác-lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chính là tạo ra các tiền đề cho 3 yếu tố đó kết hợp? đan xen, quyện chặt nhau một cách lôgíc, dẫn tới sự ra đời 3 tổ chức cộng sản. Và cuối cùng với uy tín của mình, Người đã thống nhất các tổ chức cộng sản thành lập Đảng cộng sản Việt Nam vào 3-2-1930.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Điều đó cũng nói lên rằng, Đảng cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời chẳng những đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, mà còn đấu tranh cho lợi ích chân chính của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Chính vì lẽ đó, lịch sử đã đặt lên vai Đảng cộng sản Việt Nam sứ mệnh duy nhất lãnh đạo cách mạng nước ta và lịch sử thế kỷ XX đã kiểm chứng sự lựa chọn ấy: các tầng lớp nhân dân lao động, những người có lương tri, có tinh thần yêu nước chân chính đều quy tụ xung quanh Đảng làm nên sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước quá độ lên CNXH. Hôm nay, Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục sự nghiệp mà lịch sử đã uỷ thác: lãnh đạo nhân dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền dân tộc và xây dựng thành công CNXH đưa đất nước phát triển đi tới mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"> </p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Giáo dục lý luận. - 2011. – Số xuân Tân Tý.- Tr. 5-8.</span></span></p>
<p> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 2:10 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Năm 1858, Thực dân Pháp xâm lược nước ta, thi hành chính sách thống trị tàn bạo về chính trị, kinh tế, văn hoá, làm cho xã hội Việt Nam biến đổi sâu sắc: từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Xã hội Việt Nam nổi lên hai mâu thuẫn cơ bản: một là, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược; hai là, mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, trước hết là giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến. Yêu cầu lịch sử đặt ra là phải giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản đó.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.542</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 07:15:16 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=40</guid>
    </item>
    <item>
      <title>100 năm nhớ người đi tìm đường cứu nước</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=58</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass3F4C1B1A816247A6A8BAC422A4711B0B><p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">NGƯỜI ANH HÙNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, NHÀ VĂN HOÁ LỚN</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">&quot;Chỉ có ít nhân vật lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại khi còn sống và rõ ràng cụ Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho tổ quốc và nhân dân bị đô hộ mà còn là một nhà hiền triết vĩ đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này.&quot;</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">(Trích phát biểu của TS Ahmed - Giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong kỳ họp Đại Hội đồng UNESCO tại Paris 11-1987, công nhận Hồ Chí Minh là &quot;Người anh cùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa lớn&quot;)</span></b><b style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">L</span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">ịch sử Việt Nam, nhân dân Việt Nam luôn luôn ghi nhớ ngày trọng đại ấy, ngày mà người thanh niên </span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">N</span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">guyễn Tất Thành khi mới 21 tuổi bước chân xuống con tàu Am</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">ir</span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">al Latouche Trésvi</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">ll</span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">e trên Bến Nhà Rồng để đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Hành trình ấy kéo dài đến 30 năm gian khổ, qua nhiều nước, với nhiều hoạt động sôi nổi của một nhà cách mạng dấn thân, tìm cho được con đường để đưa dân tộc Việt Nam ra khỏi ách nô lệ, để ngày 8-2-1941 Bác Hồ đặt chân đến Pắc Bó (Cao Bằng) trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, bắt đầu một cuộc trường chính mới của cả dân tộc. Cuộc trường chinh này kéo dài thêm gần 35 năm nữa. Trong lịch sử dân tộc ta có vị lãnh tụ nào có cuộc hành trình, cuộc đấu tranh dài lâu và thành công vang dội như Hồ Chí Minh, làm nên một thời đại Hồ Chí Minh trong lịch sử dân tộc.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">5-6-</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">1</span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">911 là ngày lịch sử. Là nguồn cảm hứng để thi sĩ Chế Lan Viên viết nên bài thơ nổi tiếng <i style="">Người đi tìm hình của nước</i>: <i style="">Đêm mơ nước ngày thấy hình của nước/ Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà/ Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì tổ quốc/ Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa...</i></span><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">30 năm ấy, hình bóng của đất nước luôn trong</span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">tâm</span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">t</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">rí </span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">người.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhớ lại lịch sử, bối cảnh khi Bác Hồ quyết định bước chân lên tàu Trésville, đất nước ta chìm trong tang thương khi mà triều đình nhà Nguyễn đang ở thời kỳ suy vong bạc nhược nhất. Những cuộc nổi dậy kháng chiến hưởng ứng lời kêu gọi Cần Vương của vua Hàm Nghi (1885) như của Phan Định Phùng, Hoàng Hoa Thám... cũng đang ở thời kỳ thoái trào. Phong trào Đông Du, Duy Tân của các nhà chí sĩ yêu nước tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh tuy có những đóng góp nhất định trong việc nâng cao dân trí, thổi lên ngọn lửa yêu nước của dân tộc nhưng đó chỉ là những phong trào dễ bị dập tắt từ chính quyền thực dân đang rất quyết tâm khai thác thuộc địa. Trong bối cảnh lịch sử sau chiến tranh thế giới lần thứ 1, cục diện thế giới có những thay đổi căn bản và Người đã thấy điều đó và đi tìm con đường riêng của mình hòng dẫn dắt dân tộc ra khỏi ách nô lệ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuộc tìm đường đó không đơn giản và đó cũng là cả quá anh nhận thức, nhận đường. Sau một thời gian ở Hoa Kỳ, Anh, cuối năm 1917 Người trở lại nước Pháp. Giai đoạn ở Pháp (1917-1921) là giai đoạn quan trọng, là thời kỳ hoạt động sôi nổi của người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc. 19-6-1919, thay mặt Hội Những người An Nam yêu nước, Nguyễn Tất Thành đã mang đến hội nghị hòa bình Versailles bản <i style="">Yêu sách của nhân dân An Nam</i> yêu cầu các nước đồng minh áp dụng các lý tưởng Tổng thống Wilson cho các lãnh thổ thuộc địa của Pháp ở Đông Nam Á Cuối cùng &quot;lý tưởng Willson&quot; cũng chỉ là ảo mộng với các nước thuộc địa. Chỉ đến khi Người đọc được <i style="">Luận cương</i> về các vấn đề <i style="">dân tộc và thuộc địa</i> của Lenin (7-1920) đã làm thay đổi nhận thức và lựa chọn được con đường cứu nước cho dân tộc. Người khẳng định: Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản. Người gia nhập quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sự kiện đó đánh dấu bước đường nhận thức và hành động của Người - từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa cộng sản. Từ khi đến với Lenin, đến với Cách mạng tháng Mười, Hồ Chí Minh như đã tìm được vũ khí tư tưởng để giải phóng dân tộc, để đến ngày 3-2-1930, một chính đảng của giai cấp vô sản ra đời, lãnh đạo toàn dân trong công cuộc giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Giai đoạn 1930-1945 là thời kỳ hoạt động rất khó khăn của Đảng và của lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhưng với vũ khí tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lenin, tinh thần yêu nước nồng nàn, Cách mạng Tháng Tám đã thành công. Người lựa chọn con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, con đường cách mạng vô sản, nhưng ngay từ đầu Hồ Chí Minh đã chỉ rõ cần phải vận dụng một cách sáng tạo phù hợp với cách mạng Việt Nam. Chính vì vậy Đảng ta đã lãnh đạo được toàn dân đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, xây dựng nên nước Việt Nam độc lập tự do như ngày hôm nay.</span></p>
<p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Quá trình cách mạng ấy đã làm nên một thời đại mang tên Hồ Chí Minh, làm vẻ vang cho lịch sử dân tộc “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bực, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành&quot;<span style="">  </span>ước vọng ấy của Bác Hồ là nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Minh.</span></p>
<p><strong><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đất Việt. – 2011. –Số Xuân Tân Mão. – Tr. 5</span></span></strong><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần IV: Thế giới viết về Bác</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 3:20 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Ngày 5-6-2011 sẽ đúng 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. Với 100 năm trôi qua, lịch sử VN đã có những sự thay đổi hết sức lớn lao, trở thành một quốc gia độc lập, có vị thế trên toàn cầu với tiền đồ sáng rạn. Tất cả đã bắt nuốn từ cái mốc lịch sử ngày 5-6-1911...</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 6.393</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần IV: Thế giới viết về Bác</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 08:21:22 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=58</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Thái Lan và Lào</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=32</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass088C83FE647C46D7AE1EA177129DEB26><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1927, sau khi đã hoàn thành việc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và tổ chức một số lớp học nhằm huấn luyện cho những thanh niên Việt Nam yêu nước về con đường giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã nghĩ đến việc rời Quảng Châu - Trung Quốc để trở về Thái Lan- nơi có nhiều Việt kiều sinh sống để truyền bá cách mạng. Giữa năm 1928, nhận được Chỉ thị của Quốc tế Cộng sản điều động về nhận công tác ở Đông Dương, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã từ giã nước Đức vào tháng 6 và đến Xiêm (Thái Lan) vào tháng 7 với thẻ nhập cảnh mang tên Nguyễn Lai. Người đi trên tàu biển chở khách và cập cảng tại Băng Cốc (thủ đô Thái Lan). Ở Thái Lan Người mang các tên Thầu Chín, Ông Thọ, Nam Sơn, đã đến Bản Đông huyện Phi Chít (miền Trung Thái Lan). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau một thời gian ngắn ở Phi Chít (mười lăm ngày), Người đã cùng với một vài người giúp việc đi bộ suốt hơn nửa tháng trời để đến tỉnh Uđon Thani, một tỉnh lớn của Thái Lan, cách Băng Cốc khoảng 600 km. Lấy tên là Thầu Chín, Người đến ga Noỏng Bùa, nơi có vài chục hộ gia đình Việt kiều sinh sống bằng nghề làm vườn. Người trồng ở đây một số cây dừa, cây xoài nên sau này bà con Việt kiều gọi đó là “Vườn xoài Bác Hồ”. Cách trung tâm thị xã Uđon Thani khoảng 12 km có làng Noỏng Ổn (huyện Mương), lúc đó rất hẻo lánh nên chỉ có 8 gia đình Việt kiều, không có người Thái. Cụ Đặng Thúc Hứa đã lập ra Trại Cưa, thu hút những thanh niên trai tráng nghèo (không nhà không ruộng, không tiền) tụ hợp lại sinh sống bằng nghề chặt, xẻ gỗ rừng. Trại Cưa cũng là nơi đón những thanh niên yêu nước từ Việt Nam sang. Ở Noỏng Bùa một thời gian ngắn, Người chuyển vào ở trong Trại Cưa. Ngôi nhà chính của Trại Cưa làm nơi nghỉ ngơi hội họp, còn nhiều lán trại ở ngay trong rừng để tiện cho việc đốn cây, xẻ gỗ ở Trại Cưa, cụ Hứa đã chú ý đào tạo, nâng cao trình độ chính trị cho họ, nhưng phải đến lúc Người tới thì việc ăn ở, học tập mới trở thành nền nếp<sup>2</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau đó Người đến Bản Mạy (làng mới) thuộc tỉnh Nakhon Phanom ở vùng Đông Bắc Thái Lan, cách thủ đô Băng Cốc hơn 700 km. Bản Mạy vốn là bản do những người gốc Việt đến Thái Lan làm ăn, sinh sống lập nên vào đầu thế kỷ XX. Họ chủ yếu là người gốc miền Trung Việt Nam, có học thức, chịu ảnh hưởng tư tưởng của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên nên khi dựng làng họ đã có ý thức xây dựng một cộng đồng Việt kiều có tinh thần dân tộc như xây dựng đền thờ Đức thánh Trần, lập Hội trại Cày, Hội Thân ái... Từ đó, bản Máy đã trở thành trạm liên lạc đón nhiều người Việt Nam sang Thái Lan, Nguyễn Ái Quốc ở Bản Mạy với bí danh Thầu Chín. Đến đây, ông Chín đã khuyên nhân dân xây dựng nhà Hợp tác để mọi người có thể sinh hoạt, tụ họp. Khu nhà Hợp tác được xây dựng khá khang trang, sạch sẽ, sân bếp, vườn cây... Nhờ đó, nơi đây đã trở thành điểm tụ họp thường xuyên của rất nhiều người Thái gốc Việt. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong thời gian ở đây, Người đã rất tích cực học tiếng Thái, động viên mọi người cùng học tiếng Thái để có thể hiểu được truyền thống, phong tục tập quán của người Thái, tiện cho việc giao tiếp, sinh hoạt. Ngoài ra, Người cần tổ chức các lớp học tiếng Việt cho trẻ em để các em không quên nguồn gốc của cha ông. Trong thời gian này Người cũng tham gia các buổi cúng tế của người Việt ở đền Đức thánh Trần và luôn nhắc nhở mọi người về tinh thần yêu nước, ý thức chống giặc ngoại xâm để bảo vệ dân tộc. Nhờ đó, tuy sống trên đất Thái nhưng những người gốc Việt nơi đây luôn đoàn kết, gắn bó khiến Bản Mạy trở thành một cộng đồng dân cư bền chặt ấm cúng. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một hoạt động tích cực của Người trong thời gian ở đây là khuyên mọi người phải biết tôn trọng phong tục, tập quán của người bản địa, đoàn kết và luôn nêu cao tinh thần tương trợ giúp đỡ những người nơi đây. Bởi vậy, về sau có nhiều người Thái đến Bản Mạy sinh sống khiến nơi đây trở thành cộng đồng dân cư chung của hai nước Việt Nam và Thái Lan. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngoài hai địa điểm chính đã nêu ở trên trong 16 tháng ở Thái Lan, Thầu Chín đã cùng một vài cán bộ cốt cán đi khắp các tỉnh có Việt kiều sinh sống ở Đông Bắc Thái Lan để tuyên truyền cách mạng. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Dựa vào các nguồn tư liệu lịch sử, khoa học và kết quả khảo sát thực tế, Bảo tàng Hồ Chí Minh đã đưa ra những cơ sở khoa học và thực tiễn về việc Nguyễn Ái Quốc đã từng đến Lào, cụ thể là hai địa điểm: thị xã Savẳnnakhệt và bản Xiêng Vang của tỉnh Khăm Muộn... Mục đích của Người là khảo sát tại chỗ tình hình Lào và tìm đường về Việt Nam. Thời gian tới Lào có lẽ là cuối năm 1928 và năm 1929 vì tháng 7-1928 Người mới tới Xiêm, cần có thời gian nghiên cứu, tìm hiểu, gặp gỡ kiều bào và cán bộ trước khi sang Lào. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Qua Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18 - 2 - 1930 (đoạn đã trích ở trên) cho thấy Người đã vượt qua biên giới Xiêm - Lào, vào đất Lào, tới biên giới Lào - Việt Nam, nhưng không qua được biên giới Lào - Việt Nam, nên phải quay trở lại. Địa bàn hoạt động của Nguyễn Ái Quốc tập trung chủ yếu ở các tỉnh Đông Bắc của Xiêm, song song với các tỉnh, thành phố của Lào là Viêng Chăn, Khăm Muộn và Savẳnnakhệt. Vào thời điểm đó, biên giới Lào - Xiêm còn lơi lỏng, vì nhân dân tả và hữu ngạn sông Mêkông vốn cùng một quốc gia, dân tộc, phần lớn đều là họ hàng thân thuộc của nhau, chỉ vì hiệp ước Pháp - Xiêm mà họ bị ly tán, phân cách, nên việc đi lại thăm thú nhau diễn ra hằng ngày, rất dễ dàng, ít khi cảnh sát hỏi đến giấy tờ tùy thân. Nguyễn Ái Quốc chọn Thái Lan không chỉ là nhiệm vụ “tuyên truyền cách mạng về trong nước từ phía Tây” mà còn là để làm “bàn đạp” trở về Việt Nam qua đường Lào, bởi nơi đây có hậu thuẫn của hơn một vạn Việt kiều đang làm ăn, sinh sống, đa phần họ là những người Việt Nam yêu nước, đang tạm thời phải lưu lạc bởi sự truy đuổi gắt gao của thực dân Pháp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thông qua các tư liệu lịch sử, lời kể nhân chứng khảo sát thực địa... các nhà khoa học Việt Nam và Lào đã thống nhất kết luận việc Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã từ Xiêm tới Lào để khảo sát, nghiên cứu tình hình, gặp gỡ cơ sở yêu nước Lào - Việt. Cuốn <i style="">Lịch sử Đảng Nhân dân Cách mạng Lào</i>, đã khẳng định “Khoảng cuối năm 1928, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã cải trang là thợ mộc từ Xiêm đi vào đất Lào, qua thị xã Pác Xê đi lên Savẳnnakhệt tới Xiêng Vang để nắm tình hình và đời sống của nhân dân và sau đó quay trở lại đất Xiêm...”<sup>3</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Và như vậy, Nguyễn Ái Quốc đã từng đến Lào ít nhất hai lần. Nơi Người đến là thị xã Savẳnnakhệt và bản Xiêng Vang thuộc tỉnh Khăm muộn<sup>4</sup>. Gần đây nhất, theo Công văn số 196, ngày 29-2-2009, của Đại sứ quán Việt Nam tại Lào gửi Bảo tàng Hồ Chí Minh, chuyển nội dung Công văn số 446/BQ ngày 24-4-2009 của Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản về việc Xây dựng khu tưởng niệm Bác Hồ tại Lào. Đây cũng là một trong những việc làm thiết thực để khẳng định Lào là một trong địa bàn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến góp phần làm rõ hơn vấn đề Hồ Chí Minh có đến Lào những năm 1928 - 1929 mà lâu nay giới nghiên cứu vẫn quan tâm.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chi Minh đã đi nhiều nơi, đến nhiều quốc gia, tuy nhiên tại mỗi nơi Người đến đều để lại những dấu ấn hết sức sâu đậm, để lại tình cảm tốt đẹp trong long nhân dân nước bạn. Mỗi khu di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh được dựng lên đều thể hiện tấm lòng kính yêu của người dân nước bạn đối với Người và từ đó củng cố thêm tình đoàn kết hữu nghị của Việt Nam với bạn bè quốc tế và đặc biệt là với các nước láng giềng. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">1. <i style="">Hồ Chí Minh Toàn tập</i>, CTQG, H, 1995, T.3 tr.12 </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">2. Năm 2003, bà con Việt kiều đã đóng góp tiền của, được sự đồng ý của chính quyền địa phương, Khu di tích đã được tiến hành khôi phục. Trên nền nhà cũ của Trại Cưa, ngôi nhà chính, nhà chứa thóc, cùng những đồ dừng mộc mạc (giường ngủ bàn ghế, chum vại đựng nước...), chuồng trại chăn nuôi gia cầm… được dựng lại bằng gỗ, tre, nứa giống như thời gian Bác hoạt động tại đây. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đặc biệt, phía sau khu nhà được trồng rất nhiều tre, tre xanh tốt um tùm, khiến ai nhìn vào cũng cảm thấy như đất Việt thân yêu và hình bóng Bác đang hiện hữu. Bên cạnh khu nhà chính, bà con Việt kiều đã dựng thêm một ngôi nhà Hội trường đa năng để đặt bàn thờ Người và trưng bày tóm tắt hoạt động của Người, trong đó đặt trang trọng tấm ảnh Bác với đôi mắt sáng và chòm râu bạc. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">3. <i style="">Lịch sử Đảng nhân dân Cách mạng Lào</i>, CTQG, H, 2005 , tr. 17 - 18 </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">4. Xem <i style="">Hồ Chí Minh Tiểu sử,</i> CTQG, H, 2008, tr. 72.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn </span></strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><b style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lịch sử Đảng. -2009. –Số 6. –Tr.20-22, 28.</span></b></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 10:50 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trước khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam và trở thành vị Chủ tịch nước đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Hồ Chí Minh đã có một thời gian dài bôn ba tìm đường cứu nước ở khắp năm châu, bốn biển. Những địa danh Người đến đã trở thành “địa chỉ đỏ” để chúng ta tìm hiểu, nghiên cứu về hành trình tìm đường cứu nước của Người. Trong những năm 1928 - 1929 Người đã đến Thái Lan, chủ yếu hoạt động ở hai tỉnh Nakhon Phanom, Uđon Thani và đã tìm đường về Việt Nam qua biên giới Lào - Việt nhưng không thành công. Trong bản Báo cáo gửi quốc tế Cộng sản (ngày 18-2-1930) có câu “Đã hai lần tôi cố gắng đi về An Nam, nhưng phải quay trở lại. Bọn mật thám và cảnh sát ở biên giới quá cẩn mật, đặc biệt là từ khi xảy ra vụ An Nam Quốc dân Đảng”1</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 5.036</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 03:54:03 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=32</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Những hoạt động quốc tế của Hồ Chí Minh trước năm 1930</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=28</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass98F421369AD5484A9711B5F7E65CA101><p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một biên khảo <i style="">Những hoạt động quốc tế của Hồ Chí Minh</i> cần thiết cho việc nghiên cứu về cuộc đời sự nghiệp cách mạng, về tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng của Người với thế giới; phản bác lại sự xuyên tạc của một số người, nhất là sự xuyên tạc hoạt động quốc tế của Hồ Chí Minh, đã diễn ra âm ỉ trong những năm gần đây, đặc biệt từ khi UNESCO quyết đinh tổ chức kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong phạm vi bài viết chúng tôi dựa vào một số sự kiện cơ bản để rút ra những nét khái quát về công lao của Hồ Chí Minh đối với dân tộc và nhân dân thế giới qua những hoạt động ở nước ngoài của Người.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước Hồ Chí Minh, nhiều nhà yêu nước Việt Nam đã ra nước ngoài, hoặc để lánh nạn, để cầu ngoại viện hay lập hợp, tổ chức lực lượng đấu tranh giải phóng dân tộc (GPDT). Song, Hồ Chí Minh là người đầu tiên ra đi để tìm con đường cứu nước mới, gắn cách mạng Việt Nam với CMTG. Đó là công lao đầu tiên của Hồ Chí Minh đối với nhân dân Việt Nam và nhiều dân tộc khác</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trải qua ít thời gian &quot;vô sản hóa&quot; (1911 – 1920) Hồ Chí Minh đã tự rèn luyện thành một người lao động, một công nhân thực sự và thành người cộng sản. Tuy không làm việc ở một nhà máy, công xưởng, hầm mở nào, song Hồ Chí Minh đã sống và hoạt động trong nhân dân lao động, ở môi trường công nhân (làm công trên tàu thủy cho hãng Sác giơ Rêuyni, lao động để kiểm sống ở Brucclin - Mỹ, ở Anh, tham gia công đoàn thủy thủ hải ngoai ở Anh, vào Đảng xã hội Pháp…). Vì vậy ở Người đã hình thành phẩm chất, tư tưởng, tâm lý xã hội của giai cấp công nhân.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đó là những điều kiện cơ bản, theo V.I. Lênin, để đứng trong hàng ngũ công nhân, và quan trọng hơn để đại diện cho quyền lợi của giai cấp công nhân</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những cuộc hành trình và thời gian sống ở nhiều nước thuộc địa, phụ thuộc, những nhận thức về đời sống và nguyện vọng của nhân dân lao động ở các nước mà Người đã tới là <i style="">cơ sở thực tiện</i> để Người đến với chủ nghĩa Lênin, CNCS một cách tự nguyện, tự giác. <i style="">Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa,</i> tác phẩm đầu tiên của V.I.Lênin mà Hồ Chí Minh đọc, sở dĩ gây ấn tượng mạnh mẽ, vì nó “như một ánh sáng kỳ diệu, nâng cao về chất tất cả những hiểu biết và tình cảm cách mạng mà Người hằng nung nấu”. Nội dung 12 điểm trong <i style="">Luận cương</i> của V.I. Lênin đáp ứng yêu cầu của nhân dân Việt Nam và các dân tộc bị áp bức lúc bấy giờ về &quot;quyền dân tộc bình đẳng,” về “quyền lợi của giai cấp bị áp bức, của người lao động, của người bị bóc lột&quot;, về &quot;thủ tiêu sự áp bức dân tộc và tình trạng bất bình đẳng”, về vai trò của Đảng, của giai cấp công nhân trong phong trào giải phóng dân tộc, về sự liên minh giữa giai cấp vô sản các nước để quốc và phong trào đấu tranh của nhân dân thuộc địa.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những quan điểm mà Lê nin nêu trong <i style="">Luận cương</i> được Hồ Chí Minh quán triệt, vận dụng một cách sáng tạo trong việc giải quyết đúng đắn những vấn đề về mối quan hệ giữa <i style="">dân tộc và giai cấp</i>, <i style="">giữa dân tộc và quốc tế</i>. Cơ sở lý luận cùng với kinh nghiệm thực tiễn đã hình thành ở Hồ Chí Minh những quan điểm có tác động mạnh mẽ đến sự thắng lợi của cách mạnh GPD nhiều nước, như quan điểm về sự đoàn kết trong mặt trận chung chống CNĐQ, mỗi dân tộc phải đấu tranh tự giải phóng bằng sức của mình, tùy hoàn cảnh của mỗi dân tộc mà tiến hành đầu tranh; về việc có giải quyết vấn đề giải phóng dân tộc mới đòi được quyền lợi của bộ phận, giai cấp. Cũng từ thực tiễn hoạt động ở nhiều nước và xuất phát từ luận điểm của Lênin trong <i style="">Luận cương</i>, Hồ Chí Minh đã có một luận điểm nổi tiếng là muốn đánh bại CNTB phải bắt đầu bằng việc giải phóng các thuộc địa và Người nhận rõ rằng nọc độc và sức sống của CNDQ đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc. Phải có sự thuần thục về lý luận và hiểu biết<span style="">  </span>thực tế các nước thuộc địa, về CNĐQ, Hồ Chí Minh mới có thể hình tượng hoá mối quan hệ giữa cách mạnh giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản ở chính quốc bằng &quot;hai cánh của con chim” nhằm tiêu diệt CNĐQ, “con đỉa hai vòi”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những hoạt động trong thực tiễn cách mạng ở nhiều nước giúp cho Hồ Chí Minh bổ sung &quot;sự thiếu hiểu biết”, thiếu kinh nghiệm&quot;, về &quot;hậu phương của chủ nghĩa đế quốc” mà Lênin đã nêu ra; làm cho nhiều ĐCS ở chính quốc hiểu rõ về thuộc địa. Hồ Chí Minh đã thực hiện được chỉ dẫn của Lênin với những người cộng sản: “khi dựa vào lý thuyết chung của chủ nghĩa cộng sản, dựa vào thực tiễn, các đồng chí cần phải vận dụng vào những điều kiện riêng không có ở các nước châu Âu, phải biết vận dụng lý thuyết và thực tiễn ầy vào những điều kiện mà nông dân là quần chúng chủ yếu, khi cần giải quyết nhiệm vụ đấu tranh không phải chống chủ nghĩa tư bản, mà chống những tàn dư trung thế kỷ”. Đây là cống hiến của Hồ Chí Minh đối với sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, xây dựng truyền thống đoàn kết giữa nhiều ĐCS. Trước hết là ĐCCS Pháp, với giai cấp công nhân và nhân dân thuộc địa, góp phần cho thắng lợi của phong trao CMTG</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong hoạt động cách mạng ở nhiều nước, do nhận thức sức mạnh đoàn kết quốc tế, kiên định mục tiêu CSCN. Hồ Chí Minh đã sáng lập và giữ vai trò chủ yếu trong các tổ chức quốc tế: <i style="">Hội liên hiệp thuộc địa</i> (1921), <i style="">Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức</i> (1925) và tờ báo <i style="">Le Paria</i> (1992). Ở đâu Người cũng hoạt động với tư cách một chiến sĩ quốc tế kiên cường, không phải chỉ trên lời nói mà bằng hành động cụ thể, có hiệu qủa. Ở Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc không chỉ hoạt động với trách nhiệm, cương vị của Ủy viên Bộ Phương Đông, mà còn với tấm lòng nhiệt thành của một cán bộ vận động nông dân, một chiến sĩ Hồng quân làm nhiệm vụ “ủy viên y tế kiêm ủy viên bích báo”. Nhân dân nhiều nước Đông Nam Á không quên công lao của Hồ Chí Minh trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và góp phần xây dựng các chính đảng cách mạng của giai cáp công nhân. Nhân dân Lào, Campuchia khắc sâu hình ảnh Hồ Chí Minh - người xây dựng tình đoàn kết chiến đấu của nhân dân Đông Dương và góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc của mỗi nước. Đặc biệt, nhân dân Lào ghi nhớ mãi chuyến đi của Hồ Chí Minh vào mùa thu năm 1928 từ Tháí Lan sang Pắcxế lên Xavanakhẹt, đến Xiêng Vang (phía nam tỉnh ly Thà Khẹt), để trực tiếp giúp đở cách mạng Lào.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Các dân tộc thuộc địa ở châu Á, châu Phi đều tìm thấy sự đồng tình ủng hộ của Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập và hình ảnh của mình trong nhiều tác phẩm của Người, như <i style="">Bản án chế độ thực dân Pháp</i> và nhiều bài viết khác. Đó là kết qủa của sự am hiểu sâu sắc, đúng đắn của Người về thưc tiễn cách mạng các nước này. Từ thực tế sinh động kết hợp với nhiều loại tài liệu, Nguyễn Ái Quốc đã đồng cảm với nỗi khổ của người dân thuộc địa, tố cáo mạnh mẽ tội ác của chủ nghĩa thực dân đế quốc đồng thời nêu được tinh thần bất khuất, sức sống mãnh liệt của những người bị áp bức vùng dậy đấu tranh. Nguyễn Ái Quốc tuân thủ chỉ dẫn của Các Mác, khi viết về cuộc sống của nhân dân Đức dưới ách thống trị hà khắc của họn phong kiến tư sản là &quot;cần phải làm cho ách áp bức hiện thực càng nặng nề hơn nữa, bằng cách gắn vào nó cái ý thức về ách áp bức; cần phải làm cho sự ô nhục càng ô nhục hơn nữa bằng cách công bố nó lên”. Qua những bài viết của mình, Nguyễn Ái Quốc đã làm cho nhân dân lao động, giai cấp công nhân thế giới cảm thấy mình bị đau khổ và nhận thức được sự đau khổ ấy; cảm thấy mình bị lăng nhục và nhận thức được sự nhục nhã, bởi vì nhấn mạnh sự đau khổ cũng như sự nhục nhã gấp hai lần sẽ làm tăng thêm sức mạnh trong cuộc đầu tranh tự giải phóng. Đây là nội dung quan trọng của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa nhân văn cộng sản, truyền thống dân tộc, tinh hoa nhân loại, kết hợp với hoạt động thực tiễn cách mạng của Người ở nhiều nước.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong nhiều năm sống ở nước ngoài, hoạt động trong phong trào GPDT, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Hồ Chí Minh bao giờ cũng hướng về Tổ quốc, thực hiện nhiệm vụ giành độc lập dân tộc trong nhiệm vụ chung của cách mạng thế giới. Ở Người, lòng yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính kết hợp nhuần nhuyễn giữa <i style="">dân tộc và giai cấp</i>, <i style="">dân tộc và quốc tế</i>. Trong nhận thức và hành động, Hồ Chí Minh kịch liệt lên án “chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi&quot;, &quot;chủ nghĩa quốc tế quá khích&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hoạt động ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức rõ ràng phải &quot;đem lịch sử cách mạng các nước làm gương cho chúng ta soi, đem phong trào thế giới nói cho đồng bào ta rõ...”. Khi tìm đường cứu nước, Người đã tìm hiểu Cách mạng tư sản Mỹ 1776, Cách mạng tư sản Pháp 1789, Cách mạng tháng Mười 1917. Liên hệ với Việt Nam, kết hợp nhận thức lý luận và thực tiễn, Người khẳng định rằng, không thể đi theo cách mạng Pháp, cũng như cách mạng Mỹ, nghĩa là &quot;cách mệnh không đến nơi&quot; mà “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Trong cuộc đầu tranh GPDT, kháng chiến chống xâm lược và xây dựng đất nước việc định hướng XHCN, Hồ Chí Minh học tập, vật dụng một cách sáng tạo kinh nghiệm của nhiều nước, đồng thời kiên quyết chống chủ nghĩa giáo điều và bệnh công thức.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hồ Chí Minh không quên làm cho nhân dân thế giới hiểu biết về nước Việt Nam - đã bị thực dân Pháp xóa tên trên bản đồ thế giới, đem những kinh nghiệm của dân tộc trong đấu tranh cách mạng góp phần vào kho tàng quí giá của nhân loại, xây dựng những nhịp cầu hữu nghị với mọi dân tộc trên thế giới. Trong những năm trước Cách mạng tháng Tám 1945, cũng như các hoạt động ngoại giao ở Pháp 1946, những chuyến thăm viếng, công tác sau năm 1954, Hồ Chí Minh bao giờ cũng giữ vững lập trường kiên định về độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội, xây đựng tình đoàn kết hữu nghị với nhân dân thế giới.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hoạt động quốc tế là một bộ phận quan trọng hữu cơ của cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh. Những hoạt động quốc tế của Người đã gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, thực hiện những nhiệm vụ cách mạng Việt Nam và góp phần vào cuộc đầu tranh chung của nhân dân thế giới. Trên cơ sở hoạt động thực tiễn ấy, cùng với những hoạt động trong nước, kết hợp với các quan điểm lý luận (của chủ nghĩa Mác -Lênin) đã hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới nói riêng. Không tìm hiểu sâu sắc, đúng đắn những hoạt động quốc tế của Hồ Chí Minh thì không thể hiểu hết được công lao to lớn của Ngươi với dân tộc và cách mạng thế giới, không hiểu được nội dung và giá trị tư tưởng của Người về mối quan hệ, tác động lẫn nhau giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, về những quan điểm của sự phát triển cách mạng thế giới, của xã hội loài người nói chung.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lịch sử đảng. – 1993. – Số 6. – Tr. 2-4.</span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 10:20 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trong gần 60 năm hoạt động cách mạng, từ khi ra đi tìm đường cứu nước (1911), Hồ Chí Minh đã có hơn một nửa thời gian sống và làm việc ở nước ngoài. Người đã đặt chân đến khoảng 30 nước (với số lần nhiều hơn). Những hoạt động quốc tế của Hồ Chí Minh luôn gắn liền với việc thực hiện mục tiêu cứu nước, đồng thời đóng góp tích cực vào phong trào cách mạng thé giới (CMTG).</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.388</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 03:25:40 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=28</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Hồ Chủ tịch trong mắt nhân sĩ, trí thức thế giới</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=57</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassBEF82853E1034EDB8A09169B5AA29A6C><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người đã làm được việc này nhờ sự hiểu biết sâu sắc và tôn trọng những đặc điểm văn hóa khác nhau. Người đã hoàn thành được nhiệm vụ này và trong việc làm và lời nói của Người, ta có thể nhìn thấy rõ hình ảnh, tư tưởng của nhà thơ, nhà văn, nhà nghệ sĩ dân ca, những người đem lại nguồn cảm xúc cho nhiều thế hệ nhân dân Việt Nam. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người đã được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này. - Tiến sĩ M.Amét - Giám đốc UNESCO Khu vực châu Á - Thái Bình Dương</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">... Có lẽ vì thế mà ở Hồ Chí Minh, lý luận không bao giờ trừu tượng, nó luôn luôn là một cách nhìn sâu sắc và cụ thể những con người và những vấn đề. Là một nhà chính trị có tầm cỡ, Người có khả năng phân biệt được cái gì đó có tính chất sống còn bắt buộc phải chiến đấu và cái gì có thể đàm phán, dù là đau đớn; điều đó đã tạo thành năng lực đứng vững trên đường lối chiến lược, đồng thời chuyển động giữa những sự cản trở cực kỳ to lớn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">... Đó là những lý do khiến tôi muốn đóng góp vào sự tôn kính, sự tưởng niệm nhà cách mạng vĩ đại đó và chắc chắn Người là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta, mà người ta có thể nói rằng: không có Người lịch sử đã có thể đi theo một con đường khác. Lịch sử đã đặt Người vào đúng chỗ của mình, trong quá trình đó, Người là nhân vật sáng tạo quyết định. - Pi-nô Ta-go-li-a-duc-chi, Nhà sử học Italia</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nếu nghiên cứu kỹ việc thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội và cuốn Đường Cách mệnh, thì đã thấy nổi bật một tư tưởng cho rằng cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam phải được kết hợp chặt chẽ với giải phóng xã hội và giai cấp. - Hốt-kin T., Nhà sử học Anh</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ thế giới vào lúc loài người đang ở bước ngoặt có tính chất cách mạng nhất. Đồng chí là một nhà kiến trúc và tạo hình làm nên quá trình cách mạng thế giới. Người am hiểu một cách vô cùng sáng suốt phương hướng và mục tiêu của quá trình đó. Người biết rõ động lực và sức mạnh của nó.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">... Một mặt, Người thể hiện những nguyện vọng và mục tiêu dân tộc cao đẹp nhất của nhân dân Việt Nam. Mặt khác, Người là một người theo chủ nghĩa quốc tế chân chính và vĩ đại của giai cấp công nhân. - Gớt-Hôn, Tổng bí thư Đảng cộng sản Mỹ</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Toàn bộ nhân cách của Hồ Chí Minh có thể khắc họa bằng một từ “nhà cách mạng”. Bản thân ông đã gắn bó một cách có ý nghĩa nhiệm vụ cách mạng không chỉ với tự do chính trị và giải phóng xã hội, mà còn cả với những quy phạm về đạo đức và phẩm hạnh, cũng như với văn học nghệ thuật và giáo dục. - Tiến sĩ triết học A-li-len-đu Sa-cơ-ra-boc-ty, Ấn Độ</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đã hơn 50 năm qua, nhận định của đồng chí Hồ Chí Minh - sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ nội dung tác phẩm (Đường Cách mệnh do Người biên soạn) vẫn còn đúng, nêu rõ ràng thời đại ngày nay, trên thế giới có nhiều học thuyết và chủ nghĩa, “nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”. - P.N.Phe-do-xe-ep, Liên Xô - 1982</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa sáng tạo vĩ đại và một người hành động. Chủ nghĩa xã hội của Người không bè phái, cũng không giáo điều, mà nhân đạo và nhân loại. Nhiệm vụ đầu tiên là giành tự do độc lập cho đất nước và thiết lập một xã hội chủ nghĩa với tính cách một bộ phận đấu tranh của châu Á để tự giải phóng mình khỏi sự áp bức và bóc lột của đế quốc nước ngoài.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tư tưởng chính trị của Người chịu ảnh hưởng của những nhà tư tưởng dân chủ và xã hội chủ nghĩa lớn ở châu Âu, được áp dụng vào hoàn cảnh châu Á, và điều đó đem lại một ý nghĩa thế giới. - Gô-Lan W.E, Ủy viên BCH Đảng Cộng sản Ô-xtrây-li-a</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"> </p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><strong><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn</span></strong><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> <span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>http://vietbao.vn</strong></span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần IV: Thế giới viết về Bác</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 3:15 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Hồ Chí Minh đã thành công trong việc liên kết nhiều sắc thái văn hóa vào một nền văn hóa Việt Nam duy nhất. Cuộc đời của Người mang ảnh hưởng của những giá trị và truyền thống dân tộc, có những đóng góp vào việc tạo nên một nền văn hóa Việt Nam hiện đại.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 5.176</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần IV: Thế giới viết về Bác</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 08:19:44 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=57</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nguyễn Ái Quốc với sự ra đời của báo Việt Nam độc lập</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=44</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass18266F28C96943C4936F2DB26666893C><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Hồ Chí Minh ra nước ngoài năm 1911 là để xem nước Pháp và các nước khác họ làm thế nào, rồi sẽ trở về giúp đồng bào, chứ không phải đi học làm báo. Hành trang Người mang theo là lòng yêu nước thương dân và khát vọng giải phóng đồng bào khỏi gông cùm nô lệ. Trước khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh chủ yếu thực hiện những cuộc hành trình dài ngày từ Pháp qua châu Phi đến Anh và nhiều nước khác. Tại những nơi Người tới, bằng việc quan sát, tìm hiểu và tự đặt ra cho mình nhiều câu hỏi từ thực tế, Hồ Chí Minh càng ngày càng nhận ra bộ mặt thật của chủ nghĩa đế quốc. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, hoạt động của Hồ Chí Minh đã tiến lên một bước. Người đến Hội nghị Véc-xây cùng nhiều đoàn đại biểu thay mặt cho các dân tộc bị áp bức để đòi độc lập và tự do, trong đó có tự do báo chí. Tự do báo chí và tự do ngôn luận trong <i>Yêu sách của nhân</i> <i>dân An Nam </i>năm 1919 là mốc mở đầu cho hành trình báo chí của Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, thời điểm đó, nhận thức của Hồ Chí Minh về tự do báo chí cũng chỉ mới là cảm tính mà thôi. Điều quan trọng là từ nhận thức những lời tuyên bố tự do của các nhà chính trị tư bản trong lúc chiến tranh thật ra chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc, Hồ Chí Minh thấy rõ muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình. Những nhận thức đó đã đánh dấu một giai đoạn mới trong cuộc đời cách mạng của Hồ Chí Minh. Trong những <i>mẩu chuyện về</i> <i>đó hoạt</i> <i>động của Hồ Chủ tịch, </i>tác giả Trần Dân Tiên kể lại rằng, lúc bấy giờ ông Nguyễn là một người yêu nước quyết tâm hy sinh tất cả vì Tổ quốc, nhưng ông Nguyễn lúc đó ''rất ít hiểu về chính trị, không biết thế nào là Công hội, thế nào là bãi công và thế nào là chính đảng''. Người đã tự bỏ tiền ra in những bản <i>Yêu sách tám điểm </i>thành những tờ truyền đơn đem phát trong các cuộc mít tinh ở Pháp, cho tất cả những Việt kiều và những người Việt đi lính Pháp. Người gửi cả những truyền đơn về Đông Dương. Những hoạt động đó có tác dụng nhất định nhưng không cơ bản và lâu dài. Người bắt đầu suy nghĩ tới hoạt động báo chí. Nhưng hoạt động như thế nào khi ''ông Nguyễn không đủ tiếng Pháp&quot; để viết báo Pháp''. Trần Dân Tiên Kể lại rằng, ''nhược điểm về tri thức chịu. Nhất là khi nhờ ông Phan Văn Trường viết nhưng ông Trường không viết tất cả những điều ông Nguyễn muốn nói. Vì vậy ông Nguyễn bắt tay vào học làm báo''. Như vậy, động cơ làm báo đầu tiên của Hồ Chí Minh là để tuyên truyền cách mạng, tố cáo tội ác thực dân Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Người đến tòa báo <i>''Dân chúng” </i>do cháu ngoại C.Mác, nghị viên của Quốc hội Pháp, là ông Giăng-lông-ghê làm chủ nhiệm. Tờ <i>''Dân chúng&quot; </i>không những đã đăng những lời yêu cầu của bản Y<i>êu sách tám điểm </i>mà Chủ nhiệm tờ báo đó còn khuyến khích Nguyễn Ái Quốc viết bài để làm cho nhân dân Pháp hiểu rõ những sự bất công xảy ra ở Việt Nam. Mặc dù những người Pháp như ông Lông-ghê hay chủ báo <i>''Đã </i>sống <i>thợ thuyền'' </i>rất tốt và rất đáng mến nhưng điều đó chỉ hỗ trợ một phần, giúp Nguyễn Ái Quốc những ngày đầu chập chững trên con đường làm báo. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Vấn đề có ý nghĩa quyết định là sự nỗ lực, cố gắng, quyết tâm của bản thân. Xác định rõ mục<i> </i>đích viết báo để làm gì có ý nghĩa hết sức quan trọng đến cuộc đời làm báo của Nguyễn Ái Quốc. Người nhận rõ ''tụi tư bản và đế quốc chủ nghĩa nó lấy tôn giáo và văn hóa làm cho dân ngu, lấy pháp luật buộc dân lại, lấy sức mạnh làm cho dân sợ, lấy phú quý làm cho dân tham. Nó làm cho dân nghe đến hai chữ cách mệnh thì sợ rùng mình. Vì vậy, cách mệnh trước hết phải làm cho dân giác ngộ; phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu, phải bày sách lược cho dân&quot;. Báo chí sẽ góp phần rất quan trọng vào giải quyết những mục đích đó. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cũng theo Trần Dân Tiên, ''ông Nguyễn bắt đầu làm báo rất khó khăn'' vì kém tiếng Pháp, thiếu văn Pháp. Người đã vượt qua khó khăn đó bằng cách vừa làm vừa học, tự học và học những nhà báo người Pháp có kinh nghiệm. Người kiên nhẫn bắt đầu từ những động tác nhỏ như viết hai bản, gan cho tòa báo một bản, giữ lại một bản, sau khi bài được đăng thì so sánh với bản gốc và sửa những chỗ viết sai. Những bài báo đầu tiên Người viết ngắn, chỉ năm, sáu dòng. Khi thấy viết đã bớt sai lầm, được sự đồng ý của chủ bút, Người viết dài hơn một tí, độ bảy, tám dòng. Dần dần, Người có thể viết cả một cột báo và có khi dài hơn. Cứ như vậy, tùy theo chủ đề, Người có thể viết dài, viết ngắn Người phải học viết rút ngắn, vì ngắn về dòng nhưng phải bảo đảm về nội dung và chất lượng bài báo. Bằng sự nỗ lực của bản thân, trên cơ sở xác định rõ mục đích và cách viết, chỉ một thời ngắn, Nguyễn Ái Quốc đã vào làng báo. Từ tháng 8.1919,<i> </i>Người đã có bài trên báo <i>Nhân</i> <i>đạo </i>và tiếp theo Người viết nhiều bài chó báo <i>Dân chúng, Đời sống công nhân...</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Hội Liên hiệp</span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"> <i>thuộc địa </i>ra đời tháng 6.1921<i> </i>tập hợp tất cả những người quê thuộc địa sống trên đất Pháp nhằm mục đích thảo luận và nghiên cứu những vấn đề chính trị và kinh tế của thuộc địa, đi tới sự nghiệp giải phóng bằng sự nỗ lực của chính bản thân những người thuộc địa. Hội quyết định dùng báo chí và ngôn luận để tranh thủ dư luận đồng tình ủng hộ những hoạt động của Hội và cuộc đấu tranh của nhân dân các thuộc địa chống áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân.<span style="">  </span>Nguyễn Ái Quốc, nhân danh đại biểu Đông Dương, làm nghề thợ ảnh, được bầu là một thành viên của Ban Chấp hành. Sau khi Hội thành lập, Ban Chấp hành quyết định xuất bản tờ báo lấy tên <i>Le Paria. </i>Báo ra số 1, ngày 1<i>.</i>4.1922.<i> </i>Số cuối cùng là số 38, tháng 4.1926. Nguyễn Ái Quốc có quan hệ mật thiết với báo <i>Le</i> <i>Paria. </i>Trong thời kỳ đầu, từ số đầu cho đến số 14, Người làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, làm cả việc phát hành và đi bán báo. Sau khi rời <i>Hội liên hiệp thuộc địa, </i>Người đến Liên Xô rồi đi Trung Quốc, nhưng vẫn gửi bài về đăng báo.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trước khi về nước, Hồ Chí Minh đã có một sự nghiệp báo chí đồ sộ, không chất ở số lượng các bài viết trên nhiều báo chí nước ngoài, mà còn sáng lập và tham gia sáng lập nhiều tờ báo gây tiếng vang lớn, mở đầu nền báo chí cách mạng Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><b><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">2. Cần có một tờ báo làm công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức và là đạo nhân dân</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước. Tháng 5.1941, Người triệu tập và chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Thực hiện Nghị quyết của Hội nghị, <i>''</i>mỗi<i> </i>đảng bộ địa phương phải tìm cách ra báo chí tuyên truyền, ít nhất là các ban tỉnh ủy phải có ban tuyên truyền chuyên môn xuất bản báo riêng ở trong tỉnh để tuyên truyền cho kịp thời'', Nguyễn Ái Quốc quyết định cho xuất bản báo <i>Việt Nam độc lập </i>gọi tắt là <i>Việt</i> <i>Lập. Việt Nam độc Lập lúc </i>đầu là cơ quan tuyên truyền của tỉnh bộ Việt Minh tỉnh Cao Bằng, từ tháng 6.1942 là của hai tỉnh Cao Bằng, Bắc Bạn và từ tháng l.1944 là của ba tỉnh Cao Bằng - Bắc Cạn - Lạng Sơn (Cao - Bắc - Lạng). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Với kinh nghiệm của hơn hai mươi năm làm báo ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc triển khai một cách cụ thể ở địa bàn các dân tộc miền núi. Người hiểu rõ muốn đưa cách mạng đi tới thắng lợi thì cần phải tuyên truyền, giáo dục, tổ chức và lãnh đạo nhân dân, và cùng với tuyên truyền miệng thì báo chí là phương tiện tuyên truyền đọc tốt nhất. Nhưng không phải cứ ra được báo là hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền. Kinh nghiệm <i>ngược </i>trong cuộc đời làm báo của Bác cho thấy để ai cũng thích đọc báo và có hiệu quả thật sự thì tất cả mọi khâu từ việc xác định mục đích, nội dung, đối tượng, cách viết, cách làm, cách phát hành, tóm lại là từ những người viết báo đến các khâu khác không thể rập khuôn máy móc mà phải luôn luôn sáng tạo, phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh từng lúc, từng nơi. Kể lại câu chuyện làm báo <i>Việt Nam độc lập </i>với Đại hội lần thứ hai Hội Nhà báo Việt Nam <i>(16.4.1959), </i>Bác nói: ''Theo lời dạy của Lê nin: tờ báo là công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức và lãnh đạo. Cho nên mình cố gắng ra một tờ báo ngay và phải làm rất bí mật vì luôn luôn có mật thám của Pháp, Nhật và bảo Đại rình mò. Điều kiện sinh hoạt thì bữa đói, bữa no. Làng báo thì phải có đá in. Mấy đồng chí đã đi lấy trộm mấy tấm bia đá rồi mài mất mấy ngày mới thành bản in. In thì phải viết chữ trái lên đá, thế là có một đồng chí phải hì hục học tập viết chữ trái. Mấy số báo đầu, ba bốn anh em cùng làm, nhưng in cứ toe toét, chỉ in được ít và xấu xí Nhưng về sau cứ tiến bộ dần, mỗi lần in được 300 số. Phải đặt bia đá ''nhà in'' ở ba chỗ khác nhau. Khi động chỗ này thì chạy đến chỗ khác mà in và báo vẫn ra đúng kỳ. Địch chịu không làm gì được. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Vấn đề giấy cũng gay. Lúc bấy giờ ai mua<i> </i>nhiều giấy, địch cũng nghi và theo dõi. Các chị em đi chợ mua năm, mười tờ, nói dối là mua cho con cháu học, rồi góp lại để in báo.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">In bản đá muốn sửa chữa thì phải dùng axít. Mà axít thì mua đâu được? Có đồng chí nghĩ ra cách dùng chanh thay cho a xít, chị em lại giúp mua chanh để ủng hộ báo.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Còn việc phát hành: để báo ở các hang đá bí mật. Các đồng chí phụ trách cơ sở Việt Minh cứ đến đó mà lấy. Báo bán hẳn hoi, chứ không biếu. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Thế là mọi việc đều dựa vào quyết tâm của mình, dựa vào bực lượng và sáng kiến của quần chúng''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Làm báo trong mỗi một giai đoạn cách mạng, đáp ứng yêu cầu của mỗi một đối tượng bạn đọc có những thuận lợi, khó khăn riêng. Thời kỳ Bác làm báo ở nước ngoài thì khó khăn lớn nhất ở giai đoạn đầu là vốn văn hóa phương Tây. Đi vào cụ thể là vốn ngoại ngữ, rồi nghiệp vụ báo chí, đối tượng phong phú, trình độ học vấn, nghề nghiệp cao thấp khác nhau. Làm báo <i>Việt Nam độc lập</i> thì khó khăn lớn nhất là trình độ văn hóa của các đối tượng chủ yếu là đồng bào miền núi rất thấp; khó khăn về cơ sở vật chất, nghiệp vụ báo chí, kẻ thù theo dõi... Đề ra được báo <i>Việt Nam độc lập </i>là cả một sự khó khăn, gian khổ, thiếu thốn. Phải tìm<i> </i>hiểu kỹ trình độ, phong tục tập quán của đồng bào. Võ Nguyên Giáp nhớ lại: ''Vì khuôn khổ tờ báo nhỏ, chữ, theo chỉ thị của Bác, lại phải viết to để đồng bào đọc dễ dàng, nên các bài viết phải rất ngắn. Có lần, tôi ở tĩnh Tây về, Bác phân công viết một bài về phong trào phụ nữ cho báo Việt Lập. Bác nói:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">- Chú viết đúng một trăm chữ, viết hơn thì không có chỗ đăng đâu.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Tôi ngồi viết, cảm thấy khó quá. Thời gian qua ở Tĩnh Tây, chúng tôi cũng ra báo. Cũng chỉ là báo in thạch, nhưng giấy sẵn, khuôn khổ tờ báo rộng, bài viết thoải mái chứ không hạn chế như thế này. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Thấy tôi ngồi viết khó khăn, Bác cười rồi bảo:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">- Báo của các chú có gửi về nhưng mình không xem hết, mà ở đây cũng không mấy ai xem. Báo của các chú văn hay, chữ nhiều nhưng khó đọc, và có đọc được cũng không mấy ai hiểu. Báo <i>Việt Lập </i>tuy đơn giản, nhưng dễ đọc, dễ hiểu. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Về sau có dịp đi công tác ở các địa phương, tôi mới thấy hết tác dụng rất to lớn của tờ báo; đồng bào khắp các nơi đều rất hoan nghênh báo <i>Việt Lập.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cao Hồng Lĩnh, trong hồi ký <i>''Mãi mãi đi theo con đường của Người” </i>kể: ''Có hôm, một số đồng chí được Bác gọi đến bàn việc chuẩn bị ra báo ''Việt Nam độc lập''. Lúc đó, một số anh em đã từng viết báo công khai vào loại giỏi nhưng phải viết bài cho tờ báo khuôn khổ hẹp, phục vụ đồng bào thiểu số thì anh em lại lúng túng. Bác bảo muốn biết bài mình viết đồng bào có hiểu không thì cứ đọc cho đồng chí Thế An, nếu đồng chí Thế An bảo được là được Đồng chí Thế An 1à một trong 43 người theo đoàn từ biên giới về đây, đồng chí là người Tày học ít, rất hiền lành, ít nói. Nhờ Bác hướng dẫn anh em viết những bài báo phù hợp với trình độ của người đọc ở quanh vừng''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Bác Hồ không chỉ là người chủ trương và tổ chức cho tờ báo ra đời mà Người còn tham gia nhiều công việc trực tiếp có ý nghĩa. Vì Cao Bằng còn 90% dân số mù chữ và trong cán bộ cũng còn nhiều đồng chí chưa biết chữ, Bác chủ trương: ''Phong trào Việt Minh tới đâu, tổ chức học văn hóa tới đó. Người biết dạy người không biết, người biết nhiều dạy người biết ít''. Bác còn giao cho đồng chí Cao Hồng Lĩnh soạn bộ vần dạy chữ theo lối mới. Bộ này được biên tập thành hơn 30 bài, cứ học hết số bài này là có thể đọc viết được. Đồng chí Cao Hồng Lĩnh làm bài hát vận động bà con anh em bỏ lối học cũ theo lối học mới. Ngoài ra còn có thơ ca động viên phong trào học chữ. Nhiều nơi, già trẻ, gái trai đều học, học ban đêm, học buổi trưa, ở những làng xã Việt Minh hoàn toàn như Pác Bó, Nà Mạ, Nà Sắc, Đào Ngạn, ta mở trường công khai, các cháu cắp sách đến trường học ở trong rừng. Việc dạy chữ theo lối học mới có tác dụng hỗ trợ rất lớn cho việc đọc báo Việt Nam độc lập; ngược lại, việc đọc báo đã củng cố việc học chữ và nâng cao trình độ hiểu biết cho bà con. Trong thời gian ở Cao Bằng, Bác Hồ trực tiếp viết nhiều thơ ca cách mạng như <i>Lịch sử diễn ca, Mười điều của chương</i> <i>trình Việt Minh, Địa dư Bắc kỳ, Địa dư Cao Bằng, </i>các bài cho thanh niên, phụ nữ, nông dân, phụ lão, thiếu nhi, binh sĩ cứu quốc,v.v… được in trên báo hoặc in thành sách lưu truyền trong nhân dân. Vừa chỉ đạo trực tiếp, Nguyễn Ái Quốc vừa tham gia viết bài, chữa bài, vẽ tranh minh họa, có khi làm cả việc mấy tin và in báo. Đồng chí Lê Quảng Ba kể lại, khi đồng chí Vân Trình người đảm nhiệm việc in báo, viết bản thạch bị ốm, lo báo không ra đúng kỳ hạn, ''Bác đã cặm cụi ngồi viết thay đồng chí Vân Trình''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Kể về những ngày đầu làm báo vất vả, Bế Văn Khai nhớ lại: ''Lần đầu chữa rồi lại hỏng, hỏng rồi lại chữa, mấy Bác cháu làm toát mồ hôi hai ngày mà chỉ được 16 số báo... Về sau có kinh nghiệm, mỗi lần in được 300 số, vừa tốt vừa nhanh''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cuối cùng thì báo <i>Việt Nam độc lập </i>cũng đã ra đời thành công Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chỉ đạo mọi hoạt động của tờ báo từ khi ra số 1 (1.8.1941) đến số 36 (8.1942). Sự ra đời của tờ báo là một trong những hoạt động tích cực, có hiệu quả và ý nghĩa văn hóa, chính trị rộng lớn, sâu xa. Qua nội dung các bài viết, Nguyễn Ái Quốc đã giáo dục cán bộ, nhân dân, các hội viên Cứu quốc quyết tâm giành độc lập, tự do. Để đạt được mục đích đó, báo có 4 mục chính: - Những câu tuyên truyền in trên đầu trang nhất; - Xã luận; - Tin trong nước và thế giới; - Vườn văn. Ngoài ra còn có mục ''ủng hộ báo'' nhằm biểu dương những người có thành tích, và giới thiệu một số sách do Việt Minh xuất bản. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Lời mở đầu bài <i>Xã luận </i>đăng số 1 viết: ''Tây cốt làm cho dân ta ngu, làm cho dân ta hèn. Ngu thì phải hèn. Ta ngu hèn thì nó dễ trị, dễ ăn hiếp, dễ bóc lột''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sau khi vạch tội ác ''làm cho dân ngu để dễ trị'' của Pháp, Nhật, Xã luận nói rõ mục đích: ''Báo Việt Nam độc lập cốt làm cho dân ta hết ngu hèn, biết các việc, biết đoàn kết, đặng đánh Tây, đánh Nhật, làm cho Việt Nam độc lập, bình đẳng, tự do”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Đáng chú ý là tờ báo có mục <i>thơ ca. </i>Trong 36 số, có 36 bài thơ hoặc ca, thì 31 bài in dưới một<i> </i>tên chung: <i>Vườn</i> <i>văn. </i>Những bài thơ ca này phần lớn tác giả Nguyễn Ái Quốc sử dụng lối thơ lục bát, thất ngôn, dựa theo âm điệu, phong cách của <i>Truyện Kiều</i>, <i>Chinh</i> <i>phụ ngâm..., </i>1à những vần thơ quen thuộc với nhân dân ta. Nhờ đó mà tờ báo được quần chúng yêu mến, quý trọng, nhiều bài văn vần được quần chúng chép lại, truyền tay nhau học thuộc lòng với sự trìu mến, yêu quý. Lúc đó, quần chúng chỉ biết quý trọng tờ báo, vì nó đã thiết thực giúp cho cuộc sống và đấu tranh của mình, giải đáp trúng những vấn đề mình yêu cầu. Bế Văn Khai nhớ lại: ''Đồng bào quý tờ báo như vàng, mỗi tổ Việt Minh chỉ được vài tờ. Tờ báo lại làm nảy nở một phong trào học quốc ngữ. Già cũng học, trẻ cũng học. Các em đi chăn trâu, các chị lấy rau lợn đều mang theo một cuốn vở nhỏ. Hễ gặp cán bộ đi ngang là họ đón lại học thêm mấy chữ”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nhân dân coi tờ báo <i>Việt Nam độc lập </i>như người thầy của mình. Tại Đại hội lần thứ hai Hội Nhà báo Việt Nam, Bác nói: ''Đồng bào địa phương rất thích đọc báo, vì báo viết điều gì cúng thấm thía với họ. Đồng bào còn tự động tổ chức những tổ đọc báo và bí mật đưa tin tức cho báo. Đồng bào lại tìm mọi cách tuyên truyền cho 1ính dõng đọc báo để làm ''binh vận''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cùng với quyết tâm, thời gian, kinh nghiệm và dựa vào lực lượng của quần chúng, về sau báo <i>Việt Nam độc lập mỗi </i>tháng ra ba kỳ, mỗi kỳ hơn 400 số. Báo phát hành trong phạm vi vài ba tỉnh, số lượng không đủ đáp ứng yêu cầu của quần chúng trong khi cơ sở cứu quốc mở rộng nhanh chóng. Tuy nhiên, tờ báo có ý nghĩa ''gieo mầm văn hóa'' ở một số tỉnh địa đầu của Tổ quốc, đêm trước của cuộc Cách mạng tháng Tám. Nó 1à một hình mẫn của báo chí cách mạng nói chung, báo chí địa phương nói riêng, trong điều kiện xuất bản bí mật; đồng thời cũng để lại nhiều kinh nghiệm quý báu có giá trị về lý luận và thực tiễn cho báo chí cách mạng ngày nay kể cả ở trung ương và địa phương.</span></p>
<p><strong>Nguồn </strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"><strong>Lý luận chính trị và truyền thông. – 2011. – Số tháng 3. – Tr. 41-45</strong></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 2:25 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> 1. Tầm nhìn về vai trò của báo chí 
Để vào được làng báo và trở thành &#39;&#39;người có nhiều duyên nợ với báo chí&#39;&#39;, Hồ Chí Minh đã phải trải qua một quá trình rèn luyện gian khổ, miệt mài, vừa học vừa tập viết: viết ngắn, viết dài, lại viết ngắn... Nhưng quan trọng hơn là Người trau dồi lập trường tư tưởng, coi ngòi bút là vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.897</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 07:48:57 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=44</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Hồ Chí Minh với hành trình giải phóng dân tộc</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=19</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass88B67487AD634FE99E876605D9F1F6A2><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước bối cảnh lịch sử ấy, người thanh niên yêu nước Nguyên Tất Thành sau khi tham gia các phong trao vận động cứu nước và chứng kiến các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc không thành công, ngày 3-6-1911 , Người lấy tên là Văn Ba đã xuống làm thuê ở tàu Amiran Latusơ Tơrevin (Amiral Latouchc Tre'ville), một tàu lớn vừa chở hàng vừa chở khách của hãng Nam Sao của Pháp. Ngày 5-6-1911, Văn Ba cùng tàu rời cảng Nhà Rồng - Sài Gòn đi Mácxây (Marseillc) với mục đích rõ ràng, như sau này Người trả lời nhà văn Mỹ Anna Luy Xtơrông: Vào thập niên đầu tiên của thế kỷ XX, &quot;Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi: lúc này thường tự hỏi nhau ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Nhật, người khác nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”<sup>1</sup>.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rời Tổ quốc thân yêu, trong Nguyễn Tất Thành nặng trĩu lòng yêu nước, thương dân phải sống thân phận nô lệ, cuộc đời lầm than tủi nhục dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Người quyết tâm thực hiện quá trình &quot;vô sản hoá&quot;, hoà mình vào giai cấp vô sản thế giới, đi tới nhiều nước trên cả bồn châu lục Á-Âu-Phi-Mỹ, nghiên cứu các nước đế quốc và hệ thống thuộc địa của chúng. Người sống, làm việc và rèn luyện nhiều năm trong phong trào chính trị - xã hội ở Mỹ, Anh. Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Tất Thành với trí thông minh xuất chúng, lại dày công học hỏi tạo dựng vốn học thức, vốn văn hoá-lịch sử sâu rộng; trải qua hàng chục năm hoạt động cứu nước và trong phong trào cách mạng thế giới đã tạo cho Người vốn sống thực tiễn cực kỳ phong phú. Trong hai năm 1919 và 1920, hoạt động trong Đảng Xã hội và phong trào công nhân Pháp, Người đã tiếp cận Cách mạng tháng Mười Nga, đến với Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hiểu rõ chỉ có Liên Xô và Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản) là chủ trương giải phóng các dân tộc bị áp bức như một chặng đường cần thiết trong cuộc giải phóng toàn diện con người. Những nhận thức này đã dưa Nhuyễn Ái Quốc từ một người yêu nước chân chính thành một chiến sĩ cộng sản. Người viết: cách mạng tháng Mười đã chặt đứt xiềng xích của chủ nghĩa đế quốc, phá tan cơ sở của nó và giáng cho nó một đòn chí mạng. Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét đã đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỷ nay. Cách mạng tháng Mười đã mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”<sup>2</sup>. Trả lời câu hỏi vì sao Người bỏ phiếu tán thành tham gia “Quốc tế III. Người nói, vì &quot;Quốc tế III rất chú ý đến vấn để giải phóng thuộc địa… Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”<sup>3</sup>.<span style="">  </span>Và &quot;Chú nghĩa Mác- Lênin là chủ nghĩa cách mạng và khoa học nhất”<sup>4</sup>. Người kết luận: Cách mạng Việt Nam muốn thành công phải đi theo đường lối của Quốc tế III, đi theo con đường của cách mạng tháng Mười Nga, phải đi theo chủ nghĩa Mã Khác Tư và Lênin.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc cho rằng: “theo Chủ nghĩa Mác thì chẳng những cần hiểu biết quy luật thế giới để giải thích thế giới mà còn phải dùng sự hiểu biết ấy để cải tạo thế giới... Lý luận sở dĩ quan trọng là vì nó dạy ta hành động”<sup>5</sup>. Vì vậy Người đã lẫy ánh sáng của lý luận Mác-Lênin soi sáng thực ít xã hội Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến mà vạch rõ hai nhiệm vụ lịch sử cấp bách của dân tộc là đánh đuổi đế quốc thực dân Pháp, giành lại độc lập dân tộc và canh tân đất nước. Hai nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam được Người xác định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”<sup>6</sup>, tức là: “Cách mạng Việt Nam trải qua hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chu nghĩa”<sup>7</sup>. Hai giai đoạn cách mạng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Như vậy, sau gần 10 năm bôn ba khắp thế giới, đến cuối năm 1920 . Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mac-Lênin, tham gia Quốc tế III và trở thành người cộng sản, xác lập được con đường cứu nước theo cách mạng vô sản-giải phóng dân tộc để tiến lên chủ nghĩa xã hội.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">2. Hồ Chí Minh - người chỉ đường giải phóng dân tộc.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Khi nhiều thế hệ tiền bối thất bại trong thực nghiệm con đường giải phóng dân tộc thì Hồ Chí Minh tìm ra, xác lập được con đường cứu nước mà lịch sử khẳng định là hoàn toàn đúng đắn - đó là một thiên tài. Tìm ra, xác lập con đường cứu nước, giải phóng dân tộc đã khó, việc truyền bá, giác ngộ con đường đó cho dân tộc cũng là một sự nghiệp gian truân và cực kỳ quan trọng. Lôgíc trong tư duy Hồ Chí Minh là xác lập được “con đường cách mạng vô sản”-lý luận cách mạng, thì tiếp đến “cách mệnh trước phải làm cho dân giác ngộ”, “cách mệnh phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểư”<sup>8</sup>. Và khi dân được giác ngộ làm cho &quot;Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”<sup>9</sup> được. Bởi vậy, ngay đầu những năm hai mươi của thế kỷ trước, khi đang ở nước Pháp, Hồ Chí Minh đã xác định: &quot;Đối với tôi câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”<sup>10</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trên thực tế, Hồ Chí Minh không chờ đến khi về nước mới tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho dân chúng Việt Nam. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Bởi vậy, Việt Nam làm &quot;cách mệnh phải hiểu phong triều thế giới, phải bày sách lược cho dân”<sup>11</sup>, ngược lại cũng phải làm cho thế giới hiểu và ủng hộ cách mạng Việt Nam, trước hết là Đảng Cộng sản và nhân dân Pháp. Vì vậy Nguyễn Ái Quốc đã tận dụng mọi cơ hội để vạch trần bản chất xấu xa của chủ nghĩa đế quốc thực dân và giác ngộ nhân dân thuộc địa đứng lên làm cách mạng giải phóng. Năm 1919 , nhân danh nhóm người Việt Nam yêu nước, Nguyễn Ái Quốc gửi tới hội nghị đại biểu các nước đế quốc đã tham gia chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) họp ở Véc xây ( Pháp) bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Người còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt Kiều và gửi về nước. Yêu sách không được trả lời, nhưng lại là dịp để Nguyễn Ái Quốc chỉ cho nhân dân chính quốc và thuộc địa nhận rõ bản chất lừa bịp của chủ nghĩa đế quốc, chỉ cho nhân dân thuộc địa biết rằng muốn được giải phóng phải biết tin vào chính mình.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc gửi Yêu sách đến Hội nghị Vecxây được đánh giá như &quot;tiếng bom&quot; làm rung chuyển các nước đế quốc và thức tỉnh nhân dân thuộc địa và chính quốc. Nguyễn Ái Quốc còn liên tục có những bài viết trên các báo của Pháp để giải thích cho nhân dân Pháp hiểu rõ thế nào là thuộc địa, thế nào là bọn thực dân, và làm cho nhân dân thuộc địa hiểu rõ con đường đi đến độc lập tự do thật sự, ai là bạn, ai là thù trên con đường đấu tranh cho độc lập tự do của mình.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1921, tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Pháp, Người đề nghị Đảng thành lập Ban nghiên cứu thuộc địa. Đại hội chấp thuận ý kiến của Người và đã thành lập Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng gồm 5 tiểu ban, trong đó Nguyễn Ái Quốc được giao làm Trưởng tiểu ban Đông Dương. Cũng theo đề nghị của Nuyễn Ái Quốc, trên báo Lhumanité của Đảng đã hình thành chuyên mục về thuộc địa. Nguyễn Ái Quốc cũng chủ trương ra báo Việt Nam hồn bằng tiếng Việt xuất bản ở Paris và chuyển về nước để thức tỉnh đồng bào Việt Kiều và đồng bào trong nước. Năm 1921, Nguyễn Ái Quốc cùng các nhà yêu nước các thuộc địa Pháp sáng lập ra hội Liên hiệp thuộc địa và sau đó là cơ quan ngôn luận của hội - báo Người cùng khổ (Le Paria). Sau hai năm hoạt động. Nhuyễn Ái Quốc đánh giá: hội Liên hiệp thuộc địa và tờ báo Người cùng khổ đã có những kết quả tốt. Nó đã làm cho nước Pháp, nước Pháp chân chính hiện rõ những việc xảy ra trong các thuộc địa. Làm cho nước Pháp hiểu rõ bọn cá mập thực dân đã lợi dụng tên tuổi và danh dự của nước Pháp để gây nên những tội ác không thể tưởng tượng được. Nó đã thức tỉnh đồng bào chúng ta. Đồng thời nó cũng khiến cho đồng bào chúng ta nhận rõ nước Pháp, nước Pháp tự do bình đẳng và bác ái&quot;<sup>12</sup>.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ giữa năm 1923, hoạt động ở trung tâm Quốc tế Cộng sản tại Mátxơcơva. Nguyên Ái Quốc đã tận dụng mọi diễn đàn từ Đại hội V Quốc tế Cộng sản đến các đại hội của các tổ chức Nông dân, Thanh niên, Phụ nữ, Cứu tế quốc tế... các báo của Liên Xô, của nước Pháp để tuyên truyền đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, giác ngộ và tập hợp các lực lượng cách mạng thế giới ủng hộ cách mạng của các dân tộc thuộc địa. Năm 1924, Nhuyễn Ái Quốc hoàn tất tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp. Tác phẩm được viết bằng tiếng Pháp và xuất bản ở Phụ vào năm 1925, là lời kết án đanh thép đối với chế độ thực dân, đồng thời nó còn là chất xúc tác &quot;lên men tinh thần cách mạng của quần chúng. Bản án chế độ thực dân Pháp cùng báo Người cùng khổ và nhiều tờ báo của Pháp có đăng bài của Nguyễn Ái Quốc được bí mật chuyển về nước làm bừng tỉnh cả một thế hệ những người Việt Nam yêu nước mà trước đó họ còn đang lúng túng chưa biết đi đường nào để tới độc lập dân tộc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 11-1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về đến Quảng Châu (Trung Quốc), đây là cơ hội Người trực tiếp chỉ đường cứu nước cho những người Việt Nam yêu nước. Tại đây Người cùng các nhà cách mạng nhiều nước sáng lập ra hội Liên hiệp các dân tộc Á Đông bị áp bức, Người được bầu làm Bí thư của Hội. Hội là tổ chức giác ngộ, liên minh, đoàn kết các lực lượng cách mạng chống đế quốc và phong kiến của nhiều nước Châu Á. Cùng thời gian này, tháng 6-1925, Nguyễn Ái Quốc lập ra hội Việt Nam cách mạng thanh niên và ra báo Thanh niên là cơ quan ngôn luận của đội. Đồng thời Người còn cho ra đời nhiều tờ báo khác như báo Công Nông, báo Binh Lính ... Tận dụng điều kiện khi đó, Nguyễn Ái Quốc đã mở các lớp huấn luyện chính trị cho các nhà yêu nước Việt Nam tại Quảng Châu. Từ 1925 đến 1927, đã mở được 10 khoá cho hơn 200 học viên, là người tổ chức các lớp đào tạo cán bộ, đồng thời Nguyễn Ái Quốc cũng là người trực tiếp giảng dạy. Những nhà yêu nước được triệu tập từ trong nước sang Quảng Châu, hoặc đang hoạt động ở trung Quốc lần lượt được học ở các lớp huấn luyện chính trị, Tại các lớp huấn luyện cán bộ, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: dưới chế độ thực dân phong kiến, nhân dân Việt Nam mượn sống phải làm cách mệnh; người cách mệnh trước hết phải có tư cách của người cách mệnh, phải có lý luận cách mệnh tiền phong đó là chủ nghĩa Mác-lênin; cách mệnh muốn thành công trước hết phải có đảng cách mệnh, đảng phải vững cách mệnh mới thành công, đảng muốn vững phải có chủ nghĩa Mác-Lênin làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu và làm theo chủ nghĩa ấy, để bảo đảm cho cách mệnh thành công, ngoài việc phải có đảng cách mệnh vững, đồng thời đảng còn phải xây dựng được lực lượng căn bản (công nông là gốc cách mệnh) và lực lượng quan trọng của cách mệnh Việt Nam (học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ... là bầu bạn cách mệnh của công nông); đảng phải có và thực hiện tốt đường lối đoàn kết quốc tế đúng đắn ; đảng còn phải có phương pháp cách mệnh đúng đắn, phù hợp với thực tế Việt Nam; đảng phải xây dựng được đội ngũ cán bộ cách mệnh vừa có đức vừa có tài một lòng một dạ sẵn sàng phấn dấu hy sinh vì sự nghiệp cách mệnh của đảng, của dân tộc, muốn có độc lập tự do, cách mệnh Việt Nam phải đi theo con đường cách mệnh Tháng Mười Nga - cụ thể là, trước làm cách mệnh dân tộc (đập tan bọn Pháp và giành lại độc lập cho xứ sở) rồi sau đó làm cách mệnh thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản). Những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện chính trị được Người biên soạn và cho xuất bản thành cuốn Đường cách mệnh vào đầu năm 1927. Từ giữa năm 1927, Nguyễn Ái Quốc không có điều kiện tiếp tục mở lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu, những học trò của Người lui về biên giới Việt - Trung và về trong nước tiếp tục mở các lớp huấn luyện, cuốn Đường cách mệnh vẫn là tài liệu chính cho các lớp huấn luyện này. Hơn thế, theo sự chỉ dẫn của Nguyễn Ái Quốc, những người được huấn luyện chính trị đã đi vào phong trào cách mạng của quần chúng để tuyên truyền, giác ngộ, tổ chức quần chúng, đồng thời tự rèn luyện mình trong phong trào cách mạng đó. Kết quả từ giữa năm 1929 phong trào cách mạng lên cao, tự thân phong trào cách mạng đòi hỏi phải có đảng cách mạng. Đáp ứng đòi hỏi khách quan của cách mạng Việt Nam, mùa Xuân năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, tạo bước ngoặt đi lên căn bản cho cách mạng nước ta, từ đây Nguyễn Ái Quốc cùng với Đảng do Người sáng lập đóng vai trò lịch sử dẫn dắt toàn dân tộc làm cách mạng. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">3. Về nước dẫn đường cho dân tộc đi tới giải phóng.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 28-1-1941 (tức ngày 2 tháng Giêng năm Tân Tỵ) sau 30 năm bôn ba hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Nguyễn Tất Thành - Nuyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh về nước. Người lấy bí danh là Già Thu và chọn hang Cốc Bó thuộc làng Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng làm “đại bản doanh” đầu tiên để dẫn đường cho dân tộc làm cách mạng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Với Hồ Chí Minh, giải phóng dân tộc phải là nhiệm vụ, là mục tiêu trực tiếp, trước hết của cách mạng Việt Nam. Ngày 10-5-1941, tại Khuổi Nậm-Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ tám của Ban Chấp hành trung ương Đảng hội nghị nhất trí xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết của cách mạng Đông Dương, quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi lấy tên là Việt Nam độc lập đồng minh (Gọi tắt là Việt Minh) nhằm liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu, nghèo, già, trẻ, gái, trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn. Hội nghị quyết định khởi nghĩa vũ trang từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân. Ngay tại Pác Bó, Hồ Chí Minh đã dẫn đường cho nhân dân ta xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, liên kết quốc tế, chuẩn bị thực lực để tạo và đón thời cơ cách mạng. Người hướng dẫn xây dựng các tổ chức Việt Minh: các đội du kích </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Tiến lên xây dựng đội quân chủ lực, xây dựng chính quyền của nhân dân trong khu giải phóng... Sự dẫn đường chỉ lối của Hồ Chí Minh và của Đảng do Người sáng lập đã dẫn nhân dân ta đi tới làm nên thành công kỳ diệu của Cuộc cách mạng Tháng Tám 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời được 21 ngày thì quân Pháp trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai. Đất nước đứng trước thách thức vô cùng nghiêm trọng, cùng một lúc phải chống lại ba thứ giặc: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Cách mạng ở thế ''ngàn cân treo sợi tóc''. Trong tình thế hiểm nghèo lại sáng ngời nên sự dẫn đường, chỉ lối sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa dân tộc ta phá tan thế giặc ngoài, thù trong, giữ vững chính quyền cách mạng, chuẩn bị lực lượng về mọi mặt đi vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Pháp chịu thất bại nhưng Mỹ lại nhảy vào muốn thống trị lâu dài nhân dân ta. Ngay trước khi Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ thừa nhận sự thất bại trong cuộc xâm lược Đông Dương và rút quân về nước, tại Hội nghị lần thứ sáu (khoá II) của Đảng (15-7-1954), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ cho toàn Đảng, toàn dân ta thấy rõ:<span style="">  </span>''Mỹ không những là kẻ thù của nhân dân thế giới, mà <i>Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt</i>, <i>Miên, Lào''<sup>13</sup>.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sau Hiệp định Giơnevơ, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi Mỹ-Diệm thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định; chuẩn bị sẵn sàng đối phó với mọi tình huống Mỹ-ngụy có thể gây ra. Người chỉ dẫn cho Đảng và nhân dân ta: Trong bất kỳ tình huống nào cũng phải đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng miền Bắc thành hậu phương vững chắc cho cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Khi Mỹ ào ạt đưa quân Mỹ và chư hầu vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn quân và dân ta phải biết ''đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào''. Nhân dân ta đã thực hiện xuất sắc những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh ''đánh cho Mỹ cút, để tạo thế, tạo lực ''đánh cho ngụy nhào'' giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước vào thời kỳ thực hiện đường lối chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trên cả nước - từng bước thực hiện triệt để giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. </span></p>
<p><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nhìn lại hành trình giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh, càng tự hào và tin tưởng vào con đường cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Mình tìm tòi, xác lập, chỉ đường, dẫn lối cho nhân dân ta liên tục giành thắng lợi.</span></p>
<p><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lịch sử Đảng. - 2011. -<span style="">  </span>Số tháng 1. – Tr. 43 - 48</span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 8:25 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> 1. Ra đi tìm đường giải phóng dân tộc.
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược và từng bước đặt ách thống trị Việt Nam. Từ đây hàng trăm cuộc khởi nghĩa và nhiều phong trào vận động cứu nước liên tục diễn ra, nhưng tất cả đều thất bại.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.086</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 01:29:48 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=19</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Vai trò của Hồ Chí Minh trong thiết lập và tranh thủ mối quan hệ với quân đồng minh nhằm tăng cường thế – lực cho cách mạng tháng tám</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=47</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass0FCAA9EA112E49D6B8B275D8F5E9704C><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27.85pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.95pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trải qua thực tiến các cao trào cách mạng từ sau năm 1930, phát huy tính độc lập chủ trong vận dụng lý luận gắn với thực tiễn, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ VIII khoá I (5-1941) 1941)đánh dấu bước hoàn thiện chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng khi đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và quyết định chuẩn bị toàn diện cho cuộc đấu tranh giành chính quyền cách mạng. Tại Hội nghị này, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã hết sức nhấn mạnh tới việc cần thiết phải xác lập và tăng cường mối quan hệ giữa cách mạng Đông Dương với các lực lượng chống phát xít:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:28.8pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">“Cuộc Cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng thế giới giai đoạn hiện lại là một bộ phận dân chủ chống phát xít... Vận mạng của dân tộc Đông Dương lại chung với vận mạng của nước Trung Quốc cách mạng và Liên bang Xô Viết,<sup>(1)</sup>. Nhận thức rõ thời cuộc, đặt công cuộc giải phóng dân tộc của nước ta trong những bước phát triển của thời đại, của điều kiện lịch sử thời điểm đó, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động kết nối mối quan hệ giữa lực lượng cách mạng trong nước với quân Đồng minh và từng bước phát huy mối quan hệ đó.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:28.8pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Đến năm 1942, cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai bắt đầu bước vào giai đoạn cuối khi quân phát xít bắt đầu suy yếu trên các chiến trường. Tại châu Á, lực của quân Nhật bị giảm sút, phong trào giải phóng dân lộc và kháng chiến chống Nhật ở Đông Nam Á đang phát triển mạnh mẽ. Trước tình hình đó Nguyễn Ái Quốc xúc tiến thiết lập mối quan hệ hợp tác với lực lượng quân Đồng Minh, trước tiên là với Trung Quốc bởi đây là một nước lớn trong khối Đồng Minh lại có vị trí gần với căn cứ địa Việt Bắc của cách mạng nước ta. Để thực hiện mục tiêu trên, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động tổ chức cuộc gặp gỡ chính thức giữa Mặt trận Việt Minh với chính phủ Tưởng Giới Thạch để bàn bạc về quan hệ giữa hai bên trong cuộc đấu tranh chống Nhật giải phóng đất nước. Chuẩn bị cho chuyến đi ngoại giao này, Người đã chỉ đạo lập hai con dấu của &quot;Việt Nam Độc lập Đồng minh&quot; và ''Quốc tế phản xâm lược Việt Nam Phân hội&quot;. Từ thời điểm này, Nguyễn Ái Quốc chính thức lấy tên là Hồ Chí Minh với tư cách là đại diện Mặt trận việt Minh sang gặp chính phủ Tưởng Giới Thạch. Ngày 13- 8-1942, Hồ Chí Mình lên đường đi Trung Quốc: Sau hơn hai tuần đi bộ, đoàn ngoại giao của Mặt.trận Việt Minh đến được huyện Tĩnh Tây (Trung Quốc)... Nhưng ngay sau đó, Hồ Chí Minh đã bị chính quyền địa phương của Tưởng bắt giam. Với tố chất của vị lãnh tụ vĩ đại, của một chiến sĩ cách mạng luôn tâm huyết, sẵn sàng hy sinh vì lợi ích dân tộc, người đã biến khó khăn là thuận lợi, biến “nguy” thành ''an'' để cách mạng đạt được những mục tiêu đề ra.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:28.8pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trước sự kiện Hồ Chí Minh bị quân đội Tưởng bắt giam, Hội Cứu quốc ở vùng căn cứ địa Việt Bắc và nhiều Việt kiều ở Hoa Nam đã gửi hàng trăm bức thư đòi lính phủ Tưởng Giới Thạch trả tự do cho Hồ Chí Minh. Vào năm 1943, quân Đồng minh bắt đầu phản công phát xít Nhật mạnh mẽ. Trước khả năng quân Anh, Mỹ sẽ đổ bộ vào Đông Dương, Chính phủ Tưởng Giới Thạch chủ trương thực hiện gấp kế hoạch ''Hoa quân nhập <span style=""> </span>Việt&quot;. Để thực hiện kế hoạch này, Chính phủ Tưởng Giới Thạch xác định trước tiên phải củng cố lại Ban lãnh đạo “Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội” (“Việt cách”) và tìm mọi cách đưa Việt Minh vào. Do đó, ngày 10-9-1943, Chính phủ Tưởng Giới Thạch mà đại diện 1à Trương Phát Khuê đã ra lệnh thả tự do cho Hồ Chí Minh và mời Người tham gia Ban trù bị Đai hội toàn quốc của “Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội”. việc Chính phủ Tưởng Giới Thạch chấp nhận sự hiện diện của lực lượng cánh tả của cách mạng Việt Nam trong “Việt Cách” theo Hồ Chí Minh mặc dù không ảo tưởng chính trị đối với chính quyền Tưởng Giới Thạch nhưng đây là dấu hiệu thuận lợi cho lực lượng cách mạng của ta trong việc từng bước nối quan hệ với quân Đồng minh nên Hồ Chí Minh đã đồng tham gia Ban trù bị Đại<i> </i>hội của Việt Cách. Sau một số lần họp, Hội nghị trù bị vẫn chưa thống nhất được thời gian họp và số đại biểu Việt Minh tham gia Đại hội. Trong bối cảnh đó, Hồ Chí Minh đã trở thành nhân vật có những sáng kiến lớn trong việc tìm ra lối thoát cho những bế tắc trên khi Người đề nghị: họp hội nghị đại biểu hải ngoại trước để thống nhất các lực lượng cách mạng của Việt Nam tại nước ngoài đồng thời để thực hiện trù bị cho Đại hội của Việt Cách, Đại hội chính thức sẽ được tiến hành sau cuộc họp đại biểu hải ngoại một năm, địa điểm họp tại khu giải phóng Việt Bắc. Sáng kiến này được Trương Phát Khuê tán thành và đề nghị Hồ Chí Minh là người chủ trì lập và triển khai kế hoạch.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:28.8pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Với những nỗ lực lớn, Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng vào thành công của Hội nghị đại biểu hải ngoại được tiến hành tại Liễu Châu (Trung Quốc). Tại Hội nghị này Hồ Chí Minh đã trình bày hai bản tham luận : “Về Phân hội quốc tế chống xâm lược của Việt Nam”<i> </i>và &quot;Về các đảng phái trong nước'' thể hiện rõ quan điểm của cách mạng Việt Nam trong việc tham gia chống kẻ thù chung là chủ nghĩa phát xít. Qua Hội nghị này, Tưởng Giới Thạch đã chấp nhận để cho Đảng cộng sản Đông Dương và Việt Minh vào Mặt trận liên minh Trung - Việt chống phát xít. Từ mối quan hệ với Tưởng, cách mạng nước ta đã chính thức kết nối với sức mạnh của quân Đồng minh, hoà chung với sức mạnh của thời đại trong cuộc chiến chống chủ nghĩa phát xít, giành độc lập đối với các dân tộc thuộc địa.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:28.8pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sau thắng lợi ở Hội nghị đại biểu hải ngoại, Tưởng Giới Thạch đã phải để Hồ Chí Minh về nước để tiếp tục lãnh đạo cuộc cách mạng. Nhưng thực tế cho đến ngày 9-8-1944, Trương Phát Khuê mới hoàn tất các thủ tục công nhận quyền tự do của Hồ Chí Minh và ngày 29-9- 1944, Hồ Chí Minh mới rời được Liễu Châu (Trung Quốc) về Cao Bằng để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng nhân dân ta.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:1cm;margin:0cm 0cm 6pt 0.45pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Khi ở Liễu Châu, từ mối quan hệ với Trương Phát Khuê, Hồ Chí Mmh đã làm quen với một số sĩ quan của Mỹ trong tổ chức OSS (Offce Strategic Services – Tổ chức tình báo của Mỹ trong Chiến tranh thê giới thứ hai) và OWI (Offce of War Information - Tổ chức thông tin chiến tranh của Mỹ trong Chiến tranh thế giới thứ hai). Từ đó, mỗi quan hệ giữa Hồ Chí Minh với tướng Sênôn chỉ huy quân đoàn không quân của Mỹ ở chiến trường Tây Nam Trung Quốc đã được thiết lập. Nhằm phá thế độc quyền của chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp ở khu vực Đông Nam Á, tổng thống Rudơven đã đưa ra kế hoạch thiết lập một Hội đồng thác quản (trusteeship) cho Đông Dương. Trước tình hình đó, Hồ Chí Minh đã nhận định đây chính là sự bất lợi lớn cho Pháp và cũng chính là dấu hiệu thuận lợi cho cách mạng nước ta. Do đó, đẩy tới việc thiết lập mối quan hệ giữa Việt Minh với Mỹ được Người rất chú trọng và chủ động triển khai.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:28.8pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Vào đầu năm 1945, Hồ Chí Minh đã cùng viên trung uý phi công Shaw<sup>(2)</sup> đi Côn Minh (Trung Quốc). Thông qua chuyến đi này, Hồ Chí Minh đã gặp Saclơ Phen thuộc Tổ chức cứa trợ không quân Mỹ và gặp lại tướng Sênôn. Tổ chức cứu trợ không quân Mỹ hứa sẽ viện trợ cho Việt Minh vũ khí, điện đài, thuốc men, đồng thời phái một nhân viên người Mỹ đi cùng với Hồ Chí Minh giúp về kỹ thuật thu phát tin qua máy vô tuyến điện. Trước khi rời Côn Minh, thông qua Hồ Chí Minh, hướng Sênôn đã tặng lực lượng Việt Minh: 6 khẩu súng ngắn, đạn dược, thuốc men và tiền. Hồ Chí Minh thay mặt cách mạng nhận số lượng viện trợ trên (trừ tiền), gửi lời cảm ơn và tỏ sự mong muốn người Mỹ tiếp tục giúp đỡ cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và phát xít Nhật. Từ đây, mối quan hệ giữa cách mạng nước ta với lực lượng quân đội Mỹ đang làm nhiệm vụ của quân Đồng minh ở chiến trường châu Á - Thái Bình Dương đã đánh thức được thiết lập. Dưới sự thảo thuận của hai bên, ngày 16-7-1945, nhóm tình báo chiến lược Mỹ mang biệt danh ''Con Nai'' do thiếu tá Tônmát dẫn đầu đã nhảy dù xuống khu vực làng Kinh Lung (Tuyên Quang) và được lực lượng của ta bố trí đóng quân ở Tân Trào. Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ xác định mục tiêu của quân Nhật để ngáy bay Mỹ phá huỷ và chuyển thông tin về Tổng hành dinh OSS, nhóm ''Con Nai&quot; còn đẩy ngạnh việc giúp Việt Minh xây dựng hệ thống thông tin liên lạc và phối hợp với ta tiêu tiệt phát xít Nhật. Với tư cách là người chỉ huy nhóm “Con Nai” Thiếu tá Tômát đã tổ chức một đội du kích khoảng 50 chiến sĩ Việt có trang bị vũ khí thực hiện nhiệm vụ cắt đứt đường sắt sang Trung Quốc, phá huỷ tuyến giao thông Hà Nội - Lạng Sơn với mục tiêu ngăn cản sự di chuyển của quân Nhật sang Lạng Sơn, khóa đường sang vùng Hoa Nam trong trường hợp nếu Mỹ quyết lập căn cứ tấn công quân Nhật ở Bắc Việt Nam. Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, <span style=""> </span>Tômát đã thuyết phục được sở chỉ huy OSS ở Côn Minh tiếp tục viện trợ vũ khí cho Việt Minh bằng không quân với nhiều loại súng ngáy, súng côn 60, ba- đô-ka, súng máy Bren, 20 tiểu liên Tôm-xơn, 60 các bin (carbin), 4 súng trường M-1, 20 súng lục cùng ống nhòm<sup>(3)</sup>.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:28.8pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Vào nổ đầu tháng 8 năm 1945, nhóm ''Con Nai&quot; đã tổ chức huấn luyện cho các chiến sĩ Việt Minh cách sử dụng các loại vũ khí do Mỹ trang bị. Khi cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám nổ ra, lực lượng này còn trực tiếp tham gia giúp đỡ nhân dân một số tỉnh ở Việt Bắc khởi nghĩa giành chính quyền. Đặc biệt là trong cuộc Cách mạng Tháng Tám ở Thái Nguyên, nhóm ''Con Nai&quot; và Thiếu tá Tômát đã gia rất tích cực và góp phần vào thắng lợi của cuộc đấu tranh giành chính quyền ở đây. Thiếu tướng Tômát từng tham gia góp ý kiến rất xác đáng vào phương án tác chiến khởi nghĩa giải phóng thị xã Thái Nguyên với bộ chỉ huy Uỷ ban khởi nghĩa tỉnh Thái Nguyên tại cuộc họp hồi 22h ngày 19-8-1945 để chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa của tỉnh<sup>(4)</sup>. Trong tình thế cuộc đấu tranh giành chính quyền của nhân dân Thái Nguyên gặp khó khăn do quân Nhật cố thủ tại thị xã, Tônmát đã viết<span style="">  </span>một tối hậu thư gửi quân Nhật có tác dụng gây sức ép, hỗ trợ phong trào quần chúng, buộc phát xít Nhật phải đầu hàng vô điều kiện, ghành thắng lợi cho cách mạng...</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:28.8pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Như vậy, những hoạt động tích cực của Hồ Chí Minh trong việc thiết lập mối quan hệ vôi quân Đồng Minh đã góp phần thiết thực vào việc chuẩn bị lực, tạo thế cho Cách mạng Tháng Tám. Động thái này còn là sự thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo của Hồ Chí Minh đối với quá trình chuẩn bị đấu tranh giành chính quyền của dân tộc ta ở thời điểm này cần nắm bắt những diễn biến của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, từ đó tạo ra <i>phương pháp luận</i> <i>cách mạng</i> <i>quan trọng </i>trong việc tạo và chớp thời cơ giành thắng lợi cho cách mạng.</span></p>
<p><strong>Nguồn</strong> <b><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Giáo dục lý luận. – 2008. – Số 8. – Tr. 9-12</span></b></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 2:50 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Thắng lợi của cuộc cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của nghệ thuật “tạo lực, lập thế, tranh thời” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tế lịch sử cho thấy sức mạnh nội lực của cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền của dân tộc ta đã được tăng cường và nhân lên khi được kết hợp với sức mạnh thời đại, yếu tố ngoại lực. Đây là một bài học có giá trị lớn gắn liền với vai trò của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong thiết lập mỗi quan hệ giữa lực lượng cách mạng của ta với quân Đồng Minh đồng thời tranh thủ cao nhất mối quan hệ đó để tăng cường “thế”  và “lực” cho cách mạng, tạo tiền đề quan trọng để Cách mạng tháng Tám thắng lợi toàn diện bởi nghệ thuật chớp thời cơ điển hình.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 6.196</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 07:54:54 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=47</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Các di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Quảng Tây, Trung Quốc</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=13</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass5082A49C189D480293BB56A43232EFF2><p><span style="font-size:10pt">… Tỉnh Quảng Tây còn có tên gọi là Khu tự trị dân tộc Choang, có đường biên giới dài với Việt Nam, giáp các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh. Theo nhà sử học Trung Quốc Hoàng Tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở Quảng Tây Với thời gian là 2 năm 11 tháng. Đó là các thời kỳ sau: </span></p>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt">
<p> </p>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><span style="font-size:10pt">1. Từ cuối năm 1938 đến cuối năm 1940, Nguyễn Ái Quốc trong vai thiếu tá Bát lộ quân với tên Hồ Quang từ Tây An đến hoạt động ở Quế Lâm. Sau đó Người đi Tịnh Tây, đến ngày 28-1-1941, vượt qua cột mốc 108 biên giới Việt - Trung về Pác Bó, Cao Bằng. (Từ cuối 1938 đến 28-1-1941 thỉnh thoảng có những thời gian ngắn từ Quảng Tây, Người đi công tác ở các tỉnh Hồ Nam, Quý Châu, Vân Nam). </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><span style="font-size:10pt">2. Từ ngày 28-1-1941, sau khi về nước, Nguyễn Ái Quốc nhiều lần qua biên giới đến huyện Tịnh Tây. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><span style="font-size:10pt">3. Từ 13-8-1942, với tên Hồ Chí Minh, Người lên đường đi Trung Quốc để liên lạc với các lực lượng cách mạng của người Việt Nam và lực lượng Đồng minh. Ngày 27-8-1942 khi đến xã Túc Vinh thuộc huyện Đức Bảo thì bị bọn Quốc dân đảng bắt giữ. Từ đó bắt đầu cuộc sống tù đầy hơn 1 năm qua 13 huyện của tỉnh Quảng Tây với 18 nhà tù, trại giam. Ngày 10-9-1943, Người được trả lại tự do. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><span style="font-size:10pt">4. Từ sau ngày 10-9-1943, tại Liễu Châu, Người tiếp tục hoạt động cách mạng, đến khoảng giữa tháng 9-1944 trở về Pác Bó, Cao Bằng. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><span style="font-size:10pt">Theo các nhà nghiên cứu Hoàng Quang Châu, Hoàng Tranh, sau khi về nước, thỉnh thoảng Hồ Chí Minh sang Tịnh Tây, thường ở nhà Từ Vĩ Tam, một nông dân nghèo, kết nghĩa anh em với Hồ Chí Minh, sống tại bản Ba Mông (Pà Mông). Từ ngày 25-8 đến sáng sớm 27-8-1942, Người ở nhà Từ Vĩ Tam, dịp tết Trung Nguyên (14-7 âm lịch). Ngày 26-8-1942, tại nhà Từ Vĩ Tam có cuộc bàn ai sẽ đưa Hồ Chí Minh đi Bình Mã (huyện lỵ huyện Điền Đông). Dương Đào (Dương Thuần Cương) đã hăng hái nhận trách nhiệm. Khi dẫn Hồ Chí Minh từ Tịnh Tây đi Bình Mã, Dương Đào bị bắt cùng với Người ở Túc Vinh; sau đó cũng bị giải qua các nhà tù Quảng Tây và đã mất ở Liễu Châu. Cụ Dương Thắng Cường, 74 tuổi (em ruột Dương Đào), người đã vinh dự là một trong 7 người của đoàn đại biểu Quảng Tây được mời sang Việt Nam dự Quốc khánh 2-9 (1963) kể lại, khi Dương Đào bị mất ở Liễu Châu, Hồ Chí Minh có viết một bức thư báo tin cho gia đình ông. Các cụ Hoàng Tài Hán, 84 tuổi (người được coi là giỏi chữ Hán nhất thôn); Hoàng Đức Hán, 74 tuổi, cho biết lúc Hồ Chí Minh đến đây trông đã già và thường dậy cho một số người chơi cờ. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><span style="font-size:10pt">Nhà Từ Vĩ Tam khi Hồ Chí Minh ở là nhà tranh, sau lớp ngói, còn hiện nay là nhà bê tông mái bằng, mới xây dựng ở trên nền đất cũ ở Ba Mông có hang đá mà nhân dân địa phương gọi là hang “Thông Phong”. Hang Thông Phong ở trên núi Phong Nham, cách thôn khoảng 1 km, qua cánh đồng lúa. Từ chân núi đá lên đến hang cao khoảng 50 - 60 mét. Hồ Chí Minh ở hang này vào năm 1941, do Từ Vĩ Tam đưa vào. Trong hang kê 2 phản gỗ cho Hồ Chí Minh và Từ Vĩ Tam nằm. Chiếc chăn để Hồ Chí Minh đắp lúc ngủ trong hang cũng do Từ Vĩ Tam đưa lên (các hiện vật đó đều không còn). Có lúc Hồ Chí Minh ở trong hang cả ngày. Có bữa ăn ở nhà Từ Vĩ Tam, có lúc do cụ Tài Hán đem lên hang ăn rất đạm bạc, lúc cơm, khi cháo, và có lúc lại là ngô.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><span style="font-size:10pt">Hồ Chí Minh đặt tên cho hang là <i>Tú Tung Động</i>. Người đã viết 3 chữ này khá to bằng vôi trắng lên vách hang. Tất cả các bút tích còn lại, trong đó có các dòng chữ to <i>Ẩn cư hoạt lộ</i> (Con đường sống ẩn dật để hoạt động), <i>Huynh đệ kết nghĩa đại gia nhất điều tâm </i>(Kết nghĩa anh em, tất cả phải một long). Hiện nay nhiều chữ vẫn còn rõ nét, dễ đọc, nhưng có chữ đã bị mờ không dễ nhận biết. Từ trước tới nay chưa có tư liệu xuất bản nào nói về hang này. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><span style="font-size:10pt">Đến khảo sát ở thị trấn Long Lâm (cách Tịnh Tây khoảng 30 km), nhân dân địa phương cho biết, khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 4-1941, Nguyễn Ái Quốc đã nhiều lần từ Cao Bằng mang ở trong nhà của bố con cụ Trương Đình Duy, Trương Kỳ Siêu ở Long Lâm. Người cải trang làm một nhà địa lý. Theo các cụ kể lại để giữ bí mật Hồ Chí Minh thường ở trong nhà và không tiếp ai, cho thỉnh thoảng mới thấy Người đội nón, chân đi giày cỏ đứng ở gốc cây đa (hiện vẫn còn trong sân nhà cụ Trương Đình Duy). Không ai biết đó là một nhà cách mạng Việt Nam. Ngôi nhà cụ Trương Đình Duy đã bán cho người khác, nay nhà đã xây khác trước hoàn toàn. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><span style="font-size:10pt">Tại thành phố Liễu Châu (miền Trung tỉnh Quảng Tây cách Nam Ninh 264 km), Giáo sư Lương Quế Trụ đã nghiên cứu về hoạt động của Hồ Chí Minh ở Liễu Châu ở đây có một số di tích gắn với Hồ Chí Minh. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><span style="font-size:10pt">Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giải tới, giải lui qua mười mấy nhà tù của tỉnh Quảng Tây và đến ngày 9-12-1942, giam ở nhà ngục Liễu Châu. Đầu tháng 1-1943, chúng lại giải Người đến giam ở nhà ngục Quế Lâm. Cuối tháng 1 đầu tháng 2-1943, từ nhà ngục Quế Lâm, Hồ Chí Minh lại bị giải về nhà giam của Cục chính trị Đệ tứ chiến khu Quốc dân đảng ở Liễu Châu. Lúc đầu Người bị giam trong căn phòng nhỏ 4 phía tường gạch có lưới dây thép gai bao quanh (chỗ này nay không còn). Sau đó, do tình hình chiến sự căng thẳng, máy bay Nhật thường xuyên bắn phá Liễu Châu, Cục chính trị Đệ tứ chiến khu đã đưa Hồ Chí Minh vào hang núi Phan Long. Ở trong hang này, tuy tránh được bom đạn nhưng lại quá ẩm thấp. Hang không rộng, không có ánh mặt trời chiếu vào, suốt ngày ẩm ướt nên rất lạnh, mọi sinh hoạt đều diễn ra trong hang, có lính canh gác cẩn mật. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><span style="font-size:10pt">Ngày 10-9-1943, Hồ Chí Minh được trả tự do nhưng vẫn bị quản chế. Người được chuyển từ hang núi Phan Long về ở trong một căn phòng của <i>Chiêu đãi sở</i>, cách hang núi Phan Long không xa (nay thuộc khu vực Trường y tế quảng Tây). Lúc này sức khoẻ của Người bị giảm sút nghiêm trọng. Người đã phải tập đi bộ leo núi tập bơi v.v. để lấy lại sức khoẻ. Ở đây Người được tự do đọc sách báo. Người đã tìm mọi cách để viết thư gởi về cho ĐCS Đông Dương </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><i><span style="font-size:10pt">Trụ sở của Tổng bộ Việt Nam cách mạng Đồng minh hội</span></i><span style="font-size:10pt"> tại đường Ngư Phong, nay là Trường tiểu học Ngư Phong sơn, đường Liễu Thạch. Ngôi nhà gồm 2 tầng khung gỗ tường xây gạch mái ngói. Hồ Chí Minh ở một phòng trên tầng 2 phía đông nam của ngôi nhà. Phòng ở đơn giản, chỉ có bộ phản kê bằng 4 tấm gỗ dài ngắn khác nhau làm giường ngủ, bộ bàn ghế gỗ nhỏ ngồi làm việc một máy in rônêô, một chậu rửa mặt và 3 ghế trúc nhỏ để tiếp khách. Những đồ dùng và cả căn phòng này được giữ lại nguyên vẹn như ngày Hồ Chí Minh ở đây. Ở bức tường trước lối đi vào căn phòng có treo một bảng gỗ ghi dòng chữ <i>Di tích Chủ tịch Hồ Chí sinh, Việt Nam, 12.1943 - 8.1944.</i> </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><span style="font-size:10pt">Với cương vị là Phó chủ tịch Tổng bộ Việt nam cách mạng Đồng minh hội (theo yêu cầu của Trương Phát Khuê, Tư lệnh Đệ tứ chiến khu), Hồ Chí Minh về ở và làm việc tại đây Người đã viết nhiều bài và in truyền đơn gửi về Việt Nam. Người tiếp xúc với nhiều nhà cách mạng Trung Quốc ở Liễu Châu, và được mời làm cố vấn cho Bộ chính trị Đệ tứ chiến khu, là giảng viên chính trị cho các lớp huấn luyện (theo Giáo sư Lương Quế Trụ). </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><span style="font-size:10pt">Ngày 9-8-1944, Hồ Chí Minh rời ngôi nhà này, rời Liễu Châu trở về Việt Nam. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><span style="font-size:10pt">Nhà số 1 khách sạn Liễu Châu, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và hội đàm với Thủ tướng Chu Ân Lai, từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954, bàn một số vấn đề có liên quan đến Hội nghị Giơnevơ lập lại hoà bình ở Đông Dương. Nhà 2 tầng, xây gạch đỏ, cạnh bờ Liễu Giang. Hồ Chí Minh ở trong căn phòng trên tầng 2, phía bên phải. Hiện nay căn phòng vẫn còn nguyên, nhưng nội thất đã hoàn toàn thay đổi. Cũng trong khách sạn Liễu Châu, Thủ tướng Chu Ân Lai ở ngôi nhà số 3. Sau những giờ làm việc, Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai thường ra Nghinh Phong đình ngồi nghỉ mát và đàm đạo. Ngày nay ngôi đình vẫn giữ nguyên dáng vẻ như xưa. Từ sau năm 1954 đến nay, đình được gọi là đình Hữu Nghị </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><span style="font-size:10pt">Theo báo cáo của Ban quản lý Di tích văn phòng Bát lộ quân trong thời gian ở Quế Lâm, Hồ Chí Minh thường đến đọc sách ở phòng Cứu vong hoặc đến liên hệ công tác ở Văn phòng này. Ở Quế Lâm, với bút danh Bình Sơn, Người đã viết nhiều bài cho tờ <i>Cứu vong nhật báo</i> (tờ báo do ĐCS Trung Quốc lãnh đạo trong thời kỳ chống Nhật). Đồng thời, Người cũng viết nhiều bài gửi về Việt Nam đăng trên tờ Notre voix (Tiếng nói của chúng ta) để thông báo tình hình thế giới và tố cáo tội ác của phát xít Nhật. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><span style="font-size:10pt">Di tích hiện nay vẫn giữ được hầu như nguyên trạng (của những năm 1938 - 1940). Ở trước cửa ra vào treo 1 bảng gỗ với dòng chữ <i>Đội quân cách mạng quốc dân, Văn phòng Quế Lâm của Tập đoàn quân thứ 18.</i> Qua cửa là phòng cảnh vệ, phía trong là phòng trực ban, phòng phụ trách giao thông. Phía trái là phòng Cứu vong. Trong phòng kê một tủ để sách, báo, có sách về ĐCS Liên Xô và <i>Tân Hoa nhật báo</i>. Ngoài ra còn kê một vài bộ bàn ghế bằng nứa. Tiếp đó là các phòng Hành chính, phòng Tài vụ, ở trong là phòng của các chiến sĩ. Tầng 2 là các phòng ở, phòng họp, phòng cơ yếu, phòng điện đài. Ngày 26-2-1963, di tích đã được Nhà nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa xếp hạng là Di tích cấp quốc gia. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><span style="font-size:10pt">Có thể nói rằng, Trung Quốc nói chung và Quảng Tây nói riêng là nơi lưu giữ nhiều dấu ấn lịch sử về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để gìn giữ lâu dài các di tích của Người trên đất nước Trung Hoa nói chung cũng như ở tỉnh Quảng Tây nói riêng, hy vọng các cơ quan có thẩm quyền của hai Nhà nước Việt Nam, Trung Quốc sớm hiệp thương và đề ra được những giải pháp tích cực. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><span style="font-size:10pt">1. Đồng chí Nguyễn Huy Hoan, nguyên Phó giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh cho biết: Có một bài thơ chữ Hán viết bằng than đen ở vách hang này. Theo lời cụ Tài Hán, đó là bài thơ của Hồ Chí Minh và chữ viết là của Người. Đọc theo âm Hán - Việt: </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:42.55pt"><i><span style="font-size:10pt">Nhật xuất Đông phương nhất điểm hồng </span></i></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:42.55pt"><i><span style="font-size:10pt">Nga my phượng nhãn tự loan cung </span></i></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:42.55pt"><i><span style="font-size:10pt">Mãn thiên tinh đẩu linh đinh điếu </span></i></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:42.55pt"><i><span style="font-size:10pt">Ô vân cái nguyệt ám mông lung</span></i><span style="font-size:10pt">. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><span style="font-size:10pt">Dịch nghĩa là: </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:42.55pt"><i><span style="font-size:10pt">Mặt trời mọc phương Đông một điểm hồng </span></i></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:42.55pt"><i><span style="font-size:10pt">Mắt phượng mày thiên nga cong như cánh cung </span></i></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:42.55pt"><i><span style="font-size:10pt">Sao đầy trời treo tản mát </span></i></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:42.55pt"><i><span style="font-size:10pt">Mây đen che trăng mờ mông lung.</span></i></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:14.2pt"><span style="font-size:10pt">Tạm dịch thành vần là: </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:42.55pt"><span style="font-size:10pt">Phương Đông trời đỏ vầng dương mọc </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:42.55pt"><span style="font-size:10pt">Mắt phượng mày nga tựa cánh cung </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:42.55pt"><span style="font-size:10pt">Sao sáng đầy trời treo tản mát </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:42.55pt"><span style="font-size:10pt">Mây đen che nguyệt tối mông lung. </span></div>
<p><span style="font-size:10pt">Bài thơ được sáng tác trong bối cảnh cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đang diễn ra ác liệt giữa bọn phát xít gây chiến và loài người tiến bộ, vì vậy ẩn chứa nhiều nội dung mà chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu.</span></p>
<p><span style="font-size:10pt">Nguồn <span style="font-family:Arial;font-size:10pt">PGS, PTS Đỗ Văn Trụ, Vũ Thị Nhị (Bảo tàng Hồ Chí Minh) // Lịch sử Đảng. -1997. –Số 11. –Tr.53-55</span></span></p>
</div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/06/2011 3:50 CH</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.978</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Mon, 06 Jun 2011 08:52:19 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=13</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nguyễn Ái Quốc - Người tạo dựng nền tảng phát triển của cách mạng Đông Dương</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=20</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass9B9857D3D9CD4171A73A8CDE69003A9D><p>
<table class=MsoNormalTable border=0 cellspacing=3 cellpadding=0 width=1 align=left style="width:0.75pt">
    <tbody>
        <tr style="">
            <td style="border-bottom:#ece9d8;border-left:#ece9d8;padding-bottom:1.5pt;background-color:transparent;padding-left:1.5pt;padding-right:1.5pt;border-top:#ece9d8;border-right:#ece9d8;padding-top:1.5pt">
            <p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><img width=250 height=192 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-6/NAQ762011_84211.jpg"></span></p>
            <p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (8-2-1966). Ảnh tư liệu</span></p>
            </td>
        </tr>
    </tbody>
</table>
</p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau nhiều năm nghiên cứu lý luận cách mạng và khảo sát đời sống chính trị, xã hội tại nhiều nước đế quốc và thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc không dừng lại ở con đường cách mạng tư sản và vẫn vươn tới khám phá chân lý cách mạng soi sáng con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa, giải phóng dân tộc Việt Nam và hai nước Lào, Campuchia. Tháng 7 năm 1920, khát vọng đó của Người được đáp ứng, khi Người phát hiện ở bản <i style="">Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin cái cẩm nang về giải phóng dân tộc thuộc địa</i>.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Điều quan trọng nhất trong nhận thức của Nguyễn Ái Quốc đối với chủ nghĩa Mác-Lênin được thể hiện nhất quán trong cuộc đời và hoạt động cách mạng của Người, là lập trường của giai cấp vô sản về giải phóng dân tộc thuộc địa, giải phóng các gaii cấp bị áp bức, giải phóng con người; quan điểm cách mạng triệt để “cách mạng rồi phải gioa quềyn cho dânc húng số nhiều”; phương pháp biện chứng duy vật; xử lý mối quan hệ anh em, đồng chí, đồng bào có lý, có tình. Người vận động những điều đó vào điều kiện cụ thể của các dân tộc bị áp bức để đưa ra những luận đi63m về cách mạng giải phóng thuộc địa, cách mạng Đông Dương và cách mạng Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Có thể thấy rõ những luận điểm của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng Đông Dương bao hàm những nội dung cốt yếu sau đây:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">1- Con đường giải phóng nhân dân Đông Dương là con đường cách mạng vô sản </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước hết, Nguyễn Ái Quốc vạch trần tội ác không thể dung tha do đế quốc Pháp gây ra cho nhân dân Đông Dương, từ chinh phục bằng lưỡi lê, đến áp bức, bóc lột tàn bạo. Người Đông Dương bị đầu độc bằng rượu cồn và thuốc phiện; bị giam hãm trong vòng ngu tối, cứ 10 trường học thì có 1000 đại lý thuốc phiện chính thức. Nhà tù của chính quyền thuộc địa chật ních người bản xứ bị giam giữ. Ở Đông Dương hoàn toàn không có tự do tư tưởng đúng như nhận xét của Nguyễn Ái Quốc: “Bất kỳ người bản xứ nào có tư tưởng xã hội chủ nghĩa đều bị bắt và đôi khi bị giết mà không cần xét xử”<a name="_ftnref2"></a><sup>1</sup>.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đáp ứng nguyện vọng thiết tha nhất của nhân dân Đông Dương là trút bỏ gông cùm nô lệ của tư bản Pháp, Nguyễn Ái Quốc đưa ra luận điểm quan trọng nhất về giải phóng Đông Dương là con đường cách mạng vô sản. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ năm 1921, trong bài “Đông Dương” đăng trên <i style="">La Revue Communiste (Tạp chí Cộng sản)</i> số 15, Nguyễn Ái Quốc dựa trên cứ liệu lịch sử để khẳng định rằng, chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á hơn là châu Âu. Người cho rằng, người Đông Dương đều bị thực dận Pháp đầu độc nhưng không thể làm cho tư tưởng cách mạng của họ bị tê liệt. Làn gió cách mạng thổi từ nước Nga Xô viết, từ Trung Quốc cách mạng, từ Ấn Độ chiến đấu đang thức tỉnh họ. Trên diễn đàn Đại hội Đảng Xã hội Pháp cuối tháng 12-1920 và các tổ chức của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đề nghị Đảng Xã hội phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội tại các thuộc địa của tư bản Pháp và đề xuất những hoạt động cần phải tiến hành tại địa bàn này, trong đó có Đông Dương và cử người tới Đông Dương nghiên cứu tình hình vì: “Nói rằng Đông Dương gồm hai mươi triệu người bị bóc lột, hiện nay đã chín muồi cho một cuộc cách mạng là sai, nhưng nói rằng Đông Dương không muốn cách mạng và bằng lòng với chế độ bây giờ như những ông chủ của chúng ta thường vẫn nghĩ như thế, thì lại càng sai hơn nữa”<a name="_ftnref3"></a><sup>2</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sự thật là người Đông Dương lúc bấy giờ chưa có những điều kiện cần thiết để hiểu biết lý luận, lại bị đầu độc, bị giam hãm trong tình trạng lạc hậu, cộng với sự đàn áp khốc liệt của chế độ thuộc địa. Nhưng Nguyễn Ái Quốc đã thấy rõ <i style="">sức sống mãnh liệt của người Đông Dương.</i> Từ đó, Nguyễn Ái Quốc đề nghị Quốc tế Cộng sản tăng cường giúp đỡ cách mạng Đông Dương về đào tạo cán bộ, xây dựng tổ chức cách mạng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">2- Cách mạng cần phải giảng giải lý luận cho dân hiểu để dân đoàn kết và đấu tranh</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ một nhà yêu nước, giác ngộ lý tưởng cách mạng của giai cấp vố sản, tại nước Pháp những năm đầu thập kỷ 1920, Nguyễn Ái Quốc đã ra sức tuyên truyền để nhân dân Pháp hiểu rõ bản chất xấu xa của chế độ thuộc địa mà ủng hộ sự nghiệp giải phóng dân tộc bị áp bức; đồng thời Người tham gia sáng lập và phát hành báo Le Paria<a name="_ftnref4"></a><sup>3</sup> (<i style="">Người cùng khổ),</i> một công cụ tuyên truyền, giác ngộ nhân dân các nước thuộc địa Pháp. Đông Dương là một địa chỉ tiếp nhận và lưu hành tờ báo này.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1923, đánh giá kết quả hoạt động của Hội Liên hiệp thuộc địa và báo Người cùng khổ, Nguyễn Ái Quốc viết trong <i style="">Thư gửi các bạn cùng hoạt động:</i> “Công việc chung của chúng ta “Hội Liên hiệp thuộc địa” và báo Người cùng khổ đã có những kết quả tốt. Nó đã làm cho nước Pháp, nước Pháp chân chính hiểu rõ những việc xảy ra trong các thuộc địa. Làm cho nước Pháp hiểu rõ bọn cá mập thực dân đã lợi dụng tên tuổi và danh dự nước Pháp để gây nên những tội ác không thể tưởng tượng được. Nó đã thức tỉnh đồng bào chúng ta. Đồng thời nó cũng giúp cho đồng bào chúng ta nhận rõ nước Pháp, nước Pháp tự do bình đẳng và bác ái”<a name="_ftnref5"></a><sup>4</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước khi rời nước Pháp lên đường về nước, Người đặt câu hỏi cho các bạn cùng hoạt động và tự nêu câu trả lời cho riêng mình:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">“Chúng ta phải làm gì?</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chúng ta không thể đặt vấn đề ấy một cách máy móc</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, <i style="">đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”<sup>5</sup> </i>(chúng tôi nhấn mạnh - NBS)<a name="_ftnref6"></a> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ở thời điểm khởi nguồn cho chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng cách mạng Nguyễn Ái Quốc đi đến với nhân dân Đông Dương, cuốn sách Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc, xuất bản năm 1925 tại Paris, được chuyển tới nhiều thuộc địa Pháp, đã giữ vai trò quan trọng giác ngộ thanh niên, học sinh, sinh viên, trí thức, về tư tưởng cách mạng giải phóng thuộc địa theo con đường cách mạng vô sản, bắt đầu từ đấu tranh kết liễu chế độ thực dân tàn bạo để mở hướng xây dựng một xã hội mới theo gương cách mạng Tháng Mười Nga.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc cho người đọc nhận thức rõ bản chất xấu xa của chế độ thực dân do tư bản Pháp tiến hành xâm lược và dựng lên tại các nước thuộc địa của nó. Dưới ngòi bút sắc sảo của tác giả, cảnh bắt lính, tước đoạt ruộng đất, tăng các loại thuế, mức thuế, đầu độc và ngu dân, tệ tham nhũng của bộ máy quan chức thuộc địa… bị phơi bày và kết án. Và điều quan trọng nữa là, Nguyễn Ái Quốc đưa ra luận điểm mới của mình về phương pháp đấu tranh thủ tiêu chế độ tư bản trên quy mô toàn thế giới bằng sự hợp lực giữa giai cấp vô sản ở chính quốc và giai cấp vô sản thuộc địa: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”<a name="_ftnref7"></a><sup>6</sup>. Hình tượng trên giúp người đọc thấu hiểu cách mạng thuộc địa là một bộ phận hữu cơ của cách mạng vô sản thế giới như Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”<a name="_ftnref8"></a><sup>7</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu, Trung Quốc, tháng 11 năm 1924. Đầu năm 1925, Người mở lớp huấn luyện cho những thanh niên Việt Nam yêu nước đang ham muốn tiếp nhận lý luận chính trị. Dựa trên cơ sở các bài giảng tại lớp huấn luyện, Nguyễn Ái Quốc viết tác phẩm <i style="">Đường cách mệnh</i><a name="_ftnref9"></a> nêu bật giá trị của lý luận cách mạng đối với sự thành công của cách mạng mà Lênin đã tổng kết: “Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động… chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, Đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong”<sup>8</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tác phẩm Đường cách mệnh rất xứng đáng là cuốn sách giáo khoa lý luận, chính trị và phương pháp hoạt động cách mạng; là tác phẩm giáo dục đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng, ý chí đấu tranh cho cán bộ và quần chúng nhân dân Việt Nam, Lào những địa bàn mà Nguyễn Ái Quốc đang dốc lòng, dốc sức gieo mầm cách mạng<a name="_ftnref10"></a><sup>9</sup>. Tác phẩm này còn giữ vai trò quan trọng trong tiến trình chuẩn bị về nhiều mặt cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và không lâu sau khi thành lập chuyển thành Đảng Cộng sản Đông Dương.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Giữa năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và sáng lập báo Thanh niên, cơ quan ngôn luận của tổ chức này. Người là cây bút quan trọng nhất của tờ báo. Đây là tờ báo cách mạng đầu tiên bằng chữ quốc ngữ, thực hiện chức năng giáo dục, tập hợp và thống nhất tư tưởng, hành động của các chiến sĩ cách mạng và trang bị kiến thức chính trị cho đội ngũ cán bộ vận động quần chúng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau những hoạt động trên, trong thời gian hoạt động tại Xiêm, Nguyễn Ái Quốc tới Bản Đông, Uđon, Noọng khai, Sacôn nơi cư trú của nhiều kiều bào Việt Nam, từ tháng 7-1928 đến tháng 10-1929 (tại Bản Đông, Người tự giới thiệu là Thọ, biệt hiệu là Nam Sơn, tại Uđon, Người lấy tên là Chín), Nguyễn Ái Quốc sinh sống và lao động chan hoà với kiều bào ta tại các địa bàn này. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong thời gian hoạt động tại Uđon, Nguyễn Ái Quốc dịch cuốn Nhân loại tiến hoá sử và Cộng sản ABC: Người sáng tác Bài ca Trần Hưng Đạo và vở kịch Hoàng Hoa Thám để giáo dục nâng cao lòng yêu nước của đồng bào Việt kiều. Đặc biệt, Người đã đến Noọng Khai gặp gỡ một số cán bộ hoạt động từ Viêng Chăn sang để nắm tình hình cách mạng Lào. Năm 1928, Người đã tới vùng Xiềng Vang thuộc lãnh thổ Lào để tuyên truyền trong kiều bào ta về chính trị, tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc…</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong hai năm 1928, 1929, Nguyễn Ái Quốc tự thể nghiệm phương pháp vận động quần chúng Việt kiều bằng cách đan xen, kết hợp nhiều hình thức hoạt động, vừa giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng nâng cao lòng yêu nước cho đồng bào vừa đào tạo cán bộ và củng cố, mở rộng tổ chức cách mạng, chỉ dẫn biện pháp thắt chặt quan hệ thân ái, đoàn kết với cư dân bản địa và nội bộ kiều bào. Đồng thời, bằng lối sống giản dị, gần gũi đồng bào, Người cũng nhận được sự tin yêu, kính trọng của họ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Kết quả dân vận của Nguyễn Ái Quốc tại Xiêm và Lào là nhân tố quan trọng tạo dựng <i style="">nền móng bền chắc của lực lượng hậu thuẫn cho cách mạng Việt Nam và Lào.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">3- Phải xây dựng đảng cách mạng</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng đã được Nguyễn Ái Quốc luận định sáng rõ trong tác phẩm <i style="">Đường cách mệnh</i> khi trả lời câu hỏi do Người nêu ra: “Cách mạng trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có Đảng cách mạng, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”<a name="_ftnref11"></a><sup>10</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 6-1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản như chủ đích mà Người gửi gắm ở tổ chức này: “Nó là quả trứng, mà từ đó nở ra con chim non cộng sản”. Tôn chỉ của Hội là: “phụ trách tổ chức và lãnh đạo cuộc cách mạng ở Việt Nam hết sức phấn đấu để thâu phục lấy đại bộ phận thợ thuyền, dân cày và binh lính, dẫn đạo cho quần chúng lao khổ bị áp bức ấy liên hiệp với vô sản giai cấp thế giới để một mặt đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, chế độ phong kiến và chủ nghĩa tư bản mà dựng ra chính quyền độc tài (tức chuyên chính - TG) của thợ thuyền, dân cày và binh lính; một mặt tham gia vào cuộc thế giới c.m (tức cách mạng - TG) san trừ (tức đánh đổ - NBS) tư bản chủ nghĩa cả thế giới đặng thực hiện chủ nghĩa cộng sản”<a name="_ftnref12"></a><i style=""><sup>11</sup></i>. Tổ chức và hoạt động của Hội phát triển rộng khắp toàn Đông Dương. Riêng tại Lào, từ năm 1928 tổ chức Hội đã được thành lập tại Viêng Chăn, Thà Khẹc, Phôn tịu, mỏ Thiếc, Xavănnakhệt, qua đó <i style="">Đường cách mệnh</i>, báo <i style="">Thanh niên</i> và nhiều tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc cũng được truyền bá tại Lào.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những hoạt động trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, đào tạo cán bộ xây dựng Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc tiến hành sâu rộng tác động trực tiếp tới sự chuyển biến của cách mạng Việt Nam và Lào, đưa tới sự ra đời của <i style="">Đông Dương Cộng sản Đảng </i>(tháng 6-1929), <i style="">An Nam Cộng sản Đảng </i>(tháng 11-1929), Đông Dương Cộng sản liên đoàn (cuối tháng 12-1929), xuất hiện một yêu cầu cấp bách là thành lập một Đảng Cộng sản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước tình hình đó, Nguyễn Ái Quốc chủ động tổ chức Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập <i style="">Đảng Cộng sản Việt Nam </i>tại Hồng Công, đầu năm 1930. Các văn kiện: <i style="">Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt </i>do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được Hội nghị thảo luận và nhất trí thông qua thể hiện rõ bản chất của Đảng là đảng vô sản kiểu mới, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, thực hiện cách mạng ruộng đất, xây dựng đất nước theo hướng đi lên chủ nghĩa cộng sản. Đảng chủ trương đoàn kết các giai cấp và tầng lớp yêu nước đoàn kết với các dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới. Nguyễn Ái Quốc đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc ở vị trí quan trọng nhất so với nhiệm vụ cách mạng ruộng đất và huy động sức mạnh cao nhất là lực lượng đại đoàn kết các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các đảng phái yêu nước để giành độc lập, tự do. Điều đó bắt nguồn từ tư tưởng Nguyễn Ái Quốc lấy tinh thần yêu nước chống đế quốc làm cơ sở xây dựng khối đoàn kết dân tộc, bao gồm công nông, tiểu tư sản trí thức, trung nông; và phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản “chia rõ mặt phản cách mạng” cùng các tổ chức đảng phái yêu nước. Mặt khác, điều này cũng là sự thể hiện quan điểm của Người đã viết trong cuốn Đường cách mệnh: “dân tộc cách mệnh thì chưa phân giai cấp, nghĩa là sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền”<a name="_ftnref13"></a><sup>12</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lời phát biểu của Hồ Chí Minh tại Đại hội II của Đảng, tháng 2-1951 đã nêu cao giá trị to lớn của sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam và góp phần thúc đẩy sự phát triển của cách mạng thế giới: “Tôi sung sướng vì tôi nhớ lại lúc Đảng Cộng sản Đông Dương (Đảng Cộng sản Việt Nam -NBS) thành lập. Thành lập như thế nào? Thành lập bí mật, Đảng ta lúc sinh ra cũng như một người con đẻ bí mật. Nó đẻ ở đâu? Trên một cái đồi tạm thời thuộc đế quốc. Nó đẻ ra ở đâu? Bên một sân bóng của đế quốc tư bản. Lúc đó chỉ có một nhóm nhỏ con con đồng chí. Số người tuy ít nhưng lòng kiên quyết rất to. Tuy số người con con nhưng đã tin tưởng Đảng sẽ giải phóng dân tộc và giúp vào cuộc giải phóng thế giới. Bây giờ chúng ta đang giải phóng dân tộc, đang giúp vào công cuộc bảo vệ hoà bình thế giới, cuộc giải phóng thế giới. Thế là cái mục đích, cái hy vọng nho nhỏ của một số ít đồng chí không những đã thành mục đích, hy vọng lớn của toàn dân tộc mà cũng là mục đích hy vọng lớn của đa số nhân dân thế giới. Thế là:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rằng bây giờ mới thấy đây</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Mà lòng đã chắc những ngày còn thơ<a name="_ftnref14"></a><sup>13</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đến tháng 10-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương, lãnh đạo cách mạng toàn Đông Dương.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">4- Cách mạng Đông Dương do nhân dân Đông Dương tự tiến hành, kết hợp với sự ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, nhân dân Đông Dương bị đầu độc và áp bức, bóc lột nặng nề dẫn tới tình trạng suy kiệt về thể chất, là điều dễ nhận biết. Nhưng có phải vì thế mà tiềm năng cách mạng của họ cũng bị vơi cạn? Giải đáp vấn đề đó, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Không! Người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi. Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương”<a name="_ftnref15"></a><sup>14</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến”<a name="_ftnref16"></a><sup>15</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người giải thích: “Đau khổ, nghèo đói và sự đàn áp tàn bạo là những người thầy duy nhất của họ”<a name="_ftnref17"></a><sup>16</sup>. Mặt khác, họ cũng chịu tác động tích cực của nhiều phong trào cách mạng trên thế giới như Cách mạng Tháng Mười Nga, cách mạng Trung Quốc và phong trào đấu tranh của nhân dân Ấn Độ. Nói như vậy không có nghĩa là vào thập niên 1920, cách mạng Đông Dương có thể bùng nổ và thu được thắng lợi là sai, nhưng nói rằng Đông Dương không muốn cách mạng và bằng lòng với chế độ bây giờ như các ông chủ của chúng ta thường vẫn nghĩ như thế, thì lại càng sai hơn nữa<a name="_ftnref18"></a><sup>17</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ý thức rõ sức mạnh của thế hệ thanh niên đối với sự thay đổi vận mệnh dân tộc và công tác giáo dục, thu hút họ vào con đường cách mạng, vượt qua sự đầu độc nặng nề của chủ nghĩa thực dân, Nguyễn Ái Quốc phải kêu gọi thống thiết thanh niên, nhằm giúp họ tự nhận rõ trách nhiệm đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp giải phóng Đông Dương khỏi hiểm hoạ diệt vong: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nêu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”<a name="_ftnref19"></a><sup>18</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hội Liên hiệp thuộc địa –</span></i><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> một trong những tổ chức mà Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập tại Pháp năm 1921 là để giúp nhân dân các nước thuộc địa, trong đó có Đông Dương, tiến hành sự nghiệp tự giải phóng. <i style="">Tuyên ngôn của Hội Liên hiệp thuộc địa </i>viết: “Vận dụng công thức của Các Mác<a name="_ftnref20"></a><sup>19</sup>, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hội Liên hiệp thuộc địa thành lập chính là để giúp đỡ anh em trong công cuộc ấy”<a name="_ftnref21"></a><sup>20</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nếu Hội Liên hiệp thuộc địa và tờ báo <i style="">Le Paria</i> của Hội đóng vai trò “thức tỉnh đồng bào chúng ta” như Nguyễn Ái Quốc đã viết, thì từ khi thành lập (năm 1925), Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và báo Thanh niên cũng thúc đẩy mạnh mẽ xu thế ấy phát triển lên trình độ mới: vừa giác ngộ người Đông Dương, vừa tổ chức họ thành lực lượng cách mạng ở khắp lãnh thổ xứ này, tạo điều kiện chín muồi cho sự thành lập chính đảng của giai cấp vô sản và phong trào cách mạng phát triển rầm rộ từ đầu năm 1930.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Vấn đề lý luận được Nguyễn Ái Quốc chú trọng làm sáng tỏ là quan hệ giữa con đường tự giải phóng và giá trị đoàn kết quốc tế. Người cho biết: “Miền Cận Đông và Viễn Đông, kể từ Xyri đến Triều Tiên - chỉ tính những nước thuộc địa và nửa thuộc địa thôi - có một diện tích rộng hơn 15 triệu km2, với số dân hơn 1.200 triệu người. Tất cả những nước rộng lớn ấy hiện đang ở dưới ách của chủ nghĩa đế quốc tư bản và mặc dầu dân số của họ đáng lẽ phải làm cho họ có sức mạnh, <i style="">các dân tộc bị áp bức đó vẫn chưa bao giờ ra sức tìm tòi thật đến nơi đến chốn con đường tự giải phóng, cho nên họ chưa hiểu được giá trị của sự đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế</i> (tác giả nhấn mạnh). Họ chưa có những mối liên hệ giữa các lục địa như các dân tộc châu Âu và châu Mỹ”<sup>21</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong thư gửi đồng chí Pêtơrốp, Tổng Thư ký ban phương Đông, Người còn nhấn mạnh nguyên nhân làm suy yếu sức mạnh đấu tranh của các nước phương Đông là tình trạng biệt lập. Người giải thích rõ thêm nguyên nhân và hậu quả của hiện tượng ấy: “Họ hoàn toàn không biết đến những việc xẩy ra ở các nước láng <a name=VNS0001>giềng</a> của họ, do đó họ THIẾU SỰ TIN CẬY LẪN NHAU, SỰ PHỐI HỢP HÀNH ĐỘNG VÀ SỰ CỔ VŨ LẪN NHAU”<sup>22</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nối tiếp hoạt động của Hội Liên hiệp thuộc địa (1921-1926), tháng 7-1925, Nguyễn Ái Quốc chủ động phối hợp với một số nhà cách mạng Trung Quốc thành lập <i style="">Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức</i>, một tổ chức quốc tế đoàn kết nhiều dân tộc thuộc địa, nửa thuộc địa như Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên, Inđônêxia. Tuyên ngôn của Đại hội thành lập Hội nêu rõ: “Con đường thoát duy nhất để xoá bỏ sự áp bức chỉ có thể là liên hiệp các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản toàn thế giới áp dụng những phương pháp cách mạng để lật đổ về căn bản chủ nghĩa tư bản đế quốc cực kỳ hung ác”<sup>23</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1927, Hội đã xuất bản cuốn Đường cách mệnh dùng làm tài liệu giáo dục, tuyên truyền cách mạng ở Đông Dương.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Với danh nghĩa là hội viên Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức, Nguyễn Ái Quốc đến gặp Uỷ ban bãi công Cảng Tỉnh (địa danh chỉ Hồng Kông và Quảng Châu) đề nghị tham gia Đội diễn thuyết. Người được Uỷ bản đồng ý mời đến một số cơ sở báo cáo về vấn đề <i style="">Quan hệ giữa công nhân Trung Quốc với các dân tộc bị áp bức và sự cần thiết phải liên hiệp lại đánh đổ đế quốc.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tại nhiều diễn đàn quốc tế, Người lên tiếng kêu gọi Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Cộng hội đỏ, Quốc tế Nông dân và các Đảng Cộng sản Anh, Pháp ủng hộ, giúp đỡ cách mạng Đông Dương.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đặt đúng tầm quan trọng <i style="">Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa</i> do Lênin trình bày tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản năm 1920, và yêu cầu của thực tiễn cách mạng giải phóng thuộc địa, tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản năm 1924, Nguyễn Ái Quốc kêu gọi: “Thưa các đồng chí, vì chúng ta tự coi mình là học trò của Lênin, cho nên chúng ta phải tập trung tất cả sức lực và nghị lực để thực hiện trên thực tế những lời di huấn quý báu của Lênin đối với chúng ta về vấn đề thuộc địa cũng như các vấn đề khác”<sup>24</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cũng ở tầm lý luận của vấn đề đoàn kết giữa cách mạng phương Tây và phong trào giải phóng thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc luận giải sáng rõ luận điểm của Lênin: “cách mạng ở phương Tây muốn thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với phong trào giải phóng, chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước bị nô dịch và vấn đề dân tộc... chỉ là một bộ phận của vấn đề chung về cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản”<sup>25</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ những quan điểm cách mạng đúng đắn trên, Người đưa ra những nhận định rất xác đáng về vị trí quan trọng nhất của vấn đề thuộc địa trong chính sách của Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Anh: “sẽ không phải là quá đáng nếu nói rằng chừng nào Đảng Pháp và Đảng Anh chúng ta chưa thi hành một chính sách thật tích cực trong vấn đề thuộc địa, thậm chí chưa đề cập đến quần chúng các nước thuộc địa, thì toàn bộ chương trình rộng lớn của hai đảng đó vẫn không có hiệu quả gì”<sup>26</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản, năm 1924, Người cho biết những thủ đoạn cướp đoạt ruộng đất kèm theo nhiều loại thuế đánh vào nông dân Việt Nam, một xứ thuộc địa lớn nhất tại Đông Dương, và các thuộc địa ở châu Phi, gây nên nạn bần cùng ngày càng gia tăng cùng nỗi phẫn uất cao độ và đương nhiên những phản ứng quyết liệt với chế độ thuộc địa đã diễn ra. Song họ đều bị đàn áp khốc liệt. Nguyên nhân của tình trạng đó là do nông dân “thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo”. Người đề nghị “Quốc tế Cộng sản cần phải giúp đỡ họ tổ chức lại, cần phải cung cấp cán bộ cho họ và chỉ cho họ con đường đi tới cách mạng và giải phóng”<sup>27</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc khái quát: Ở Đông Dương thực dân Pháp đã phục hồi chế độ nô lệ. Lúc bấy giờ, giai cấp vô sản Đông Dương chưa thể làm gì được để chống lại chế độ bóc lột đó, vì chưa xây dựng được tổ chức nào của họ. Nhưng Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra lối thoát: “với sự giúp đỡ của các tổ chức gần gũi của Quốc tế Công hội đỏ, chúng tôi quyết đập tan lực lượng của chủ nghĩa đế quốc châu Âu áp bức chúng tôi<a name="_ftnref29"></a>”<sup>28</sup> . Tiếp theo, Người kiến nghị giải pháp đưa tới kết quả của giai cấp vô sản Đông Dương: “các đồng chí chúng ta trong các tổ chức công nhân cách mạng Pháp phải tích cực giúp đỡ chúng tôi trong cuộc đấu tranh giải phóng của chúng tôi<a name="_ftnref30"></a>”<sup>29</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một kết quả hoạt động kịp thời của Nguyễn Ái Quốc là Tổng Công hội thống nhất (Pháp) cùng kiến nghị đưa vào Nghị quyết của Đại hội với những nhiệm vụ trước mắt: </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">“1- Tổ chức những người Đông Dương hiện làm việc ở Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">2- Tiến hành một chiến dịch mạnh mẽ vì quyền lợi công đoàn của người bản xứ song song với chiến dịch cho công chức.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">3- Cử những đại biểu thường trực (ít ra là 2) sang Đông Dương với sứ mệnh là tuyên truyền trong dân bản xứ và tổ chức họ<a name="_ftnref31"></a>”<sup>30</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trên đây là những luận điểm đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng Đông Dương được nêu ra trong khoảng thời gian 10 năm từ năm 1920 đến năm 1930, thể hiện kết quả nghiên cứu lý luận gắn kết chặt chẽ với hoạt động thực tiễn của Người. Đó là những nhân tố xác định hướng phát triển của cách mạng Đông Dương, hiện rõ phương pháp tư duy độc lập, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trên cơ sở vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><a name="_ftn1"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">1</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">,2,4,5,14,15,16,17,18,22,24,25,26,27,28,29. Hồ Chí Minh Toàn tập, CTQG, H, 1995, T.1, tr.22, 27, 191, 192, 118, 28, 28, 27 133, 236, 282, 277, 289, 292-293, 293.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><a name="_ftn4"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">3. </span></a><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Báo Le Paria: Cơ quan tuyên truyền của Hội Liên hiệp thuộc địa, do Nguyễn Ái Quốc làm chủ nhiệm kiêm chủ bút và quản lý, xuất bản từ tháng 4 năm 1922 đến tháng 4-1926, đình bản sau số 38.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><a name="_ftn5"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">6</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">, 7, 8, 10, 12, 20, 21. Hồ Chí Minh Toàn tập, CTQG, H, 2000, T.2, tr. 120, 124, 259, 267-268, 266, 128, 123</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">9. Nghị quyết chính trị của Đại biểu Đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 3-1935, cho biết, ở Lào, tác phẩm Đường cách mệnh được dùng làm tài liệu huấn luyện (xem Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, sđd, tập 5, tr. 20).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">11. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, sđd, tập 1, tr. 118.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">13. Biên bản Đại hội lần thứ II của Đảng, tr. 122. Lưu tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">19. Công thức này Mác viết trong Điều lệ của Hội Liên hiệp lao động quốc tế: “Sự nghiệp giải phóng của giai cấp công nhân phải là sự nghiệp của bản thân giai cấp công nhân”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">23. T. Lan, Vừa đi đường, vừa kể chuyện, Nxb Sự thật, H.1976, tr.27.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">30. Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, H.1993, tập 1, tr.199.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lịch sử Đảng. –2010. –Số 5. –Tr.13-20</span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 8:30 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trải qua nhiều con đường đấu tranh chống hoạ xâm lược và ách thống trị của thực dân Pháp từ cuối thế kỷ XIX đến 20 năm đầu thế kỷ XX, nhưng nhân dân Đông Dương chưa giành được độc lập, tự do và vẫn khát khao tìm đến một con đường mới để có thể đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc tới thành công. Nguyễn Ái Quốc là người đi tiên phong đảm đương sứ mệnh cao cả ấy.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.575</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 01:43:02 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=20</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Ngôi nhà thời thơ ấu của Bác Hồ</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=5</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass18CF0EAC0A014FB2B3C4507B64587041><p> </p>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt">Ngôi nhà tranh ấy gồm ba gian nho nhỏ, xinh xinh, phần cuối được nối thêm một khoảng và cho nép vào phía sau, tiếng địa phương gọi là cái cổ hôn, làm nơi nấu nướng nhằm cho khói và bồ hóng đỡ xông vào các gian kia. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt">Đó là ngôi nhà do cụ Hoàng Đường và cụ Nguyễn Thị Kép, tức ông bà ngoại cậu Cung dựng cho bố mẹ của cậu là Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Thị Loan ngay trong vườn nhà mình khi họ kết thành gia thất.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Cũng như cách bố trí thông thường ở trong vùng, ngôi nhà của ông Sắc, gian ngoài thờ ông thần bếp và là nơi đặt bàn học, còn nữa kê bộ phản gỗ để ông và hai cậu con trai nằm. Gian giữa rộng nhất, phía trong đặt bàn thờ cúng gia tiên. </span></div>
<div style="text-align:center;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"><img width=478 height=353 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-6/nhaBHoNgheAn662011_15276.gif"></span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"> </div>
<div style="text-align:center;text-indent:18pt" align=center><span style="font-size:10pt">Ngôi nhà thời thơ ấu của Bác Hồ</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"> </div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt">Còn nữa đặt bộ tràng kỷ bằng tre để ông đón tiếp người thân, bạn bè. Gian nhà trong, phía sau là buồng, chỗ nghỉ của bà Loan cũng là nơi bà sinh nở và chăm nuôi các con khi họ mới lọt lòng. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Phía ngoài của gian đó đặt chiếc chõng tre, nơi các dì, các thím, bà con trong xóm thường đến thân tình trò chuyện. Phần còn lại là nơi đến bận cơm thì có chiếc mươn ngã ra làm bàn ăn. Xong rồi, mươn được ngoắc lên vách nhà.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Thật khó mà tìm thấy một thứ vật liệu nào khác lạ so với các ngôi nhà thanh bạch khác ở trong thôn. Những cây cột, đường xà, chiếc kèo đều bằng các thứ gỗ thị, bời lời, xoan đâu, cũng như đòn dông và các đòn tay làm bằng tre là đều lấy từ trong vườn. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Chúng được chặt sẵn, ngâm nước lâu ngày để khỏi bị mọt. Chỉ có rui, mè trên mái và vách chắn, liếp cửa là đều bằng nứa nên phải mua. Còn tranh lợp thì kết bằng lá mía bóc của ruộng nhà có từ ngoài bãi. Sức tự cấp tự túc ở dây cũng đến mức được tận dụng triệt để như của mọi gia đình nghèo khó khác ở trong vùng. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Và, tất cả đều được ông bà cụ Đường lựa chọn, trau chuốt thật kỹ càng. Cụ Kép thường dặn con gái là phải thường xuyên chăm sóc quét dọn để giun dế và kiến mối khỏi làm sủi nền và hỏng vách. Họ nhà mối chúng dễ từ mặt đất mà xông lên đến tận nóc nhà.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Trong vườn, ngoài nhà ông Sắc, còn có nhà ông bà ngoại và nhà thờ họ Hoàng mà cụ Đường là tộc trưởng. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Cụ Đường đặt hướng nhà cho gia đình của con gái sau khi đã hỏi ý kiến các vị cao tuổi và có nhiều trải nghiệm ở trong họ, trong thôn. Nhà ngoảnh về hướng Đông - Nam, như vậy dễ đón được bình minh lên. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Chiều về bóng mát từ hàng hiên sớm trải ra sân và gió nồm dễ dàng thổi tới. Nắng gió, sương móc là những của cải vô vàn do thiên nhiên ban tặng, chỉ sợ con người không đủ sức và không còn thời gian mà tận hưởng. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Cụ Đường thường nói với con cháu trong nhà như vậy. Trong ngôi nhà ấy, năm 1884, bà Loan sinh con gái đầu lòng là Nguyễn Thị Thanh, năm 1888 sinh Nguyễn Sinh Khiêm tức Tất Đạt và năm 1890 sinh Nguyễn Sinh Cung, tức Tất Thành sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Khu vườn cụ Đường rộng gần 5 sào (Trung Bộ). Nhà thờ, nhà lớn của hai cụ và cả nhà riêng của vợ chồng ông Sắc, tất cả chỉ choán hết một phần nhỏ diện tích mà thôi. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Toàn khu vườn xung quanh là lũy tre, xen vào có các cây cổ thụ, là nơi cho nhiều loại chim chóc về làm tổ theo mùa. Và vườn vẫn dư dả đất đai để trồng khoai lúa, rau màu. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Là gia đình một nhà nho, ngoài các thứ cây ăn quả thì đất dành cho các loại thảo lan, cúc, mẫu đơn, nhài, phật thủ... cũng được dành một diện tích thích đáng.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Vườn nhà ông bà ngoại là phần thiên nhiên quan trọng trong thế giới tuổi thơ của cậu Nguyễn Sinh Cung. Những buổi, mẹ từ chợ về, không còn tiền để mua quà. Thay vào đó có cây táo quả đã đến thì đọng mật. Bà ngoại đưa tay ngoèo một cành, hái lấy những quả mập căng mà phân phát cho chị em Thanh. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Bé Cung được lớn dần lên trong cảnh nhà ấm cúng như vậy.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Một buổi chiều, sau khi tạnh cơn giông, cậu hỏi một học trò của ông ngoại:</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> - Sấm từ đâu mà có? </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt">Người học trò đáp: </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt">- Sấm sinh ra tự trên trời. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt">Cậu hỏi tiếp: </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt">- Ngoài sấm, trên trời còn có những gì?</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Người thanh niên chỉ cười vì không biết đáp như thế nào! </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Lên bốn tuổi, bé Cung đòi học chữ và mẹ cũng là cô giáo.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Buổi đầu, mẹ đưa tay vạch lên giấy: chữ &quot;Nhất&quot; 1 nét, chữ &quot;Nhị&quot; 2 nét, chữ &quot;Tam&quot; 3 nét. Cậu hỏi, thế có phải chữ &quot;Tứ&quot; gồm 4 nét? Bà mẹ cười trước câu hỏi ngộ nghĩnh mà có lý của con trai và đáp: </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> - Không phải, đến chữ &quot;Tam&quot; là thôi cách viết như vậy; và đó là cách viết đơn, còn viết kép thì các chữ kia đều có nhiều nét.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Mẹ vẫn tiếp tục giữ vai trò là một cô giáo của Cung, một cậu bé luôn đặt ra nhiều câu hỏi mà tiếng địa phương cho là &quot;trái khoáy&quot; nhưng sẽ ở vào một nơi khác.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Năm 1893, ông ngoại qua đời. Năm 1894, bố của Cung thi đỗ Cử nhân. Năm 1895, Cung cùng anh trai theo bố mẹ vào Huế và cậu sống lần đầu tại đó cho đến tuổi lên mười thì mẹ mất.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Đầu năm 1901, anh em cậu theo bố về lại làng Chùa. Cũng năm đó, bố của cậu thi đỗ Phó bảng rồi gia đình cậu về sống tại làng Sen, quê nội. Mùa thu năm 1905, cậu theo bố vào Kinh học tập và năm 1911 thì ra đi tìm đường cứu nước.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Sau 30 năm bôn ba khắp các đại lục tìm đường cứu dân cứu nước để năm 1941 thì về lại Tổ quốc, chuẩn bị để tiến hành Cách mạng Tháng 8 thành công (1945), lại 16 năm tiếp, là thời gian làm Chủ tịch nước, bận bịu với công cuộc kháng chiến, kiến quốc, đến cuối năm 1961, Người mới có dịp về thăm lại ngôi nhà này và đó cũng là lần cuối cùng Người trở về ấn những dấu chân lên mảnh vườn thơ ấu của mình.</span></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần I: 1890 - 1911</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/06/2011 3:20 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Đó là ngôi nhà do cụ Hoàng Đường và cụ Nguyễn Thị Kép, tức ông bà ngoại cậu Cung dựng cho bố mẹ của cậu là Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Thị Loan ngay trong vườn nhà mình khi họ kết thành gia thất.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.100</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần I: 1890 - 1911</category>
      <pubDate>Mon, 06 Jun 2011 08:27:19 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=5</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Những năm tháng Bác Hồ ở Huế</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=8</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassEDCECA0E0D98466E9660C88B3E86652B><p>&lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Thời gian sống ở Huế tuy kh&amp;ocirc;ng d&amp;agrave;i, chỉ khoảng 10 năm, nhưng đ&amp;oacute; lại l&amp;agrave; thời gian đặc biệt c&amp;oacute; &amp;yacute; nghĩa đối với nhận thức khởi đầu của một con người, đ&amp;uacute;ng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đ&amp;atilde; từng nhận định: &amp;ldquo;Thời gian ở Huế l&amp;agrave; thời gian Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh lớn l&amp;ecirc;n v&amp;agrave; bắt đầu đi học, những năm đ&amp;oacute; l&amp;agrave; thời gian cực kỳ quan trọng đối với sự h&amp;igrave;nh th&amp;agrave;nh con người Nguyễn &amp;Aacute;i Quốc - Hồ Ch&amp;iacute; Minh&amp;rdquo;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Trong những g&amp;igrave; từng l&amp;agrave; gốc rễ của một t&amp;acirc;m hồn, một nh&amp;acirc;n c&amp;aacute;ch, một tư tưởng Hồ Ch&amp;iacute; Minh, c&amp;oacute; cả cố đ&amp;ocirc; Huế với thời ni&amp;ecirc;n thiếu v&amp;agrave; tuổi thanh ni&amp;ecirc;n của Người. Huế c&amp;ugrave;ng với t&amp;igrave;nh thương v&amp;agrave; nỗi gian tru&amp;acirc;n của gia đ&amp;igrave;nh, với t&amp;igrave;nh nghĩa đồng b&amp;agrave;o, b&amp;agrave; con, lối x&amp;oacute;m, với những t&amp;aacute;c động ngược chiều kh&amp;aacute;c nhau của x&amp;atilde; hội v&amp;agrave; nh&amp;agrave; trường đối với một con người m&amp;agrave; ngay từ nhỏ đ&amp;atilde; bộc lộ như một năng lực thi&amp;ecirc;n bẩm, đ&amp;atilde; g&amp;oacute;p phần t&amp;iacute;ch cực v&amp;agrave;o sự nghiệp của một anh h&amp;ugrave;ng d&amp;acirc;n tộc - một danh nh&amp;acirc;n văn ho&amp;aacute; - Hồ Ch&amp;iacute; Minh.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;b style=&quot;mso-bidi-font-weight: normal&quot;&gt;&lt;i style=&quot;mso-bidi-font-style: normal&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Bi&amp;ecirc;n ni&amp;ecirc;n một số sự kiện B&amp;aacute;c Hồ v&amp;agrave; gia đ&amp;igrave;nh những năm th&amp;aacute;ng sống ở Huế:&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Cuối năm 1895, &amp;ocirc;ng Nguyễn Sinh Sắc, b&amp;agrave; Ho&amp;agrave;ng Thị Loan v&amp;agrave; hai con trai Nguyễn Sinh Khi&amp;ecirc;m, Nguyễn Sinh Cung (Chủ tịch Hồ Ch&amp;iacute; Minh) l&amp;ecirc;n đường v&amp;agrave;o Huế.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;V&amp;agrave;o Huế, gia đ&amp;igrave;nh Chủ tịch Hồ Ch&amp;iacute; Minh thu&amp;ecirc; được một gian nh&amp;agrave; nhỏ ở đường Đ&amp;ocirc;ng Ba trong Th&amp;agrave;nh Nội (nay l&amp;agrave; 112 - Mai Th&amp;uacute;c Loan).&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Năm 1898, &amp;ocirc;ng Nguyễn Sinh Sắc thi Hội lần thứ 2, khoa Mậu Tuất kh&amp;ocirc;ng đỗ.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;C&amp;ugrave;ng năm 1898 Nguyễn Sinh Cung c&amp;ugrave;ng anh theo cha về l&amp;agrave;ng Dương Nỗ dạy học, ở tại nh&amp;agrave; &amp;ocirc;ng Nguyễn Sĩ Độ, b&amp;agrave; Ho&amp;agrave;ng Thị Loan vẫn ở lại trong ng&amp;ocirc;i nh&amp;agrave; Th&amp;agrave;nh Nội.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Cuối năm 1900 b&amp;agrave; Ho&amp;agrave;ng Thị Loan sinh người con thứ 4, đặt t&amp;ecirc;n l&amp;agrave; Nguyễn Sinh Nhuận (hay c&amp;ograve;n gọi l&amp;agrave; Nguyễn Sinh Xin).&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;C&amp;ugrave;ng thời gian đ&amp;oacute; &amp;ocirc;ng Nguyễn Sinh Sắc được cử đi l&amp;agrave;m Đề lại ở trường thi Thanh Ho&amp;aacute;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Ng&amp;agrave;y 10.2.1901 (22 th&amp;aacute;ng Chạp năm Canh T&amp;yacute;) b&amp;agrave; Ho&amp;agrave;ng Thị Loan qua đời trong gian nh&amp;agrave; Th&amp;agrave;nh nội, tại Huế. Mộ của b&amp;agrave; được đặt tại triền ph&amp;iacute;a t&amp;acirc;y n&amp;uacute;i B&amp;acirc;n (n&amp;uacute;i Tam Tầng). Năm 1922, c&amp;ocirc; Nguyễn Thị Thanh (chị ruột B&amp;aacute;c Hồ) trong thời gian bị quản th&amp;uacute;c tại Huế đ&amp;atilde; cải t&amp;aacute;ng mộ mẹ đem về qu&amp;ecirc; nh&amp;agrave;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Th&amp;aacute;ng 02.1901 &amp;ocirc;ng Nguyễn Sinh Sắc đem con về gửi cho nhạc mẫu ở l&amp;agrave;ng Ho&amp;agrave;ng Tr&amp;ugrave;, sau đ&amp;oacute; quay trở lại Huế dự thi Hội lần 3.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Khoa thi Hội năm T&amp;acirc;n Sửu (1901), &amp;ocirc;ng Nguyễn Sinh Sắc đỗ Ph&amp;oacute; Bảng.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Th&amp;aacute;ng 5.1906, Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh theo cha v&amp;agrave;o Huế trong dịp &amp;ocirc;ng Nguyễn Sinh Huy (hay Nguyễn Sinh Sắc) v&amp;agrave;o kinh đ&amp;ocirc; chờ bổ nhiệm.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Ng&amp;agrave;y 6.6.1906, &amp;ocirc;ng Nguyễn Sinh Sắc được bổ l&amp;agrave;m Thừa biện Bộ Lễ, tr&amp;ocirc;ng coi việc học h&amp;agrave;nh ở trường Quốc Tử Gi&amp;aacute;m, với h&amp;agrave;m H&amp;agrave;n l&amp;acirc;m kiểm thảo t&amp;ograve;ng thất phẩm.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Khoảng th&amp;aacute;ng 8.1906, gia đ&amp;igrave;nh Chủ tịch Hồ Ch&amp;iacute; Minh được cấp một gian nh&amp;agrave; (gian thứ 19) trong d&amp;atilde;y Thuộc vi&amp;ecirc;n của triều đ&amp;igrave;nh.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Năm 1906 - 1908, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh v&amp;agrave; Nguyễn Tất Đạt học tại trường Ph&amp;aacute;p - Việt Đ&amp;ocirc;ng Ba.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Năm 1908 - 1909, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh, Nguyễn Tất Đạt học tại trường Quốc Học.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Th&amp;aacute;ng 4.1908 Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh tham gia phong tr&amp;agrave;o chống thuế.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Th&amp;aacute;ng 5.1909, &amp;ocirc;ng Nguyễn Sinh Sắc đi chấm thi ở B&amp;igrave;nh Định.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt; mso-fareast-font-family: 'Times New Roman'; mso-ansi-language: VI; mso-fareast-language: VI; mso-bidi-language: AR-SA&quot;&gt;Th&amp;aacute;ng 7.1909, &amp;ocirc;ng Nguyễn Sinh Sắc được thăng chức Tri huyện B&amp;igrave;nh Kh&amp;ecirc;. Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh cũng rời Huế đi dần v&amp;agrave;o ph&amp;iacute;a Nam.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&amp;nbsp;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt; mso-fareast-font-family: 'Times New Roman'; mso-ansi-language: VI; mso-fareast-language: VI; mso-bidi-language: AR-SA&quot;&gt;Ngu&amp;ocirc;̀n &lt;/span&gt; &lt;p&gt;&amp;nbsp;&lt;/p&gt; &lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;http://hochutich.blogspot.com&lt;/span&gt;&lt;span lang=&quot;EN-US&quot; style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt; mso-ansi-language: EN-US&quot;&gt; . -2005. &amp;ndash;Ngày 20 tháng 5&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;</p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần I: 1890 - 1911</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/06/2011 3:25 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trong cuộc đời của mình, có hai lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đến sống trên đất Huế, đó là thời kỳ từ năm 1895 đến năm 1901, khi Người ở tuổi nhi đồng mang tên Nguyễn Sinh Cung (5-11 tuổi). Và thời kỳ thứ 2 từ năm 1906 - 1909, khi Người đã ở tuổi thanh niên, mang tên Nguyễn Tất Thành (16 - 19 tuổi).</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 4.222</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần I: 1890 - 1911</category>
      <pubDate>Mon, 06 Jun 2011 08:32:20 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=8</guid>
    </item>
  </channel>
</rss>