﻿<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<!--RSS generated by Windows SharePoint Services V3 RSS Generator on 02/11/2026 11:20:03 CH-->
<?xml-stylesheet type="text/xsl" href="/100bacho/_layouts/RssXslt.aspx?List=78a705f5-bd75-4abd-b260-d077eadb24d7" version="1.0"?>
<rss version="2.0">
  <channel>
    <title>Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước: Bài đăng</title>
    <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    <description>Liên kết nạp tin tự động RSS cho Bài đăng danh sách.</description>
    <lastBuildDate>Mon, 02 Nov 2026 16:20:02 GMT</lastBuildDate>
    <generator>Windows SharePoint Services V3 RSS Generator</generator>
    <ttl>60</ttl>
    <image>
      <title>Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước: Bài đăng</title>
      <url>/100bacho/_layouts/images/homepage.gif</url>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    </image>
    <item>
      <title>Những đóng góp của Nguyễn Ái Quốc trong phong trào nông dân quốc tế</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=27</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassAA3A9A8EB2B44DA5A947358D25B14DCA><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Là đại biểu ưu tú của các dân tộc đi áp bức - nơi mà ở đó như Lê nin để chỉ ra rõ “quần chúng cơ bản là nông dân”, đồng chí Nguyễn Ái Quốc trong những năm hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đặc biệt quan tâm nghiên cứu vấn đề nông dân và có những đóng góp to lớn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Không phải ngẫu nhiên tại <i>Hội nghị quốc tế nông dân lần thứ nhất</i> (họp từ ngày 10 đến 16-10-1923 tại Mátxcơva), các đại biểu nông dân quốc tế tham dự Hội nghị đã bầu Nguyễn Ái Quốc là đại biểu duy nhất cho nông dân các nước thuộc địa, là 1 trong 11 ủy viên Đoàn chủ tịch <i>Hội đồng nông dân quốc tế</i> - một tổ chức quần chúng trực thuộc quốc tế cộng sản. Sự tín nhiệm và tin cậy của đạo biểu tham dự Hội nghị là sự thừa nhận và đánh giá cao hoạt động của Người đối với phong trào nông dân các nước thuộc địa và phụ thuộc. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sinh ra và lớn lên tại một thuộc địa lớn nhất của đế quốc Pháp, nơi mà nông dân chiếm hơn 90% dân số và cũng là nơi mà những nhà khai hóa thực dân thực thi chính sách ngu dân như là một quốc sách, Người tận hiểu nỗi cùng cực của người dân mất nước, nỗi nhục của những người bị tước đoạt mất độc lập và tự do.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ra đi tìm đường cứu nước, chính Người đã tận mắt mục kích nỗi khổ nhục tương tự của nông dân các nước thuộc địa của thực dân Anh, Mỹ, Hà Lan... ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ. Bài học dầu tiên Người rút ra là ở đâu người nông dân cũng bị áp bức và bóc lột tàn bạo bởi bốn thế lực là nhà nước bảo hộ, bọn thực dân, nhà thờ và những tên lái buôn.<span style="">  </span>Rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm quyền bổ sung cho cái công cuộc ngu dân của chính phủ. Máy chém và nhà tù làm nốt phần còn lại”(2). Song, sự bóc lột tàn bạo, đau khổ, nghèo đói, sự nhục mạ không làm tê liệt sức sống và tư tưởng đòi giải phóng của người dân bị áp bức. Thực tiễn của các cuộc đấu tranh của nông dân Đông Dương, Ấn Độ, Trung Quốc, Angiêri, Tuyniđi... mà nhiều cuộc đấu tranh có khi bị dìm trong máu đã được Người nhận xét một cách chính xác rằng đằng sau sự phục tùng tiêu cực ẩn giấu một cái gì đang sục sôi động gào thét và “sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến”(3). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cách mạng tháng Mười năm 1917, sự ra đời của Quốc tế cộng sản năm 1919 và bản Luận cuơng về vấn đề dân tộc và thuộc địa đã giúp Người tin Lênin, đứng hẳn về lập trường của Quốc tế cộng sản và định hướng con đường giải phóng dân tộc với tư duy chính trị của thời đại mới trên lập trường của giai cấp vô sân. Tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin và trao lại cho các dân tộc thuộc địa đứng lên giải phóng dân tộc khỏi ách đế quốc thực dân là khát vọng, là nhiệm vụ và trách nhiệm mà Người tự đặt ra cho mình trong những năm hoạt động ở ngoài nước. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tham gia hoạt động trong phong trào cộng sản Pháp, Người nhận thấy: “Mặc dù Quốc tế cộng sản đã đề cập đến tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa như là một trong những vấn đề cấp bách nhất trong chương trình nghị sự của mình, song thực tiễn các phân bộ ở các cường quốc thực dân đến nay vẫn chưa chăm lo đến vấn đề này. Cả đến việc xem xét nó một cách nghiêm túc cũng không... Nguyên nhân là do các đồng chí chúng ta không hiểu tình hình xác thực của các nước bị áp bức bóc lột”(4). Để chống lại những quan điểm phản động của những lãnh tụ cơ hội trong Quốc tế hai, kẻ phủ nhận vai trò cách mạng của quần chúng nhân dân các nước thuộc địa trong khi lại đề cao công lao “khai hóa” của bọn thực dân và để giúp cho giai cấp vô sản ở chính quốc có những thông tin đầy đủ về bức tranh toàn cảnh thực trạng của nông dân thuộc địa, Người tranh thủ mọi diễn đàn quốc tế, mọi phương tiện thông tin đại chúng tố cáo, <i>lên án cho đã thực dân</i>, kẻ đã gây ra những tội ác man rợ nhất ở thuộc địa. Nghiên cứu tình cảnh của nông dân Đông Dương thuộc Pháp, qua báo chí và nghiên cứu thực tế các nước thuộc địa mà Người có dịp đến và hoạt động. Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo tội ác dã man của chế độ thực dân ở thuộc địa. Đó là tình trạng cướp ruộng đất một cách phổ biến và trắng trợn, chính sách thuế khóa, phu phen, tạp dịch đã bóc lột tận xương tủy người lao động, quốc sách chia để trị tiến hành song song với chính sách ngu dân, đầu độc bằng thuốc phiện và rượu. Thêm vào đó lụt lội hạn hán, nạn đói và nội chiến nhấn chìm người nông dân vào cảnh cùng cực. Người tố cáo ở thuộc địa, nông dân bao giờ cũng là đối tượng bóc lột chủ yếu để nuôi sống “nước mẹ”, để phục vụ cho cuộc sống phè phỡn của kẻ xâm lược. Cùng với sự có mặt của bọn thực dân, chế độ nô lệ, đã bị lịch sử tiêu diệt, đã sống lại. Thực trạng bi đát của các thuộc địa từ Việt Nam hay Công gô, Máctiních, Tân Đảo hay Triều Tiên, Trung Quốc dù khác nhau về địa lý, màu da và lịch sử nhưng đều giống nhau ở sự cùng khổ. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Có áp bức thì có đấu tranh. Đó là qui luật tất yếu của sự sinh tồn. Cuộc bạo động về gạo của nhân dân Triều Tiên năm 1919, các cuộc nổi dậy của nông dân Đông Dương chống Pháp đầu thế kỷ 20, phong trào nông dân Trung Quốc, cuộc đấu tranh của nhân dân, chủ yếu là nông dân ở châu Phi đã nổ ra liên tiếp. Nhưng nhìn chung các cuộc nổi dậy đều bị đàn áp khốc liệt. Trong bài <i>Mấy ý nghĩ về thuộc địa</i> Người rút ra nhận xét: “Nói chung, quần chúng căn bản là có tinh thần bất khuất, nhưng còn rất dốt nát. Họ muốn giải phóng nhưng họ chưa biết làm cách nào để đạt được mục đích ấy”(5). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Để chỉ cho nông dân con đường đi tới cách mạng và giải phóng, Nguyễn Ái Quốc đã làm hết sức mình như một hiệp sĩ của các dân tộc bị áp bức, đồng thời kiến nghị với Quốc tế cộng sản giúp đỡ họ tổ chức, đào tạo cán bộ lãnh đạo và đấu tranh với sự coi nhẹ hoặc thờ ơ với cách mạng thuộc địa của các đảng cộng sản ở chính quốc. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người thành lập <i style="">Hội liên hiệp thuộc địa</i> và tham gia Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng cộng sản Pháp. Thông qua báo Nhân đạo, báo <i style="">Người cùng khổ</i> và các diễn đàn, Nguyễn Ái Quốc không chỉ tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân mà còn chỉ cho quần chúng nguyên nhân của mọi sự đau khổ và con đường để từ giải phóng. Người còn từng bước đề cập một cách có hệ thống vị trí, vai trò của nông dân, đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế của phong trào nông dân khi chưa được tổ chức lại và chưa có lực lượng tiên phong lãnh đạo. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nếu Mác, Ăng ghen và đặc biệt là Lê-nin là những người thấy rõ <i style="">mối quan hệ khăng khít và tác động trực tiếp</i> của cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa thì Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên không chỉ nhận thấy giải phóng dân tộc gân liền với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc cũng thực chất là giải phóng nông dân, mang lại các quyền lợi dân chủ cho nông dân mà còn chỉ ra những người nô lệ ở thuộc địa được thức tỉnh, có đảng tiên phong và lý luận tiên phong chỉ đường, cách mạng giải phóng dân tộc <i style="">có thể thắng lợi trước cách mạng vô sản chính quốc.</i> Năm 1921 trong bài Đông Dương đăng trên <i style="">Tạp chí cộng sản</i>, Người khẳng định: “Chế độ cộng sản chủ nghĩa có thể áp dụng ở châu Á nói chung và Đông Dương nói riêng không?<span style="">  </span>Đó là câu hỏi mà ngày nay chúng ta quan tâm. Chúng ta có thể trả lời câu hỏi đó một cách khẳng định”(6) Nguyễn Ái Quốc tiên đoán: “Ngày mà hàng trăm triệu người châu Á bị nô dịch và áp bức sẽ thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một nhóm bọn thực dân tham tàn và chính họ sẽ hình thành được một lực lượng đồ sộ vừa có thể thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản chủ nghĩa đế quốc, vừa giúp đỡ những người anh em phương tây trong sự nghiệp giải phóng”(7). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người hoàn toàn tin tưởng ở lực lượng đông đảo nông dân bị áp bức bóc lột ở thuộc địa khi họ được thức tỉnh. Người kiến nghị với Quốc tế cộng sản “Cần phải giúp đỡ họ tổ chức lại, cần phải cung cấp cán bộ lãnh đạo cho họ và chỉ cho họ con đường đã<span style="">  </span>tới cách mạng và giải phóng”(8) và khẳng định “Quốc tế của các đồng chí (tức Quốc tế nông dân - TG) chỉ trở thành quốc tế khi mà không những nông dân phương Tây mà cả nông dân phương Đông, nhất là nông dân các nước thuộc địa, những người bị áp bức và bóc lột nhau hơn các đồng chí, đều tham gia Quốc tế của các đồng chí”.(9). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Giữa lúc ở phương Tây nhiều Đảng cộng sản còn thờ ơ, thậm chí coi nhẹ vị trí vai trò và khả năng cách mạng của các dân tộc thuộc địa, có không ít nhà cách mạng và đảng cộng sản ở một số nước thuộc địa và nửa thuộc địa lại quá nhấn mạnh, thậm chí tuyệt đối hóa vai trò và khả năng của nông dân thì Nguyễn Ái Quốc lại có một cách nhìn hoàn toàn khác. Là những người tiểu sở hữu với bản tính tự phát của tiểu nông, bản thân giai cấp nông dân không thể tự tổ chức thành một lực lượng chính trị độc lập, không thể trở thành lãnh tụ chính trị trong cuộc đấu tranh tự giải phóng. Hơn nữa ở các thuộc địa họ bị đơn độc do thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn nhau nên phong trào thường rời rạc, dễ bị bọn thực dân câu kết với giai cấp phong kiến đàn áp. Vì vậy giai cấp nông dân muốn tự giải phóng không có con đường nào khác là vừa đánh đế quốc vừa đánh phong kiến để giành độc lập dân tộc và ruộng đất cho giai cấp mình. Để thực hiện hai nhiệm vụ trên, giai cấp nông dân phải đi theo ngọn cờ của giai cấp công nhân và chịu sự lãnh đạo của chính đảng của giai cấp công nhân - người đại diện cho sứ mệnh lịch sử của thời đại. Tự bản thân mình, giai cấp nông dân “không bao giờ có thể ngẩng đầu lên được nếu không gắn bó với giai cấp vô sản thế giới”, nếu giai cấp vô sản giác ngộ “không đến cứu họ khỏi nền văn minh quái vật”. Ngay từ diễn đàn của Hội nghị nông dân quốc tế, Người đã kiên quyết lên án những trào lưu cơ hội chủ nghiã coi nông dân là lực lượng chủ yếu, duy nhất, cách mạng nhất dẫn tới “chủ nghĩa phiêu lưu, chủ nghĩa cực đoan, vô chính phủ và đi tới chỗ phản bội chủ nghĩa Lênin”(10). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Là ủy viên Đoàn chủ tịch Hội đồng nông dân quốc tế theo dõi chỉ đạo các thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã kịp thời uốn nắn những lệch lạc, góp phần quan trọng đẩy phong trào nông dân các nước thuộc địa lên một bước mới, liên kết phong trào vô sản ở chính quốc với cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa, liên minh công nhân với nông dân... </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những đóng góp về lý luận và sự lãnh dạo, chỉ dạo phong trào nông dân ở các nước thuộc địa và phụ thuộc của Người, giúp Đảng cộng sản Việt Nam suốt 60 năm qua luôn quán triệt và vận dụng vào việc đề ra đường lối chiến lược và sách lược nhằm giải quyết vấn đề nông dân trong cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">1. M. Các. Ph. Ăng-ghen. <i>Tuyển tập</i>, tập I. Sự thật, H. 1962, tr. 684. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">2. Hồ Chí Minh. <i>Toàn tập. </i>tập I. Sự thật, H. 1980, tr. 9 </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">3. Hồ Chí Minh. <i>Toàn tập</i>, tập I. Sự thật, H. 1980, tr.10.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">4. Nguyễn Ái Quốc, Đông Dương bài đăng trên Tạp chí Cộng sản số 14 năm 1921 (tài liệu lưu trữ Viện lịch sử Đảng). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">5. Hồ Chí Minh. Toàn tập. Sđd, tr. 27. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">6, 7. Nguyễn Ái Quốc: Đông Dương, Tạp chí cộng sản. Lưu trữ văn phòng Trung ương Đảng. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">8. Hồ Chí Minh. <i style="">Toàn tập</i> đã dẫn, tr. 231 </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">9. Hồ Chí Minh. Sách đã dẫn, tr. 156-157</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">10. Hồ Chí Minh, Sách đã dẫn. tr. 158.</span></p>
<p><strong>Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lịch sử Đảng. -1990. –Số tháng 3. –Tr.17-20.</span></strong></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 9:10 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Vấn đề nông dân cũng như vị trí và vai trò của nó đối với tiến trình cách mạng có một tầm quan trọng có ý nghĩa chiến lược. Bằng tư duy lý luận và phân tích thực tiễn một cách khoa học, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lê nin đã tổng kết các cuộc cách mạng tư sản và cách mạng vô sản thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 để rút ra những kết luận có tính nguyên tắc rằng nông dân là một lực lượng hùng hậu “ở chỗ nào người nông dân cũng đều là một nhân tố rất quan trọng đối với dân cư, với sản xuất và với chính quyền”(1), rằng cách mạng tư sản hay cách mạng vô sản muốn thành công và mức độ thành, bại đến đâu là tùy thuộc vào sự ủng hộ của nông dân, rằng trong thời đại cách mạng vô sản liên minh công nông là nguyên tắc cao nhất của chuyên chính vô sản.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.213</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 02:17:09 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=27</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Bác Hồ tại Đại hội II của Đảng và những ngày Xuân Tân Mão</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=33</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass1AA7BB29CB4D421FAE6B839E1C965607><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Xuân này kháng chiến đã năm xuân, </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhiều xuân thắng lợi càng gần thành công. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Toàn dân hăng hái một lòng<span style="">  </span></span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thi đua chuẩn bị, tổng phản công kịp thời. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những ngày đầu xuân 1951 càng có ý nghĩa hơn khi diễn ra một sự kiện lịch sử trọng đại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng ta khai mạc tại chiến khu Việt Bắc (2-1951). Đây là Đại hội đầu tiên được tổ chức trên đất nước Việt Nam. Tết Tân Mão đến trước Đại hội vài ngày. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ khi thành lập năm 1930 cho tới lúc đó 21 năm Đảng giữ vai trò quyết định đối với vận mệnh dân tộc. Tuy vậy, Đảng ta vẫn hoạt động trong bí mật, bởi những người cộng sản Việt Nam là đối tượng bị theo dõi, đàn áp, săn đuổi của không chỉ chính quyền thực dân, phong kiến trong nước; mà cả ở một số nước tư bản, nước thuộc địa thuộc các châu lục. Cách mạng Tháng Tám thành công, trong tình thế thù trong giặc ngoài hết sức phức tạp, cân nhắc từng bước đi để bảo đảm an toàn và phát triển, ngày 11-11-1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán. Thật ra là Đảng rút vào hoạt động bí mật dưới tên gọi mới <i style="">Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương.</i> Mọi hoạt động công khai của Đảng từ đó đều thông qua Mặt trận Việt Minh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Yêu cầu mới của cuộc kháng chiến đặt ra cho Đảng ta nhiều nhiệm vụ nặng nề, đòi hỏi Đảng phải trở lại hoạt động công khai nhằm đẩy mạnh cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi. Đầu năm 1950, sau chuyến đi bí mật gặp các đồng chí lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc trở về, Bác và Trung ương đã bàn tới việc đưa Đảng ra hoạt động công khai. Đến thời điểm này, tình hình cách mạng trong nước cũng như trên thế giới đã thay đổi nhiều. Hơn 20 năm, lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo kháng chiến, uy tín của Đảng trong nhân dân rất lớn. Các nước XHCN anh em đã công nhận và đặt quan hệ với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tạo thế vững chắc cho cuộc kháng chiến của ta. Sự xuất hiện công khai của Đảng lúc này sẽ mang lại một nguồn động viên mới trong nhân dân, thúc đẩy cuộc kháng chiến sớm đi tới thắng lợi. Mặc dù, tổ chức một Đại hội Đảng giữa thời kỳ chiến tranh ác liệt và rất khẩn trương là điều không dễ dàng, nhưng Bác và Trung ương đã quyết định triệu tập Đại hội vào tháng 2-1951. Công việc chuẩn bị cho Đại hội được khẩn trương triển khai ngay sau chiến dịch Trung du. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Để chuyển sang giai đoạn mới, Đảng chủ trương củng cố bộ máy chính quyền, và cuộc họp Hội đồng Chính phủ được triệu tập đúng ngày mồng 1 Tết Tân Mão (6-2-1951). Sáng sớm, trước cuộc họp, Bác Hồ sang chúc Tết các đồng chí Bộ trưởng, Thứ trưởng và tặng mỗi người một tờ thiếp hồng có bài thơ Xuân của Người. Chiều mồng 2 Tết, phiên họp kết thúc, Bác và một số đồng chí lên đường tới địa điểm Đại hội ở xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Đây cũng là nơi Bác Hồ ở trong suốt thời gian diễn ra Hội nghị (từ ngày 5 đến ngày 19-2-1951). Từ mồng 3 đến mồng 5 Tết (8 đến 9-2-1951), Bác Hồ dự thảo luận các văn kiện và Điều lệ Đảng. Sau một thời gian họp trù bị, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương chính thức khai mạc sáng mồng 6 Tết - 11-2-1951 và kết thúc ngày 19-2-1951. Ở Đại hội này, nhiều đại biểu không biết mặt và tên của nhau. Bởi từ khi ra đời, chưa bao giờ Đảng ta có được một lần họp mặt đông đủ như thế. Văn phòng Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương phải chuẩn bị cho mỗi đại biểu một tấm bìa các-tông có ghi số từ 1 đến 158. Đó là số đại biểu chính thức (53 đại biểu dự khuyết) tham dự Đại hội. Chiều 11-2, Bác Hồ thay mặt Trung ương Đảng đọc Báo cáo Chính trị trước Đại hội, điểm lại quá trình hoạt động của Đảng từ khi thành lập, nêu lên những nhiệm vụ trong thời kỳ cách mạng mới để đưa kháng chiến đến thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ nhiệm vụ chính trị của Đảng là đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và tổ chức Đảng Lao động Việt Nam, Người nói:<i style="">“Chúng ta phải có một đảng công khai, tổ chức hợp với tình hình thế tới và tình hình trong nước để lãnh đạo toàn dân đấu tranh cho đến thắng lợi. Đảng đó lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Đảng Lao động Việt Nam phải là một đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để. Nhiệm vụ cấp bách nhất của Đảng ta ngày nay là phải đưa kháng chiến đến thắng lợi các nhiệm vụ khác đều phải phụ thuộc vào đó”.</i> Vấn đề lớn nhất trong những ngày đầu của Đại hội là việc chia tách Đảng Cộng sản Đông Dương thành ba Đảng của Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia. Cuộc thảo luận diễn ra khá căng thẳng nhưng cũng đã được thống nhất Quyết định tách Đảng Cộng sản Đông Dương để thành lập ở mỗi nước Đông dương Đảng Mác - Lê-nin riêng. Ở Việt Nam, Đại hội thành lập Đảng Lao động Việt Nam và đưa Đảng ra hoạt động công khai. Theo đồng chí Hoàng Tùng: Trước khi lấy biểu quyết về việc đổi tên Đảng Bác đã dành thời gian khá dài để thuyết trình về việc đổi tên Đảng. Việc đổi tên Đảng đã được 98% số đại biểu bỏ phiếu thông qua. Đại hội cũng tiếp tục khẳng định đường lối kháng chiến “toàn dân toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh”. Nhiều vấn đề khác liên quan tới sự nghiệp của dân tộc và quốc tế đã được thảo luận sôi nổi. Những ngày cuối, Đại hội tiến hành bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đặc biệt trước khi bỏ phiếu, tất cả các đại biểu đều nhất trí tôn vinh Bác là Chủ tịch Đảng. Đại hội đã bầu Bác làm Chủ tịch Đảng và đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư, đồng thời thông qua Báo cáo Chính trị do Bác soạn thảo. Ngày 19-2-1951, Đại hội Đảng Lao động Việt Nam bế mạc thành công tốt đẹp. Ngày 11-3-1951, Đảng ra công khai, báo của Đảng lấy tên là Báo Nhân Dân đã ra số đầu. </span></p>
<p><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đạị hội đại biểu lần thứ II của Đảng đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược từ Xuân này bước vào một giai đoạn mới: đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và cuối cùng là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.</span></p>
<p><strong>Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhân dân. -2011. –Số Xuân. –Tr.2</span></strong></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 10:50 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Tết Tân Mão (1951) đến sau chiến dịch Trung du kết thúc được ba tuần. Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo cùng cán bộ, chiến sĩ đón Tết trong niềm vui lớn Quân dân ta thắng lợi giòn giã ở chiến dịch Biên giới (10-1950) và ở chiến dịch Trung du (1-1951). Thơ chúc Tết của Bác mang tinh thần phấn khởi của thắng lợi và niềm vui khi cuộc kháng chiến đã có:</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.609</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 03:55:42 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=33</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Con đường Bác Hồ ra đi cứu nước</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=4</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass9685597227A34B0EB653AA91F7E48956><p>&lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Cụ Phan Chu Trinh chỉ y&amp;ecirc;u cầu người Ph&amp;aacute;p thực hiện cải lương. Anh nhận điều đ&amp;oacute; l&amp;agrave; sai lầm, chẳng kh&amp;aacute;c g&amp;igrave; xin giặc rủ l&amp;ograve;ng thương.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Cụ Phan Bội Ch&amp;acirc;u hy vọng Nhật gi&amp;uacute;p đỡ để đuổi Ph&amp;aacute;p. Điều đ&amp;oacute; rất nguy hiểm, chẳng kh&amp;aacute;c g&amp;igrave; &amp;ldquo;đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau&amp;rdquo;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Cụ Ho&amp;agrave;ng Hoa Th&amp;aacute;m c&amp;ograve;n thực tế hơn, v&amp;igrave; trực tiếp đấu tranh chống Ph&amp;aacute;p. Nhưng theo lời người ta kể th&amp;igrave; cụ c&amp;ograve;n nặng cốt c&amp;aacute;ch phong kiến.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Nghi&amp;ecirc;n cứu những b&amp;agrave;i học lịch sử của c&amp;aacute;c bậc cha, anh v&amp;agrave; khảo nghiệm trong thực tiễn, anh Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh thấy rằng mọi c&amp;aacute;ch thức tiến h&amp;agrave;nh ở trong nước, hay đi ra nước ngo&amp;agrave;i, sang Trung Quốc, hay Nhật Bản đều kh&amp;ocirc;ng thể th&amp;agrave;nh c&amp;ocirc;ng. Những con đường m&amp;agrave; c&amp;aacute;c bậc sĩ phu đ&amp;atilde; đi đều bị kết th&amp;uacute;c bằng những thất bại đau đớn. Phải t&amp;igrave;m con đường kh&amp;aacute;c, con đường mới; phải đi ra nước ngo&amp;agrave;i nhưng theo một hướng kh&amp;aacute;c. Đ&amp;oacute; l&amp;agrave; kết luận rất quan trọng của anh thanh ni&amp;ecirc;n Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh với l&amp;ograve;ng y&amp;ecirc;u nước m&amp;atilde;nh liệt v&amp;agrave; một c&amp;aacute;ch suy nghĩ t&amp;aacute;o bạo, một tr&amp;iacute; tuệ hết sức minh mẫn quyết kh&amp;aacute;m ph&amp;aacute; bằng được con đường đi đến giải ph&amp;oacute;ng cho đồng b&amp;agrave;o.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Tư tưởng quyết hướng sang nước Ph&amp;aacute;p t&amp;igrave;m đường cứu nước sớm nảy sinh ở anh Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh. Nhưng anh cần c&amp;oacute; thời gian chuẩn bị, suy nghĩ ch&amp;iacute;n chắn hơn, để ph&amp;aacute;c họa con đường sẽ đi, &amp;iacute;t ra l&amp;agrave; chặng đầu.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Th&amp;aacute;ng 5 năm 1909, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh từ gi&amp;atilde; Huế theo cha v&amp;agrave;o huyện B&amp;igrave;nh Kh&amp;ecirc; thuộc tỉnh B&amp;igrave;nh Định (nay l&amp;agrave; huyện T&amp;acirc;y Sơn, tỉnh B&amp;igrave;nh Định) nh&amp;acirc;n &amp;ocirc;ng Nguyễn Sinh Sắc được cử nhận chức tri huyện ở đ&amp;oacute;. Để tiếp tục việc học tập, từ th&amp;aacute;ng 9 năm 1909, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh được cha gửi đến Quy Nhơn để học th&amp;ecirc;m tiếng Ph&amp;aacute;p với thầy gi&amp;aacute;o Phạm Ngọc Thọ dạy tại Trường tiểu học Ph&amp;aacute;p - bản xứ Quy Nhơn theo chương tr&amp;igrave;nh lớp cao đẳng. &amp;Ocirc;ng Phạm Ngọc Thọ k&amp;iacute;nh trọng quan thừa biện Nguyễn Sinh Huy v&amp;agrave; rất mến Tất Đạt, Tất Th&amp;agrave;nh. Tất Th&amp;agrave;nh rất y&amp;ecirc;u qu&amp;yacute; Phạm Ngọc Thạch, con trai &amp;ocirc;ng Thọ. (Tr&amp;ecirc;n đường từ Huế v&amp;agrave;o S&amp;agrave;i G&amp;ograve;n, để đ&amp;aacute;p t&amp;agrave;u ra nước ngo&amp;agrave;i t&amp;igrave;m &amp;ldquo;con đường gi&amp;uacute;p đồng b&amp;agrave;o tho&amp;aacute;t khỏi &amp;aacute;ch thống trị của Ph&amp;aacute;p&amp;rdquo;, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh, sau n&amp;agrave;y l&amp;agrave; Nguyễn &amp;Aacute;i Quốc, tức l&amp;agrave; Chủ tịch Hồ Ch&amp;iacute; Minh mu&amp;ocirc;n v&amp;agrave;n k&amp;iacute;nh y&amp;ecirc;u, đ&amp;atilde; dừng ch&amp;acirc;n lại tỉnh B&amp;igrave;nh Định một thời gian đ&amp;aacute;ng kể. Khoảng thời gian đ&amp;oacute; nếu t&amp;iacute;nh đến đầu th&amp;aacute;ng 8-1910 l&amp;agrave; hơn 12 th&amp;aacute;ng, từ 18-5-1909 đến 30-7-1910).&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;V&amp;agrave;o một ng&amp;agrave;y đầu thu (th&amp;aacute;ng 8-1910), Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh tạm biệt Quy Nhơn, đi v&amp;agrave;o S&amp;agrave;i G&amp;ograve;n.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Phong cảnh tươi đẹp, đất đai m&amp;agrave;u mỡ, rừng v&amp;agrave;ng biển bạc, nhưng đ&amp;acirc;u đ&amp;acirc;u cũng thấy c&amp;oacute; những con người lam lũ, r&amp;aacute;ch rưới.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Lần theo ven biển đi đến Phan Rang, anh thấy một cảnh tượng đau l&amp;ograve;ng m&amp;agrave; mấy năm sau, anh c&amp;ograve;n nhắc lại với một người bạn: Những người Ph&amp;aacute;p ở Ph&amp;aacute;p phần nhiều l&amp;agrave; tốt. Song những người Ph&amp;aacute;p thực d&amp;acirc;n rất hung &amp;aacute;c, v&amp;ocirc; nh&amp;acirc;n đạo. Ở đ&amp;acirc;u ch&amp;uacute;ng n&amp;oacute; cũng thế. Ở ta, t&amp;ocirc;i cũng thấy chuyện như thế xảy ra ở Phan Rang. Bọn Ph&amp;aacute;p cười sặc sụa trong khi đồng b&amp;agrave;o ta chết đuối v&amp;igrave; ch&amp;uacute;ng n&amp;oacute;. Đối với bọn thực d&amp;acirc;n, t&amp;iacute;nh mạng của người thuộc địa da v&amp;agrave;ng hay da đen cũng kh&amp;ocirc;ng đ&amp;aacute;ng một đồng xu.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Từ nửa sau th&amp;aacute;ng 9-1910 đến trước th&amp;aacute;ng 2-1911, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh dạy học ở Trường Dục Thanh (Phan Thiết). Thời gian đầu, thầy Th&amp;agrave;nh ở nhờ nh&amp;agrave; cụ Hồ T&amp;aacute; Bang, sau chuyển ra ở c&amp;ugrave;ng với học sinh nội tr&amp;uacute; của trường tại nh&amp;agrave; Ngư trong vườn cụ Nguyễn Th&amp;ocirc;ng.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Thầy Th&amp;agrave;nh được ph&amp;acirc;n c&amp;ocirc;ng dạy chữ H&amp;aacute;n v&amp;agrave; chữ quốc ngữ cho học sinh lớp nh&amp;igrave;. Thầy dạy rất tận t&amp;acirc;m, hết l&amp;ograve;ng thương y&amp;ecirc;u, chăm s&amp;oacute;c học sinh. Thầy đ&amp;atilde; trao đổi t&amp;acirc;m tư về th&amp;acirc;n phận người d&amp;acirc;n mất nước nhiệm vụ cứu nước của mỗi người d&amp;acirc;n Việt Nam, trước hết l&amp;agrave; thanh ni&amp;ecirc;n c&amp;oacute; học thức với c&amp;aacute;c thầy gi&amp;aacute;o v&amp;agrave; học sinh. Vấn đề thầy Th&amp;agrave;nh đặt ra cũng l&amp;agrave; nỗi băn khoăn chung của thầy v&amp;agrave; tr&amp;ograve;, n&amp;ecirc;n đ&amp;atilde; c&amp;oacute; ngay được sự đồng cảm s&amp;acirc;u sắc, c&amp;ugrave;ng nhau đ&amp;agrave;o s&amp;acirc;u ch&amp;iacute; căm th&amp;ugrave; v&amp;agrave; bồi dưỡng l&amp;ograve;ng tự h&amp;agrave;o về truyền thống y&amp;ecirc;u nước của d&amp;acirc;n tộc, b&amp;agrave;y mưu t&amp;iacute;nh kế đ&amp;aacute;nh đuổi qu&amp;acirc;n th&amp;ugrave;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Sau mấy th&amp;aacute;ng dạy học ở Trường Dục Thanh, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh rời trường đi v&amp;agrave;o S&amp;agrave;i G&amp;ograve;n, thực hiện ho&amp;agrave;i b&amp;atilde;o từng nung nấu l&amp;agrave; t&amp;igrave;m c&amp;aacute;ch đi sang Ph&amp;aacute;p v&amp;agrave; c&amp;aacute;c nước phương T&amp;acirc;y để xem &amp;ldquo;họ l&amp;agrave;m như thế n&amp;agrave;o rồi trở về gi&amp;uacute;p đồng b&amp;agrave;o ch&amp;uacute;ng ta&amp;rdquo;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Trước ng&amp;agrave;y 2 th&amp;aacute;ng 6 năm 1911, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh b&amp;agrave;n với một số người bạn th&amp;acirc;n về chuyến đi ra nước ngo&amp;agrave;i. Anh n&amp;oacute;i: t&amp;ocirc;i muốn đi ra ngo&amp;agrave;i, xem nước Ph&amp;aacute;p v&amp;agrave; c&amp;aacute;c nước kh&amp;aacute;c. Sau khi xem x&amp;eacute;t họ l&amp;agrave;m như thế n&amp;agrave;o, t&amp;ocirc;i sẽ trở về gi&amp;uacute;p đồng b&amp;agrave;o ch&amp;uacute;ng ta. Nhưng nếu đi một m&amp;igrave;nh, thật ra cũng c&amp;oacute; điều mạo hiểm, v&amp;iacute; như khi đau ốm... Anh muốn đi với t&amp;ocirc;i kh&amp;ocirc;ng?&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Khi người bạn hỏi lấy đ&amp;acirc;u ra tiền m&amp;agrave; đi, anh Th&amp;agrave;nh vừa n&amp;oacute;i vừa giơ hai b&amp;agrave;n tay:&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;- Đ&amp;acirc;y, tiền đ&amp;acirc;y... ch&amp;uacute;ng ta sẽ l&amp;agrave;m việc. Ch&amp;uacute;ng ta sẽ l&amp;agrave;m bất cứ việc g&amp;igrave; để sống v&amp;agrave; để đi.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Ng&amp;agrave;y 2 th&amp;aacute;ng 6 năm 1911, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh xin l&amp;agrave;m việc ở t&amp;agrave;u Amiran Latusơ Tơr&amp;ecirc;vin, một t&amp;agrave;u lớn vừa chở h&amp;agrave;ng vừa chở kh&amp;aacute;ch của h&amp;atilde;ng Năm Sao đang chuẩn bị rời Cảng S&amp;agrave;i G&amp;ograve;n đi M&amp;aacute;c X&amp;acirc;y, Ph&amp;aacute;p.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Ng&amp;agrave;y 3 th&amp;aacute;ng 6 năm 1911, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh bắt đầu l&amp;agrave;m việc ở t&amp;agrave;u Amiran Latusơ Tơr&amp;ecirc;vin, nhận thẻ nh&amp;acirc;n vi&amp;ecirc;n của t&amp;agrave;u với t&amp;ecirc;n mới: Văn Ba.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Ng&amp;agrave;y 5 th&amp;aacute;ng 6 năm 1911, Nguyễn Tất Th&amp;agrave;nh từ cảng Nh&amp;agrave; Rồng, th&amp;agrave;nh phố S&amp;agrave;i G&amp;ograve;n (nay l&amp;agrave; th&amp;agrave;nh phố Hồ Ch&amp;iacute; Minh) rời Tổ quốc. Người thanh ni&amp;ecirc;n 21 tuổi ấy ra đi với mục đ&amp;iacute;ch g&amp;igrave;? Để kiếm kế sinh nhai, hay để thỏa m&amp;atilde;n một ước mơ xa lạ n&amp;agrave;o đ&amp;oacute; của tuổi trẻ. Điều đ&amp;oacute;, hơn mười năm sau ch&amp;iacute;nh anh đ&amp;atilde; trả lời nh&amp;agrave; b&amp;aacute;o, nh&amp;agrave; thơ Nga &amp;Ocirc;Xip Mandenstan rằng: V&amp;agrave;o trạc tuổi mười ba, lần đầu ti&amp;ecirc;n t&amp;ocirc;i được nghe những từ TỰ DO - B&amp;Igrave;NH ĐẲNG - B&amp;Aacute;C &amp;Aacute;I. Đối với ch&amp;uacute;ng t&amp;ocirc;i, người da trắng n&amp;agrave;o cũng l&amp;agrave; người Ph&amp;aacute;p. Người Ph&amp;aacute;p đ&amp;atilde; n&amp;oacute;i thế v&amp;agrave; từ thuở ấy, t&amp;ocirc;i muốn l&amp;agrave;m quen với nền văn minh Ph&amp;aacute;p, muốn t&amp;igrave;m xem những g&amp;igrave; ẩn giấu đằng sau những từ ấy.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Một lần kh&amp;aacute;c, trả lời nh&amp;agrave; văn Mỹ Anna luy Xtir&amp;ocirc;ng, Người n&amp;oacute;i: Nh&amp;acirc;n d&amp;acirc;n Việt Nam, trong đ&amp;oacute; c&amp;oacute; &amp;ocirc;ng cụ th&amp;acirc;n sinh ra t&amp;ocirc;i, l&amp;uacute;c n&amp;agrave;y thường hỏi nhau ai l&amp;agrave; người gi&amp;uacute;p m&amp;igrave;nh tho&amp;aacute;t khỏi &amp;aacute;ch thống trị của Ph&amp;aacute;p. Người n&amp;agrave;y nghĩ l&amp;agrave; Nhật, người kh&amp;aacute;c nghĩ l&amp;agrave; Anh, c&amp;oacute; người lại cho l&amp;agrave; Mỹ. T&amp;ocirc;i thấy phải đi ra nước ngo&amp;agrave;i xem cho r&amp;otilde;. Sau khi xem x&amp;eacute;t họ l&amp;agrave;m ăn ra sao, t&amp;ocirc;i sẽ trở về gi&amp;uacute;p đồng b&amp;agrave;o t&amp;ocirc;i.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Sau 30 năm b&amp;ocirc;n ba t&amp;igrave;m đường cứu nước, trước y&amp;ecirc;u cầu mới của t&amp;igrave;nh h&amp;igrave;nh v&amp;agrave; được Quốc tế Cộng sản chấp nhận, ng&amp;agrave;y 28 th&amp;aacute;ng 1 năm 1941, Nguyễn &amp;Aacute;i Quốc l&amp;ecirc;n đường về nước. Khi bước tới cột mốc 108 tr&amp;ecirc;n bi&amp;ecirc;n giới Việt - Trung (thuộc x&amp;atilde; Trường H&amp;agrave;, huyện H&amp;agrave; Quảng, tỉnh Cao Bằng), Người đứng lặng hồi l&amp;acirc;u, x&amp;uacute;c động.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Ng&amp;agrave;y 8 th&amp;aacute;ng 2 năm 1941, Nguyễn &amp;Aacute;i Quốc ở hang Cốc B&amp;oacute; (hang Cốc B&amp;oacute; thuộc địa phận l&amp;agrave;ng P&amp;aacute;c B&amp;oacute;, x&amp;atilde; Trường H&amp;agrave;, huyện H&amp;agrave; Quảng, tỉnh Cao Bằng, với b&amp;iacute; danh Gi&amp;agrave; Thu). Từ đ&amp;acirc;y, Người trực tiếp l&amp;atilde;nh đạo c&amp;aacute;ch mạng Việt Nam.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Từ ng&amp;agrave;y 10 đến ng&amp;agrave;y 19 th&amp;aacute;ng 5 năm 1941, Nguyễn &amp;Aacute;i Quốc chủ tr&amp;igrave; Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đ&amp;ocirc;ng dương. Tr&amp;ecirc;n cơ sở đ&amp;aacute;nh gi&amp;aacute; t&amp;igrave;nh h&amp;igrave;nh giai cấp v&amp;agrave; x&amp;atilde; hội Việt Nam trong ho&amp;agrave;n cảnh chiến tranh thế giới, với quan điểm l&amp;yacute; luận gắn với thực tiễn c&amp;aacute;ch mạng, Hồ Ch&amp;iacute; Minh n&amp;ecirc;u cao vấn đề giải ph&amp;oacute;ng d&amp;acirc;n tộc, coi đ&amp;oacute; l&amp;agrave; nhiệm vụ h&amp;agrave;ng đầu của c&amp;aacute;ch mạng. Người k&amp;ecirc;u gọi: &amp;ldquo;Trong l&amp;uacute;c n&amp;agrave;y quyền lợi d&amp;acirc;n tộc giải ph&amp;oacute;ng cao hơn hết thảy. Ch&amp;uacute;ng ta phải đo&amp;agrave;n kết lại đ&amp;aacute;nh đổ bọn đế quốc v&amp;agrave; bọn Việt gian đặng cứu giống n&amp;ograve;i ra khỏi nước s&amp;ocirc;i lửa n&amp;oacute;ng&amp;rdquo;. Tiếp thu tư tưởng chỉ đạo của Người, Nghị quyết Hội nghị lần thứ t&amp;aacute;m của Trung ương Đảng Cộng sản Đ&amp;ocirc;ng Dương ghi r&amp;otilde;: &amp;ldquo;Trong l&amp;uacute;c n&amp;agrave;y nếu kh&amp;ocirc;ng giải quyết được vấn đề d&amp;acirc;n tộc giải ph&amp;oacute;ng, kh&amp;ocirc;ng đ&amp;ograve;i được độc lập, tự do cho to&amp;agrave;n thể d&amp;acirc;n tộc th&amp;igrave; chẳng những to&amp;agrave;n thể quốc gia d&amp;acirc;n tộc c&amp;ograve;n chịu m&amp;atilde;i kiếp ngựa tr&amp;acirc;u m&amp;agrave; quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng kh&amp;ocirc;ng đ&amp;ograve;i lại được&amp;rdquo;. Đồng thời, Hồ Ch&amp;iacute; Minh s&amp;aacute;ng lập ra Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh gọi tắt l&amp;agrave; Mặt trận Việt Minh, nhằm đo&amp;agrave;n kết mọi lực lượng y&amp;ecirc;u nước, chống đế quốc, gi&amp;agrave;nh độc lập d&amp;acirc;n tộc, kh&amp;ocirc;ng ph&amp;acirc;n biệt d&amp;acirc;n tộc, giai cấp, đảng ph&amp;aacute;i, t&amp;ocirc;n gi&amp;aacute;o... Nhằm ph&amp;aacute;t huy sức mạnh của ba d&amp;acirc;n tộc Việt, Mi&amp;ecirc;n, L&amp;agrave;o dưới sự l&amp;atilde;nh đạo của Đảng Cộng sản Đ&amp;ocirc;ng Dương, theo sự chỉ đạo của Hồ Ch&amp;iacute; Minh, Hội nghị chủ trương: ở L&amp;agrave;o v&amp;agrave; ở Campuchia th&amp;agrave;nh lập mặt trận thống nhất ri&amp;ecirc;ng của hai d&amp;acirc;n tộc: Ai Lao độc lập đồng minh v&amp;agrave; Cao Mi&amp;ecirc;n độc lập đồng minh. Sau khi c&amp;aacute;ch mạng thắng lợi, mỗi quốc gia sẽ th&amp;agrave;nh lập một ch&amp;iacute;nh phủ ri&amp;ecirc;ng v&amp;agrave; độc lập. Đối với nước ta, Hội nghị chủ trương th&amp;agrave;nh lập nước Việt Nam D&amp;acirc;n chủ Cộng h&amp;ograve;a, lấy cờ đỏ với ng&amp;ocirc;i sao v&amp;agrave;ng năm c&amp;aacute;nh ở giữa l&amp;agrave;m quốc kỳ. Để đo&amp;agrave;n kết to&amp;agrave;n d&amp;acirc;n một c&amp;aacute;ch rộng r&amp;atilde;i, thực hiện chủ trương cứu nước do Hội nghị Trung ương lần thứ t&amp;aacute;m n&amp;ecirc;u ra, trong bản Chương tr&amp;igrave;nh h&amp;agrave;nh động, Việt Minh đ&amp;atilde; đề ra những ch&amp;iacute;nh s&amp;aacute;ch cụ thể nhằm đo&amp;agrave;n kết c&amp;aacute;c tầng lớp nh&amp;acirc;n d&amp;acirc;n, tiến l&amp;ecirc;n Tổng khởi nghĩa gi&amp;agrave;nh ch&amp;iacute;nh quyền trong cả nước.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;C&amp;ugrave;ng với K&amp;iacute;nh c&amp;aacute;o đồng b&amp;agrave;o của Nguyễn &amp;Aacute;i Quốc (Hồ Ch&amp;iacute; Minh), ng&amp;agrave;y 6 th&amp;aacute;ng 6 năm 1941, những ch&amp;iacute;nh s&amp;aacute;ch cụ thể, hợp l&amp;ograve;ng d&amp;acirc;n của Việt Minh đ&amp;atilde; quy tụ to&amp;agrave;n d&amp;acirc;n dưới ngọn cờ của Đảng do Hồ Ch&amp;iacute; Minh l&amp;atilde;nh đạo, đưa C&amp;aacute;ch mạng th&amp;aacute;ng T&amp;aacute;m 1945 đến thắng lợi.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Ng&amp;agrave;y 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Ch&amp;iacute; Minh thay mặt quốc d&amp;acirc;n đọc bản Tuy&amp;ecirc;n ng&amp;ocirc;n Độc lập tại Quảng Trường Ba Đ&amp;igrave;nh (H&amp;agrave; Nội), tuy&amp;ecirc;n bố nước Việt Nam D&amp;acirc;n chủ Cộng h&amp;ograve;a ra đời - Nh&amp;agrave; nước d&amp;acirc;n chủ nh&amp;acirc;n d&amp;acirc;n đầu ti&amp;ecirc;n ở Đ&amp;ocirc;ng Nam &amp;Aacute;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Thắng lợi của C&amp;aacute;ch mạng th&amp;aacute;ng T&amp;aacute;m l&amp;agrave; thắng lợi của &amp;yacute; ch&amp;iacute; độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của d&amp;acirc;n tộc Việt Nam v&amp;agrave; l&amp;agrave; thắng lợi vĩ đại đầu ti&amp;ecirc;n của tư tưởng Hồ Ch&amp;iacute; Minh ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;C&amp;aacute;ch mạng th&amp;aacute;ng T&amp;aacute;m th&amp;agrave;nh c&amp;ocirc;ng, nước Việt Nam bước v&amp;agrave;o kỷ nguy&amp;ecirc;n độc lập tự do v&amp;agrave; chủ nghĩa x&amp;atilde; hội. Hồ Ch&amp;iacute; Minh được to&amp;agrave;n d&amp;acirc;n bầu l&amp;agrave;m Chủ tịch của nước Việt Nam mới. Với cương vị cao qu&amp;yacute; ấy, tư tưởng c&amp;aacute;ch mạng v&amp;agrave; khoa học của Người được thể chế bằng Hiến ph&amp;aacute;p v&amp;agrave; ph&amp;aacute;p luật hiện h&amp;agrave;nh của nước Việt Nam D&amp;acirc;n chủ Cộng h&amp;ograve;a (1946).&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Nhưng nh&amp;acirc;n d&amp;acirc;n Việt Nam gi&amp;agrave;nh được độc lập chưa bao l&amp;acirc;u th&amp;igrave; th&amp;ugrave; trong giặc ngo&amp;agrave;i c&amp;acirc;u kết với nhau đẩy nước l&amp;acirc;m v&amp;agrave;o cảnh &amp;quot;ngh&amp;igrave;n c&amp;acirc;n treo sợi t&amp;oacute;c&amp;quot;. Dưới sự l&amp;atilde;nh đạo của Hồ Ch&amp;iacute; Minh, nh&amp;acirc;n d&amp;acirc;n Việt Nam bước v&amp;agrave;o cuộc kh&amp;aacute;ng chiến chống thực d&amp;acirc;n Ph&amp;aacute;p lần thứ hai.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Đường lối kh&amp;aacute;ng chiến đ&amp;uacute;ng đắn của Hồ Ch&amp;iacute; Minh v&amp;agrave; của Đảng đ&amp;atilde; dẫn dắt nh&amp;acirc;n d&amp;acirc;n ta l&amp;agrave;m n&amp;ecirc;n chiến thắng Điện Bi&amp;ecirc;n Phủ chấn động địa cầu, lập lại h&amp;ograve;a b&amp;igrave;nh ở Đ&amp;ocirc;ng Dương.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;H&amp;ograve;a b&amp;igrave;nh được lập lại, nhưng đất nước tạm thời bị chia cắt th&amp;agrave;nh hai miền. Hồ Ch&amp;iacute; Minh c&amp;ugrave;ng Trung ương Đảng đ&amp;atilde; sớm x&amp;aacute;c định r&amp;otilde; kẻ th&amp;ugrave; ch&amp;iacute;nh của c&amp;aacute;ch mạng Việt Nam trong giai đoạn mới l&amp;agrave; đế quốc Mỹ, v&amp;agrave; vạch ra đường lối c&amp;ugrave;ng một l&amp;uacute;c thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Nam tiếp tục thực hiện nhiệm vụ c&amp;aacute;ch mạng d&amp;acirc;n tộc, d&amp;acirc;n chủ; miền Bắc đ&amp;atilde; được ho&amp;agrave;n to&amp;agrave;n giải ph&amp;oacute;ng, từng bước tiến dần l&amp;ecirc;n chủ nghĩa x&amp;atilde; hội. Lần đầu ti&amp;ecirc;n trong lịch sử, một nước thuộc địa, nửa phong kiến, được một Đảng Cộng sản l&amp;atilde;nh đạo đ&amp;atilde; c&amp;ugrave;ng một l&amp;uacute;c tiến h&amp;agrave;nh hai nhiệm vụ chiến lược v&amp;agrave; qu&amp;aacute; độ l&amp;ecirc;n chủ nghĩa x&amp;atilde; hội kh&amp;ocirc;ng qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong điều kiện ấy, tư tưởng Hồ Ch&amp;iacute; Minh ng&amp;agrave;y c&amp;agrave;ng ph&amp;aacute;t triển v&amp;agrave; thấm s&amp;acirc;u v&amp;agrave;o thực tiễn c&amp;aacute;ch mạng Việt Nam.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Ch&amp;iacute; Minh đ&amp;atilde; để lại cho to&amp;agrave;n Đảng, to&amp;agrave;n qu&amp;acirc;n v&amp;agrave; to&amp;agrave;n d&amp;acirc;n ta bản Di ch&amp;uacute;c thi&amp;ecirc;ng li&amp;ecirc;ng. Trong Di ch&amp;uacute;c, Người đ&amp;atilde; n&amp;oacute;i l&amp;ecirc;n niềm tin tất thắng ở sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước; tổng kết s&amp;acirc;u sắc những b&amp;agrave;i học đấu tranh v&amp;agrave; thắng lợi của c&amp;aacute;ch mạng Việt Nam; đồng thời đề ra những phương s&amp;aacute;ch lớn để x&amp;acirc;y dựng lại đất nước sau chiến tranh nhằm thực hiện mục ti&amp;ecirc;u: &amp;quot;X&amp;acirc;y dựng một nước Việt Nam h&amp;ograve;a b&amp;igrave;nh, thống nhất độc lập, d&amp;acirc;n chủ v&amp;agrave; gi&amp;agrave;u mạnh, v&amp;agrave; g&amp;oacute;p phần xứng đ&amp;aacute;ng v&amp;agrave;o sự nghiệp c&amp;aacute;ch mạng thế giới&amp;quot;.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Bản Di ch&amp;uacute;c l&amp;agrave; những lời căn dặn cuối c&amp;ugrave;ng đầy t&amp;acirc;m huyết, thắm đượm t&amp;igrave;nh người của Chủ tịch Hồ Ch&amp;iacute; Minh; một di sản v&amp;ocirc; c&amp;ugrave;ng qu&amp;yacute; b&amp;aacute;u của d&amp;acirc;n tộc v&amp;agrave; nh&amp;acirc;n loại.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class=&quot;MsoNormal&quot; style=&quot;text-align: justify; text-indent: 18pt; margin: 0cm 0cm 0pt&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; font-size: 10pt&quot;&gt;Với l&amp;ograve;ng k&amp;iacute;nh y&amp;ecirc;u v&amp;agrave; thương tiếc v&amp;ocirc; hạn, to&amp;agrave;n Đảng, to&amp;agrave;n d&amp;acirc;n, to&amp;agrave;n qu&amp;acirc;n ta đ&amp;atilde; thực hiện nghi&amp;ecirc;m chỉnh Di ch&amp;uacute;c thi&amp;ecirc;ng li&amp;ecirc;ng của Người &amp;quot;đ&amp;aacute;nh cho Mỹ c&amp;uacute;t, đ&amp;aacute;nh cho ngụy nh&amp;agrave;o&amp;quot;, giải ph&amp;oacute;ng ho&amp;agrave;n to&amp;agrave;n miền Nam, h&amp;ograve;a b&amp;igrave;nh, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước c&amp;ugrave;ng tiến l&amp;ecirc;n chủ nghĩa x&amp;atilde; hội.&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Ngu&amp;ocirc;̀n &lt;span style=&quot;font-family: Arial; color: black; font-size: 10pt&quot;&gt;&lt;a href=&quot;http://www.baobinhdinh.com.vn/&quot;&gt;&lt;span style=&quot;color: black; text-decoration: none; text-underline: none&quot;&gt;http://www.baobinhdinh.com.vn&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;. -2005. &amp;ndash;Ngày 2 tháng 3 &lt;/span&gt;&lt;span lang=&quot;EN-US&quot; style=&quot;font-family: Arial; color: black; font-size: 10pt; mso-ansi-language: EN-US&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;&lt;b style=&quot;mso-bidi-font-weight: normal&quot;&gt;&lt;span style=&quot;font-family: Arial; color: black; font-size: 10pt&quot;&gt;&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style=&quot;mso-bidi-font-weight: normal&quot;&gt;&lt;span lang=&quot;EN-US&quot; style=&quot;font-family: Arial; color: black; font-size: 10pt; mso-ansi-language: EN-US&quot;&gt;&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;</p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần I: 1890 - 1911</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/06/2011 3:15 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người thiếu niên 15 tuổi. Người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ anh đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh đã tham gia công tác bí mật, nhận công việc liên lạc. Anh khâm phục các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu, nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào. Vì:</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.901</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần I: 1890 - 1911</category>
      <pubDate>Mon, 06 Jun 2011 08:22:26 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=4</guid>
    </item>
    <item>
      <title>30 năm tôi đi tìm Hồ Chí Minh</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=48</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassA74BDEC9B2AA45B6801885EB1DAF33E5><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đối với tôi viết về Hồ Chí Minh lại càng khó hơn, vì xuất thân từ Trường sĩ quan trừ bị Nam Định, đã cầm súng chống Cộng trong thời gian 8 năm rưỡi, khoảng thời gian tôi ở trong quân lực Việt Nam Cộng hòa, đã đi Mỹ học, và đã về phục vụ trong ngành giáo dục ở miền Nam cho đến ngày chót, đương nhiên tôi đã ở phía Việt Nam Cộng hòa rồi. Nhưng cuộc chiến đã chấm dứt hơn 30 năm, bây giờ còn nói đến chuyện &quot;Quốc - Cộng&quot; có phải là ngớ ngẩn không? Thời gian chỉ trôi có một chiều, một thế hệ già nua như chúng tôi đang lần lượt rủ nhau đi vào dĩ vãng để nhường chỗ cho một thế hệ trẻ hơn, đầy nhiệt huyết, với những kiến thức thời đại, biết thế nào là con đường quốc gia, dân tộc, và dứt khoát từ chối, không để cho đầu óc bị ô nhiễm bởi những thù hận của lớp trước, dù các bậc cha anh vô tri có muốn truyền lại. Với tâm cảnh như trên, vậy tôi phải viết về Hồ Chí Minh ra sao?</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Được đào tạo trong nghành Khoa học Vật lý, đối với tôi, sự lương thiện trí thức phải để lên hàng đầu, và phương pháp khảo cứu mọi vấn đề phải cẩn trọng, không để cho tình cảm, thiên kiến lôi cuốn, tuy tôi tự biết, vì không có cái mặc cảm của Thượng đế, nên tôi không thể tránh khỏi có đôi chút thiên kiến khi viết về lịch sử Một người nào đó đã chẳng từng nói: &quot;Người nào Viết sử mà không có đôi chút thiên kiến chắc phải có cái mặc cảm mình là Thượng đế (hay mặc cảm của Thượng đế)&quot;. Để giảm thiểu thiên kiến, phương pháp khảo cứu của tôi là đọc nhiều sách về cùng một vấn đề rồi từ đó kiếm ra một mẫu số chung. Điều này chưa<span style="">         </span>hẳn là tuyệt đối đúng, nhưng ít ra cũng không xa sự thực là bao nhiêu. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước khi đi vào<span style="">  </span>những vấn đề này, tôi có một nhận xét tổng quát về những luận điệu xuyên tạc đả kích ông Hồ Chí Minh của một số người có vẽ như không có mấy trình độ. Không có gì ngu xuẩn hơn là so sánh Hồ Chí Minh với Hitler. Những người này hầu như không hề biết gì đến dư luận thế giới, nhất là trong các nước tiến bộ Âu-Mỹ, đã nhận định về ông Hồ Chí Minh như thế nào. Hãy vào Intemet đánh tên Hồ Chi Minh thì sẽ thấy Thế giới đánh giá Hồ Chí Minh như thế nào. Hay hãy đọc những cuốn sách về chiến tranh Việt Nam của các học giả, tướng lãnh Mỹ, và ngay cả hai cuốn In Retrospect và Argument Without End của cựu Bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara. Phần nhận định tích cực về Hồ Chí Minh tràn ngập so với phần tích cực thưa thớt của một số người Việt hải ngoại mà tên tuổi không đáng kể, và chỉ như những con đom đóm lập lóc trên vài diễn đàn báo điện tử, ít có giá trị trí thức của đám người Việt còn mang nặng lòng hận thù.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">CÁC NHÀ SỬ HỌC, GIÁO SƯ, KÝ GIẢ NƯỚC NGOÀI ĐÃ VIẾT GÌ VỀ HỒ CHÍ MINH?</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style=""> </span><span style="">           </span><b>1. Hồ Chí Minh là tinh túy, là biểu tượng của dân tộc Việt Nam.</b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cách đây 6 năm, năm 2000, sử gia Williamj. Duiker có xuất bản cuốn Ho Chi Minh. A Life. Cuốn sách này được giới trí thức, học giã Âu-Mỹ đánh giá khá cao và cho rằng đó là một cuốn sách nghiên cứu sâu rộng nhất về con người và sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh. Đọc Duiker và phối kiểm với những đoạn viết về ông Hồ Chí Minh của nhiều tác giả khác ở phương Tây, chúng ta có thể rút tỉa ra những điều không xa với sự thật là bao nhiêu.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tôi xin được nhắc lại một đoạn trong bài của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang mà giáo sư đã trích dẫn từ cuốn Ho Chi Minh, A Lije của William J. Duikcr: </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">“Khi tin tức về cái chết của ông Hồ Chí Minh được loan truyền thì khắp địa cầu đưa ra nhận xét về ông. Hà Nội nhận đã tới hơn hai mươi hai ngàn (22. 000) bút điện tín từ các thủ đô, lớn của 121 quốc gia trên thế giới để bày tỏ lời ca ngợi ông và chia buồn với nhân dân Việt Nam. Một số các nước theo chủ nghĩa xã hội tổ chức buổi lễ truy điệu và đưa ra những lời ca tụng ông. Thủ đô Mạc Tư Khoa chính thức ca tụng ông như là &quot;Người con vĩ đại của dân tộc anh hùng Việt Nam, một người lãnh đạo xuất sắt của phong trào giải phóng dân tộc và cộng sản quốc tế, và là người bạn vĩ đại của Liên bang Xô Viết”. Các nước trong Thế giới thứ ba (các nước trung lập) cũng nhận xét về ông với những lời ca tụng ông như là một người bảo vệ những người bị áp bức. Một bài báo phát hành ở Ấn Độ mô tả ông như là tinh túy của &quot;dân tộc và là hiện thân của lòng khát vọng tự do, của sự tranh đấu bền bỉ” . Những bài báo khác đề cao đức tính giản dị và thẳng thắn của ông. Một bài xã luận trong một tờ báo ở Uruguay (Nam Mỹ) ghi nhận: &quot;ông có một tấm lòng bao la như vũ trụ và có một tình thương vô bờ bến đối với trẻ em. Ông là người gương mẫu về đức tính giản dị và thẳng thắn trong tất cả mọi phạm vi”?</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style=""> </span>Phản ứng từ các thủ đô phương Tây thì không biểu lộ mạnh mẽ. Tòa Bạch Ốc lặng thinh và các viên chức cao cấp trong chính quyền của Tổng thống Nixon cũng không bình luận gì cả. Nhưng việc chú ý đến cái chết của Hồ Chí Minh đối với giới truyền thông trong các nước phương tây thật là mãnh liệt. Những tờ báo ủng hộ các phong trào phản chiến có khuynh hướng mô tả ông bằng những lời lẽ ca tụng ông như là một đích thủ xứng đáng và là một người bảo vệ những kẻ yếu, những người thế cô và những người bị áp bức. Ngay cả những người vẫn thường khăng khăng chống lại chế độ Hà Nội cũng đánh giá ông bằng những lời lẽ kính trọng, như là một người đã tận hiến cả cuộc đời cho cuộc chiến đấu giành độc là và thống nhất đất nước cho tổ quốc ông, coi ông như là người phát ngôn xuất chúng cho các dân tộc<span style="">  </span>bóc lột trên thế giới”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trên đây, Duiker đã viết lại một sự kiện. Sự kiện này, hơn hết, đã loại bỏ tất cả những gì mà một số người Việt hải ngoại hay ở trong nước viết tiêu cực theo cảm tính về Hồ Chí Minh. Cho nên, bất kể những luận điệu nhằm hạ uy tín ông đều không thể thuyết phục được ai, ít nhất là trong giới hiểu biết, nhất là những luận điệu này lại thuộc loại hạ cấp, đầy hận thù.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Có một bài viết về Hồ Chí Minh của Wilfred Burchett - một ký giả Úc nổi tiếng, đã từng được Ngoại trưởng Hênh Kissinger nhờ làm trung gian liên lạc giữa Mỹ và Hà Nội. Năm 1968 , ông đã viết một cuốn sách có tính cách tiên đoán:<span style="">  </span>Việt Nam sẽ thắng (Vietnam will) và năm 1977, ông xuất bản cuốn Châu Chấu và Voi: Tại sao [Nam]<span style="">  </span>Việt Nam sụp đổ (Grasshoppers and Elephants: Why Vietnam Fell). Theo tôi, Burchett viết hay, không phải vì tác giả ca tụng ông Hồ Chí Minh, mà tác giả đã viết về những gì đã tạo nên ông Hồ Chí Minh: Không phải thuần túy chỉ là Marx, là Lênin hay Mao Trạch Đông, mà chính là lịch sử 2000 năm chống ngoại xâm của Việt Nam đã tạo nên Hồ Chí Minh. Có thể nói, tác giả hiểu Việt Nam hơn rất nhiều người tự cho mình là trí thức. Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài của Burchett: </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">&quot;Chính sách của Mỹ là làm cho người<span style="">  </span>Việt Nam cảm thấy mình thuộc một sắc dân thấp kém, không có quyền về căn cước quốc gia. Họ thường bị gọi là &quot;gooks&quot; . &quot;slopes &quot; và &quot;dinks&quot; và trên những phúc trình chính thức, làng Mỹ Lai trở thành &quot;Thành phố hồng&quot; (có nghĩa là thành phố Cộng sản) và dân làng bị tàn sát chỉ là &quot;những người Á Đông”<span style="">  </span>(với ý coi thường, miệt thị). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sự thực là người nông dân Việt Nam nghèo khó nhất, ngay cả thất học, về phương diện văn hóa và đạo đức thường cũng cao hơn người Mỹ. Họ biết nhiều hơn về lịch sử đất nước của họ - không chỉ vì đất nước họ có vài ngàn năm lịch sử nhiều hơn mỹ để mà biết đến - mà vì những điều này đã thấm vào trong người họ từ sữa mẹ. Ngay từ bé, họ lớn lên trong một môi trường tràn ngập với những câu chuyện về gia tài lịch sử, hoặc được kể ngay khi còn nằm trong lòng mẹ, hoặc qua nhưng màn kịch diễn lại những trang sử oai hùng của 2000 năm lịch sử chống ngoại xâm của những gánh hát rong, hoặc những truyền thuyết về các &quot;thần thành hoàng&quot; (thường là các anh hùng giúp nước của xóm làng được nhà vua sắc phong), hoặc là những câu chuyện về tổ tiên đã bảo vệ non sông như thế nào, hoặc là những chuyện đau khổ của người dân bị đàn áp bởi ngoại nhân nên đòi hỏi một sự đứng lên để chống đối... Sự<span style="">  </span>hiểu biết về 2000 năm tranh đấu chống xâm lăng có đầy trong dòng máu của người nông dân chân lấm tay bùn nghèo khó nhất. Đây là nguồn dũng cảm và sức chịu đựng vô tận, luôn tin tưởng vào tương lai mà những chuyên viên của Mỹ không thể hiểu được.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style=""> </span>Hồ Chí Minh là mẫu mực thu nhỏ của tất cả những điều trên. Và đúng là, cũng như một cái gì đó trong mỗi người Việt Nam đều có trong Hồ Chí Minh, một cái gì đó trong Hồ Chí Minh đều có trong hầu hết những người Việt Nam ngày nay, dấu ấn của ông trên dân tộc Việt Nam thật là sâu đậm.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">2. Đích đến của Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc</span></b><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Vấn đề tiếp theo tôi muốn nói đến là: Hồ Chí Minh là người Cộng sản như thế nào? Chúng ta biết rằng, Hồ Chí Minh chưa bao giờ phủ nhận mình là người Cộng sản và đã từng khẳng định là Lênin cho ông niềm tin trong công cuộc giành độc lập cho đất nước. Nhưng muốn hiểu ông là người Cộng sản như thế nào, có lẽ chúng ta nên biết đến quan niệm của một số trí thức ngoại quốc, những người thường ở trong môi trường đại học, đặt sự tôn trọng, sự lương thiện trí thức lên hàng đầu, và vì chính uy tín của họ, nên không thể viết theo cảm tính mà không nghiên cứu kỹ vấn đề, hay tự hạ mình rơi vào vòng tranh chấp Quốc-Cộng mà họ không thuộc phe nào và không có lý do gì để ủng hộ hay chống đối một phe nào.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài của Stanley I. Kutler điểm cuốn Ho Chi Minh, ALife, Kutler là tác giả cuốn The Wars of Watergate và là chủ biên của The Encyclopedia ofthe Vetnơm War. Stanley Kutler cho rằng trong tác phẩm của mình, Duiker đã viết về một nhà cách mạng ái quốc gần với Thomas Jefferson hơn là với V. L Lenin. (Điều này, không phải chỉ có mình Duiker mới nhận định như trên, mà một số tác giả Mỹ khác cũng có cùng một nhận định như vậy.TCN)</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước hết, Kutler cho rằng chế độ thực dân đã cáo chung một thế kỷ nay rồi và vai trò của ông Hồ Chí Minh đã đi vào quá khứ. Ngày nay, Việt Nam là một phần của nền kinh tế toàn cầu, có nghĩa là có những liên doanh mang lại lợi nhuận cho Chính phủ, cho một số viên chức được ưu đãi, và cho những công ty phương Tây. Nhưng Kutler ghi nhận là: </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">&quot;Tuy nhiên, thế giới có một bộ mặt khác vì Hồ Chí Minh, và những người như ông, người đã lo lắng, chiến đấu và hi sinh để giai phóng dân tộc của họ thoát khỏi sự sỉ nhục và gông cùm của sự chuyên chế bạo ngọc ngoại quốc&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau đó Kutler viết: “Duiker đã đi quá sự tranh luận (đơn giản trong thời chiến tranh lạnh về vấn đề Hồ Chí Minh là người Cộng sản theo chính thống marx- Lenin hay là một nhà ái quốc dân tộc, hiến thân cho cuộc giải phóng và thống nhất đất nước?&quot;. &quot;Duiker đã nhận định đúng, Hồ Chí Minh có căn rễ sâu đậm trong phong trào Cộng sản quốc tế nhưng ông luôn luôn là một người theo chủ nghĩa dân tộc cương quyết hiến thân cho nguyên lý dân tộc tự quyết&quot;. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">&quot;Ông Hồ Chí Minh không hề nao núng khi dùng Chủ nghĩa Cộng sản cho những mục đích dân tộc. Lời tuyên bố của ông. &quot;Các dân ở Đông Dương vẫn sống và sẽ còn sống mãi&quot; khó mà phù hợp với chủ nghĩa Marx. Duiker nhấn mạnh là, đối với Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc bao giờ cũng là mục tiêu chủ yếu trong khi chủ thuyết về một Cộng sản không tưởng vẫn là một vấn đề mơ hồ, bất định cho tương lai”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chúng ta hãy đọc thêm vài tài liệu về Hồ Chí Minh: </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong tờ Les Collections dê L Hi.vtoire, số 23, Avril-juin 2004, một tuyên tập về &quot;Indochine Vietnam: Colonisation, Guerres ẹt Communismc&quot;, có bài Con Người trở thành Hồ Chí Minh (L’ Hom me Qui Devint Ho Chi Minh) của Piene Brocheux, Giáo sư Diễn giảng danh dự tại Đại học Denis- Diderot, Paris-VII. Chúng ta sẽ thấy trong đó có vài chi tiết để chúng ta hiểu hơn về Hồ Chí Minh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đối với Nguyên Ái Quốc, chủ thuyết Marx-Lenin đã đưa ra những cách thức hành động, như là ông đã giảng giải nhiều năm sau: &quot;Chúng ta phải hiểu rằng giành độc lập ra khỏi tay một cường quốc như Pháp là một nhiệm vụ rất khó khăn, người ta không thể hoàn thành mà không có một sự viện trợ từ bên ngoài. Chúng ta lấy lại độc lập bằng sự tổ chức và tự khép mình vào kỷ luật. Chúng ta cũng còn cần đến một lòng tin, một phúc âm, một sự phân tích thực tiễn, có thể nói đến như là một thánh kinh. Chủ thuyết Marx-Lenin đã cung cấp cho tôi đường lối hành động này”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style=""> </span><span style="">           </span>Thực ra thì có lẽ Hồ Chí Minh muốn nói đến những luận đề về Những vấn đề Dân tộc và Thuộc địa của Lenin đưa ra trong Đại hội II của Quốc tế Cộng sản vào năm 1920<span style="">  </span>để nghị thảo mà ông biết đến trong Đệ Tam Quốc tế. Chúng ta đã biết, chính ông Hồ Chí Minh đã thành thực công nhận là mới đầu ông không hiểu hết những từ và ý tưởng chính trị khó hiểu trong bản văn trên, nhưng rồi đọc đi đọc lại ông mới thẩm và hiểu rõ, và ý thức được là những luận đề này đã giúp cho ông thấy con đường thích hợp nhất để cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách thuộc địa, thực dân. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chúng ta hãy đọc tiếp vài đoạn khác của Giáo sư Brocheux. Trước hết là một tài liệu trích dẫn từ một tài liệu trong văn khố của Liên Xô, mới được sử gia Alain Ruscio phổ biến năm 1990, trang 34-36:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">&quot;Năm 1934, Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) trở lại Moscou. Stalin đã nắm chức quyền lực, và những cuộc thanh trừng lớn bắt đầu năm 1937. Dường như ông sẽ là nạn nhân, vì từ ngày trở lại Moscou, ông không được tin cậy để giao phó cho một trách nhiệm nào. Không còn nghi ngờ gì nữa người ta đã trách cứ là ông ngả về tinh thần dân tộc trong cuộc chiến đấu chống thực dân thay vì tinh thần cách mạng quốc tế vô sản&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style=""> </span>&quot;Về vấn đề này, Hồ Chí Minh đã bày tỏ quan điểm của mình từ năm 1924. Được huấn luyện về cách mạng và chủ thuyết Marx bởi phương Tây, tuy nhiên ông đã nhìn theo đặc tính Á Đông. &quot;Cuộc đấu tranh giai cấp ở phương Đông không giống như ở phương Tây. Marx đã xây dựng lý thuyết của mình trên một căn bản triết lý nào đó của lịch sử. Nhưng là lịch sử nào? Đó là lịch sử châu Âu. Nhưng châu Âu là gì? Không phải là tất cả nhân loại.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">&quot;Không có gì minh họa rõ hơn sự tương phản giữa Hồ Chí Minh và những người lãnh đạo cộng sản là những trao đổi quan niệm của Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ với Hồ Chí Minh vào năm 1960. Ông đã tuyên bố rằng ngay cả việc giết kẻ thù cũng không được đạo đức; Mao đã trả lời ông rằng &quot;Tưởng Giới Thạch giết, tôi giết, đã không phải là một vấn đề đạo đức. Và Lưu Thiếu Kỳ thêm vào là viện đến đạo đức khi ta phải đối phó với những tên tư bản thống cách mạng là không thích đáng”. Trong cuốn The Vetnam War Almanac. General Editor: john S. Bowman, Bamcs &amp; Noble Books, NY, 2005, trang 493, cũng có viết:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">&quot;ông Hồ Chí Minh ít quan tâm đến những chi tiết tế nhị của chủ thuyết Mao và Lenin; thiên tài của ông là về hành động chính trị,<span style="">  </span>và lý tưởng của ông có thể khá co giãn chừng nào mà nó đưa tới mục đích đã ám ảnh ông: Nền độc lập và thống nhất của Việt Nam&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong cuốn Cracks In The Empire, South End Press, Boston, 1981, Pual joscph, Giáo sư Xã hội học, Đại học Tufts, viết, trang 83 :</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">&quot;Dù rằng thiếu bằng chứng Washington tiếp tục cho rằng cuộc đấu tranh chống Pháp (ở Việt Nam) là do sự chỉ đạo từ Liên bang Xô Viết. Thí dụ, trong bức công điện gửi cho Thủ tướng (Pháp) Ramadier đại sứ Mỹ vẫn sai lầm cho rằng Việt Minh là một phong trào mà &quot;triết lý và tổ chức chính trị đều phát khởi và bị kiểm soát bởi điện Kremlin&quot;. Tuy vậy tình báo Mỹ đã cố gắng, và thất bại, để kiếm ra bằng chứng là có mối liên hệ kiểm soát giữa Moscou và Hồ Chí Minh. Một công điện của Bộ Ngoại giao gửi cho đại sứ Mỹ ở Trung Quốc viết: &quot;Bộ không có bằng chứng nào về sự nối kết trực tiếp giữa Hồ Chí Minh và Moscou nhưng vẫn cho rằng có&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trên đây chỉ là vài tài liệu trong số hàng trăm tài liệu khác có những nhận định tương tự rải rác trong những cuốn sách mà tôi đã đọc Lẽ dĩ nhiên, tôi không thể nào trích dẫn tất cả những nhận định ấy trong phạm vi một bài viết như thế này. Điều này, đòi hỏi nhiều thời gian và thích hợp trong một cuốn sách viết về Hồ Chí Minh hơn. Nhưng qua những tài liệu trên, chúng ta có thể thấy rằng ông không phải là tay sai của Liên Xô và Trung Quốc như một số người có đầu mà không có óc cố tình lên án ông là tay sai của Đệ Tam Quốc tế, hay tệ hơn nữa là &quot;điệp viên của Cộng sản Quốc tế, (Minh Võ). Họ không hề biết quan điểm chính trị của Hồ Chí Minh đối với Liên Xô và Trung Quốc, ông đã khôn khéo từ chối không nhận đề nghị của Liên Xô cũng như Trung Quốc gửi quân tình nguyện vào đánh giúp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chúng ta hãy đọc một đoạn trong cuốn Hồ Chí Minh của Julcs Archcr, Chương 9: &quot;Giữa con gấu Nga và con rồng Trung Quốc&quot; (Between Russian Bear and Chincse Dragon), trang 109: </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">&quot;Đến Bắc Kinh dự lễ kỷ niệm 10 năm Cách mạng Trung Quốc, Hồ Chí Minh cẩn thận đứng giữa Mao Trịnh Đông và đại diện của Liên Xô, Miklai Sustov Trong những cuộc đàm phán riêng. Hồ Chí Minh đã thành công lấy được sự hứa hẹn của cả Bắc Kinh lẫn Moscou để tăng gia giúp thêm vũ khí và viện trợ dân sự, nhưng khôn khéo từ chối những đề nghị gửi quân tình nguyện hay cố vấn quân sự đến Việt Nam. Ông Hồ Chí Minh biết rõ là nếu để cho con gấu Nga hay con rồng Trung Hoa được đặt chân vào cưa ngõ Hà Nội thì dần dần cửa ngõ này sẽ bị cưỡng bách mở rộng ra cho đến khi Bắc Việt mất đi nền độc lập và trở thành một quốc gia bị chiếm&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">LỜI KẾT CHO CHÍNH BẢN THÂN TÔI VÀ NHIỀU NGƯỜI</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuối cùng, vị thế của Hồ Chí Minh đối với dân tộc Viết Nam ra sao? Chúng ta đã biết, Wilfred Burchctt đã nhận định ở trên:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hồ Chí Minh là của toàn thể dân tộc Việt Nam. Không có một lằn ranh giới nào vĩ tuyến 17 có thể làm cho người dân </span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">miền Nam xa lìa Hồ Chí Minh dù rằng thủ đô được đặt ở miền Bắc. Hồ Chí Minh đã được chấp nhận là lãnh tụ và là nguồn cảm hứng cho mọi người Vệt Nam - trừ số người đã lần lượt phục vụ những quan thầy Nhật, Pháp, rồi Mỹ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 6pt 2.15pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nhận định này đúng hay sai? Cớ lẽ câu trả lời thiết thực nhất là của Hoàng Xuân Ba trong bài Hai câu chuyện hoàn toàn trung thực, mới đây, đăng trên Đàn Chim Việt:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:33.85pt;margin:0cm 0cm 6pt 2.15pt"><b><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chuyện thứ nhất: Lá cờ đỏ sao vàng trên mạng</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:33.85pt;margin:0cm 0cm 6pt 2.15pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trưa 2/9/2006, ngày Quốc khánh của nước Cộng hòa xã hội chu nghĩa Việt Nam, đang nói chuyện với một người bạn Việt kiều trên Yahoo Messenger (YM), tôi bất ngờ nhận được thông điệp của một người bạn trẻ Việt Nam: ''Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta&quot;, kèm theo đó là lời kêu gọi hãy thay đổi avatar (hình ảnh đại diện) trên YM bằng lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ biểu trưng cho Đảng Cộng sản Vệt Nam. Nhìn lại danh sách nickname của mình trên YM, tôi thấy rất đông các bạn trẻ thay đổi avatar bằng hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:33.85pt;margin:0cm 0cm 6pt 2.15pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sáng nay, 4/9/2006, báo Tuổi Trẻ đăng bài: ''Mừng Quốc khánh trên mạng''. Trong bài viết này, tác giả mô tả lại hình ảnh nhà nhà treo cờ, người người treo cờ trên mạng: ''lần đầu tiên, cư dân trên mạng đón lễ quốc khánh hoành tráng bằng cách đưa hình ảnh lá cờ Tổ quốc lên mạng trang trọng trên các blog (nhật ký cá nhân trên mạng) và trên avatar trong công cụ chát YM của mình trong ngày 2/9. Và ngày 3/9, tất cả đều đồng loạt thay vào đó là chân dung của Bác Hồ ''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><b><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chuyện thứ hai: Lăng ông Hồ Chí Minh</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Tôi đã có dịp gặp gỡ trên mạng với bạn đọc của DCVO nline gần đây qua bài Tản mạn về xã hội chủ nghĩa ở Hà Nội, đăng ngày 31/8/2006 (với hàng chục ý kiến khác nhau). Cũng dịp công tác này, tôi tranh thủ được một thời gian ngắn để ghé thăm lăng Hồ Chí Minh với mục đích tìm hiểu xem thái độ, tình cảm ,của người dân Vệt Nam và nhất là người dân Hà Nội đối với ông ra sao. Điều làm tôi thật bất ngờ là có rất nhiều người đến viếng thăm lăng ông, các đoàn viếng lăng vào ra tấp nập. Để vào thăm lăng của ông, tôi được một anh bảo vệ cám loa phóng thanh bắt phải đứng xếp vào hai hàng dọc, rồi theo đó vào lăng. Quả thật,<b> </b>tôi cảm nhận được sự trang nghiêm của lăng mộ Hồ Chí Minh và cả sự sùng bái của những người dân bình thường viếng thăm lăng. Một cách tự động, tất cả mỗi người đều kính cẩn, nghiêm trang khi đi ngang qua thi hài<span style="">  </span>ông được đặt trong một cái hòm rất rộng, bốn bên là kính trong suốt. Trông ông không giống như những bức hình chụp mà tôi từng thấy, khuôn mặt trông vốn còn rất tươi tắn, hòng hào nhưng trông giả chứ không thật, có lẽ bị đánh sáp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Báo chí Việt Nam sang 4/9/2006 đều đồng loạt đăng tin về việc có hàng vạn người đến viếng thăm lăng Hồ Chí Minh. Báo Tuổi Trẻ viết: ''Sáng 2/9, đoàn người vào lăng viếng Bác dài ra tận hai phía trên phố Ngọc Hà và Hùng Vương. Đông nhất là các đoàn học sinh và người già từ các tỉnh Thái Nguyên, Hà Tây. Còn có rất nhiều đoàn đến từ tỉnh xa như Cao Bằng, Nghệ An, Quảng Trị, Bình Phước... Có nhiều người nước ngoài cũng đứng trong đoàn người, từng bước vào lăng. Khu vực quảng trường trước lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc nào cũng đông kín người ''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Một thông tin đáng chú ý đó là thiếu tướng Đào Hữu Nghĩa, Trưởng Ban quản lý lăng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh bảo vệ lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho biết, đến hết buổi viếng ngày 2/9 chỉ khoảng 25.000 lượt người được vào viếng lăng ông, số còn lại đành phải chờ đến hôm sau. Tôi tin rằng, con số trên rất thật bởi vì tôi đã được tận mắt chứng kiến dòng người xếp hàng dài vào viếng lăng Hồ Chí Minh, không nhất thiết phải do cơ quan hay các hội đoàn tổ chức...</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Duiker cũng viết, trang 566: ''Mỗi tuần có hơn 15.000 người đến viếng thăm lăng ông Hồ Chí Minh''.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Tại sao ngày nay người dân Việt Nam vẫn còn kính trọng và ngưỡng mộ Hồ Chí Minh, tuy rằng trên diễn đàn truyền thông hải ngoại có cả một chiến dịch để xóa bỏ ''thần tượng Hồ Chí Minh''? lý do rất dễ hiểu là phần lớn những điều viết về Hồ Chí Minh của giới chống Cộng là sai lầm, và vô căn cứ, bắt nguồn từ lòng thù hận một chiều của những người gọi là ''Quốc Gia'', chứ không đặt trên những sự thật và sự kiện lịch sử.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.2pt"><strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nguồn</span></strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"> <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Hồn Việt. – 2009. – Số 27 (tháng 9). – Tr. 4-7, 59, 60</strong></span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần IV: Thế giới viết về Bác</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 2:55 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ. Đối với những người thuộc giới chống Cộng viết theo cảm tính thù hận, khi thực sự chưa hiểu và không biết gì về Hồ Chí Minh thì rất dễ, vì muốn viết sao cũng được. Họ đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng …nhằm &quot;ám sát tư cách cá nhân&quot;, bằng những từ hạ cấp cho hả lòng thù hận, thì có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến trình độ, và cũng không cần đến liêm sỉ. Thảm thay, hiện tượng này chúng ta thường thấy xảy ra trong vài khu rừng diễn đàn truyền thông hải ngoại. Nơi đây, một thiểu số người Việt có vẻ như không có mấy trình độ văn hoá, giáo dục đã thường lên tiếng. Nhưng viết cho đúng với nhân cách, tài năng, tư tưởng và con người của Hồ Chí Minh thì quả thật là khó, vì điều này đòi hỏi trước hết là một sự lương thiện trí thức, một sự hiểu biết đúng đắn về cuộc đời của Hồ Chí Minh, và nhất là, về việc ông đã làm gì cho đất nước Việt Nam.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.182</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần IV: Thế giới viết về Bác</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 07:57:23 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=48</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chuyến đi Liên Xô, Trung Quốc đấu năm 1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=16</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass2331EB7F44B1436786E0D3B908844FEF><p><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đ</span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">ầu năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật sang thăm không chính thức Trung Quốc, Liên Xô. Đây là sự kiện lớn, có quan hệ nhiều mặt đến lịch sử cách mạng Việt Nam. Việc xác định đầy đủ thời gian và nội dung của sự kiện là rất quan trọng, thu hút nhiều tổ chức và các nhà nghiên cứu.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 8-1976, lần đầu tiên Viện bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức buổi tọa đàm về sự kiện này. Sau đó, Nguyễn Hoàng Tửu, Trần Thị Hiền đã viết bài: &quot;Xung quanh sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Liên Xô cuối năm 1949, đầu năm 1950&quot; đăng trên <i style="">Tạp chí Lịch sử Đảng</i> số 18-19, năm 1987. Mặc dù, những vấn đề cơ bản đã được xới xáo, nhưng các tác giả cũng thừa nhận, do thiếu tư liệu nên nhiều vấn đề quan trọng chưa thể làm sáng tỏ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1990, NXB Sự thật, Hà Nội cho ra mắt bạn đọc cuốn <i style="">Chủ tịch Hô Chí Minh với công tác ngoại giao</i> của Viện quan hệ quốc tế, Bộ ngoại giao. Cùng năm, NXB Sao mới Quảng Tây Trung Quốc công bố cuốn <i style="">Hồ Chí Minh với Trung Quốc </i>của nhà sử học Hoàng Tranh. Đây là những bước tiến quan trọng về mặt tư liệu. Bước tiến này được ghi nhận và khẳng đinh khi NXB CTQG cho ra mắt cuốn <i style="">Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử</i> của Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào tháng 9-1994. Đây là công trình được biên soạn rất công phu, nhưng do tính chất &quot;biên niên&quot;, sách đã không thể trình bày đầy đủ những diễn biến chính của sự kiện, nhất là những trao đổi giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà lãnh đạo Liên Xô, Trung Quốc về tình hình và triển vọng của cách mạng Việt Nam, cũng như những thỏa thuận đạt được trong các cuộc hội đàm.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngoài ra, còn có một số bài đề cập đến sự kiện như: &quot;Hồ Chí Minh với Stalin&quot; của Mai Hương, &quot;Nhớ lại một vài hoạt động ngoại giao của Bác Hồ với Trung Quốc&quot; của Bích Ngọc, đăng trên <i style="">Tạp chí quan hệ quốc tế</i> năm 1990; một số thông tin quan trọng trong các cuốn hồi ký, hồi ức của các nhân chứng lịch sử như: Hồi ký <i style="">Khơrusốp</i>, New york, 1971; <i style="">Con đường theo</i> Bác của Hoàng Quốc Việt, NXB Thanh niên, Hà Nội, 1990. Đặc biệt năm 1995, NXB Quân đội nhân dân và NXB Thanh niên phát hành cuốn <i style="">Chiến đấu trong vòng vây</i> của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Cuốn sách này cung cấp khá nhiều thông tin liên quan đến sự kiện.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Mặc dù chưa có nguồn tư liệu gốc, nhưng những tài liệu có được gợi cho chúng tôi khả năng khôi phục lại thời gian và diễn biến chính của sự kiện.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuối năm 1949, trước những thay đổi to lớn của tình hình quốc tế, một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chuẩn bị cho chuyến ra nước ngoài của mình. Đây là chuyến đi thứ tư kể từ khi Người về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Mục tiêu cơ bản là phát triển ngoại giao, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và bạn bè quốc tế, nhằm, đẩy nhanh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đưa cách mạng Việt Nam nhập vào trào lưu thời đại.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Vấn đề tiên quyết là phải liên lạc và thông báo cho Ban lãnh đạo nước Trung Hoa mới về yêu cầu của chuyến đi. Qua một cán bộ cao cấp Việt Nam hoạt động ở vùng Triều Châu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi cho Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai bức thư Thủ tướng Chu Ân Lai đã nhận được bức thư này. Công việc chuẩn bị được chính Người xúc tiến tích cực.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Theo số liệu thống kê của chúng tôi, để giữ bí mật, đảm bảo an toàn cho chuyến đi, Người đã viết trước hàng chục bài báo, thư từ, lời kêu gọi... ký sẵn trên ba mươi sắc lệnh để các đồng chí trong nước phối hợp, công bố dần trong thời gian Người đi công tác. Trước ngày lên đường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho đồng chí Võ Nguyên Giáp viết bản báo cáo về tình hình quân sự để Người mang theo. Ngày 29-12-1949, Bộ trưởng tài chính Lê Văn Hiến đã trao 50 đồng tiền vàng trong số 200 đồng tiền vàng đầu tiên do Sở đúc tiền của nước ta đúc, để Người làm quà tặng trong chuyến đi công tác.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 1-1-1950, theo chỉ thị của Người, đồng chí Lâm Cẩm Như (bí danh Lâm Kính) cùng hai cán bộ quân đội: Lê Phát (bảo vệ, phiên dịch) và Ngô Vi Thiện (điện đài) lên đường làm nhiệm vụ tiền trạm. Ngày 2-1-1950, phái đoàn tập trung tại Phủ Chủ tịch đóng ở châu Tự Do (Tuyên Quang). Trước khi đi, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp riêng một số đồng chí để dặn dò và giao nhiệm vụ trong thời gian Người ra nước ngoài. Buổi chiều, Người rời Phủ Chủ tịch, bắt đầu cuộc hành trình bí mật sang thăm không chính thức Trung Quốc, Liên Xô. Cùng đi với Người có đồng chí Trần Đăng Ninh (đóng vai trưởng đoàn), bác sĩ Chánh và đồng chí Nhất (cảnh vệ).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuộc hành trình hết sức nguy hiểm. Phái đoàn vượt qua biên giới Việt - Trung, khu vực quân viễn chinh Pháp còn đang chiếm đóng dày đặc. Phía bên kia biên giới, tàn quân Tưởng và các lực lượng ô hợp khác có mặt nhiều nơi trong tỉnh Hoạ Nam. Phái đoàn phải đi bộ, đi ngựa qua rừng núi. Từ Phục Hòa (Cao Bằng) sang chợ Thủy Khẩu (Trung Quốc), phái đoàn gặp bộ phận tiền trạm của đồng chí Lâm Cẩm Như. Ngày 19-1-1950 đoàn đến Long Châu (Quảng Tây, Trung Quốc). Về sự kiện này, nhà sử học Trung Quốc Hoàng Tranh viết: &quot;Đó là một ngày sau Tết nguyên đán năm Canh Dần, Hồ Chí Minh từ huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng, Việt Nam sang chợ Thủy Khẩu, huyện Long Châu, Quảng Tây... Quân khu Quảng Tây. Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc phái một cán bộ dẫn một trung đội vũ trang đến Thủy Khẩu nghênh đón và hộ tống Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thị trấn... Tối hôm đó, Người ngụ ở Bộ tư lệnh phân khu Long Châu giải phóng quân&quot;. Sáng ngày 20-1-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi ô tô đến Nam Ninh, nghỉ tại Kim Sơn Tửu Điếm. Ngày hôm sau, Người đi ô tô đến Lai Tân và tiếp tục đến Bắc Kinh bằng tàu hỏa.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Khi đến Bắc Kinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh được Thủ tướng Chu Ân Lai đón tiếp nồng hậu. Về danh nghĩa, đây là phái đoàn của Trung ương Đảng ta sang thăm ĐCS Trung Quốc. Trong các cuộc hội đàm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thông báo về đường lối cách mạng Việt Nam, về tình hình cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của Ban lãnh đạo Trung Quốc. Phía Trung Quốc cho rằng trước đây chưa có điều kiện giúp đỡ cách mạng Việt Nam; từ nay, sẽ hết sức chi viện cho kháng chiến của ta; đồng thời khuyên Việt Nam kiên trì kháng chiến lâu dài .</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Theo đề nghị của ta, Trung Quốc đã điện báo cho Nguyên soái Xtalin về sự có mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Bắc Kinh và ngỏ ý muốn sang Liên Xô để trực tiếp thông báo về tình hình cách mạng Việt Nam. Đồng chí Xtalin mời Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm không chính thức Liên Xô.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 3-2-1950, với bí danh là &quot;Đại Hồ&quot; và “Tiểu Hồ&quot;, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Thủ tướng Chu Ân Lai đáp tàu hỏa đi Mátxcơva. Đồng chí Trần Đăng Ninh đi theo Người.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tới Mátxcơva, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm việc với các đồng chí trong Ban lãnh đạo Liên Xô, Trung Quốc như Xtalin, Môlôtốp, Kazanôvích, Khơrútsốp, Mao Trạch Đông, Chu ân Lai... Khi được thông báo về tình hình Việt Nam, Xtalin đã đồng ý với đường lối chiến lược, sách lược của Đảng ta, song cũng ngỏ ý muốn Việt Nam phải nhanh chóng làm cách mạng ruộng đất. Về quân sự, Xtalin khuyên Việt Nam nên chú trọng toàn bộ vùng rừng núi phía tây, nắm được vùng đó, sẽ nắm được quyền làm chủ đất nước; đồng thời thỏa thuận với Trung Quốc một số giải pháp nhằm hỗ trợ cho cách mạng Việt Nam. Trước mắt, Liên Xô sẽ viện trợ cho Việt Nam một trung đoàn pháo cao xạ 37 ly, một số xe vân tải Môlôtôva, thuốc và dụng cụ quân y. Phía Trung Quốc sẽ chịu trách nhiệm vận chuyển hàng viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam; sẽ trang bị vũ khí cho một số đại đoàn bộ binh, một đơn vị pháo binh; sẽ cử một số cán bộ có kinh nghiệm sang làm cố vấn quân sự, cũng như kinh nghiệm về phát động quần chúng tiến hành cải cách ruộng đất.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 16-2-1950, nhận lời mời của Ban lãnh đạo Liên Xô. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tới dự buổi chiêu đãi trọng thể tại điện Kremlin do Xtalin tổ chức để chào mừng &quot;Hiệp ước hữu nghị tương trợ đồng minh Xô - Trung&quot; vừa ký kết.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong những ngày lưu lại Mátxcơva, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành thời gian gặp gỡ đại diện ĐCS Pháp và nhiều tổ chức quốc tế khác để tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của họ với cách mạng nước ta.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 4-3-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở lại Bắc Kinh và lưu lại đó một tuần.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tối ngày 11-3-1950, Người lên tàu hỏa về nước. Trên đường về, Người đã sáng tác năm bài thơ chữ Hán có đầu đề: &quot;Ly Bắc Kinh&quot;, “Qúa Hồ Bắc&quot;, &quot;Thập Tam tảo, quá Trường Sa&quot;. &quot;Ngọ Qua Thiên giang&quot;, </span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">“C</span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">ận Long Châu</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">”</span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hạ tuần tháng 3-1950, Người tới biên giới Trung - Việt Ngày 2-4-1950, Người về đến Bắc Cạn. Sau khi gặp gỡ và làm việc với Ban lãnh đạo tỉnh, Người về An toàn khu bằng xe tải. Tới Quán Vuông (đường Bắc Cạn - Thái Nguyên), đoàn gặp đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng một số đồng chí trong cơ quan Bộ tổng tư lệnh ra đón. Nghỉ lại đây một hôm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kể vấn tắt chuyến đi công tác tại Trung Quốc, Liên Xô của Người. Hôm sau, Người về sớm để chuẩn hoàn bị cho phiên họp Thường vụ Trung ương Đảng .</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 6-4-1950, tại phiên họp của Thường vụ Trung ương ĐCS Đông Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức thông báo tình hình và kết quả chuyến đi của Người, đồng thời nghe Thường vụ Trung ương báo cáo tình hình trong nước từ sau Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chuyến đi bí mật đầy gian lao, nguy hiểm, song cũng hết sức mưu lược, tài trí của Chủ tịch Hồ Chí Minh kết thúc tốt đẹp. Nghiên cứu chuyến đi này, chúng tôi có một vài suy nghĩ:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đây là sự phối hợp tuyệt vời trong hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta. Nếu như với tuyên bố ngày 14-1-1950, Chính phủ ta đã giành được sự công nhận về mặt Nhà nước của Trung Quốc, Liên Xô và các nước khác trong phe XHCN, thì chuyến đi ngày 2-1-1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh có tác dụng thúc đẩy các quan hệ đó phát triển toàn diện, vững chắc, và hiệu quả hơn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong chuyến đi này, đứng ở cương vị mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho Liên Xô, Trung Quốc hiểu rõ hơn thực chất của cách mạng Việt Nam và sự uyển chuyển của đường lối chiến lược và sách lược của ĐCS Đông Dương trong tiến trình Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp, góp phần làm bạn bè quốc tế nhận thức rõ hơn về cách mạng Việt Nam. Nhờ đó đã dấy lên một phong trào ủng hộ cách mạng Việt Nam ngày càng lan rộng, đưa nước ta lên vị thế mới trên trường quốc tế. Sự ủng hộ của các nước trong phe XHCN, đặc biệt là viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc, có ý nghĩa tinh thần và vật chất to lớn đối với cuộc kháng chiến chống Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: &quot;... mấy năm kháng chiến đã đưa lại cho nước ta một cuộc <i style="">thắng lợi to nhất trong lịch sử Việt Nam</i>, tức là hai nước lớn nhất trên thế giới - Liên Xô và Trung Quốc dân chủ, và các nước dân chủ mới đã thừa nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một nước ngang hàng trong đại gia đình dân chủ thế giới...</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chắc rằng cuộc thắng lợi chính trị ấy sẽ là <i style="">cái đà cho những thắng lợi quân sự sau này</i>”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chuyến đi của Người thể hiện đường lối đối ngoại trước sau như một của Đảng ta, phản ánh xu thế phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam. Bằng lộ trình Việt Bắc - Bắc Kinh - Mátxcơva và tài ngoại giao xuất chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thiết lập được mối quan hệ tay ba Việt – Xô - Trung, một mối quan hệ chiến lược, có ảnh hưởng to lớn và thường xuyên đến cách mạng Việt Nam trong nhiều thập kỷ sau đó.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chuyến đi này cũng chứng tỏ, trong quan hệ quốc tế, việc đi thăm chính thức, không chính thức, thăm cá nhân hay tiếp xúc bí mật... là việc thường thấy trong hoạt động ngoại giao. Song ở mỗi thời đoạn lịch sử cụ thể, việc lựa chọn phương án sao cho hoạt động ngoại giao đạt được hiệu quả cao nhất, thực chất là vấn đề có tính nghệ thuật. Mặc dù đây là chuyến đi ngoại giao không chính thức, song Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi vào lịch sử quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước ta một mẫu mực tuyệt vời về việc chủ động lựa chọn giải pháp và việc phối hợp các hoạt động trong công tác ngoại giao.</span></p>
<p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chúng tôi hy vọng cùng với thời gian và sự xuất hiện của những tư liệu mới, nhất là tư liệu từ các cơ quan lưu trữ của Trung Quốc và Nga, lưu trữ Quốc tế cộng sản, những chi tiết về chuyến di của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ dược bổ sung phong phú thêm.</span></p>
</span></p>
<p> </p>
<p><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn Lịch sử đảng. – 1996. – Số 3. – Tr. 65-67.</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 8:20 SA</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.258</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 01:21:56 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=16</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Thái Lan và Lào</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=32</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass088C83FE647C46D7AE1EA177129DEB26><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1927, sau khi đã hoàn thành việc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và tổ chức một số lớp học nhằm huấn luyện cho những thanh niên Việt Nam yêu nước về con đường giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã nghĩ đến việc rời Quảng Châu - Trung Quốc để trở về Thái Lan- nơi có nhiều Việt kiều sinh sống để truyền bá cách mạng. Giữa năm 1928, nhận được Chỉ thị của Quốc tế Cộng sản điều động về nhận công tác ở Đông Dương, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã từ giã nước Đức vào tháng 6 và đến Xiêm (Thái Lan) vào tháng 7 với thẻ nhập cảnh mang tên Nguyễn Lai. Người đi trên tàu biển chở khách và cập cảng tại Băng Cốc (thủ đô Thái Lan). Ở Thái Lan Người mang các tên Thầu Chín, Ông Thọ, Nam Sơn, đã đến Bản Đông huyện Phi Chít (miền Trung Thái Lan). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau một thời gian ngắn ở Phi Chít (mười lăm ngày), Người đã cùng với một vài người giúp việc đi bộ suốt hơn nửa tháng trời để đến tỉnh Uđon Thani, một tỉnh lớn của Thái Lan, cách Băng Cốc khoảng 600 km. Lấy tên là Thầu Chín, Người đến ga Noỏng Bùa, nơi có vài chục hộ gia đình Việt kiều sinh sống bằng nghề làm vườn. Người trồng ở đây một số cây dừa, cây xoài nên sau này bà con Việt kiều gọi đó là “Vườn xoài Bác Hồ”. Cách trung tâm thị xã Uđon Thani khoảng 12 km có làng Noỏng Ổn (huyện Mương), lúc đó rất hẻo lánh nên chỉ có 8 gia đình Việt kiều, không có người Thái. Cụ Đặng Thúc Hứa đã lập ra Trại Cưa, thu hút những thanh niên trai tráng nghèo (không nhà không ruộng, không tiền) tụ hợp lại sinh sống bằng nghề chặt, xẻ gỗ rừng. Trại Cưa cũng là nơi đón những thanh niên yêu nước từ Việt Nam sang. Ở Noỏng Bùa một thời gian ngắn, Người chuyển vào ở trong Trại Cưa. Ngôi nhà chính của Trại Cưa làm nơi nghỉ ngơi hội họp, còn nhiều lán trại ở ngay trong rừng để tiện cho việc đốn cây, xẻ gỗ ở Trại Cưa, cụ Hứa đã chú ý đào tạo, nâng cao trình độ chính trị cho họ, nhưng phải đến lúc Người tới thì việc ăn ở, học tập mới trở thành nền nếp<sup>2</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau đó Người đến Bản Mạy (làng mới) thuộc tỉnh Nakhon Phanom ở vùng Đông Bắc Thái Lan, cách thủ đô Băng Cốc hơn 700 km. Bản Mạy vốn là bản do những người gốc Việt đến Thái Lan làm ăn, sinh sống lập nên vào đầu thế kỷ XX. Họ chủ yếu là người gốc miền Trung Việt Nam, có học thức, chịu ảnh hưởng tư tưởng của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên nên khi dựng làng họ đã có ý thức xây dựng một cộng đồng Việt kiều có tinh thần dân tộc như xây dựng đền thờ Đức thánh Trần, lập Hội trại Cày, Hội Thân ái... Từ đó, bản Máy đã trở thành trạm liên lạc đón nhiều người Việt Nam sang Thái Lan, Nguyễn Ái Quốc ở Bản Mạy với bí danh Thầu Chín. Đến đây, ông Chín đã khuyên nhân dân xây dựng nhà Hợp tác để mọi người có thể sinh hoạt, tụ họp. Khu nhà Hợp tác được xây dựng khá khang trang, sạch sẽ, sân bếp, vườn cây... Nhờ đó, nơi đây đã trở thành điểm tụ họp thường xuyên của rất nhiều người Thái gốc Việt. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong thời gian ở đây, Người đã rất tích cực học tiếng Thái, động viên mọi người cùng học tiếng Thái để có thể hiểu được truyền thống, phong tục tập quán của người Thái, tiện cho việc giao tiếp, sinh hoạt. Ngoài ra, Người cần tổ chức các lớp học tiếng Việt cho trẻ em để các em không quên nguồn gốc của cha ông. Trong thời gian này Người cũng tham gia các buổi cúng tế của người Việt ở đền Đức thánh Trần và luôn nhắc nhở mọi người về tinh thần yêu nước, ý thức chống giặc ngoại xâm để bảo vệ dân tộc. Nhờ đó, tuy sống trên đất Thái nhưng những người gốc Việt nơi đây luôn đoàn kết, gắn bó khiến Bản Mạy trở thành một cộng đồng dân cư bền chặt ấm cúng. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một hoạt động tích cực của Người trong thời gian ở đây là khuyên mọi người phải biết tôn trọng phong tục, tập quán của người bản địa, đoàn kết và luôn nêu cao tinh thần tương trợ giúp đỡ những người nơi đây. Bởi vậy, về sau có nhiều người Thái đến Bản Mạy sinh sống khiến nơi đây trở thành cộng đồng dân cư chung của hai nước Việt Nam và Thái Lan. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngoài hai địa điểm chính đã nêu ở trên trong 16 tháng ở Thái Lan, Thầu Chín đã cùng một vài cán bộ cốt cán đi khắp các tỉnh có Việt kiều sinh sống ở Đông Bắc Thái Lan để tuyên truyền cách mạng. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Dựa vào các nguồn tư liệu lịch sử, khoa học và kết quả khảo sát thực tế, Bảo tàng Hồ Chí Minh đã đưa ra những cơ sở khoa học và thực tiễn về việc Nguyễn Ái Quốc đã từng đến Lào, cụ thể là hai địa điểm: thị xã Savẳnnakhệt và bản Xiêng Vang của tỉnh Khăm Muộn... Mục đích của Người là khảo sát tại chỗ tình hình Lào và tìm đường về Việt Nam. Thời gian tới Lào có lẽ là cuối năm 1928 và năm 1929 vì tháng 7-1928 Người mới tới Xiêm, cần có thời gian nghiên cứu, tìm hiểu, gặp gỡ kiều bào và cán bộ trước khi sang Lào. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Qua Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18 - 2 - 1930 (đoạn đã trích ở trên) cho thấy Người đã vượt qua biên giới Xiêm - Lào, vào đất Lào, tới biên giới Lào - Việt Nam, nhưng không qua được biên giới Lào - Việt Nam, nên phải quay trở lại. Địa bàn hoạt động của Nguyễn Ái Quốc tập trung chủ yếu ở các tỉnh Đông Bắc của Xiêm, song song với các tỉnh, thành phố của Lào là Viêng Chăn, Khăm Muộn và Savẳnnakhệt. Vào thời điểm đó, biên giới Lào - Xiêm còn lơi lỏng, vì nhân dân tả và hữu ngạn sông Mêkông vốn cùng một quốc gia, dân tộc, phần lớn đều là họ hàng thân thuộc của nhau, chỉ vì hiệp ước Pháp - Xiêm mà họ bị ly tán, phân cách, nên việc đi lại thăm thú nhau diễn ra hằng ngày, rất dễ dàng, ít khi cảnh sát hỏi đến giấy tờ tùy thân. Nguyễn Ái Quốc chọn Thái Lan không chỉ là nhiệm vụ “tuyên truyền cách mạng về trong nước từ phía Tây” mà còn là để làm “bàn đạp” trở về Việt Nam qua đường Lào, bởi nơi đây có hậu thuẫn của hơn một vạn Việt kiều đang làm ăn, sinh sống, đa phần họ là những người Việt Nam yêu nước, đang tạm thời phải lưu lạc bởi sự truy đuổi gắt gao của thực dân Pháp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thông qua các tư liệu lịch sử, lời kể nhân chứng khảo sát thực địa... các nhà khoa học Việt Nam và Lào đã thống nhất kết luận việc Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã từ Xiêm tới Lào để khảo sát, nghiên cứu tình hình, gặp gỡ cơ sở yêu nước Lào - Việt. Cuốn <i style="">Lịch sử Đảng Nhân dân Cách mạng Lào</i>, đã khẳng định “Khoảng cuối năm 1928, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã cải trang là thợ mộc từ Xiêm đi vào đất Lào, qua thị xã Pác Xê đi lên Savẳnnakhệt tới Xiêng Vang để nắm tình hình và đời sống của nhân dân và sau đó quay trở lại đất Xiêm...”<sup>3</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Và như vậy, Nguyễn Ái Quốc đã từng đến Lào ít nhất hai lần. Nơi Người đến là thị xã Savẳnnakhệt và bản Xiêng Vang thuộc tỉnh Khăm muộn<sup>4</sup>. Gần đây nhất, theo Công văn số 196, ngày 29-2-2009, của Đại sứ quán Việt Nam tại Lào gửi Bảo tàng Hồ Chí Minh, chuyển nội dung Công văn số 446/BQ ngày 24-4-2009 của Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản về việc Xây dựng khu tưởng niệm Bác Hồ tại Lào. Đây cũng là một trong những việc làm thiết thực để khẳng định Lào là một trong địa bàn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến góp phần làm rõ hơn vấn đề Hồ Chí Minh có đến Lào những năm 1928 - 1929 mà lâu nay giới nghiên cứu vẫn quan tâm.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chi Minh đã đi nhiều nơi, đến nhiều quốc gia, tuy nhiên tại mỗi nơi Người đến đều để lại những dấu ấn hết sức sâu đậm, để lại tình cảm tốt đẹp trong long nhân dân nước bạn. Mỗi khu di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh được dựng lên đều thể hiện tấm lòng kính yêu của người dân nước bạn đối với Người và từ đó củng cố thêm tình đoàn kết hữu nghị của Việt Nam với bạn bè quốc tế và đặc biệt là với các nước láng giềng. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">1. <i style="">Hồ Chí Minh Toàn tập</i>, CTQG, H, 1995, T.3 tr.12 </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">2. Năm 2003, bà con Việt kiều đã đóng góp tiền của, được sự đồng ý của chính quyền địa phương, Khu di tích đã được tiến hành khôi phục. Trên nền nhà cũ của Trại Cưa, ngôi nhà chính, nhà chứa thóc, cùng những đồ dừng mộc mạc (giường ngủ bàn ghế, chum vại đựng nước...), chuồng trại chăn nuôi gia cầm… được dựng lại bằng gỗ, tre, nứa giống như thời gian Bác hoạt động tại đây. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đặc biệt, phía sau khu nhà được trồng rất nhiều tre, tre xanh tốt um tùm, khiến ai nhìn vào cũng cảm thấy như đất Việt thân yêu và hình bóng Bác đang hiện hữu. Bên cạnh khu nhà chính, bà con Việt kiều đã dựng thêm một ngôi nhà Hội trường đa năng để đặt bàn thờ Người và trưng bày tóm tắt hoạt động của Người, trong đó đặt trang trọng tấm ảnh Bác với đôi mắt sáng và chòm râu bạc. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">3. <i style="">Lịch sử Đảng nhân dân Cách mạng Lào</i>, CTQG, H, 2005 , tr. 17 - 18 </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">4. Xem <i style="">Hồ Chí Minh Tiểu sử,</i> CTQG, H, 2008, tr. 72.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn </span></strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><b style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lịch sử Đảng. -2009. –Số 6. –Tr.20-22, 28.</span></b></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 10:50 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trước khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam và trở thành vị Chủ tịch nước đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Hồ Chí Minh đã có một thời gian dài bôn ba tìm đường cứu nước ở khắp năm châu, bốn biển. Những địa danh Người đến đã trở thành “địa chỉ đỏ” để chúng ta tìm hiểu, nghiên cứu về hành trình tìm đường cứu nước của Người. Trong những năm 1928 - 1929 Người đã đến Thái Lan, chủ yếu hoạt động ở hai tỉnh Nakhon Phanom, Uđon Thani và đã tìm đường về Việt Nam qua biên giới Lào - Việt nhưng không thành công. Trong bản Báo cáo gửi quốc tế Cộng sản (ngày 18-2-1930) có câu “Đã hai lần tôi cố gắng đi về An Nam, nhưng phải quay trở lại. Bọn mật thám và cảnh sát ở biên giới quá cẩn mật, đặc biệt là từ khi xảy ra vụ An Nam Quốc dân Đảng”1</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 5.733</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 03:54:03 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=32</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=40</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass538A4B15801D403187B7717F928EA373><p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, trên vũ đài chính trị đã xuất hiện nhiều giai cấp, lực lượng đứng ra “thử sức&quot; giải quyết hai mâu thuẫn nêu trên, song kết cục không thành công. Sự thất bại của phong trào Cần Vương vào cuối thế kỷ XIX chứng to ngọn cờ phong kiến không đủ sức tập hợp quần chúng thực hiện mục tiêu giai phóng dân tộc. Thất bại của khởi nghĩa Yên Thế và các phong trào yêu nước tiểu tư sản đã minh chứng rõ thêm nông dân và tiểu tư sản không thể lãnh đạo được cách mạng vì không có hệ tư tưởng riêng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đầu thế kỷ XX, nhiều phong trào yêu nước theo lập trường giai cấp tư sản nổi lên, tiêu biểu là phong trào cải cách của Phan Chu Trinh, phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, hoạt động của Quốc dân đảng, đã thu hút đông đảo quần chúng tham gia, song kết cục cũng không thành công. Sau này lãnh tụ Hồ Chí Minh đã đánh giá chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải cách khác nào &quot;xin giặc rủ lòng thương&quot;; chủ trương cầu viện người Nhật Bản giúp Việt Nam đánh Pháp của cụ Phan Bội Châu khác nào &quot;đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Điều đáng chú ý là ở Việt Nam giai cấp tư sản chưa bao giờ lãnh đạo cách mạng, các phong trào yêu nước theo lập trường tư sản lại do các trí thức, tiểu tư sản tiếp nhận tư tưởng tư sản từ bên ngoài mà phát động nên. Do đó, ngay từ đầu các phong trào cải cách có người chủ trương bạo động, người trông chờ nước này, người trông chờ nước khác, không thấy được sức mạnh nội tại của dân tộc Việt Nam. Hạn chế ấy cũng là tất yếu khi tư sản dân tộc Việt Nam với thế lực kinh tế nhỏ bé, tinh thần bạc nhược, không đủ sức mạnh và bản lĩnh làm hậu thuẫn cho cuộc cách mạng theo lập trường giai cấp của nó. Sự thất bại của khuynh hướng cứu nước theo lập trường giai cấp tư sản chứng tỏ hệ tư tưởng tư sản không đủ sức tập hợp quần chúng làm cho cuộc khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo cách mạng ở Việt Nam thêm sâu sắc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lịch sử chỉ còn trông chờ vào một giai cấp cách mạng đang lên: giai cấp công nhân. Nhưng công nhân Việt Nam đầu thế kỷ XX chỉ mới có các yếu tố “cần”, còn thiếu các yếu tố “đủ”, để vươn lên trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng - tức là còn thiếu chủ nghĩa Mác- Lênin và đội tiên phong của nó dẫn đường. Điều đó càng nói lên tính chất<span style="">     </span>khủng hoảng nghiêm trọng về đường lối và giai cấp lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX, như lãnh tụ Hồ Chí Minh sau này diễn đạt bằng hình ảnh: cách mạng Việt Nam ở trong đêm tối tưởng chừng như không có đường ra. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong bối canh đó, năm 1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành đi ra nước ngoài tìm đường cứu nuớc. Trải qua một quá trình bôn ba khắp năm châu, bốn bể, hoà mình trong cuộc sống của các tầng lớp lao khổ, Người từng bước nhận thức rõ tình hữu ái giai cấp và tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc bị áp bức. Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra <i style="">Hội những người Việt Nam yêu nước</i> để tập hợp Việt kiều yêu nước ở Pháp. Năm 1918, Nguyễn Ái Quốc tham gia đảng xã hội Pháp, hoạt động trong phong trào công nhân Pháp, tìm hiểu những kinh nghiệm của cách mạng Pháp, tranh thủ sự đồng tình của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp đối với cuộc đấu tranh yêu nước của Việt Nam và tìm hiểu Cách mạng tháng Mười Nga. Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được bản <i style="">“Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa</i>” của Lênin. <i style="">&quot;Sơ thảo…”</i> đã vạch ra chiến lược và sách lược cho các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh giải phóng. Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy ở đó con đường cứu nước đúng đắn - con đường cứu nước theo lập trường giai cấp vô sản. Cuối năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp và tán thành đường lối quốc tế III, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đến với chủ nghĩa Mác-Lênin là đến với cách làm chính trị hiện đại. Tức là muốn làm cách mạng, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc thì phải có sự lãnh đạo của một chính đảng vô sản được vũ trang bởi lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ năm 1921, Người tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin về nước, chuẩn bị mọi điều kiện cho việc thành lập một chính đảng vô sản ở Việt Nam. Từ 1921-1929, Nguyễn Ái Quốc tiến hành nhiều hoạt động kiên trì, bền bỉ, gian khổ nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào công nhân, nông dân và nhân dân lao động, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho việc thành lập Đảng. Năm 1921, ở Pari, Người sáng lập <i style="">Hội liên hiệp thuộc địa</i>, nhằm tập hợp các lực lượng chống đế quốc trong các nước thuộc địa của Pháp. Người ra báo <i style="">Người cùng khổ</i> và dành nhiều thời gian viết báo, chuyển về trong nước tố cáo ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Pháp, vạch rõ cho nhân dân Việt Nam thấy rõ nguyên nhân nỗi khổ cực và con đường giải thoát nỗi khổ ấy là tiến hành cách mạng tự giải phóng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc sang Liên Xô, hoạt động trong các tổ chức quốc tế viết nhiều bài báo vừa tố cáo ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, vừa truyền bá chủ nghĩa Mác-lênin, xây dựng những luận điểm cơ bản về cách mạng giải phóng dân tộc ở Việc Nam. Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về đến Quảng Châu (Trung Quốc) trong phái đoàn Quốc tế cộng sản. Tháng 6-1925, lập <i style="">Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên</i> (gọi tắt là tổ chức Thanh niên), ra báo Thanh niên và mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ. Trong các tác phẩm, bài báo và các bài giảng của<span style="">  </span>mình, nhất là trong cuốn <i style="">Bản án chế độ thực dân Pháp</i> và cuốn <i style="">Đường cách mệnh</i>, Nguyễn Ái Quốc đã<span style="">  </span>kết hợp việc truyền bá chủ nghĩa Mác-lênin với việc trình bày những luận điểm cơ bản làm cơ sở hình thành đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau khi được vũ trang lý luận chủ nghĩa Mác-lênin các hội viên Thanh niên (và cả Tân Việt cách mạng đảng gọi tắt là Tân Việt) được Nguyễn Ái Quốc đưa vào nhà máy, hầm mỏ hoạt động (gọi là phong vào &quot;vô sản hoá”). Qua phong trào này, một mặt để truyền bá chủ nghĩa Mác-lênin sâu rộng trong công nhân, mặt khác giúp những thanh niên giàu nhiệt huyết, yêu nước trong tổ chức Thanh niên và Tân Việt trở thành những người vô sản thực thụ. Nhờ được tiếp thu có hệ thống chủ nghĩa Mác-lênin, phong trào công nhân nhanh chóng chuyển từ tự phát sang tự giác. Trong những năm 1927-1929 đã xuất hiện nhiều cuộc đấu tranh thể hiện tính chất chính trị rõ nét. Phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ đã cuốn hút phong trào nông dân, tiểu tư sản đi theo quỹ đạo của nó. Qua nhận thức lý luận và thực tiễn đấu tranh, những người Việt Nam yêu nước chân chính nhận thấy chỉ có đi theo ngọn cờ chủ nghĩa cộng sản mới có thế giải phóng được dân tộc và giải phóng giai cấp, từng bước chuyển từ <i style="">lập trường quốc gia sang khuynh hướng mác xít, rồi từ khuynh hướng mác xít chuyển sang lập trường cộng sản.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đứng trước sự phát triển của phong trào cách mạng, các hội viên cấp tiến trong Thanh niên nhận thấy rằng, một tổ chức mang tính quốc gia không để đáp ứng được yêu cầu của quần chúng, mà phải thiết lập một tổ chức cộng sản. Chi bộ cộng sản đầu tiên ra đời tại Hà Nội vào tháng 3-1929 từ sự chuyển biến nhận thức nêu trên. Đến tháng 5-1929, tại : Đại hội của tổ chức Thanh niên ở Hương Cảng, các đại biểu Bắc kỳ đã nêu yêu cầu thành lập Đảng cộng sản, nhưng không được nhất trí trong toàn Hội, nên bỏ về thành lập Đông Dương cộng sản Đảng vào tháng 6-1929 ở Bắc kỳ. Đông Dương cộng sản Đảng ra đời đã đặt vô chức Thanh niên trước nguy cơ bị mất dần hội viên và quần chúng, do không còn sức hấp dẫn. Vì vậy, tháng 7-1929, những hội viên còn trong Thanh niên quyết định thành lập An Nam cộng sản Đảng ở Nam kỳ. Tiếp đó, tháng 9-1929, các đảng viên của Tân Việt ra “Tuyên đạt” tuyên bố thành lập tổ chức cộng sản và tháng 1-1930 thì Đông Dương cộng sản liên đoàn chính thức ra đời.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Như<span style="">  </span>vậy, đến đầu 1930, trên dải đất Việt Nam đã có 3 tổ chức cộng sản, nhưng lại tranh giành quần chúng, công kích nhau, có nguy cơ làm tổn hại đến phong trào cách mạng đang lên. Một lần nữa, lịch sử lại đặt lên vai lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trách nhiệm thống nhất các tổ chức cộng sản. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản từ 3 - 2 đến 7-2- 1930 do Người chủ trì đã làm nhiệm vụ đó Hội nghị đã thông qua <i style="">Chính cương vắn tắt</i>, <i style="">Sách lược vắn tắt</i>, <i style="">Điều lệ vắn tắt</i>, <i style="">Lời kêu gọi</i>... do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, được xem là Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Cương lĩnh đã vạch ra những vấn đề chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, từ tính chất, mục đích, nhiệm vụ, phương pháp, lực lượng, và trò lãnh đạo mối liên hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới...</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cương lĩnh khẳng định, Đảng cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân - là lực lượng có sứ mệnh lãnh đạo nhân dân làm &quot;tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng&quot; để &quot;đi tới xã hội cộng sản&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đảng ta ra đời xuất phát từ đòi hỏi khách quan của lịch sử dân tộc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Sở dĩ Đảng nắm được quyền lãnh đạo cách mạng là nhờ đã nắm bắt được xu thế của dân tộc và thời đại, gắn giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, đề ra được phương pháp cách mạng thích hợp, đặt cách mạng Việt Nam trong trào lưu chung của cách mạng thế giới.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Càng lùi xa về thời gian càng thấy rõ vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước, đưa phong trào công nhân chuyển từ tự phát sang tự giác, đưa phong trào yêu nước dần chuyển sang khuynh hướng mác xít, rồi từ khuynh hưởng mác xít chuyển sang lập trường cộng sản. Hệ quả cuối cùng là Đảng cộng sản Việt Nam ra đời trên cơ sở hội tụ, kết hợp đầy đủ cả 3 yếu tố chủ nghĩa Mác-lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chính là tạo ra các tiền đề cho 3 yếu tố đó kết hợp? đan xen, quyện chặt nhau một cách lôgíc, dẫn tới sự ra đời 3 tổ chức cộng sản. Và cuối cùng với uy tín của mình, Người đã thống nhất các tổ chức cộng sản thành lập Đảng cộng sản Việt Nam vào 3-2-1930.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Điều đó cũng nói lên rằng, Đảng cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời chẳng những đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, mà còn đấu tranh cho lợi ích chân chính của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Chính vì lẽ đó, lịch sử đã đặt lên vai Đảng cộng sản Việt Nam sứ mệnh duy nhất lãnh đạo cách mạng nước ta và lịch sử thế kỷ XX đã kiểm chứng sự lựa chọn ấy: các tầng lớp nhân dân lao động, những người có lương tri, có tinh thần yêu nước chân chính đều quy tụ xung quanh Đảng làm nên sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước quá độ lên CNXH. Hôm nay, Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục sự nghiệp mà lịch sử đã uỷ thác: lãnh đạo nhân dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền dân tộc và xây dựng thành công CNXH đưa đất nước phát triển đi tới mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"> </p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Giáo dục lý luận. - 2011. – Số xuân Tân Tý.- Tr. 5-8.</span></span></p>
<p> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 2:10 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Năm 1858, Thực dân Pháp xâm lược nước ta, thi hành chính sách thống trị tàn bạo về chính trị, kinh tế, văn hoá, làm cho xã hội Việt Nam biến đổi sâu sắc: từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Xã hội Việt Nam nổi lên hai mâu thuẫn cơ bản: một là, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược; hai là, mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, trước hết là giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến. Yêu cầu lịch sử đặt ra là phải giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản đó.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 4.642</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 07:15:16 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=40</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Hồ Chủ tịch trong mắt nhân sĩ, trí thức thế giới</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=57</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassBEF82853E1034EDB8A09169B5AA29A6C><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người đã làm được việc này nhờ sự hiểu biết sâu sắc và tôn trọng những đặc điểm văn hóa khác nhau. Người đã hoàn thành được nhiệm vụ này và trong việc làm và lời nói của Người, ta có thể nhìn thấy rõ hình ảnh, tư tưởng của nhà thơ, nhà văn, nhà nghệ sĩ dân ca, những người đem lại nguồn cảm xúc cho nhiều thế hệ nhân dân Việt Nam. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người đã được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này. - Tiến sĩ M.Amét - Giám đốc UNESCO Khu vực châu Á - Thái Bình Dương</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">... Có lẽ vì thế mà ở Hồ Chí Minh, lý luận không bao giờ trừu tượng, nó luôn luôn là một cách nhìn sâu sắc và cụ thể những con người và những vấn đề. Là một nhà chính trị có tầm cỡ, Người có khả năng phân biệt được cái gì đó có tính chất sống còn bắt buộc phải chiến đấu và cái gì có thể đàm phán, dù là đau đớn; điều đó đã tạo thành năng lực đứng vững trên đường lối chiến lược, đồng thời chuyển động giữa những sự cản trở cực kỳ to lớn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">... Đó là những lý do khiến tôi muốn đóng góp vào sự tôn kính, sự tưởng niệm nhà cách mạng vĩ đại đó và chắc chắn Người là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta, mà người ta có thể nói rằng: không có Người lịch sử đã có thể đi theo một con đường khác. Lịch sử đã đặt Người vào đúng chỗ của mình, trong quá trình đó, Người là nhân vật sáng tạo quyết định. - Pi-nô Ta-go-li-a-duc-chi, Nhà sử học Italia</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nếu nghiên cứu kỹ việc thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội và cuốn Đường Cách mệnh, thì đã thấy nổi bật một tư tưởng cho rằng cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam phải được kết hợp chặt chẽ với giải phóng xã hội và giai cấp. - Hốt-kin T., Nhà sử học Anh</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ thế giới vào lúc loài người đang ở bước ngoặt có tính chất cách mạng nhất. Đồng chí là một nhà kiến trúc và tạo hình làm nên quá trình cách mạng thế giới. Người am hiểu một cách vô cùng sáng suốt phương hướng và mục tiêu của quá trình đó. Người biết rõ động lực và sức mạnh của nó.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">... Một mặt, Người thể hiện những nguyện vọng và mục tiêu dân tộc cao đẹp nhất của nhân dân Việt Nam. Mặt khác, Người là một người theo chủ nghĩa quốc tế chân chính và vĩ đại của giai cấp công nhân. - Gớt-Hôn, Tổng bí thư Đảng cộng sản Mỹ</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Toàn bộ nhân cách của Hồ Chí Minh có thể khắc họa bằng một từ “nhà cách mạng”. Bản thân ông đã gắn bó một cách có ý nghĩa nhiệm vụ cách mạng không chỉ với tự do chính trị và giải phóng xã hội, mà còn cả với những quy phạm về đạo đức và phẩm hạnh, cũng như với văn học nghệ thuật và giáo dục. - Tiến sĩ triết học A-li-len-đu Sa-cơ-ra-boc-ty, Ấn Độ</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đã hơn 50 năm qua, nhận định của đồng chí Hồ Chí Minh - sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ nội dung tác phẩm (Đường Cách mệnh do Người biên soạn) vẫn còn đúng, nêu rõ ràng thời đại ngày nay, trên thế giới có nhiều học thuyết và chủ nghĩa, “nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”. - P.N.Phe-do-xe-ep, Liên Xô - 1982</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa sáng tạo vĩ đại và một người hành động. Chủ nghĩa xã hội của Người không bè phái, cũng không giáo điều, mà nhân đạo và nhân loại. Nhiệm vụ đầu tiên là giành tự do độc lập cho đất nước và thiết lập một xã hội chủ nghĩa với tính cách một bộ phận đấu tranh của châu Á để tự giải phóng mình khỏi sự áp bức và bóc lột của đế quốc nước ngoài.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tư tưởng chính trị của Người chịu ảnh hưởng của những nhà tư tưởng dân chủ và xã hội chủ nghĩa lớn ở châu Âu, được áp dụng vào hoàn cảnh châu Á, và điều đó đem lại một ý nghĩa thế giới. - Gô-Lan W.E, Ủy viên BCH Đảng Cộng sản Ô-xtrây-li-a</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"> </p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><strong><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn</span></strong><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> <span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>http://vietbao.vn</strong></span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần IV: Thế giới viết về Bác</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 3:15 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Hồ Chí Minh đã thành công trong việc liên kết nhiều sắc thái văn hóa vào một nền văn hóa Việt Nam duy nhất. Cuộc đời của Người mang ảnh hưởng của những giá trị và truyền thống dân tộc, có những đóng góp vào việc tạo nên một nền văn hóa Việt Nam hiện đại.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 5.625</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần IV: Thế giới viết về Bác</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 08:19:44 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=57</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1911-1930)</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=22</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass8A5C28360268408D970F42D9ABF3B3B9><p><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">1. Xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Việt Nam</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuối thế kỷ XIX, sau khi cơ bản kết thúc giai đoạn vũ trang xâm lược, thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa. Để bóc lột được lợi nhuận thuộc địa tối đa, thực dân Pháp duy trì phương thức sản xuất phong kiến, thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chúng thực hiện chính sách độc quyền kinh tế về các mặt: xuất nhập khẩu, khai thác mỏ, giao thông vận tải, ngân hàng, tài chính, thuốc phiện, muối, rượu, chiếm đất lập đồn điền, lập ra hàng trăm thứ thuế vô lý và vô nhân đạo. Chúng bóc lột dân ta đến tận xương tuỷ, khiến cho dân ta càng nghèo khổ, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng thực hành chính sách chuyên chế vềchính trị, làm cho dân ta không có một chút tự do, dân chủ nào. Để ngăn chặn tình đoàn kết của dân tộc ta, chúng thực hiện chính sách &quot;chia để trị&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cùng với độc quyền về kinh tế, chuyên chế về chính trị, về văn hoá, thực dân Pháp thi hành chính sách ngu dân, nhằm giam hãm dân tộc ta trong vòng nô lệ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những chính sách trên của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam thay đổi, từ một xã hội phong kiến độc lập, Việt Nam trở thành một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Về cơ cấu xã hội, bên cạnh giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân đã tồn tại từ lâu, xuất hiện giai cấp công nhân, giai cấp tiểu tư sản thành thị và giai cấp tư sản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhân dân ta bị bần cùng hoá, công nhân, nông dân nghèo đói, tiểu tư sản phá sản, trí thức thất nghiệp, tư sản dân tộc, địa chủ nhỏ và vừa bị chèn ép.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chính sách thống trị của Pháp và bọn tay sai đã tạo ra hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam thuộc địa, nửa phong kiến: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, chủ yếu là giữa nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến. Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với bọn thực dân Pháp và bè lũ tay sai. Độc lập dân tộc và người cày có ruộng là hai yêu cầu cơ bản của xã hội Việt Nam thuộc địa, nửa phong kiến, nhưng độc lập dân tộc là yêu cầu chủ yếu trước mắt, phản ánh nguyện vọng bức thiết của các tầng lớp, giai cấp trong dân tộc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">2. Phong trào giải phóng dân tộc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">a) Phong trào yêu nước của nông dân và sĩ phu yêu nước</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân lên đất nước ta, với tinh thần yêu nước nồng nàn, bất chấp chủ trương đầu hàng của triều đình phong kiến, nhân dân cả nước đã vùng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Chúng đã vấp phải một phong trào đấu tranh vũ trang quyết liệt và kéo dài, hễ phong trào này bị dập tắt, thìphong trào khác tiếp theo, không hề ngưng nghỉ, thật đúng với lời tuyên bố đanh thép của Nguyễn Trung Trực trước giờ xử tử: &quot;Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 5-7-1885, phái kháng chiến còn sót lại trong triều đình Huế do Tôn Thất Thuyết dẫn đầu đánh đồn Mang Cá và toà khâm sứ Trung Kỳ. Bị thất bại, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi ra vùng núi Quảng Trị. Ngày 13-7-1885, nhà vua xuống chiếu &quot;Cần Vương&quot;. Phong trào &quot;Cần Vương&quot; nhanh chóng lan ra nhiều địa phương ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ và cả Nam Kỳ. Ngày 1-11-1888, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt. Phong trào &quot;Cần Vương&quot; còn kéo dài cho đến khi cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng thất bại (1896). Trong thời gian đó, các cuộc khởi nghĩa của nông dân chống Pháp không ngừng bùng nổ ở khắp các miền của đất nước. Cuộc khởi nghĩa lớn nhất tiêu biểu cho ý chí chiến đấu bất khuất, kiên cường, bền bỉ của nông dân Việt Nam là cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Thực dân Pháp đã bốn lần dùng lực lượng lớn tiến công Yên Thế, nhưng đều bị nghĩa quân đánh bại. Chỉ sau khi Hoàng Hoa Thám hy sinh (10-3-1913), cuộc khởi nghĩa Yên Thế (kéo dài 30 năm từ 1883-1913) mới kết thúc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">b) Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau khi phong trào &quot;Cần Vương&quot; thất bại, nhiều sĩ phu yêu nước hướng ra nước ngoài tìm con đường cứu nước mới.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đầu thế kỷ XX, trào lưu dân chủ tư sản qua sách báo của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, gương Duy Tân của Nhật Bản, cuộc vận động hiến pháp của Trung Quốc (1898), cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (1911) đã lôi cuốn nhiều sĩ phu yêu nước, tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Là ngọn cờ của phong trào yêu nước chống Pháp hồi đầu thế kỷ, lúc đầu Phan Bội Châu chủ trương lập chế độ quân chủ lập hiến, năm 1904 đã lập Duy Tân hội để khôi phục độc lập dân tộc. Tuy vậy, ông vẫn chưa thấy vai trò chủ lực của nông dân. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1912, ông cùng một số nhà yêu nước lập raViệt Nam Quang phục hội, từ bỏ lập trường quân chủ lập hiến, chuyển sang lập trường dân chủ tư sản với chủ trương: đánh đuổi giặc Pháp, thành lập Cộng hoà dân quốc Việt Nam. Năm 1924, ông quyết định cải tổ Việt Nam Quang phục hội thành Việt Nam Quốc dân Đảng, vạch đường lối chính trị phỏng theo cương lĩnh Trung Hoa Quốc dân Đảng do Tôn Dật Tiên lãnh đạo. Ông cũng có cảm tình với nước Nga Xôviết, chủ nghĩa xã hội và có ý đặt hy vọng vào Nguyễn Ái Quốc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hạn chế lớn của ông là chủ trương dựa vào Nhật để đuổi Pháp. Sau này, trong tác phẩm Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Trần Dân Tiên đã nhận xét con đường đó chẳng khác gì &quot;đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Con đường cứu nước của Phan Bội Châu đã không thành công. Trong bản hồi ký cuối đời ông viết: &quot;Than ôi! Cuộc đời của tôi là một trăm thất bại mà không một thành công&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Phan Châu Trinh là nhà yêu nước dân chủ nhiệt thành. Ông kịch liệt tố cáo bọn quan lại phong kiến sâu mọt, kết tội tên vua bù nhìn Khải Định và tố cáo tội ác của thực dân Pháp. Ông chủ trương &quot;khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh&quot;. Hạn chế lớn của Phan Châu Trinh là đường lối cải lương phản đối bạo động (&quot;bạo động tắc tử&quot;) và muốn dựa vào Pháp để chống phong kiến. Dù là cải lương, ông vẫn bị thực dân Pháp bắt giam, đày đi Côn Đảo. Con đường cứu nước của Phan Châu Trinh đã thất bại, đúng như nhận xét của Trần Dân Tiên, vì sai lầm chẳng khác gì &quot;xin giặc rủ lòng thương&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lòng yêu nước và gương hoạt động của hai cụ Phan đã cổ vũ nhân dân ta qua nhiều thế hệ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh có điểm giống nhau là chưa tiếp cận được xu thế của thời đại mới, do đó không tìm ra con đường cứu nước mới, con đường giành độc lập triệt để do nhân dân lao động làm chủ đất nước, lấy sức ta mà tự giải phóng cho ta.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thất bại của phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đã nói lên một sự thật: con đường dân chủ tư sản cũng không cứu được nước. Ở nước thuộc địa, nửa phong kiến Việt Nam, giai cấp tư sản dân tộc có vai trò nhất định trong sự nghiệp cứu nước, nhưng họ chỉ có thể phát huy vai trò đó với sự giúp đỡ của Đảng, của giai cấp công nhân.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), tính chất thời đại thay đổi, đòi hỏi con đường giải quyết mâu thuẫn xã hội phải thay đổi và giai cấp lãnh đạo cách mạng cũng phải thay đổi.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Vào những năm đầu thế kỷ XX, cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước đã diễn ra sâu sắc, trầm trọng trên đất nước ta. Việc tìm lối ra cho cuộc khủng hoảng là nhu cầu nóng bỏng nhất của dân tộc ta lúc bấy giờ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">II. NGUYỄN ÁI QUỐC TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">1.Quá trình tìm tòi con đường cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19-5-1890, quê ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Lúc nhỏ có tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học lấy tên là Nguyễn Tất Thành. Lớn lên giữa lúc nước mất nhà tan, đau xót trước cảnh lầm than của đồng bào, Nguyễn Tất Thành sớm có chí đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành rời đất nước ra đi tìm đường cứu nước, xem các nước làm thế nào rồi trở về giúp đồng bào.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trên lộ trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã trải qua những bước ngoặt lớn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một là: Nhận ra hạn chế của các nhà yêu nước đương thời.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc rất khâm phục tinh thần yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám, nhưng không đồng ý đi theo con đường của một người nào. Trong khi nhiều người còn ngưỡng mộ cách mạng tư sản, Người đã vượt qua sự hạn chế tầm nhìn của họ, đi tìm con đường cứu nước khác.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hai là: Tìm ra chỗ hạn chế của cách mạng dân chủ tư sản là những cuộc cách mạng không giải phóng được công nông và quần chúng lao động.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một cuộc khảo sát có một không hai ở Mỹ, Anh và Pháp đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhận ra là ở đâu cũng có hai loại người: người giàu và người nghèo, người áp bức và người bị áp bức. Càng ngày Người càng hiểu sâu sắc bản chất của chủ nghĩa đế quốc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 6-7-1911, Nguyễn Tất Thành đến cảng Mácxây, thấy nhiều phụ nữ nghèo khổ, Nguyễn Tất Thành nói với người bạn &quot;Tại sao người Pháp không &quot;khai hóa&quot; đồng bào của họ trước khi đi &quot;khai hóa&quot; chúng ta?&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Làm thuê trên chiếc tàu đi vòng quanh châu Phi, tận mắt trông thấy những cảnh khổ cực, chết chóc của người da đen dưới roi vọt của bọn thực dân, Nguyễn Tất Thành nghĩ: Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Giữa tháng 12-1912, Nguyễn Tất Thành tới nước Mỹ, Người dành một phần thời gian để lao động kiếm sống, còn phần lớn thời gian dành cho học tập, nghiên cứu Cách mạng tư sản Mỹ năm 1776. Khi thăm pho tượng Thần Tự do, Nguyễn Tất Thành không để ý đến ánh hào quang quanh đầu tượng mà xúc động trước cảnh những nô lệ da đen dưới chân tượng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuối năm 1913, Nguyễn Tất Thành từ Mỹ sang Anh và cuối năm 1917 trở lại Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) giết hại biết bao sinh mạng, phá huỷ vô vàn của cải. Qua đó, Nguyễn Ái Quốc càng hiểu thêm bản chất của chủ nghĩa tư bản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Quá trình nghiên cứu, xem xét Cách mạng tư sản Mỹ (1776) và Cách mạng tư sản Pháp (1789) đã giúp Nguyễn Ái Quốc học hỏi được nhiều điều. Tuy vậy, Người vẫn đánh giá những cuộc cách mạng tư sản là &quot;những cuộc cách mạng không đến nơi&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chiến tranh kết thúc, các nước thắng trận họp Hội nghị hoà bình ở Vécxây (Pháp) để chia phần. Thay mặtHội những người Việt Nam yêu nước, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị bản yêu sách 8 điểm. Trong khi chờ đợi giải quyết vấn đề dân tộc tự quyết, Người chỉ đề cập những yêu sách &quot;tối thiểu&quot; và &quot;cấp thiết&quot;. Tổng thống Mỹ Uynxơn (Wilson), tác giả chương trình 14 điểm với chiêu bài dân tộc tự quyết cũng có mặt ở Hội nghị. Nhưng những yêu sách dù khiêm tốn của Người không được Hội nghị đáp ứng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sự kiện này đã giúp Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ &quot;chủ nghĩa Uynxơn chỉ là một trò bịp bợm lớn...&quot;. Những lời tuyên bố tự do của nhà chính trị tư sản trong lúc chiến tranh thực ra chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc. Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình. Đầu năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một đảng tiến bộ hồi bấy giờ, Người có dịp tiếp xúc, hoạt động với nhiều nhà chính trị nổi tiếng ở Pháp. Nguyễn Ái Quốc tìm hiểu và hoạt động trong phong trào công nhân, liên lạc và cùng hoạt động với nhiều nhà cách mạng ở nhiều thuộc địa Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ba là: Đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, đi theo Quốc tế Cộng sản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi là sự kiện chính trị lớn nhất của thế kỷ XX, mở ra thời đại mới trong lịch sử loài người, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, thời đại thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đặt ra sự lựa chọn mới đối với những người cách mạng Việt Nam: Độc lập dân tộc cho một số ít người hay cho đại đa số người? Độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa tư bản hay độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội?</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Khi được biết thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc ngưỡng mộ cuộc cách mạng đó, kính phục Lênin. Người đã tham gia nhiều cuộc vận động ủng hộ nhân dân Nga bảo vệ thành quả cách mạng. Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ ba) ra đời, có ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng thế giới. Năm 1920, cuộc đấu tranh giữa hai con đường diễn ra quyết liệt trong nhiều đảng công nhân và ngay trong Đảng Xã hội Pháp: tiếp tục theo Quốc tế thứ hai tức là tiếp tục con đường cải lương hay đi theo Quốc tế thứ ba, con đường cách mạng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộcđịa của Lênin. Luận cương đã giải đáp trúng những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở tìm hiểu, giúp Người thấy rõ con đường thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, nhận rõ lập trường của Lênin và Quốc tế thứ ba khác hẳn với những lời tuyên bố suông của Quốc tế thứ hai. Luận cương của Lênin đã có ảnh hưởng quyết định đến lập trường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc: Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tán thành Quốc tế thứ ba, đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo cách mạng vô sản, trở thành một trong những nhà sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Qua mười năm sống và làm việc ở những nước tư bản phát triển, Nguyễn Ái Quốc không choáng ngợp trước sự giàu có của giai cấp tư sản mà lại nhận thấy chế độ tư bản có nhiều khuyết tật. Người khẳng định dứt khoát chủ nghĩa tư bản không cứu được nước, không cứu được dân. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhanh chóng nhận ra chân lý thời đại: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Khác với các nhà yêu nước đương thời, Nguyễn Ái Quốc có một phương pháp nghiên cứu độc lập, tự chủ, sáng tạo, đem lý luận đối chiếu với thực tiễn, lấy mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội làm tiêu chuẩn đánh giá các học thuyết, tiếp thu kinh nghiệm cách mạng thế giới có chọn lọc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc đã được thể hiện nổi bật trong việc vận dụng học thuyết Mác - Lênin, vạch ra đường lối cứu nước đúng đắn cho dân tộc ta.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">2. Truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin và chuẩn bị thành lập Đảng</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">a) Tố cáo tội ác của bọn thực dân Pháp, liên kết cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa với cách mạng vô sản ở các nước đế quốc</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trở thành người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc bắt tay vào truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về nước. Quá trình đó cũng là quá trình Người từng bước vạch đường lối chiến lược cho cách mạng Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 4-1921, khi còn ở Pháp, trong bài báoĐông Dương, Người phê phán sai lầm của một số đảng cộng sản ở các nước tư bản phát triển &quot;chưa quan tâm đến vấn đề thuộc địa&quot;. Tháng 5 năm đó cũng trong bài báo Đông Dương, Người cho rằng &quot;chế độ cộng sản có áp dụng được ở châu Á nói chung và ở Đông Dương nói riêng&quot;. Người dự đoán &quot;ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 7-1921, Nguyễn Ái Quốc cùng một số chiến sĩ cách mạng ở nhiều nước thuộc địa Pháp lập Hội liên hiệp thuộc địa. Tuyên ngôn của Hội do Người khởi thảo đã nêu bật tư tưởng tự lực tự cường: &quot;Công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hội đã ra tờ báoNgười cùng khổ (Le Paria).Trong truyền đơn cổ động mọi người mua báo, Nguyễn Ái Quốc đã phát triển lời kêu gọi đoàn kết quốc tế của Mác và Lênin: &quot;Lao động tất cả các nước đoàn kết lại!&quot;. BáoNgười cùng khổ đã tạo &quot;một luồng gió mới thổi đến nhân dân các nước bị áp bức&quot;, &quot;đã làm cho nước Pháp chân chính biết rõ những việc xảy ra trong các thuộc địa&quot;, &quot;đã thức tỉnh đồng bào chúng ta&quot;, &quot;khiến cho đồng bào chúng ta nhận rõ nước Pháp, nước Pháp tự do, bình đẳng, bác ái&quot;. Ngoài việc viết bài cho báo Người cùng khổ, Nguyễn Ái Quốc còn viết bài cho các báoNhân đạo, Đời sống công nhân. Người đã dự Đại hội lần thứ nhất và thứ hai của Đảng Cộng sản Pháp. Người tiếp tục chỉ ra sai lầm của Đảng Cộng sản Pháp về vấn đề thuộc địa.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu viết tác phẩm nổi tiếngBản án chế độ thực dân Pháp nhằm vạch trần bản chất chủ nghĩa đế quốc và kêu gọi &quot;Dân bản xứ không cam chịu nhục được mãi, phải vùng lên&quot;. Người nêu lên mối quan hệ giữa cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc qua hình ảnh chủ nghĩa đế quốc là một con đỉa hai vòi. Muốn giết con vật ấy &quot;người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra&quot;. Tác phẩmBản án chế độ thực dân Pháp có giá trị lớn về mặt lý luận, thực tiễn, đồng thời có giá trị về văn học.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1922, Nguyễn Ái Quốc phê phán vua Khải Định khi ông ta sang Pháp dự hội chợ thuộc địa. Qua truyện ngắnLời than vãn của Bà Trưng Trắc, vở kịch Con rồng tre, Người lên án ông ta là &quot;đớn hèn, bất lực và ngu dốt&quot;, cam tâm làm tôi tớ cho thực dân Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Giữa năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Pêtơrôgrát (Liên Xô). Ở đó, Người có điều kiện học tập, nghiên cứu sâu sắc hơn chủ nghĩa Mác - Lênin. Người phát triển thêm những quan điểm chính trị của mình đã hình thành ở Pháp. Người tiếp tục tố cáo tội ác của chủ nghĩa đế quốc. Qua bài Hành hình kiểu Linsơ, Người coi tội ác đó &quot;chiếm vị trí vinh dự trong toàn bộ những tội ác của nền văn minh Mỹ&quot;.Người vạch trần&quot;chính sách thực dân trá hình&quot; của đế quốc Anh muốn chiếm cả Trung Quốc, phê phán đế quốc Ý đồng lõa với đế quốc Pháp đàn áp phong trào cách mạng ở Bắc Phi.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 10-1923, Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội lần thứ nhất Quốc tế Nông dân. Đại hội bầu Người vào Ban Chấp hành Quốc tế Nông dân và Ban Chấp hành cử Người làm uỷ viên Đoàn chủ tịch. Năm 1924, Người dự các Đại hội của Thanh niên, Phụ nữ quốc tế. Công hội đỏ và Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản. Người tiếp tục phê bình thiếu sót của nhiều đảng cộng sản ở Tây Âu về vấn đề thuộc địa và thẳng thắn nêu thiếu sót đó của cả Quốc tế Cộng sản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người rất chú ý nghiên cứu chế độ mới ở Liên Xô. Người nhận rõ lúc này dù thiếu thốn, nhân dân Liên Xô đã dành cho trẻ em những &quot;cái gì tốt nhất&quot;, nhà nước hết sức chăm lo việc giáo dục và y tế cho nhân dân. Người viết nhiều bài báo nêu cao công lao vĩ đại, đạo đức cao cả của Lênin.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 11-11-1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc) làm nhiệm vụ đặc phái viên của Quốc tế Cộng sản và trực tiếp chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người cùng với một số nhà cách mạng lậpHội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông, do ông Liêu Trọng Khải (Trung Quốc) làm Hội trưởng và Người làm Bí thư.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">b) Thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội)</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 6-1925, từ nhóm cách mạng đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, nhằm tập hợp những thanh niên yêu nước Việt Nam có xu hướng cộng sản chủ nghĩa, chuẩn bị thành lập Đảng. Người mở những lớp huấn luyện cán bộ và ra tờ báoThanh niên. Phần lớn những thanh niên đã được huấn luyện trở về nước hoạt động và số còn lại sang Liên Xô tiếp tục học tập. Hội đã truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối cứu nước của Nguyễn Ái Quốc vào công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1928, Hội đề ra chủ trương &quot;vô sản hoá&quot;, đưa hội viên vào các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền. Chủ trương này có tác dụng rèn luyện những người trí thức tiểu tư sản về lập trường giai cấp công nhân và bước đầu kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hội kết nạp ngày càng nhiều hội viên, năm 1928 có 300 hội viên, năm 1929 có 1.700 hội viên, nếu kể cả hội viên dự bị thì có gần 3.000 người. Từ năm 1926 đến năm 1929, Hội có cơ sở ở nhiều trung tâm kinh tế, chính trị trong cả nước, trở thành lực lượng chính trị yêu nước lớn mạnh nhất đất nước, hoàn thành ý định của người sáng lập hội là chuẩn bị tiền đề cho việc thành lập Đảng Cộng sản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">c) Phác thảo đường lối cứu nước</span></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc phác thảo đường lối cứu nước từ năm 1921 và thể hiện tập trung trong tập bài giảng ở lớp chính trị tại Quảng Châu, năm 1927 được in thành sách lấy tên là Đường Cách mệnh. Nội dung cơ bản của tác phẩm như sau:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một là: Chỉ có cách mạng vô sản là cách mạng triệt để, vì lợi ích của đại đa số dân chúng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc giới thiệu những cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, từ Cách mạng tư sản Mỹ năm 1776 đến Cách mạng tư sản Pháp năm 1789, từ Công xã Pari năm 1871 đến Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và sau khi so sánh cách mạng tư sản với cách mạng vô sản, Người khẳng định: &quot;Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa.Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người khẳng định: &quot;Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam&quot;. Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: &quot;làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc&quot;.Đây là điểm xuất phát và là điểm khác nhau cơ bản giữa con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc với các con đường cứu nước trước kia.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hai là:Mục tiêu và con đường đi lên của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa xã hội, muốn xoá bỏ chế độ người bóc lột người, muốn có tự do, hạnh phúc, bình đẳng thật sự thì phải qua hai cuộc cách mạng: cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai cuộc cách mạng này có quan hệ mật thiết với nhau.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ba là: Về lực lượng cách mạng, công nông là gốc của cách mệnh, học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ là bầu bạn của công nông. &quot;Ai mà bị áp bức càng nặng, thì lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết&quot;. Cách mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải là việc của một hai người.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Bốn là: Về phương pháp cách mạng.</span>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cùng với việc hoạch định đường lối cách mạng, Nguyễn Ái Quốc phác thảo cả phương pháp cách mạng. Người cho rằng giải phóng gông cùm nô lệ cho đồng bào, cho nhân loại là công việc &quot;to tát&quot;, cho nên phải &quot;dùng hết sức&quot;, phải &quot;quyết tâm làm thì chắc được&quot;, &quot;thà chết tự do hơn sống làm nô lệ&quot;. Nhưng phải &quot;biết cách làm thì mới chóng&quot;. &quot;Cách mệnh trước hết phải làm cho dân giác ngộ&quot;.</span></p>
<p><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nguồn <a href="http://dangbo.most.gov.vn/"><span style="color:black">http://dangbo.most.gov.vn</span></a>. </span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">–2010. –Ngày 3 tháng 2</span></p>
</span></p>
</p>
</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 8:55 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> I. CUỘC KHỦNG HOẢNG VỀ CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC ĐẦU THẾ KỶ XX
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả chuẩn bị công phu về tư tưởng, chính trị và tổ chức của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và của các chiến sĩ cách mạng tiền bối, đáp ứng nhu cầu lịch sử của đất nước ta đầu thế kỷ XX, phù hợp xu thế phát triển của thời đại.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 5.281</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 01:57:20 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=22</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nguyễn Ái Quốc với tổ chức Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp (1917-1923)</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=24</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassCAF3E98FCF9D4E43BE1E41E54D4DF952><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những tài liệu có nhiều ý kiến khác nhau đó là: Sách <i style="">Kiều bào và quê hương</i> của Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài (Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2006, tr.300), viết<span style="">  </span>tháng 1-1919 hội đoàn ra đời lấy tên là <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước,</i> do Nguyễn Ái Quốc và một số người cùng chí hướng thành lập. <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước</i> là hội tiền thân của <i style="">Hội người Việt Nam tại Pháp</i> ngày nay. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sách Hồ Chí Minh một cuộc đời</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> của William J. Duiker, (Hyperion New York 2000, tr.37-38) viết “Mùa hè năm 1919, được hai đồng sự lớn tuổi đồng ý, Thành đã thành lập một tổ chức mới của nhũng người Việt Nam sống tại Pháp - Hội những người yêu nước An Nam... Ông Trinh và Phan Văn Trường trong danh sách là những người lãnh đạo của tổ chức, nhưng Thành với tư cách là thư ký”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sách <i style="">Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch</i> của Trần Dân Tiên (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.31-32) viết: Ông Nguyễn tổ chức <i style="">Nhóm người Việt Nam yêu nước</i> vào lúc chiến tranh chấm dứt; Những đoàn đại biểu các nước thắng trận và các nước bại trận đến Véc xây họp Hội nghị hoà bình. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sách <i style="">Nguyễn Ái Quốc tại Pari 1917- 1923</i> của Thu Trang (Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1989) đưa ra Báo cáo của mật thám Pháp gửi Bộ Thuộc địa, ngày 30-1-1920 có đoạn như sau “Theo sự điều tra về những hành vi của nhiều người An Nam, phản ứng của họ về <i style="">Bản yêu cầu</i> của người Đông Dương, thì kết quả cho biết linh hồn của những người này chính là Nguyễn Ái Quốc. Ông này tự nói là Tổng thư ký của <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước</i>, và đồng thời cũng là thư ký của <i style="">Nhóm những người cách mạng An Nam</i>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Vấn đề đặt ra là: </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tổ chức hội của những người Việt Nam yêu nước ở Pháp thành lập vào tháng 1-1919 hay mùa Hè năm 1919? </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc đã tái lập <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i> hay thành lập <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước</i>? </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">1. Cộng đồng người Việt Nam tại Pháp đầu thế kỷ XX </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những nắm đầu thế kỷ XX, một số người Việt Nam xuất dương sang sống và làm việc tại nước Pháp. Họ thuộc các thành phần thuỷ thủ, tiểu thương, thợ thủ công, giúp việc trong gia đình người Pháp, sinh viên và một số trí thức... Họ sống rải rác nhiều nơi trên đất Pháp, số lượng khoảng vài trăm người, đông nhất là ở các hải cảng Marseille, Le Havre, Bordeaux hoặc những nơi có trường học như Paris, Montpellier, Toulouse,... Phần đông trong số họ có tinh thần yêu nước, nhưng vẫn chưa có sự liên hệ với nhau, chưa tập hợp thành một hội đoàn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đến đầu năm 1912, nhờ uy tín của nhà yêu nước Phan Châu Trinh, <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i><sup>1</sup><i style=""> </i>được thành lập do ông Phan Văn Trường làm Hội trưởng<sup>2</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những hoạt động của <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i> đã tác động mạnh tới cả trong nước. Vì thế, năm 1913, <i style="">Việt Nam Quang phục hội</i> đã phái người sang Pari đưa thư cho ông Phan Châu Trinh để liên kết hoạt động. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chính quyền Pháp lo ngại những hoạt động của Hội người An Nam yêu nước và đã tìm cách ngăn cản những hoạt động của Hội. Họ vu cho hai ông Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh có quan hệ với Đức “âm mưu chính trị chống nước Pháp”. Tháng 9-1914, Chính phủ Pháp đã bắt giam cả hai ông và cấm Hội người An Nam yêu nước hoạt động. Sự kiện Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường bị bắt giam đã làm cho nhiều người Pháp tiến bộ phản đối. Hội nhân quyền và nhiều chính khách thuộc Đảng Xã hội Pháp đã can thiệp. Vì thế gần một năm sau, tháng 7-1915, chính quyền Pháp buộc phải trả lại tự do cho hai ông. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau khi được trả tự do, để tránh nhà cầm quyền Pháp kiếm cớ bắt giam trở lại, hai ông đã tránh hoạt động công khai. Vì thế <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i> vẫn chưa hoạt động trở lại. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp tham gia chiến tranh. Để làm bia đỡ đạn cho “nước mẹ”, hàng vạn người dân thuộc địa trong đó có nhân dân Đông Dương bị chính quyền thực dân bắt đưa sang Pháp. Hàng ngàn người đã phải ra trận và bỏ xác trên chiến trường. Hàng vạn người đã phải vào làm việc cực nhọc trong các nhà máy quốc phòng và các công việc khác phục vụ tiền tuyến. Đến năm 1917, người Việt Nam ở Pháp tăng lên với số lượng khoảng chín vạn người<sup>3</sup>. Cuộc đấu tranh cho vấn đề độc lập dân tộc, trước hết là bảo vệ quyền lợi của người Việt Nam ngay trên đất Pháp được đặt ra ngày càng cấp thiết. Tuy vậy, Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường vẫn chưa công khai lãnh đạo <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i> hoạt động trở lại. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">2. Nguyễn Ái Quốc với tổ chức hội của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp những năm 1917-1923</span></b><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành lấy tên là Văn Ba, làm phụ bếp trên tàu L’Amiral Latouche-Treville của hãng Chargeurs<span style="">  </span>Reunis, đã tạm biệt Tổ quốc để ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Ngày 6-7-1911, tàu cập bến Mác xây- Pháp. Nguyễn Tất Thành lúc này chưa quen biết người Việt Nam nào sống trên đất Pháp, ngoài nhà yêu nước Phan Châu Trinh, người bạn đồng khoa với cụ thân sinh ra anh. Đầu năm 1911, Phan Châu Trinh sang Pháp cư trú. Việc Phan Châu Trinh đi Pháp thì anh Thành đã nghe tin, nhưng anh Thành đi Pháp thì cụ Phan không biết<sup>4</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Tất Thành đã không dừng lại ở Pháp. Khoảng cuối năm 1912, anh sang Mỹ, đầu năm 1914 sang nước Anh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngay khi đến nước Pháp, Nguyễn Tất Thành đã có liên hệ với nhà yêu nước Phan Châu Trinh. Trong thời gian sống và làm việc ở nước Mỹ và ở nước Anh, Nguyễn Tất Thành vẫn thường xuyên liên hệ với nhà yêu nước Phan Châu Trinh qua thư từ. Nhờ đó, anh biết Luật sư Phan Văn Trường. Ngược lại Luật sư Phan Văn Trường và nhà yêu nước Phan Châu Trinh cũng biết đến Nguyễn Tất Thành là một người yêu nước “hăng say”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những năm tháng sống ở nước Anh, Nguyễn Tất Thành đã tích luỹ thêm những hiểu biết về chế độ chính trị của xã hội tư sản về đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa chính quốc và thuộc địa, nhất là trang bị cho mình vốn tiếng Anh vững vàng. Nhưng ở nước Anh, Nguyễn Tất Thành vẫn bị cách biệt với tình hình trong nước; không liên hệ được với đồng bào mình ở nơi đất khách quê người; xa những nhà yêu nước lưu vong; khó khăn trong việc đi sâu tìm hiểu kẻ thù trực tiếp áp bức, bóc lột dân tộc mình để có thể chọn lựa con đường cứu nước đúng đắn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhận thấy nước Pháp là nơi có những điều kiện khách quan thuận lợi có thể đáp ứng cho những hoạt động của mình. Khoảng cuối năm 1917<sup>5</sup>, Nguyễn Tất Thành trở lại nước Pháp để có điều kiện trực tiếp hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thời gian đầu đến Pari, khi chưa có giấy tờ hợp pháp, Nguyễn Tất Thành đã được các đồng chí trong Ban đón tiếp những người lao động nhập cư của Đảng Xã hội Pháp giúp đỡ. Trong khi chờ các đồng chí tìm cho giấy tờ quân dịch hợp pháp, anh đã phải sống ẩn náu, hạn chế đi lại để tránh sự kiểm tra của cảnh sát. Cuộc sống của anh lúc đó gặp rất nhiều khó khăn, vừa hoạt động chính trị vừa phải kiếm sống một cách chật vật, khi thì làm thuê cho một hiệu ảnh, khi thì vẽ thuê cho một xưởng đồ cổ mỹ nghệ Trung Hoa... Nhưng Nguyễn Tất Thành vẫn kiên trì, hăng say học tập và hoạt động; thường xuyên gặp gỡ với những người Việt Nam ở Pháp có tư tưởng tiến bộ như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Phan Châu Trinh lúc này đã được Chính phủ Pháp trả tự do nhưng Bộ Thuộc địa Pháp cắt khoản trợ cấp Cụ phải kiếm sống bằng nghề thợ ảnh do ông Nguyễn Đình Khánh (tức Khánh Ký) truyền dạy. Nguyễn Tất Thành khi mới đến Pari, đã nhận được sự giúp đỡ của cụ Phan và được cụ Phan dạy lại cho nghề thợ ảnh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ông Phan Văn Trương khi ra tù sức khoẻ bị giảm sút, nhưng chính quyền Pháp vẫn bắt phải tại ngũ và được chuyển sang làm phiên dịch tiếng Việt ở xưởng đóng tàu của quân đội Pháp tại Tuludơ. Đến tháng 4-1919, ông mới được xuất ngũ. Trở lại Pari, ông thuê ngôi nhà số 6, Vila đờ Gôbơlanh ở Quận 13 Pari và mời Phan Châu Trinh cùng Nguyễn Tất Thành về ở cùng. Nơi đây trở thành điểm hội tụ của nhiều người Việt Nam yêu nước sinh sống trên đất Pháp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Khi được hỏi về lý do gia nhập Đảng, Anh trả lời: vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, đầu năm 1919, đại biểu chính phủ các nước tham gia chiến tranh đến Véc xây - Pháp họp hội nghị hoà bình. Thực chất hội nghị này là nơi chia phần giữa các nước đế quốc thắng trận và trút hậu quả chiến tranh lên đầu nhân dân các nước thua trận và các dân tộc bị áp bức. Văn kiện chính của hội nghị là Hiệp ước Vécxây xác định sự thất bại của nước Đức và các nước đồng minh của Đức, phân chia lại bản đồ thế giới theo hướng có lợi cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những người yêu nước Triều Tiên, Ai Cập, Trung Quốc và 57 đại biểu đại diện cho chủng tộc da đen sống ở các thuộc địa của Mỹ, Anh, Pháp và quần đảo Ăng ti đưa yêu sách của mình đến Hội nghị và mong được xem xét, giải quyết. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhận thấy đây là một dịp thuận lợi cho việc vận động dư luận thế giới và nhân dân Pháp ủng hộ nền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam, Nguyễn Tất Thành đã đề nghị Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường cùng đứng ra thành lập một hội đoàn của người Việt Nam để đưa nhũng yêu sách của nhân dân Việt Nam đến Hội nghị Véc xây. Nhưng hai ông cho rằng đó là một việc làm không có kết quả nên đã không tán thành. Vì thế <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i> không được tái lập. Đứng trước hoàn cảnh đó, Nguyễn Tất Thành đã cùng với một số người yêu nước trẻ tuổi đứng ra thành lập <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước. </i>Chủ trương của <i style="">Nhóm người An Nm yêu nước</i> là vận động đồng bào đoàn kết chống chế độ áp bức thực dân Pháp, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân Pháp và nhân dân các nước, đòi độc lập tự do và thống nhất đất nước. Trong danh sách những người lãnh đạo hội, Nguyễn Tất Thành làm thư ký<sup>6</sup> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Tất Thành đã thuyết phục hai nhà yêu nước Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường dù hai ông không tán thành nhưng vẫn cùng với Nguyễn Tất Thành thảo ra bản Yêu sách tám điểm của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Vécxây<sup>7</sup>. Dưới bản yêu sách, Nguyễn Tất thành ký tên Nguyễn Ái Quốc. Đây là lần đầu tiên tên gọi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện. Nguyễn Tất Thành gửi bản Yêu sách tới Hội nghị. Yêu sách còn được Nguyễn Tất Thành bỏ tiền ra thuê in 6.000 tờ dưới dạng truyền đơn bằng tiếng Pháp, với ba khuôn in khác nhau. Hai khuôn in cùng mang một đầu đề <i style="">Những yêu sách của nhân dân An Nam</i>, dưới viết “Thay mặt Nhóm người yêu nước An Nam: Nguyễn Ái Quốc”. Một khuôn in mang đầu đề <i style="">Quyền của dân tộc An Nam</i>, dưới viết: Thay mặt nhân dân An Nam: Nguyễn Ái Quốc”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau khi bản Yêu sách bằng tiếng Pháp được in trên báo ngày 18-6-1919, Nguyễn Tất Thành còn tự tay viết Yêu sách bằng hai thứ tiếng một bản bằng chữ quốc ngữ theo thể văn vần, nhan đề <i style="">Việt Nam yêu cầu ca</i> và một bản chữ Hán nhan đề <i style="">An Nam nhân dân</i> <i style="">thỉnh nguyện thư,</i> chụp in thành truyền đơn. Nguyễn Tất Thành đã cùng với một số kiều bào trong Nhóm người An Nam yêu nước đem phân phát trong các cuộc hội họp, mít tinh, các buổi sinh hoạt câu lạc bộ. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tuy Yêu sách đưa đến Hội nghị Véc xây không được hồi âm, nhưng đã tác động mạnh mẽ đến người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài. Thực dân Pháp vừa lo sợ vừa cho theo dõi những người trong ngôi nhà số 6 Villa đờ Gôbơlanh, vừa điều tra xem Nguyễn Ái Quốc đích thực là ai. Những phản ứng của chính quyền thuộc địa ở Đông Dương đối với bản Yêu sách và việc tìm kiếm lai lịch Nguyễn Ái Quốc làm tăng thêm sự chú ý của dư luận trong nước đối với bản Yêu sách, và làm tăng thêm lòng kính trọng, tin tưởng của nhân dân Việt Nam đối với Nguyễn Ái Quốc. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong một lần đến theo dõi buổi nói chuyện ở Hội trường Hooctiquyntơ tại Pari, viên mật thám Pháp Pôn Ácnu chuyên theo dõi người Việt Nam sống ở Pari, tận mắt chứng kiến Nguyễn Tất Thành đang phân phát truyền đơn in bản Yêu sách cho những người có mặt, đã phải thốt lên dự cảm: Con người thanh niên mảnh khảnh và đầy sức sống này có thể là người sẽ đặt chữ thập cáo chung lên nền thống trị của chúng ta ở Đông Dương. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ thực tế hành động và đấu tranh của Nguyễn Ái Quốc, các nhân viên mật thám Pháp đã nhận định anh thực sự là linh hồn của <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước tại Pháp</i>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Kế thừa <i style="">Nhóm người An Nam yêu nước</i> là <i style="">Hội người Việt Nam tại Pháp </i>(đến năm 1955 là <i style="">Hội Liên hiệp Việt kiều tại Pháp</i>) với đường lối rõ ràng chống thực dân, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các đoàn thể, nhân dân Pháp và thế giới, đoàn kết với tất cả đồng bào yêu nước, cả những người có những bước đi khác nhau nhưng cùng mục đích hướng về Tổ quốc Việt Nam, gắn bó vơi đồng bào trong nước. Thực tế quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, qua hai cuộc kháng chiến chống xâm lược và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay ra chứng ninh sự đóng góp sức người, sức của của Việt kiều yêu nước ở Pháp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">1. Theo tư liệu của Hội người Việt Nam tại Pháp </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">2. Những sáng lập viên của <i style="">Hội người An Nam yêu nước</i> là các ông Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Đình Khánh (tức Khánh Ký) </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">3 . Theo sách <i style="">Nguyễn Ái Quốc tại Pari 1917- 1923 </i>của Thu Trang, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1989 có đưa ra một báo cáo tổng quát về sự kiểm tra số lính khố đỏ và thợ người Đông Dương tại Pháp, ký tên Guesde, đã viết: “Vào tháng 11 năm 1917, khi tôi nhận chức Giám đốc Tổng thanh tra toàn Đông Dương thì có 45.000 người, và số thợ cũng tương đương, tổng số gần 90.000 người. Con số này không chênh lệch gì mấy, so với lúc ký hiệp ước đình chiến vào 1 tháng 11 năm 1918”</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">4. Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài: <i style="">Kiều bào và quê hương</i>, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2006, viết: “Là người yêu nước nhiệt tình, anh đến Pari bắt liên lạc ngay với Hội người An Nam yêu nước và giữ quan hệ tốt với các ông Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường”</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sách Hồ Chí Minh của William J. Duiker, Hyperion New York 2000, còn viết: “Thành 1 đã tới Pari gặp Phan Châu Trinh. Cha của Thành đã đưa cho Thành thư giới thiệu gửi<span style="">  </span>người bạn cùng đỗ phó bảng trước khi Thành rời Việt Nam” </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">5. Về thời gian Nguyễn Tất Thành từ nước Anh trở lại nước Pháp có nhiều ý kiến khác nhau, song số đông các nhà nghiên cứu cho rằng Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp vào khoảng cuối năm 1917 </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=FR style="font-family:Arial;font-size:10pt">6. Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài: <i style="">Kiều bào và quê hương</i>, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2006 </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">7. Theo Trần Dân Tiên “Ý kiến đưa ra yêu cầu do ông Nguyễn đề ra nhưng lại do luật sư Phan Văn Trường viết, vì lúc bấy bấy giờ ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp”. <i style="">Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch</i>, ST, H, 1975, tr.29.</span></p>
<p>Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lịch sử Đảng. -2009. –Số 7. –Tr.38-43.</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 9:00 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Qua những tài liệu mà chúng tôi có được, cho đến nay, vẫn còn có một số ý trên khác nhau về thời điểm thành lập và tên gọi của tổ chức Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Các ý kiến dù khác nhau nhưng đều rất nhất trí rằng, việc tái lập hay thành lập một tổ chức của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gắn liền với những hoạt động yêu nước của Nguyễn Ái Quốc ở Pháp từ năm 1917  đến năm 1923. Trong bài viết này, chúng tôi muốn tiếp tục góp bàn về vấn đề đó.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.699</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 02:01:13 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=24</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chủ tịch Hồ Chí Minh với Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=15</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass07E129587CEF45F6AD10B1674C32ACA6><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Để tăng cường mối liên hệ cách mạng với các nước bị áp bức ở Phương Đông, tăng thêm thanh thế cách mạng, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chung chống đế quốc, mùa hè năm 1925, Đảng cộng sản Trung Quốc đã đề xướng thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức, một đoàn thể cách mạng có tính chất quốc tế do những người ở các nước bị áp bức được phái đến Quảng Châu tập hợp lại. Giúp đỡ các dân tộc nhỏ yếu là chủ trương nhất quán của Tôn Trung Sơn. Cho nên đề xướng của Đảng cộng sản Trung Quốc được sự ủng hộ mạnh mẽ của Liêu Trọng Khải và phái tả trong Quốc dân đảng. Hồ Chí Minh mang tên gọi là Lý Thụy cũng tích cực tham gia mọi công việc của đoàn thể mang tính chất quốc tế này. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau một thời gian chuẩn bị, <i style="">Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức</i> tổ chức Đại hội thành lập, ngày 9 tháng 7 năm 1925. Căn cứ vào Điều lệ dược Đại hội thông qua, mục đích của Hội là: “Liên lạc với các dân tộc cùng làm cách mạng đặng đánh đổ đế quốc”. Cơ cấu tổ chức của Hội là thành lập “một tổng bộ có 6 ủy viên, một người làm bí thư kiêm tài chính”,<span style="">  </span>“chi bộ thì do các nước và các đoàn thể tự xây dựng”<sup>2</sup>.<span style="">  </span>Căn cứ vào qui định đó, những người cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu đã thành lập chi bộ Việt Nam thuộc <i style="">Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức</i>, Hồ Chí Minh trực tiếp phụ trách công tác của chi bộ Việt Nam. Thành viên của chi bộ này, ngoài các hội viên Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí, còn có sĩ quan người Việt giảng dạy ở trường quân sự Hoàng Phố như Đinh Tế Dân<sup>3</sup> v.v.<span style="">  </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đại hội thành lập đã ra Tuyên ngôn nói rõ: “Những người tham gia hội nghị này có các đồng chí Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên, Việt Nam. Đây là sự mở màn biểu hiện cao nhất sự giác ngộ căn bản của các dân tộc bị áp bức ở phương đông chúng ta”. Tuyên ngôn thành lập chỉ ra “Con đường duy nhất để xóa bỏ sự áp bức chính là liên hiệp các dân tộc nhỏ yếu bị áp bức với giai cấp vô sản toàn thế giới, dùng những biện pháp cách mạng lật đổ về căn bản bọn tư bản đế quốc cực kỳ hung ác, chỉ có như thế mới thực hiện được”. Bản tuyên ngôn hy vọng các nước và các đoàn thể bị áp bức ở phương Đông “hãy gia nhập Hội liên hiệp của chúng ta, hãy chiến đấu đến cùng chống đế quốc”<sup>4</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhờ sự giúp đỡ của sáng cộng sản Trung Quốc, sự ủng hộ của phái tả Quốc dân đảng, Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức đã nhanh chóng trở thành một đoàn thể cách mạng được mọi người chú ý Quảng Châu trong thời kỳ cách mạng. Chẳng những các nhà cách mạng Việt Nam, Triều Tiên, Ấn Độ, Miến Điện đang hoạt động trên đất Quảng Châu lần lượt thành lập các chi bộ, mà một số đoàn thể cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Trung Quốc, như Hiệp hội phụ nữ giải phóng tỉnh Quảng Đông. Hiệp hội nông dân Quảng Đông v.v. cũng gia nhập Hội, trở thành đoàn thể hội viên. Cùng với sự phát triển của tình hình đấu tranh, đầu năm 1926, Hội quyết định mở rộng tổ chức và cải tổ bộ máy lãnh đạo. Tổng bộ sau khi cải tổ có 7 ủy viên chấp hành lâm thời (trong đó có 1 chủ tịch), phân công theo dõi giao tế, tuyên truyền, tổ chức, văn thư, quản trị tài chính, điều tra. Bao Huệ Tăng, một đảng viên cộng sản, được bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành kiêm ủy viên giao tế, Lý Thụy, tức Hồ Chí Minh là ủy viên tài chính<sup>5</sup>. Từ đó về sau Hồ Chí Minh còn đảm nhiệm nhiều công tác cụ thể của Hội. Ngoài việc theo dõi về tài chính ra, do thông thạo nhiều thứ tiếng nước ngoài như Nga, Pháp, Anh... Người thường làm nhiệm vụ dịch các văn kiện, thư, điện của Hội. Ví như, ngày 4 tháng 5 năm 1926 Ban chấp hành Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức đã quyết định lấy danh nghĩa của Hội ra một bản Tuyên ngôn ủng hộ công nhân bãi công ở Anh, điện thăm hỏi và ủng hộ công nhân bãi công ở Anh. Các bức điện ủng hộ phong trào cách mạng ở các nước Xi-ri, Ma-rốc, Triều Tiên, Việt Nam. Những văn kiện và thư điện trên đây đều do Người dịch<sup>6</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lúc Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức thành lập, cũng là lúc có cuộc bãi công lớn ở Cảng Tỉnh. Cuộc bãi công lớn ở Quảng Châu và Hồng Công, kéo dài 1 năm 4 tháng đang gây chấn động ở trong và ngoài nước. Hồ Chí Minh đã tích cực tham gia công tác tuyên truyền cho cuộc bãi công lớn đó. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Được tin Ủy ban bãi công của Cảng Tỉnh tổ chức các đội diễn thuyết, chiều ngày 13 tháng 7, Hồ Chí Minh đến ủy ban bãi công đề nghị được tham gia đội diễn thuyết với “danh nghĩa là hội viên Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức”. Hồ Chí Minh đã ghi tên bằng bí danh Lý Thụy và báo cáo đề tài mình chuẩn bị diễn thuyết: “Mối quan hệ giữa nhân dân Trung Quốc với các dân tộc bị áp bức và tính tất yếu phải liên hiệp lại đánh đổ chủ nghĩa đế quốc”. Ủy ban bãi công hoan nghênh Hồ Chí Minh tham gia đội diễn thuyết và “giới thiệu ngay đến các khu công nhân, lần lượt diễn thuyết”. Ngày hôm sau, tờ <i style="">công nhân chi lộ đặc hiệu</i> đưa tin Hồ Chí Minh tham gia dội dân thuyết trong bài “Người Việt Nam gia nhập dội diễn thuyết”<sup>7</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Về hoạt động của Hồ Chí Minh tham gia diễn thuyết trong cuộc bãi công lớn ở Cảng Tỉnh, Vương Nhất Tri hồi tưởng như sau:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">“Hồ Chí Minh lúc ở Quảng Châu trong thời kỳ đại cách mạng, công việc rất bận rộn nhưng tinh thần hết sức dồi dào. Ngoài việc hoàn thành công tác ở phòng phiên dịch của cố vấn Bô-rô-đin, lãnh đạo <i style="">Hội Việt Nam thanh niên cách mệnh đồng chí</i> và chủ trì các lớp huấn luyện chính trị đặc biệt, Người còn tham gia hoạt động của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức, kề vai sát cánh với các đồng chí Trung Quốc cùng chiến đấu, góp phần cống hiến sức mình vào cuộc cách mạng của Trung Quốc. Trong cuộc bãi công lớn ở Cảng Tỉnh, Hồ Chí Minh đã tích cực tham gia các công tác tuyên truyền cổ động. Lúc bấy giờ có hơn 20 vạn công nhân Cảng Tỉnh trở về Quảng Châu. Ủy ban bãi công thường tổ chức quần chúng mít tinh và tuần hành. Tại Quảng trường Đông Hiệu thường được triệu tập những cuộc họp của quần chúng có hàng vạn người tham gia. Trong khu vực quảng trường được dựng lên những bục diễn thuyết, tham gia những cuộc diễn thuyết này có đại biểu công nhân bãi công, có các đồng chí phụ trách lãnh đạo Đảng cộng sản của Khu ủy Quang Tây ; các đồng chí phụ trách công tác công vận và có cả cố vấn Liên Xô Bô-rô-đin v.v. Hồ Chí Minh cũng thường tham gia diễn thuyết. Hồi đó ở một vài trường hợp công khai thì Hồ Chí Minh nói tiếng Pháp, nhưng khi diễn thuyết được công nhân bãi công thì dùng tiếng Trung Quốc. Người nói tiếng Trung Quốc rất khá, chỉ có điều hơi lai âm tiếng Quảng Đông. Trong những buổi nói chuyện đó, Hồ Chí Minh đã từ mối quan hệ giữa cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Trung Quốc với cuộc đấu tranh của các dân tộc và nhân dân bị áp bức trên toàn thế giới mà đánh giá cao cuộc bãi công lớn của Cảng Tỉnh, đồng thời nhiệt liệt cổ vũ công nhân bãi công đoàn kết nhất trí, kiên trì đấu tranh giành thắng lợi cuối cùng. Khi diễn thuyết, giọng của Người âm vang, giàu tính kêu gọi, được công nhân bãi công hết sức hoan nghênh<sup>8</sup>. Hồ Chí Minh tích cực tham gia hoạt động tuyên truyền trong cuộc bãi công lớn ở Cảng Tỉnh, bằng hành động thực tế ủng hộ cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Trung Quốc ủng hộ cuộc đại cách mạng của Trung Quốc, thể hiện một cách sinh động tinh thần quốc tế vô sản. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">* Trích dịch mục 4, chương II sách Hồ Chí Minh với Trung Quốc của Hoàng Tranh. Nhà xuất bản Giải phóng quân, Bắc Kinh (Trung Quốc), 1987. Nhan đề là của người dịch.<span style="">  </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">1. Về tên gọi của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức. từ trước tới nay một số sách báo ghi thêm hai chữ Á Đông là không đúng với tên gọi lúc thành lập. Ngay trên bìa sách Đường kách mệnh xuất bản năm 1927 cũng như con dấu đóng trên bìa đều ghi: Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức (chú thích của người dịch). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">2. Xem Công nhân chi lộ đặc hiệu cơ quan của Ủy ban bãi công Hồng Kông, số 18, ra ngày 12 tháng 7 năm 1925.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">3. Đinh Tế Dân, nhân sĩ người Việt Nam thời trẻ học ở Giảng Võ Đường, Vân Nam, sau đó giảng dạy ở trường quân sự Hoàng Phố (theo sách <i style="">Ghi chép của học sinh trường Hoàng phố</i>). Ngày 22 tháng 11 năm 1925, trong một cuộc đại hội do <i style="">Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức</i> triệu tập để hoan nghênh đại biểu thuộc địa, Đinh Tế Dân đã đọc diễn văn với tư cách là đại biểu chi bộ Việt Nam. Xem <i style="">Công nhân chi lộ đặc biệt</i>, số 151, ra ngày<span style="">  </span>24 tháng 11 năm 1925.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">4. Công nhân chi lộ đặc hiệu</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> ; số 26 ra ngày 20 tháng 7 năm 1925. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">5. Công nhân chi lộ đặc hiệu</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> ; số 240, ra ngày 23 tháng 2 năm 1926. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">6. Công nhân chi lộ đặc hiệu</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> ; số 320, ra ngày 15 tháng 5 năm 1926. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">7. Công nhân chi lộ đặc hiệu</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> ; số 20 ra ngày 14 tháng 7 năm 1925. Để giấu tên gọi Lý Thụy, tờ báo viết “Người Việt Nam Lý Mỗ”</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">8. Tác giả đã ghi lại lời Vương Nhất Tri trong buổi gặp gỡ ngày 6 tháng 10 năm 1982. Nội dung chủ yếu còn được tham khảo thêm ở bài của Vương Nhất Tri “Nhớ đồng chí Trương Thái Lôi”<span style="">  </span>đăng trên <i style="">Nghiên cứu lịch sử cận đại</i>, số 2 năm 1983.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lịch sử Đảng. -1989. –Số tháng 3. –Tr.44-46.</span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 8:15 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Ở Quảng Châu, Hồ Chí Minh còn tham gia tổ chức Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức1 và là thành viên tích cực của tổ chức ấy. Sự hình thành Quốc - Cộng hợp tác lần thứ nhất đã đẩy mạnh phong trào cách mạng của Trung Quốc, cuộc cách mạng được dấy lên sôi nổi rầm rộ với trung tâm là Quảng Đông. Trong tình hình đó, một số nước bị áp bức ở Đông Á đều phái người đến Quảng Châu để học tập kinh nghiệm cách mạng của Trung Quốc, chuẩn bị cho cuộc cách mạng ở nước mình. Ngoài các nhà cách mạng Việt Nam mà đại biểu là Hồ Chí Minh, trong thời gian đó còn có những nhà cách mạng của một số nước như Ấn Độ, Triều Tiên, Miến Điện, In-đô-nê-xi-a đến hoạt động ở Quảng Châu. Quảng Châu lúc ấy được gọi là “Mát-xcơ-va của phương Đông”.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.675</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 01:20:28 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=15</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Vai trò của Hồ Chí Minh trong thiết lập và tranh thủ mối quan hệ với quân đồng minh nhằm tăng cường thế – lực cho cách mạng tháng tám</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=47</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass0FCAA9EA112E49D6B8B275D8F5E9704C><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:27.85pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.95pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trải qua thực tiến các cao trào cách mạng từ sau năm 1930, phát huy tính độc lập chủ trong vận dụng lý luận gắn với thực tiễn, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ VIII khoá I (5-1941) 1941)đánh dấu bước hoàn thiện chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng khi đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và quyết định chuẩn bị toàn diện cho cuộc đấu tranh giành chính quyền cách mạng. Tại Hội nghị này, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã hết sức nhấn mạnh tới việc cần thiết phải xác lập và tăng cường mối quan hệ giữa cách mạng Đông Dương với các lực lượng chống phát xít:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:28.8pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">“Cuộc Cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng thế giới giai đoạn hiện lại là một bộ phận dân chủ chống phát xít... Vận mạng của dân tộc Đông Dương lại chung với vận mạng của nước Trung Quốc cách mạng và Liên bang Xô Viết,<sup>(1)</sup>. Nhận thức rõ thời cuộc, đặt công cuộc giải phóng dân tộc của nước ta trong những bước phát triển của thời đại, của điều kiện lịch sử thời điểm đó, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động kết nối mối quan hệ giữa lực lượng cách mạng trong nước với quân Đồng minh và từng bước phát huy mối quan hệ đó.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:28.8pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Đến năm 1942, cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai bắt đầu bước vào giai đoạn cuối khi quân phát xít bắt đầu suy yếu trên các chiến trường. Tại châu Á, lực của quân Nhật bị giảm sút, phong trào giải phóng dân lộc và kháng chiến chống Nhật ở Đông Nam Á đang phát triển mạnh mẽ. Trước tình hình đó Nguyễn Ái Quốc xúc tiến thiết lập mối quan hệ hợp tác với lực lượng quân Đồng Minh, trước tiên là với Trung Quốc bởi đây là một nước lớn trong khối Đồng Minh lại có vị trí gần với căn cứ địa Việt Bắc của cách mạng nước ta. Để thực hiện mục tiêu trên, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động tổ chức cuộc gặp gỡ chính thức giữa Mặt trận Việt Minh với chính phủ Tưởng Giới Thạch để bàn bạc về quan hệ giữa hai bên trong cuộc đấu tranh chống Nhật giải phóng đất nước. Chuẩn bị cho chuyến đi ngoại giao này, Người đã chỉ đạo lập hai con dấu của &quot;Việt Nam Độc lập Đồng minh&quot; và ''Quốc tế phản xâm lược Việt Nam Phân hội&quot;. Từ thời điểm này, Nguyễn Ái Quốc chính thức lấy tên là Hồ Chí Minh với tư cách là đại diện Mặt trận việt Minh sang gặp chính phủ Tưởng Giới Thạch. Ngày 13- 8-1942, Hồ Chí Mình lên đường đi Trung Quốc: Sau hơn hai tuần đi bộ, đoàn ngoại giao của Mặt.trận Việt Minh đến được huyện Tĩnh Tây (Trung Quốc)... Nhưng ngay sau đó, Hồ Chí Minh đã bị chính quyền địa phương của Tưởng bắt giam. Với tố chất của vị lãnh tụ vĩ đại, của một chiến sĩ cách mạng luôn tâm huyết, sẵn sàng hy sinh vì lợi ích dân tộc, người đã biến khó khăn là thuận lợi, biến “nguy” thành ''an'' để cách mạng đạt được những mục tiêu đề ra.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:28.8pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trước sự kiện Hồ Chí Minh bị quân đội Tưởng bắt giam, Hội Cứu quốc ở vùng căn cứ địa Việt Bắc và nhiều Việt kiều ở Hoa Nam đã gửi hàng trăm bức thư đòi lính phủ Tưởng Giới Thạch trả tự do cho Hồ Chí Minh. Vào năm 1943, quân Đồng minh bắt đầu phản công phát xít Nhật mạnh mẽ. Trước khả năng quân Anh, Mỹ sẽ đổ bộ vào Đông Dương, Chính phủ Tưởng Giới Thạch chủ trương thực hiện gấp kế hoạch ''Hoa quân nhập <span style=""> </span>Việt&quot;. Để thực hiện kế hoạch này, Chính phủ Tưởng Giới Thạch xác định trước tiên phải củng cố lại Ban lãnh đạo “Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội” (“Việt cách”) và tìm mọi cách đưa Việt Minh vào. Do đó, ngày 10-9-1943, Chính phủ Tưởng Giới Thạch mà đại diện 1à Trương Phát Khuê đã ra lệnh thả tự do cho Hồ Chí Minh và mời Người tham gia Ban trù bị Đai hội toàn quốc của “Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội”. việc Chính phủ Tưởng Giới Thạch chấp nhận sự hiện diện của lực lượng cánh tả của cách mạng Việt Nam trong “Việt Cách” theo Hồ Chí Minh mặc dù không ảo tưởng chính trị đối với chính quyền Tưởng Giới Thạch nhưng đây là dấu hiệu thuận lợi cho lực lượng cách mạng của ta trong việc từng bước nối quan hệ với quân Đồng minh nên Hồ Chí Minh đã đồng tham gia Ban trù bị Đại<i> </i>hội của Việt Cách. Sau một số lần họp, Hội nghị trù bị vẫn chưa thống nhất được thời gian họp và số đại biểu Việt Minh tham gia Đại hội. Trong bối cảnh đó, Hồ Chí Minh đã trở thành nhân vật có những sáng kiến lớn trong việc tìm ra lối thoát cho những bế tắc trên khi Người đề nghị: họp hội nghị đại biểu hải ngoại trước để thống nhất các lực lượng cách mạng của Việt Nam tại nước ngoài đồng thời để thực hiện trù bị cho Đại hội của Việt Cách, Đại hội chính thức sẽ được tiến hành sau cuộc họp đại biểu hải ngoại một năm, địa điểm họp tại khu giải phóng Việt Bắc. Sáng kiến này được Trương Phát Khuê tán thành và đề nghị Hồ Chí Minh là người chủ trì lập và triển khai kế hoạch.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:28.8pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Với những nỗ lực lớn, Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng vào thành công của Hội nghị đại biểu hải ngoại được tiến hành tại Liễu Châu (Trung Quốc). Tại Hội nghị này Hồ Chí Minh đã trình bày hai bản tham luận : “Về Phân hội quốc tế chống xâm lược của Việt Nam”<i> </i>và &quot;Về các đảng phái trong nước'' thể hiện rõ quan điểm của cách mạng Việt Nam trong việc tham gia chống kẻ thù chung là chủ nghĩa phát xít. Qua Hội nghị này, Tưởng Giới Thạch đã chấp nhận để cho Đảng cộng sản Đông Dương và Việt Minh vào Mặt trận liên minh Trung - Việt chống phát xít. Từ mối quan hệ với Tưởng, cách mạng nước ta đã chính thức kết nối với sức mạnh của quân Đồng minh, hoà chung với sức mạnh của thời đại trong cuộc chiến chống chủ nghĩa phát xít, giành độc lập đối với các dân tộc thuộc địa.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:28.8pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sau thắng lợi ở Hội nghị đại biểu hải ngoại, Tưởng Giới Thạch đã phải để Hồ Chí Minh về nước để tiếp tục lãnh đạo cuộc cách mạng. Nhưng thực tế cho đến ngày 9-8-1944, Trương Phát Khuê mới hoàn tất các thủ tục công nhận quyền tự do của Hồ Chí Minh và ngày 29-9- 1944, Hồ Chí Minh mới rời được Liễu Châu (Trung Quốc) về Cao Bằng để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng nhân dân ta.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:1cm;margin:0cm 0cm 6pt 0.45pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Khi ở Liễu Châu, từ mối quan hệ với Trương Phát Khuê, Hồ Chí Mmh đã làm quen với một số sĩ quan của Mỹ trong tổ chức OSS (Offce Strategic Services – Tổ chức tình báo của Mỹ trong Chiến tranh thê giới thứ hai) và OWI (Offce of War Information - Tổ chức thông tin chiến tranh của Mỹ trong Chiến tranh thế giới thứ hai). Từ đó, mỗi quan hệ giữa Hồ Chí Minh với tướng Sênôn chỉ huy quân đoàn không quân của Mỹ ở chiến trường Tây Nam Trung Quốc đã được thiết lập. Nhằm phá thế độc quyền của chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp ở khu vực Đông Nam Á, tổng thống Rudơven đã đưa ra kế hoạch thiết lập một Hội đồng thác quản (trusteeship) cho Đông Dương. Trước tình hình đó, Hồ Chí Minh đã nhận định đây chính là sự bất lợi lớn cho Pháp và cũng chính là dấu hiệu thuận lợi cho cách mạng nước ta. Do đó, đẩy tới việc thiết lập mối quan hệ giữa Việt Minh với Mỹ được Người rất chú trọng và chủ động triển khai.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:28.8pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Vào đầu năm 1945, Hồ Chí Minh đã cùng viên trung uý phi công Shaw<sup>(2)</sup> đi Côn Minh (Trung Quốc). Thông qua chuyến đi này, Hồ Chí Minh đã gặp Saclơ Phen thuộc Tổ chức cứa trợ không quân Mỹ và gặp lại tướng Sênôn. Tổ chức cứu trợ không quân Mỹ hứa sẽ viện trợ cho Việt Minh vũ khí, điện đài, thuốc men, đồng thời phái một nhân viên người Mỹ đi cùng với Hồ Chí Minh giúp về kỹ thuật thu phát tin qua máy vô tuyến điện. Trước khi rời Côn Minh, thông qua Hồ Chí Minh, hướng Sênôn đã tặng lực lượng Việt Minh: 6 khẩu súng ngắn, đạn dược, thuốc men và tiền. Hồ Chí Minh thay mặt cách mạng nhận số lượng viện trợ trên (trừ tiền), gửi lời cảm ơn và tỏ sự mong muốn người Mỹ tiếp tục giúp đỡ cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và phát xít Nhật. Từ đây, mối quan hệ giữa cách mạng nước ta với lực lượng quân đội Mỹ đang làm nhiệm vụ của quân Đồng minh ở chiến trường châu Á - Thái Bình Dương đã đánh thức được thiết lập. Dưới sự thảo thuận của hai bên, ngày 16-7-1945, nhóm tình báo chiến lược Mỹ mang biệt danh ''Con Nai'' do thiếu tá Tônmát dẫn đầu đã nhảy dù xuống khu vực làng Kinh Lung (Tuyên Quang) và được lực lượng của ta bố trí đóng quân ở Tân Trào. Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ xác định mục tiêu của quân Nhật để ngáy bay Mỹ phá huỷ và chuyển thông tin về Tổng hành dinh OSS, nhóm ''Con Nai&quot; còn đẩy ngạnh việc giúp Việt Minh xây dựng hệ thống thông tin liên lạc và phối hợp với ta tiêu tiệt phát xít Nhật. Với tư cách là người chỉ huy nhóm “Con Nai” Thiếu tá Tômát đã tổ chức một đội du kích khoảng 50 chiến sĩ Việt có trang bị vũ khí thực hiện nhiệm vụ cắt đứt đường sắt sang Trung Quốc, phá huỷ tuyến giao thông Hà Nội - Lạng Sơn với mục tiêu ngăn cản sự di chuyển của quân Nhật sang Lạng Sơn, khóa đường sang vùng Hoa Nam trong trường hợp nếu Mỹ quyết lập căn cứ tấn công quân Nhật ở Bắc Việt Nam. Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, <span style=""> </span>Tômát đã thuyết phục được sở chỉ huy OSS ở Côn Minh tiếp tục viện trợ vũ khí cho Việt Minh bằng không quân với nhiều loại súng ngáy, súng côn 60, ba- đô-ka, súng máy Bren, 20 tiểu liên Tôm-xơn, 60 các bin (carbin), 4 súng trường M-1, 20 súng lục cùng ống nhòm<sup>(3)</sup>.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:28.8pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Vào nổ đầu tháng 8 năm 1945, nhóm ''Con Nai&quot; đã tổ chức huấn luyện cho các chiến sĩ Việt Minh cách sử dụng các loại vũ khí do Mỹ trang bị. Khi cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám nổ ra, lực lượng này còn trực tiếp tham gia giúp đỡ nhân dân một số tỉnh ở Việt Bắc khởi nghĩa giành chính quyền. Đặc biệt là trong cuộc Cách mạng Tháng Tám ở Thái Nguyên, nhóm ''Con Nai&quot; và Thiếu tá Tômát đã gia rất tích cực và góp phần vào thắng lợi của cuộc đấu tranh giành chính quyền ở đây. Thiếu tướng Tômát từng tham gia góp ý kiến rất xác đáng vào phương án tác chiến khởi nghĩa giải phóng thị xã Thái Nguyên với bộ chỉ huy Uỷ ban khởi nghĩa tỉnh Thái Nguyên tại cuộc họp hồi 22h ngày 19-8-1945 để chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa của tỉnh<sup>(4)</sup>. Trong tình thế cuộc đấu tranh giành chính quyền của nhân dân Thái Nguyên gặp khó khăn do quân Nhật cố thủ tại thị xã, Tônmát đã viết<span style="">  </span>một tối hậu thư gửi quân Nhật có tác dụng gây sức ép, hỗ trợ phong trào quần chúng, buộc phát xít Nhật phải đầu hàng vô điều kiện, ghành thắng lợi cho cách mạng...</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:28.8pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Như vậy, những hoạt động tích cực của Hồ Chí Minh trong việc thiết lập mối quan hệ vôi quân Đồng Minh đã góp phần thiết thực vào việc chuẩn bị lực, tạo thế cho Cách mạng Tháng Tám. Động thái này còn là sự thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo của Hồ Chí Minh đối với quá trình chuẩn bị đấu tranh giành chính quyền của dân tộc ta ở thời điểm này cần nắm bắt những diễn biến của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, từ đó tạo ra <i>phương pháp luận</i> <i>cách mạng</i> <i>quan trọng </i>trong việc tạo và chớp thời cơ giành thắng lợi cho cách mạng.</span></p>
<p><strong>Nguồn</strong> <b><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Giáo dục lý luận. – 2008. – Số 8. – Tr. 9-12</span></b></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 2:50 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Thắng lợi của cuộc cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của nghệ thuật “tạo lực, lập thế, tranh thời” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tế lịch sử cho thấy sức mạnh nội lực của cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền của dân tộc ta đã được tăng cường và nhân lên khi được kết hợp với sức mạnh thời đại, yếu tố ngoại lực. Đây là một bài học có giá trị lớn gắn liền với vai trò của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong thiết lập mỗi quan hệ giữa lực lượng cách mạng của ta với quân Đồng Minh đồng thời tranh thủ cao nhất mối quan hệ đó để tăng cường “thế”  và “lực” cho cách mạng, tạo tiền đề quan trọng để Cách mạng tháng Tám thắng lợi toàn diện bởi nghệ thuật chớp thời cơ điển hình.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 7.473</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 07:54:54 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=47</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chủ tịch Hồ Chí Minh đấu tranh bảo vệ và vận dụng sáng tạo đường lối của VI. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa (1920 – 1924)</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=14</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass6E43DD38FF48452C8336B6D1C7A1BDDE><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">“Mục đích của Hội là tập hợp và hướng dẫn cho mọi người dân các xứ thuộc địa hiện sống trên đất Pháp để soi sáng cho những người dân ở thuộc địa về tình hình mọi mặt ở nước Pháp nhằm mục đích đoàn kết họ; thảo luận và nghiên cứu tất cả những vấn đề chính trị và kinh tế của thuộc địa”. Tuyên ngôn của Hội kêu gọi nhân dân thuộc địa đoàn kết đấu tranh tự giải phóng và nhấn mạnh “Vận dụng công thức của Các Mác chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện bằng sự nỗ lực của bản thân anh em. Hội liên hiệp thuộc địa thành lập chính là để giúp đỡ anh em trong công cuộc ấy”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Để đẩy mạnh công tác tuyên truyền và vận động cách mạng ở các thuộc địa, Hội liên hiệp thuộc địa đã xuất bản báo Le Paria (Người cùng khổ). Nguyễn Ái Quốc là linh hồn của tờ báo, vừa là chủ nhiệm, kiêm chủ bút, thủ quỹ, báo xuất bản bằng tiếng Pháp nhưng ở trang đầu còn có tên báo bằng chữ ả rập và chữ Hán. Số 1 của tờ báo ra ngày 1 tháng 4 nǎm 1922, trong đó có lời kêu gọi nêu rõ: Báo Le Paria ra đời do sự thông cảm chung của các đồng chí ở Bắc Phi, Trung Phi và Tây Phi thuộc Pháp, ở Ma-đa-gat-xca, ở Đông Dương, Ǎng ti và Guyannơ... Báo kêu gọi họ đoàn kết lại để đấu tranh cho sự tiến bộ về vật chất và tinh thần của chính họ, hô hào họ tổ chức lại nhằm mục đích giải phóng những người bị áp bức khỏi những lực lượng thống trị, thực hiện tình yêu thương và hữu ái... Báo Le Paria là vũ khí chiến đấu. Sứ mệnh của nó đã rõ ràng: giải phóng con người.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc “Bản án chế độ thực dân Pháp” được xuất bản vào cuối nǎm 1925. Nhiều bài trong tác phẩm đã được đǎng báo Le Paria và một số báo, tạp chí ở Pháp và Liên Xô. Bằng những chứng cớ và số liệu cụ thể, những người thật việc thật Nguyễn Ái Quốc đã thức tỉnh nhân dân các thuộc địa, đồng thời chỉ ra con đường đấu tranh của cách mạng thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi thì cái vòi còn lại kia sẽ tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong bài viết nhan đề “Đông Dương” đǎng trong Tạp chí Cộng sản (La Revue Communiste) số 15 tháng 5 nǎm 1921, Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh : “Ngày mà hàng trǎm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc họ có thể giúp nhũng người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 6 nǎm 1923, được sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc rời nước Pháp sang Liên Xô. Được thực tiễn cách mạng Nga lúc đó cổ vũ, Nguyễn Ái Quốc kiên trì đấu tranh bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự chú ý của Quốc tế Cộng sản tới phong trào đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm tới tình cảnh của người nông dân trong các nước thuộc địa. Họ chiếm đại đa số trong xã hội và cách mạng thuộc địa không thể thắng lợi nếu không có sự tham gia của đông đảo nông dân. Tại Hội nghị lần thứ I Quốc tế Nông dân (tháng 10 nǎm 1923) Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân và được cử vào đoàn Chủ tịch của Hội đồng. Người còn được mời làm chuyên gia của Ban thư ký giúp Hội đồng chuẩn bị nội dung cho các cuộc họp và là chuyên gia về những công việc liên quan đến các thuộc địa.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người viết nhiều bài báo về tình cảnh nông dân Bắc Phi, nông dân Trung Quốc, nông dân Việt Nam. Trong bài phát biểu tại Hội nghị Quốc tế Nông dân, Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo những thủ đoạn thực dân để biến nông dân thành nô lệ với hai bàn tay trắng. Vì vậy người nông dân không còn đường sống mà phải đấu tranh, họ là lực lượng cách mạng vô cùng to lớn. Kết thúc bài phát biểu Nguyễn Ái Quốc kêu gọi: “Thưa các đồng chí, tôi phải nhắc lại với các đồng chí rằng Quốc tế của các đồng chí chỉ trở thành một Quốc tế thật sự khi mà không những nông dân phương Tây, mà cả nông dân ở phương Đông, nhất là nông dân ở các thuộc địa là những người bị bóc lột và bị áp bức nhiều hơn các đồng chí, đều tham gia Quốc tế của các đồng chí”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong các bài phát biểu tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản (nǎm 1924) Nguyễn Ái Quốc đã đề cập vấn đề về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc, kêu gọi sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới với cách mạng thuộc địa. Tại phiên họp XXV ngày 3 tháng 7 nǎm 1924 Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: “Trong tất cả các thuộc địa Pháp, nạn nghèo đói đều tǎng, sự phẫn uất ngày càng lên cao. Sự nổi dậy của nông dân bản xứ đã chín muồi. Trong nhiều nước thuộc địa họ đã vài lần nổi dậy, nhưng lần nào cũng bị dìm trong máu. Nếu hiện nay nông dân vẫn còn ở trong tình trạng tiêu cực thì nguyên nhân là vì họ còn thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo. Quốc tế cộng sản phải giúp đỡ họ tổ chức lại, cần phải cung cấp cán bộ lãnh đạo cho họ và chỉ cho họ con đường đi tới cách mạng và giải phóng”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuối nǎm 1924 Nguyễn Ái Quốc yêu cầu được trở về châu Á để thực hiện hoài bão giải phóng nhân dân các dân tộc thuộc địa, trong đó có nhân dân Việt Nam. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn <span style="font-family:'Times New Roman';font-size:10pt">http://bacho.camau.gov.vn</span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/06/2011 3:50 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Nǎm 1921, Nguyễn Ái Quốc cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp thành lập Hội liên hiệp thuộc địa nhằm tổ chức và lãnh đạo phong trào cách mạng giải phóng dân tộc Điều lệ của Hội nêu rõ:</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.524</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Mon, 06 Jun 2011 08:55:03 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=14</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chủ tịch Hồ Chí Minh thời niên thiếu</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=2</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassA38C33C3706241A4BF7A0D142CD7B0BE>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Thân phụ là Nguyễn Sinh Sắc, sinh năm 1862, quê ở làng Kim Liên (thường gọi là làng Sen), cùng thuộc xã Chung Cự, cách Hoàng Trù 2km (nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Xuất thân từ gia đình nông dân, sớm mồ côi cha, mẹ, từ nhỏ đã chịu khó lao động và ham học. Vì vậy, được cụ Hoàng Đường ở làng Hoàng Trù xin họ Nguyễn Sinh đem về nuôi. Ông vừa lao động vừa tiếp tục học tập. Khi trưởng thành ông thành hôn với người con gái đầu của cụ.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Thân mẫu là Hoàng Thị Loan, sinh năm 1868. Bà là một phụ nữ cần mẫn, đảm đang, đôn hậu, sống bằng nghề làm ruộng và dệt vải, hết lòng chăm lo cho chồng con ăn học.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nguyễn Sinh Cung là con thứ ba trong gia đình.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chị là Nguyễn Thị Thanh, còn có tên là Nguyễn Thị Bạch Liên, sinh năm 1884.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Anh là Nguyễn Sinh Khiêm, còn có tên là Nguyễn Tất Đạt, sinh năm 1888.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Gia đình Nguyễn Sinh Cung sống trong một căn nhà nhỏ ba gian, lợp tranh, trên đất vườn của ông bà ngoại tại Hoàng Trù.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Năm 1890 - 1895, Nguyễn Sinh Cung sống ở làng Hoàng Trù trong tình thương yêu và chăm sóc của bố mẹ và ông bà ngoại. Ông ngoại là Hoàng Đường, dạy chữ Hán ngay tại nhà cho một số trẻ em trong làng. Bà ngoại là Nguyễn Thị Kép, làm ruộng để nuôi gia đình.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ngày 22 tháng 5 năm 1893, Nguyễn Sinh Cung chịu tang ông ngoại.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Khoảng tháng 6 năm 1894, Nguyễn Sinh Cung đón nhận tin vui: Cha đậu cử nhân, khoa thi giáp Ngọ năm thành Thái thứ 6 tại trường thi Nghệ An.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Khoảng gần cuối năm 1895, Nguyễn Sinh Cung cùng anh theo cha mẹ vào Huế. Thời kỳ này từ Nghệ An đi Huế chưa có đường xe lửa và ô tô. Mọi người phải đi bộ, trẻ em thường ngồi trong quang gánh của người lớn. Tới Huế, lúc đầu gia đình Nguyễn Sinh Cung phải ở nhờ những người quen, sau ở tạm trong một gian trại lính gần Viện đô sát (ngày nay là nhà số 114, đường Mai Thúc Loan).</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Gần cuối năm 1898, Nguyễn Sinh Cung cùng anh theo cha đến ở nhà ông Nguyễn Sĩ Khuyến, làng Dương Nổ, xã Phú Dương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Lúc này, ông Nguyễn Sinh Sắc mở lớp dạy chữ Hán cho một số học sinh trong làng, Nguyễn Sinh Cung cũng theo học.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ngày 10 tháng 2 năm 1901, Nguyễn Sinh Cung chịu tang lớn trong tuổi thiếu niên: bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu lâm bệnh qua đời tại Huế. Bà đã được những người láng giềng thân thiết lo việc mai táng, vì lúc này ông Nguyễn Sinh Sắc và Nguyễn Sinh Khiêm đang ở quê nhà.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sau khi mẹ mất, Nguyễn Sinh Cung và Nguyễn Sinh Xin (em trai Nguyễn Sinh Cung, sinh vào cuối năm 1900 tại Huế; sau khi bà Hoàng Thị Loan mất, Nguyễn Sinh Xin được ông Nguyễn Sinh Sắc đưa về Hoàng Trù gửi bà ngoại trông nom, nhưng yếu sức nên mấy tháng sau thì chết) về quê.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Tại quê, Nguyễn Sinh Cung học chữ Hán với thầy Hoàng Phan Quỳnh, lớp học mở tại xóm Vang, làng Hữu Biệt, cách Hoàng Trù 3km (nay thuộc xã Nam Giang, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Tháng 5 năm 1901, một tin vui đến với gia đình Nguyễn Sinh Cung và dân làng: Ông Nguyễn Sinh Huy (Nguyễn Sinh Sắc) đậu Phó bảng khoa thi Hội, Tân Sửu, năm Thành Thái thứ 13.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Dân trong xã ai cũng biết rằng, nhờ công lao cụ Hoàng Đường cùng gia đình bên vợ ở Làng Trùa, ông Sắc mới thành đạt. Song theo tập tục địa phương và ý nguyện bà con họ Nguyễn Sinh, ông Sắc đã vinh quy tại Làng Sen quê nội (khoảng tháng 9 năm 1901). Trước khi ông Sắc được đón về, làng Kim Liên đã cấp đất công, xuất quỹ làm cho một ngôi nhà (đó là ngôi nhà và khoản vườn hiện nay còn được bảo tồn ở Kim Liên).</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nhân dịp này, ông Nguyễn Sinh Sắc làm lễ &quot;Vào làng&quot; cho hai con trai, với tên mới là Nguyễn Tất Đạt (Sinh Khiêm) và Nguyễn Tất Thành (Sinh Cung).</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cũng như nhiều vùng khác ở nông thôn Nghệ An, Làng Sen vốn đã nghèo lại càng nghèo thêm từ khi mất nước. Tại đây, ngoài nghề làm ruộng, bà con nông dân còn làm nhiều nghề khác như dệt vải, đan lát hoặc nghề sơn tràng, kiếm củi, đốt than...</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Xưa kia, vùng này gọi là Trại Sen với những địa danh toàn sen: nào Đồng Sen Cạn, Đồng Sen Sâu, Giếng Sen, Đầm Sen; nào Vực Sen, Bàu Sen, Chợ Sen, Cồn Sen...</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sen góp phần tạo nên cảnh trí thiên nhiên đặc sắc ở đây nên mới gọi là Làng Sen. Nhân dân Làng Sen tự hào vì làng mình đẹp, lại có nhiều nho sĩ thường hay lui tới đàm đạo văn chương, thời thế.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Với tâm hồn thơ mộng, rất yêu thiên nhiên, Nguyễn Tất Thành tự hào với cảnh đẹp của làng quê mình. Nhưng điều đáng tự hào hơn cả là làng Kim Liên có nhiều di tích lịch sử và anh hùng hào kiệt. Ngay trước ngõ nhà cậu, chếch về phía phải là Giếng Cốc, nơi bọn thực dân Pháp đã ra lệnh tát cạn nước để tìm vũ khí của &quot;chung nghĩa binh&quot;, khi chúng đã đàn áp được cuộc khởi nghĩa Vương Thúc Mậu (năm 1886). Hình ảnh người anh hùng của quê hương, <a name=VNS0002>người</a> bạn dạy học của ông ngoại cậu đã hy sinh ngay tại làng để bảo toàn khí tiết đã từng gây xúc động mạnh trong lòng Nguyễn Tất Thành.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sau tháng 9 năm 1901, một vinh dự lớn cho Nguyễn Tất Thành là được cha gửi sang học chữ Hán với thầy Vương Thúc Quý và thầy Trần Thân ở ngay trong làng Kim Liên. Thầy <a name=VNS0003>Vương</a> Thúc Quý vốn là nhà nho, giàu lòng yêu nước cho nên Nguyễn Tất Thành và bạn học đều chịu ảnh hưởng chí hướng của thầy. Nguyễn Tất Thành là một học trò nhanh trí và có trí nhớ tốt, được thầy yêu mến. Học với thầy Vương Thúc Quý, Tất Thành cảm thấy thoải mái, dễ hiểu vì thầy thức thời, không nệ cổ, không bắt học trò nhồi sọ cổ văn theo lối &quot;tầm chương trích cú&quot;. Là tấm gương sáng cho học trò noi theo, thầy gợi cho Nguyễn Tất Thành những vấn đề mà trong bước trưởng thành, anh còn phải tìm hiểu cho đến nơi đến chốn.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Khoảng năm 1901-1902, Nguyễn Tất Thành <a name=VNS0004>bước</a> đầu tiếp thu tư tưởng yêu nước của các bậc cha chú thông qua mối quan hệ giữa cha với các sĩ phu trong vùng. Phan Bội Châu, trong tác phẩm <i>Phan Bội Châu niên biểu</i>, kể lại rằng: Nguyễn Tất Thành thường nghe cụ ngâm hai câu thơ và sau này anh vẫn nhắc lại:</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch</span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"></span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Lập thân tối hạ thị văn chương</span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"></span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nghĩa là:</span><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"> </span></i></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Mỗi bữa (ăn) không quên ghi sử sách</span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"></span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Lập thân hèn nhất ấy (là) văn chương</span></i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"></span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Mùa xuân năm 1903, Nguyễn Tất Thành theo cha đến ở xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, Nghệ An và tiếp tục học chữ Hán. Thời gian này, ông Nguyễn Sinh Sắc (thân phụ) dạy tại nhà ông Nguyễn Thế Văn.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ngày 13 tháng 4 năm 1904, Nguyễn Tất Thành chịu tang bà ngoại. Đây là cái tang lớn của cả gia đình. Sở dĩ ông Nguyễn Sinh Sắc học hành và đỗ đạt được chủ yếu là nhờ sự bù trì, giúp đỡ của gia đình phía vợ. Bà ngoại cũng đã giành cho Thành và những người cháu sớm mồ côi mẹ lòng yêu thương sâu sắc. Bà mất, Tất Thành đau xót, nghẹn ngào. Hình ảnh ông ngoại, mẹ và em Xin lại hiện lên rõ nét trong trí nhớ của Tất Thành. Thế là trong tuổi thiếu niên, Tất Thành phải chịu bốn cái tang của gia đình. Nhìn lên bàn thờ bà ngoại, Tất Thành xót xa, nhớ tiếc với bao kỷ niệm thân thương của hai bà cháu quanh góc sân, mảnh vườn.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sau kỳ đại tang đó, Nguyễn Tất Thành theo cha sang làng Du Đồng, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh (nay thuộc xã Đức Đồng, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Thời gian này, ông Nguyễn Sinh Sắc dạy học ở nhà ông Nguyễn Bá Uy.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ngoài giờ học tập, Nguyễn Tất Thành thường theo cha đến các vùng trong tỉnh thăm các nhân sĩ yêu nước (đến làng Đông Thái - quê hương của Phan Đình Phùng, làng Trung Lễ - quê hương của của Lê Ninh, v.v...) hoặc thăm các di tích lịch sử như thành Lục Niên, miếu thờ La Sơn phu tử, v.v...</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Tháng 7 năm 1905, Nguyễn Tất Thành theo cha đến huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình trong dịp ông Nguyễn Sinh Sắc đi gặp các sĩ phu ở vùng đó.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Theo cha đi khắp đó đây, tầm mắt Tất Thành được mở rộng, quả là &quot;đi một đoạn đàng, học một sàng khôn&quot;. Anh thấy đâu đâu cảnh nghèo đó cũng phơi bày ra trước mắt. Nhan nhản người ăn xin ở khắp mọi nơi. Hầu như làng quê nào cũng chỉ nổi lên vài ba ngôi nhà đồ sộ bên cạnh hàng trăm túp lều xơ xác, tiêu điều. Mùa đông giá lạnh càng nhiều cảnh thê thảm hơn. Không đủ manh áo che thân, nhiều người phải quấn tơi, chiếu hoặc bao tải rách. Bọn đế quốc và địa chủ phong kiến đang hút tủy, rút xương dân chúng bằng hàng trăm thứ thuế nặng nề và phu đài, tạp dịch. Từ người lớn đến trẻ con ai ai cũng sợ &quot;ông Tây&quot;. Anh Thành cảm thấy nỗi nhục mất nước hằn rõ trên gương mặt mỗi người Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Tháng 9 năm 1905, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt được thân phụ xin cho theo học lớp dự bị Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh, cách Kim Liên khoảng 14 km.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Hai anh em trọ ở một gia đình nghèo mạn Cầu Rầm (Vinh) và thường thường chiều thứ bảy đi bộ về thăm nhà, sáng thứ hai lại xuống Vinh.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:6pt 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chính tại Trường tiểu học này, Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên tiếp xúc với khẩu hiệu TỰ DO - BÌNH ĐẲNG - BÁC ÁI.</span></p>
<p style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt" class=MsoNormal><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cái nôi quê hương giàu truyền thống bất khuất với bản sắc riêng của xứ Nghệ đã tạo cho Nguyễn Tất Thành sớm có lòng yêu nước, thương dân, căm thù giặc và ý chí &quot;Làm trai cho đáng nên trai&quot;. Những tấm gương của các thầy giáo và những hoạt động sôi nổi của các bậc cha chú như Phan Bội Châu... đã kích thích cao độ chí làm trai của anh. Thái độ bất hợp tác, ngầm chống đối thực dân, phong kiến và nhận thức được thời cuộc, lòng thương dân, yêu nước của thân phụ có ảnh hưởng sâu xa đến sự hình thành nhân cách của anh.</span><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt" lang=EN-US></span></p>
<p>Nguồn <span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"><a href="http://www.baobinhdinh.com.vn/"><span style="color:black;text-decoration:none;text-underline:none">http://www.baobinhdinh.com.vn</span></a></span><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt" lang=EN-US>. -2005. -Ngày</span><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"> 1</span><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt" lang=EN-US> tháng </span><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">3</span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần I: 1890 - 1911</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/06/2011 2:30 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Chủ tịch Hồ Chí Minh (sinh ngày 19-5-1890), thời niên thiếu tên là Nguyễn Sinh Cung, ra đời tại quê mẹ là làng Hoàng Trù (thường gọi là làng Trùa), xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.340</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần I: 1890 - 1911</category>
      <pubDate>Mon, 06 Jun 2011 07:33:16 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=2</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=53</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassDDF565B53AEE4E13A34D363823F328FF><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></p>
<p>
<table class=MsoTableGrid border=0 cellspacing=0 cellpadding=0 align=left style="margin:auto 6.75pt;border-collapse:collapse">
    <tbody>
        <tr style="height:13.8pt">
            <td valign=top width=223 style="border-bottom:#ece9d8;border-left:#ece9d8;padding-bottom:0cm;background-color:transparent;padding-left:5.4pt;width:167.55pt;padding-right:5.4pt;height:13.8pt;border-top:#ece9d8;border-right:#ece9d8;padding-top:0cm">
            <p class=MsoNormal style="text-align:center;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><img width=250 height=174 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-6/BacHo2762011_151035.jpg"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
            </td>
        </tr>
        <tr style="height:13.8pt">
            <td valign=top width=223 style="border-bottom:#ece9d8;border-left:#ece9d8;padding-bottom:0cm;background-color:transparent;padding-left:5.4pt;width:167.55pt;padding-right:5.4pt;height:13.8pt;border-top:#ece9d8;border-right:#ece9d8;padding-top:0cm">
            <p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><i style=""><span style="font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">(Nhân dân Thủ đô Vác-xa-va nhiệt liệt chào đón Hồ Chủ tịch sang thăm nước Cộng hòa nhân dân Ba Lan (năm 1957). Ảnh tư liệu)</span></i></p>
            <p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></p>
            </td>
        </tr>
    </tbody>
</table>
</p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong những năm nhân dân ta gian khổ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhân dân thế giới vẫn luôn tin tưởng vào thắng lợi của ta và ca ngợi Bác Hồ. Hu-a-ri Bu-mê-điêng - Chủ tịch Hội đồng Cách mạng An-giê-ri viết: &quot;Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những nhà cách mạng đầu tiên đã chiến đấu chống những hình thức khác nhau của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc và là một trong những người mà bằng lời nói và hành động của mình đã đập tan cơ cấu của sự tàn bạo và góp phần vào sự nghiệp chính nghĩa của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới... Tấm gương của Người và cuộc chiến đấu của Người sẽ là kim chỉ nam hành động cho tất cả các dân tộc đang đấu tranh, cho thanh niên và cho các nhà lãnh đạo trên thế giới&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhân ngày sinh lần thứ 70 của Người, báo Pravđa (Liên Xô) viết: “Đồng chí Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ lừng danh của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông. Cuộc đời của Người là tấm gương hy sinh tận tụy phục vụ nhân dân, phục vụ sự nghiệp của giai cấp vô sản thế giới”. Còn Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp Marche khẳng định: “Nhà yêu nước vĩ đại của Việt Nam cũng không chỉ thuộc duy nhất về nhân dân nước ông. Hồ Chí Minh còn là người của phong trào cách mạng thế giới, người của phong trào cộng sản quốc tế. Vị nguyên thủ ấy, nhà lãnh đạo được mọi người tôn kính ấy, người đã làm cho bọn đế quốc phải kinh hồn khiếp vía ấy, chính là một người có đức tính khiêm tốn, chỉ nghĩ đến người khác”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Gớt-hô - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mỹ viết: “Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ thế giới vào lúc loài người đang ở bước ngoặt có tính chất cách mạng nhất. Đồng chí là một nhà kiến trúc và tạo hình làm nên quá trình cách mạng thế giới. Người am hiểu một cách vô cùng sáng suốt phương hướng và mục tiêu của quá trình đó. Người biết rõ động lực và sức mạnh của nó... Một mặt, Người thể hiện những nguyện vọng và mục tiêu dân tộc cao đẹp nhất của nhân dân Việt Nam, mặt khác Người là một người theo chủ nghĩa quốc tế chân chính và vĩ đại của giai cấp công nhân”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đặc biệt, năm 1971, cuốn sách “Ông Hồ” in bằng tiếng Anh - tác giả là nhà báo lừng danh Da vid Halberstam xuất bản tại Mỹ đã được đông đảo dư luận Mỹ và thế giới chú ý. Tác giả viết: “Ông Hồ Chí Minh là một nhân vật kỳ lạ của thời đại này. Hơi giống Granđi. Hơi giống Lê-nin. Hoàn toàn Việt Nam. Đối với dân tộc của ông và cả đối với thế giới ở thế kỷ XX này, có lẽ hơn hẳn bất kỳ ai khác, ông là hiện thân của cách mạng, của đổi mới và sự sáng tạo... Ông Hồ đã trải qua cách mạng, chiến tranh, phát triển sau chiến tranh, lại một cuộc chiến tranh nữa, mà không hề thanh lọc một người nào. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng độc nhất không có xáo trộn, chủ yếu là nhờ ở uy tín rất cao và đức tính quán xuyến của lãnh tụ”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1980, tại hội nghị quốc tế kỷ niệm 90 năm Ngày sinh  Chủ tịch Hồ Chí Minh  tổ chức tại Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng  Hòa bình thế giới R. Chanđra đã khẳng định: “Bất cứ ở nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó có Hồ Chí Minh  và ngọn cờ Hồ Chí Minh  bay cao. Ở bất cứ đâu nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới chống đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh  và ngọn cờ Hồ Chí Minh  bay cao”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Mười năm sau, tại hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh,  Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương đại diện đặc biệt của Tổng giám đốc UNESCO, tiến sĩ M.Amét đã viết: “Chỉ có ít nhân vật lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh  là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng ra khỏi trái đất này”.</span></p>
<p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Gần đây, tạp chí Time (Mỹ) đã bình chọn các nhân vật kiệt xuất của thế kỷ XX. Chủ tịch Hồ Chí Minh  đã được bình chọn là một trong 100 nhân vật đó. Đây là một trong những lời bình chọn: “Chủ tịch Hồ Chí Minh  là một trong những lãnh tụ và nhà cách mạng đã ghi dấu ấn vào lịch sử thế giới 100 năm qua. Một trong những con người vĩ đại đã góp phần thiết lập nên cơ cấu chính trị - xã hội của thời đại ngày nay” và trên trang  Web của tạp chí Time, nhà báo S.Kamow viết về  Chủ tịch Hồ Chí Minh  như sau: “Hồ Chí Minh gợi lên một hình ảnh  khiêm tốn và nhân từ như tên gọi Bác Hồ. Người là nhà cách mạng dày dạn kinh nghiệm, với lòng yêu nước nồng nàn, theo đuổi một mục tiêu duy nhất: Giành độc lập cho đất nước. Hồ Chí Minh đã kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa cộng sản, đã làm hoàn hảo nghệ thuật chiến tranh du kích đến mức độ vô cùng hiệu quả”. Và tác giả kết luận: “Với tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh  là biểu tượng tuyệt vời của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa cộng sản. Người đã đưa nghệ thuật chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích lên tầm cao mới. Ở tuổi 20 tôi đã có ấn tượng mạnh mẽ về con người mà hàng triệu người Việt Nam gọi bằng cái tên trìu mến  “Bác Hồ”. Một  con người mà mong ước lớn nhất của cuộc đời là làm sao cho dân tộc Việt Nam được độc lập tự do. Và Người đã cống hiến đến hơi thở cuối cùng vì nỗi ước ao cao cả ấy. Hồ Chí Minh không chỉ là một chính trị gia đại tài mà còn là một nhà tiên tri, nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà văn”.</span></p>
<p><strong><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn </span></strong><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>http://www.baobacgiang.com.vn</strong></span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần IV: Thế giới viết về Bác</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 3:05 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những tình cảm, ấn tượng tốt đẹp, thành kính không chỉ đối với nhân dân Việt Nam mà còn với cả nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác, xin điểm lại những bài viết, câu nói của bạn bè trên thế giới viết về Người.</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 4.909</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần IV: Thế giới viết về Bác</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 08:11:13 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=53</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Hồ Chí Minh trở về tổ quốc lãnh đạo toàn dân đấu tranh vì tự do, độc lập</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=39</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass74309CCC05334CB09414EA7CEB5A7167><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong bối cảnh lịch sử đó, người thanh niên yêu nước và cấp tiến Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh với thiên tài tử tuệ, phẩm chất, nhân cách và hoạt động thực tiễn của mình đã nghiên cứu, kế thừa và nâng lên tầm cao mới nguồn giá trị văn hóa tư tưởng truyền thống của dân tộc kết hợp với sự học hỏi, tiếp biến và phát triển biện chứng tinh hoa văn hóa tư tưởng, cách mạng của các nước phương Đông và phương Tây ở thế kỷ XVII, XVIII, đặc biệt là học thuyết cách mạng của C. Mác, VI. Lênin và kinh nghiệm cách mạng Tháng Mười Nga đã đề ra một hệ tư tưởng cách mạng sáng tạo mang tầm vóc một học thuyết về giải phóng dân tộc và phát triển đất nước vì độc lập tự do. Học thuyết cách mạng đó được các học viên do Hồ Chí Minh huấn luyện ở Quảng Châu đã được đưa về bí mật truyền bá và tổ chức nhân dân đấu tranh, làm dấy lên trong cả nước một phong trào đấu tranh dân tộc,<span style="">  </span>dân chủ ngày càng mạnh mẽ, dẫn đến sự ra đời của tổ chức cộng sản ở trên cả ba miền của đất nước.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thực hiện trọng trách lịch sử của mình, với tư cách người thầy dẫn đường, là phái viên của Quốc tế Cộng sản có quyền trực tiếp quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương và bằng thái độ chân thành, có sức thuyết phục lớn, Hồ Chí Minh đã làm cho đại diện các tổ chức đảng cộng sản đồng thuận thống nhất lập thành một đảng với tên gọi là Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, của dân tộc Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chánh cương vắn tắt và sách lược vắn tắt của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo đã được hội nghị thành lập Đảng nhất trí thông qua là một Cương lĩnh chính trị sáng tạo trong đó nổi án như một điểm son là tư tưởng độc lập tự do. Đó là mục tiêu quy tụ sức mạnh toàn dân đứng lên chiến đấu đánh đổ chế độ thực dân, giành lại quyền độc lập cho Tổ quốc, tự do cho toàn dân Việt Nam. Thực tiễn phong trào cách mạng năm 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xô Viết - Nghệ tĩnh là một minh chứng giá trị sáng tạo của ngọn cờ độc lập, tự do của Hồ Chí Minh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sự quyết đoán đúng đắn, sáng tạo của Hồ Chí Minh về việc thống nhất các tổ chức cộng sản tiền thân để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, về Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng...khác với quan điểm của Quốc tế Cộng sản. Tháng 10-1930. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Trần Phú chủ trì đã phê phán gay gắt những điều gọi là sai lầm nguy hiểm về chính trị và tổ chức của Hồ Chí Minh nên đã quyết định bỏ tên Đảng Cộng sản Việt Nam mà lấy tên là Đảng Cộng sản Đông Dương; thủ tiêu Chính cương văn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng thay bằng Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương… Từ đó trở đi, nhất là sau khi bị thực dân Anh bắt ở Hồng Kông được trả lại tự do, Hồ Chí Minh trở lại Liên Xô đã chịu đựng một hoàn cảnh phải &quot;sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng&quot;. Với mong muốn trở về Tổ quốc, Hồ Chí Minh đã tha thiết, yêu cầu Quốc tế Cộng sản giúp đỡ để thay đổi hoàn cảnh đau buồn này, ý nguyện đó được chấp nhận và Người đã quyết định rời khỏi Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa để trở về nước. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Về tổ quốc lãnh đạo toàn dân đấu tranh giải phóng dân tộc.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style=""> </span><span style="">     </span>Ngày 28-1-1941, Hồ Chí Minh đã vượt biên giới Trung - Việt đặt chân lên mảnh đất thiêng liêng tại địa đầu của Tổ quốc với biết bao cảm động của người con đã ba mươi năm xa nước. &quot;Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ, hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình…&quot;. Lúc này chiến tranh thế giới lần thứ hai đang diễn ra ác liệt. Ở Đông Dương, ách áp bức của Nhật - Pháp đã đặt vận mệnh dân tộc Việt Nam cũng như Lào, Miên trước nguy vong không lúc nào bằng. &quot;Nhân dân Việt Nam... ai cũng chán ghét cuộc đời nô lệ, ai cũng muốn độc lập, tự do và đang trong tư thế một người lên tiếng vạn người ủng hộ&quot;. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Về đến Pác Bó, Hà Quảng, Cao Bằng, Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng để quyết định thực hiện chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc cho phù hợp với nhu cầu cấp bách của Tổ quốc là đánh đuổi Nhật – Pháp, giành lại quyền độc lập dân tộc, nhân dân được tự do, tự mình làm chủ vận mệnh của mình. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước hết là phải khẳng định, củng cố và phát triển hơn nữa hệ quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh mang tầm vóc một học thuyết cách mạng giải phóng vì độc lập tự do và phát triển đường lối chiến lược của Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng. Nói đến vấn đề dân tộc theo quan điểm của Hồ Chí Minh đã được khẳng định trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng rằng nói đến vấn đề dân tộc tức là nói đến sự tự do độc lập của mỗi dân tộc. &quot;Các dân tộc sống trên cõi Đông Dương sẽ tùy theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành một dân tộc quốc gia tùy ý… Văn hóa của mỗi dân tộc sẽ được tự do phát triển, tồn tại và được bảo đảm. Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và coi trọng&quot;. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trên cơ sở nhận thức đó về vấn đề dân tộc, Đảng đã quyết định phải thay đổi chiến lược cách mạng cho phù hợp với nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân các nước trên bán đảo Đông Dương là phải đánh Pháp, đuổi Nhật làm cho các quốc gia dân tộc được độc lập tự do. Vì vậy cuộc cách mạng ở Đông Dương lúc bấy giờ không phải là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền phải đồng thời giải quyết hai vấn đề là phản đế và ruộng đất nữa, mà là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc chỉ giải quyết một vấn đề cần kíp là đánh đuổi Pháp Nhật mà thôi... Để đánh Pháp đuổi Nhật, các quốc gia dân tộc ở Đông Dương phải liên hiệp toàn dân không phân biệt giai cấp, tôn giáo, đảng phái xu hướng chính trị, đoàn kết chiến đấu giành quyền độc lập. Đối với Việt Nam, Đảng chủ trương thành lập Việt Nam độc lập đồng minh gọi tắt là Việt Minh - một mặt trận rộng rãi có tính chất dân tộc hơn hết, dễ hiệu triệu và nhất là có thể thực hiện được trong tình thế lúc bấy giờ. Sự nghiệp chống Pháp - Nhật do toàn dân đoàn kết tập hợp trong mặt trận Việt Minh để thực hiện nhiệm vụ cốt yếu đó của cách mạng do Đảng lãnh đạo. Sau khi đánh đuổi được Pháp - Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. &quot;Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung của toàn thể dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp - Nhật và những bọn phản quốc thì không được giữ chính quyền, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam, thảy đều được một phần tham gia giữ chính quyền... và bảo vệ chính quyền ấy&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chính phủ nước Vệt Nam Dân chủ Cộng hòa do quốc dân đại hội cử ra và lấy lá cờ đỏ sao vàng năm cánh làm lá cờ của toàn quốc. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 25-10-1941, Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) tuyên bố ra đời. Chương trình cứu nước của Việt Minh gồm 44 điểm nhằm thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào mong ước là:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn được độc lập.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Dựa trên cơ sở tư tưởng dân tộc vì độc lập tự do sáng tạo của Hồ Chí Minh. Đảng đã kịp thời thay đổi chiến lược cách mạng, gấp rút xây dựng cơ sở cách mạng, tổ chức lực lượng ở cả nông thôn và đô thị cùng với xây dựng lực lượng vũ trang, lập căn cứ địa cách mạng, đề ra khẩu hiệu và hình thức đấu tranh thích hơn khi tình thế đã thay đổi, dẫn dắt quần chúng đấu tranh đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 9-3-1945, cuộc đảo chính của Nhật lật đổ Pháp đã gây ra một cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc. Đảng phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước trong toàn quốc, thực hiện khẩu hiệu &quot;đánh đuổi phát xít Nhật bao gồm nhiều hình thức phong phú, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa từng phần giành chính quyền bộ phận đã diễn ra thắng lợi, nhất là ở Việt Bắc. Khu giải phóng Việt Bắc đã được thành lập. Tân trào được chọn làm thủ đô của Khu giải phóng. Ủy ban chỉ huy lâm thời khu giải phóng được thành lập trong Khu giải phóng, nhân dân bắt đầu được hưởng hạnh phúc cách mạng. Một nước Việt Nam mới đang nảy nở.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Giữa Tháng Tám năm 1945, thời cơ Tổng khởi nghĩa đã chín muồi. Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp từ ngày 13 đến 15-8-1945 ở Tân Trào đã quyết định phát động khởi nghĩa trong toàn quốc, giành chính quyền từ tay Nhật và lực lượng tay sai, đứng ở vị trí cầm quyền mà tiếp quân Đồng minh vào giải ngũ quân Nhật trên đất Đông Dương. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngay sau Hội nghị toàn quốc của Đảng, Đại hội quốc dân khai mạc theo chủ trương của Hồ Chí Minh đề ra tại Hội nghị lần thứ tám của Ban chấp hành Trung ương Đảng và thư của Người gửi đồng bào toàn quốc tháng 10-1944. Với tầm quan trọng mang tính pháp quyền. Hồ Chí Minh chỉ thị cuộc Đại hội Đại biểu quốc dân phải khai mạc chậm nhất vào trung tuần tháng 7-1945. Người đã từng cân nhắc giá trị của thời gian, của mỗi ngày, mỗi giờ trong lúc chuyển biến. Cho nên khi thấy công việc chậm trễ thì Hồ Chí Minh đã dùng đủ mọi cách để động viên tinh thần cán bộ phụ trách và thúc giục công cuộc khai hội. Người thấy rõ lúc bấy giờ, chậm một chút tức là bỏ lỡ cơ hội thuận lợi. Song vì liên lạc khó khăn, đường sá trắc trở mặc dù anh em đại biểu đã hết sức đi nhanh chóng mà mãi đến ngày 14 tháng 8 các đại biểu mới lần lượt đến Tân Trào. Những đại biểu đi sau tính ra đến ngày 16, 17 hoặc 18 mới đến đầy đủ. Vì vậy, không thể tiếp tục chờ được nữa nên Hồ Chí Minh quyết định khai mạc ngay trong ngày 16-8-1945 tại Tân Trào. Đại hội đã nhất trí tán thành chủ trương phát động khởi nghĩa của Đảng và hiệu triệu nhân dân toàn quốc, các đoàn thể cách mạng phải đứng lên phấn đấu thực hiện 10 chính sách lớn, trước hết là phải giành chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quốc dân Đại hội đã cử ra ủy ban dân tộc giải phóng dân tộc Việt Nam gồm 15 thành viên do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Trần Huy Liệu là Phó Chủ tịch. Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam được Quốc dân Đại hội giao cho nhiệm vụ như là Chính phủ lâm thời nước Việt Nam trước khi thành lập một Chính phủ chính thức thay mặt Quốc dân để giao thiệp với các nước ngoài và chủ từ mọi công việc trong nước. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style=""> </span><span style="">     </span>Đại hội Đại biểu quốc dân Tân Trào mang tầm vóc lịch sử như Quốc hội đầu tiên của Việt Nam mới. Đây là &quot;một tiến bộ rất lớn trong lịch sử đấu tranh giải phóng của dân tộc ta từ ngót một thế kỷ nay”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Asimét L.A.Patti (kchimèdes L.A.Patti) một sĩ quan tình báo Mỹ có mặt ở Hà Nội sau khi Tổng khởi nghĩa đã nhận xét rằng, khi biết tin phát xít Nhật đã sụp đổ Hồ Chí Minh &quot;đã hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng vì ông phải đảm bảo chiến được một chỗ đứng chân vững chắc ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn, ông Hồ biết rằng ông phải làm cho mọi người thấy rõ được cả tính chất hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và phát triển phong trào&quot;. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đây là một nét sáng tạo độc đáo của Hồ Chí Minh được Đảng và Tổng bộ Việt Minh nhất trí tổ chức thực hiện nhằm &quot;phát huy ý chí, sức mạnh dân lộc và tính hợp pháp của sự nghiệp đấu tranh giành quyền độc lập tự do bằng tổ chức Đại hội đại biểu quốc dân để đề ra quyết sách chuyển xoay vận nước bằng phương pháp khởi nghĩa vũ trang, xóa bỏ chế độ nô dịch thực dân, kiến lập chế độ cộng hoà dân chủ với cơ quan mang tính quyền lực cao nhất là Đại hội Đại biểu quốc dân và ủy ban dân tộc giải phóng do Đại hội lập ra&quot;. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thực hiện Nghị quyết của Hội nghị toàn quốc của Đảng, của Quốc dân Đại hội Tân Trào, Hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi &quot;Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta cuộc Tổng khởi<span style="">  </span>nghĩa đã nhanh chóng thắng lợi trong toàn quốc. Trước tình hình đó theo yêu cầu của ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam, Bảo Đại ra Tuyên cáo thoái vị để Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa điều khiển quốc dân. Tuyên cáo nêu rõ lúc này &quot;đoàn kết là sống, chia rẽ là chết, tất cả các giai cấp, các đảng phái cho đến cả người Hoàng phái cũng vậy, đều nên hợp nhất mà ủng hộ triệt để Chính phủ Dân chủ Cộng hòa giữ vững nền độc lập của nước nhà&quot;. Còn đối với cá nhân Bảo Đại sau hai mươi năm nai vàng bệ ngọc đã biết bao ngậm đắng nuốt cay, từ nay... lấy làm vui được làm dân tự do của một nước độc lập (II). Việc Hoàng đế Bảo Đại trịnh trọng tuyên bố từ bỏ địa vị của ông ta là đã hợp pháp hóa theo một số truyền thống ngày nay đã được thừa nhận trên thế giới. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 25-8-1945, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhiều ủy viên Việt Minh trong ủy ban dân tộc giải phóng đã tự nguyện rút ra lễ mời thêm nhân sĩ ngoài Việt Minh tham gia. &quot;Đó là một cử chỉ vô tư tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của lân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sự mở đầu của kỉ nguyên tự do độc lập. </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 2-9-1945, hàng chục vạn đồng bào nội, ngoại thành phố Hà Nội và các địa phương lân cận đã kéo về Ba Đình dự lễ tuyên bố độc lập. Thay mặt Chính phủ lâm thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời Tuyên ngôn khẳng định quyền dân tộc các nước trên thế giới là bất khả xâm phạm. Đó là: &quot;Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng: dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do&quot;. Các nguyên tắc dân tộc bình đẳng đã được các nước Đồng minh công nhận ở các Hội nghị Tê hê răng và cựu Kim Sơn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chính vì lẽ đó, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam bình trọng tuyên bố &quot;Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy&quot;. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Bản Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử đặt cơ sở pháp lý quan trọng đầu tiên khẳng định quyền tự do độc lập của dân tộc Việt Nam, của sự thành lập Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thắng lợi vĩ đại này là một minh chứng sáng tỏ về ý chí độc lập và khát vọng tự do, tinh thần bất khuất, trí tuệ của cộng đồng dân tộc Việt Nam, một dân tộc có một nguồn giá trị truyền thống về văn hóa tư tưởng quý báu đã hun đúc trong mấy ngàn năm lịch sử, được kế thừa và phát triển lên tầm cao mới trong thời kỳ đấu tranh giành lại quyền tự do độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đặc biệt được thể hiện phong phú và toàn diện trong những năm tháng khi Người được trở về nước từ mùa Xuân năm 1941. Ý nguyện cao cả và thiêng liêng cửa Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh tìm đường ra nước ngoài rồi &quot;trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập&quot; đã thành hiện thực bằng thắng lợi của cách mạng tháng Tám và sự thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước chung của cả toàn thể dân tộc, mở ra một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc - kỷ nguyên tự do, độc lập, một thời đại mới rực rỡ tên vàng trong lịch sử quang vinh của dân tộc - thời đại Hồ Chí Minh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhận thức về giá trị lịch sử vĩ đại của sự kiện Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tác giả bài: &quot;Sự kiện lịch sử và tác dụng lịch sử của nó&quot; Của Phạm Văn Đồng đã viết, toàn bộ lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng là một &quot;pho lịch sử bằng vàng&quot; thì sự kiện quan trọng bậc nhất được viết bằng chữ vàng chói lọi đó là cuộc Cách mạng Tháng Tám (năm 1945), đưa đến sự ra đời của nước Việt Nam mới - nước Cộng hòa Dân chủ Vệt Nam. Đây là cái móc đánh dấu sự quá độ từ chế độ áp bức, bóc lột trong cả lịch sử nước ta chuyển sang một chế độ hoàn toàn khác, một chế độ mới chưa có ở nước ta và ở nhiều nước, một chế độ đảm bảo độc lập, tự do, hạnh phúc cho mỗi một người và cho cả cộng đồng dân tộc một chế độ hướng tới đỉnh cao ước mơ của con người và loài người: &quot;sự phát triển tự do và toàn diện của mọi người&quot;. </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ánh sáng các dòng chữ vàng lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám tiếp tục sát đường cho toàn dân Việt Nam chiến đấu để giữ vững quyền tự do và độc lập và đang vượt qua mọi thách thức đã giành được những thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng và phát triển Việt Nam thành một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh, xứng đáng một nước có hàng ngàn năm văn hiến, sánh vai với các nước tiên tiến trên thế giới, dưới ngọn cờ của học thuyết cách mạng Hồ Chí Minh.</span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p><strong>Nguồn </strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Giáo dục lý luận. - 2011. - Số<span style="">  </span>tháng 2.- Tr. 39 – 43</strong></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 2:05 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trên cơ sở lịch sử hàng ngàn năm văn hiến và nhu cầu giải phóng của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới cũng như lịch sử tiến hóa của nhân loại, Hồ Chí Minh đã nêu ra một chân lý về quyền dân tộc thiêng liêng rằng: “Tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc... Hễ một dân tộc đã đứng lên kiên quyết đấu tranh cho Tổ quốc họ thì không ai, không lực lượng gì chiến thắng được họ”(1). Vì vậy, khi nói đến vấn đề dân tộc là phải nói đến quyền tự do độc lập của mỗi dân tộc và dân tộc đó phải tự quyết định con đường và phương thức thực hiện sự nghiệp cách mạng giải phóng và phát triển đất nước vì độc lập tự do phù hợp với xu thế tiến hóa của thời đại. Từ giữa thể kỷ XIX, Việt Nam bị đế quốc Pháp xâm lược và thống trị. Mất nước, nhân dân Việt Nam mất hết quyền tự do, độc lập. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc thực dân Pháp diễn ra ngày càng gay gắt. Với ý chí độc lập và khát vọng tự do, nhân dân Việt Nam đã liên tiếp đấu tranh song thiếu một hệ tư tưởng và đường lối chiến lược cách mạng khoa học phù hợp ý nguyện chung của các giai cấp tầng lớp xã hội, tôn giáo và xu thế tiến hóa của thời đại nên chưa thể giành được thắng lợi.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.727</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 07:13:14 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=39</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Những ngày đầu Bác Hồ chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=45</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass76E79C17A97241E9BC733F2184AC94FA><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Bác về Vạn Phúc vào một đêm đông, trên chiếc xe Xi-trô-oen màu đen, mặc áo dạ, do đồng chí Trần Đăng Ninh dẫn đường, gặp đồng chí Nguyễn Tấn Phúc ở đầu làng. Đến nhà ông Cả Dương, Bác ở trong một căn buồng nhỏ trên gác hai, bên ngoài là ba gian rộng rãi hơn. Ở đây, Bác thường gặp gỡ, trao đổi công việc với các đồng chí trong Ban thường vụ Trung ương Đảng, như đồng chí Trường Chinh, đồng chí Võ Nguyên Giáp... và viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, 6 giờ 45 phút tối ngày 19-12-1946, sau khi đã họp với Ban thường vụ Trung ương Đảng mở rộng, quyết định phát động toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh rời làng Vạn Phúc chuyển về thôn Vân Xá, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thôn Vân Xá, còn có tên gọi Xuyên Dương, cách Hà Nội chừng 30km, nằm ven bờ con sông Đáy (thời khởi nghĩa Hai Bà Trưng gọi là sông Hát), có một cây đa rất to, 7 rễ phụ tỏa xuống đê sông Đáy, trông rất hùng vĩ. Dân trong vùng quen gọi là &quot;Cây đa bảy rễ&quot;. Chính ô tô chở Bác, khi về đến &quot;Cây đa bảy rễ&quot; thì dừng lại, ẩn tại đó để Bác về ở nhà anh Nguyễn Huy Chúc, một gia đình khá giả, có lòng yêu nước. Đồ đạc Bác mang theo gồm chăn màn có từ lúc ở Hà Nội, một chiếc ba lô vuông đựng áo quần. Đặc biệt là cái máy chữ Hermes Baby, có từ ngày Bác ở Trung Quốc về nước (năm 1941), cũng được Bác mang theo, Bác ở nhà Chúc từ đêm 19-12-1946 đến ngày 13-1-1947. Tại ngôi nhà này. Bác đã viết Lời kêu gọi gửi nhân dân Việt Nam, nhân dân Pháp, nhân dân các nước đồng minh chống phát xít để tố cáo thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, viết tài liệu &quot;Câu hỏi và trả lời&quot; nhằm hướng dẫn cán bộ khi vận động quần chúng: kháng chiến bao giờ thắng lợi? Toàn dân kháng chiến nghĩa là thế nào?.... viết Thư gửi kiều dân và tù binh Pháp nhân lễ Nô-en: đồng thời gửi đồng bào công giáo kêu gọi lương, giáo đoàn kết để kháng chiến chống thực dân Pháp đi đến thắng lợi, viết Lời kêu gọi đồng bào cả nước nhân ngày đầu năm dương lịch 1947, viết &quot;Một vài ý kiến về các ủy ban kiến thiết, động viên dân chúng tăng gia sản xuất&quot;. Viết Thư nhắc tổ chức các ủy ban tản cư, viết Thư gửi Chinh phủ Pháp, tướng Lơ Cléc yêu cầu chấm dứt chiến tranh, viết Thư gửi Mu-tê, người đã cùng Bác ký Tạm ước ngày 14 - 9-1946&quot; đề nghị gặp gỡ để giải quyết cuộc chiến tranh, viết Thư khen các chiến sĩ bị thương trên các mặt trận đánh quân Pháp, viết Thư gửi bác sĩ Nguyên Đình Tụng, Giám đốc Sở y tế Bắc Bộ, thăm hỏi về việc con trai bác sĩ đã hy sinh trong chiến đấu với quân pháp, viết Thư gửi Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp tuyên bố lập trường 7 điểm của Chính phủ ta về chấm dứt chiến tranh, viết Thư gửi lãnh tụ và nhân dân các nước Trung Hoa Ấn Độ, Mi-an-ma và toàn thể các nước Á Đông, viết Thư kêu gọi nhân dân cả nước nhân ngày Tết Đinh Hợi, viết Thư cho đồng chí Hoàng Hữu Nam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ nói về âm mưu mở rộng chiến tranh của thực dân Pháp... Cũng tại đây, Bác đã lập kế hoạch tổ chức cuộc họp Hội đồng Chính phủ mở rộng tại một địa điểm trong tỉnh Hà Đông bàn những việc trọng đại để đưa cả nước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tối ngày 13-1-1947, Bác cho mời vợ chồng anh Chúc vào gặp. Bác bế đứa con gái đầu lòng của anh chị mới sinh, hỏi thăm sức khỏe chị Chúc, dặn chị uống đều đặn chai rượu canh-ki-na Bác tặng. Anh chị Chúc xin Bác đặt tên cho con là Minh. Bác đồng ý và cho thêm chữ Kim để đệm. Kim là tên đồng chí giúp việc cho Bác lúc đó. Bác nói lời tạm biệt với anh chị Chúc. Đồng chí Trần Đăng Ninh đưa Bác ra xe, đi về thôn Phú Đa, xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đoàn của Bác lúc đó có 9 người (có hai đồng chí nữ), được cải trang là toán người từ Hà Nội tản cư, về đến thôn Phú Đa khoảng 10 giờ đêm 13-1-1947. Ngôi nhà Bác ở là một nhà tranh tre đang làm dở, chưa dùng, có 9 gian, tường đắp đất ba phía, còn một để trống. Bác được bố trí ở gian đầu hồi bên trái, có giường lót dạ. Gia chủ chỉ biết người lớn tuổi nhất, trông như một lão nông là Cụ Cả. Bác ít ra ngoài, hàng ngày vẫn làm việc theo giờ giấc khẩn trương, ăn cơm cùng với cả đoàn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những ngày ở Phú Đa, Bác đã viết Thư gửi đồng chí Hoàng Hữu Nam, nhắc nhở việc tiếp tế cho anh em ta trong vùng địch, nhắc nhở viết văn bản phải ngắn gọn, không dùng chữ Tây, viết Thư kêu gọi “tiêu thổ kháng chiến&quot; ký sắc lệnh thành lập Nha thể dục trung ương, sắc lệnh cử đồng chí Nguyễn Sơn làm Cục trưởng Cục Quân huấn, sắc lệnh sửa đổi thời hạn giam cứu, viết Thư gửi các chiến sĩ Trung đoàn Thủ Đô...</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Bác ở đây đúng vào dịp nhân dân ta đón Tết Đinh Hợi năm 1947. Những ngày Tết, tâm trạng Bác vui vẻ. Đêm giao thừa, Bác lên xe đi đến đài <i>Tiếng nói Việt Nam</i>, đặt trong hang núi Chùa Trầm, đọc thơ chúc mừng năm mới, cùng đón năm mới với cán bộ, nhân viên của đài. Sáng mồng một Tết, Bác đi chúc Tết các gia đình trong thôn Phú Đa. Tối đến, Bác tiếp các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh... đến chúc Tết. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 2-2-1947, sau 19 ngày ở thôn Phú Đa, Bác lại tạm biệt nhân dân ở đây lên đường tiếp tục đi chỉ đạo toàn dân, toàn quân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến ngày toàn thắng.</span></p>
<p><strong>Nguồn</strong> <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Sự kiện &amp; nhân chứng. – 2004. – Số 129 (tháng 9). – Tr. 3, 15</strong></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 2:45 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trước ngày 19-12-1946, khi tình hình Hà Nội đã trở nên căng thẳng, Bác Hồ đến ở tại thôn Vạn Phúc, thị xã Hà Đông. Đồng chí Trần Đăng Ninh, phụ trách bảo vệ Bác đã yêu cầu đồng chí Nguyễn Tấn Phúc, người làng Vạn Phúc tìm địa điểm cho cấp trên về ở. Vốn quen biết đồng chí Trần Đăng Ninh trong nhà tù Sơn La, được giao nhiệm vụ, đồng chí Nguyễn Tấn Phúc đã đến liên hệ với ông Cả Dương, người thôn Vạn Phúc và được ông vui vẻ nhận lời.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 5.915</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 07:51:11 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=45</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Thầy giáo Nguyễn Tất Thành</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=9</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass20C45FE9ECEA4F178EB6039729AD07ED><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đến năm 1909, anh lại theo cha vào Bình Định. Tại đây, anh được vào học Trường tiểu học Pháp - Việt Qui Nhơn. Một thời gian sau người cha lại bị triệu hồi về Huế. Từ đây, mới 19 tuổi, người thanh niên Nguyễn Tất Thành bắt đầu một cuộc sống tự lập.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Được mọi người giúp đỡ, khi học xong anh không ra Huế mà quyết định đi tiếp xuống phía Nam. Trong bức thư gửi về quê nhà cho chị Thanh và anh cả Khiêm, anh Thành tâm sự: &quot;Em đã nhận được một chân dạy học ở Trường Dục Thanh, Phan Thiết... Em sẽ ở đây một thời gian để rồi đi tiếp vào Sài Gòn&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trên bục giảng, thầy Thành hết lòng truyền đạt tri thức và tư tưởng tiến bộ, gieo vào tâm trí thế hệ tương lai một nỗi niềm trăn trở về vận mệnh đất nước. Thầy dạy: &quot;Chữ là mắt. Người không có chữ coi như bị mù. Không có chữ con người ta bé nhỏ trước tất cả và mãi mãi sẽ là vật sai khiến, vật hi sinh của bọn thống trị. Cho nên các trò phải học, học chữ để nên người, để giúp dân cứu nước&quot;.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tuy không xác định ở Phan Thiết lâu dài song thầy Thành vẫn sống và làm việc hết mình với những con người nơi đây. Với học trò, thầy như người bạn tin cậy, luôn luôn giúp đỡ, ôn tồn khuyên bảo khi học trò có lỗi; khuyến khích khi học trò tiến bộ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những ngày nghỉ, thầy đưa học trò đi tham quan để bổ sung kiến thức về xã hội và dân tộc VN. Thầy lui tới thăm hỏi, gắn bó với bà con nông dân chân lấm tay bùn và người xung quanh. Thầy cắt tóc, tắm gội cho các em nhỏ, têm trầu giúp các cụ già... Và qua đó thầy hiểu hơn về cảnh sống cơ cực, lầm than thống khổ của đồng bào mình lúc ấy.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">...Một hôm tiếng trống Trường Dục Thanh ngân vang trong sương sớm, học trò tề tựu đông đủ nhưng thầy Thành không đến. Mọi người lo lắng. Và tất cả cùng hồi hộp lắng nghe thầy hiệu trưởng đọc bức thư mà thầy Thành để lại.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Bức thư có đoạn viết: &quot;Các trò thân yêu, thầy biết các trò rất yêu quí thầy. Nhưng thầy không thể ở lại Trường Dục Thanh lâu hơn được nữa. Thầy phải đi, đi rất xa. Ước mơ về một ngày mai nước nhà độc lập đang kêu gọi thầy dấn bước ra đi... Thầy đi xa nhưng lòng vẫn nhớ, vẫn gần các em. Thầy mong các em học giỏi, chăm ngoan, biết kính người già, nhường em nhỏ, yêu quí mọi người&quot;. Phải chăng để tránh một cuộc chia tay nặng lòng kẻ ở người đi nên thầy Thành đã lên đường đi vào Sài Gòn một cách lặng lẽ...</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Và ngày 5-6-1911, chiếc tàu buôn Latusơ - Tơrơvin buông hồi còi dài chào từ biệt bến cảng Nhà Rồng mang theo người thầy giáo, người thanh niên yêu nước, người con ưu tú của dân tộc VN Nguyễn Tất Thành với tên mới: Văn Ba.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ người thanh niên yêu nước trở thành người thầy dạy học, người thầy cách mạng, thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã sống cuộc sống người thầy đẹp đẽ như thế.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn <span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"><a href="http://vietbao.vn/"><span style="color:black;text-decoration:none;text-underline:none">http://vietbao.vn</span></a>. </span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">–</span><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">2007. –Ngày 21 tháng 11</span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần I: 1890 - 1911</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/06/2011 3:30 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Theo cha (cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc) vào Huế, người thanh niên Nguyễn Tất Thành được học Trường Quốc Học - một ngôi trường dành cho những bậc công tử và những người có tài thời ấy.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 4.916</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần I: 1890 - 1911</category>
      <pubDate>Mon, 06 Jun 2011 08:38:21 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=9</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Cách mạng lào mãi mãi ghi nhớ công ơn của Chủ tịch Hồ Chí Minh</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=51</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassE2C9187C571C40EDA067900650B154D1><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><i><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trong Điếu văn đọc tại lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh do Ban Chấp hành Trung ương Đảng dân Lào tổ chức tại Sầm Nưa (Lào), ngày 5-9-1969, Cố Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Lào Cayxỏn Phômvihản đã ca ngợi công ơn của Người. Tạp chí lịch sử Đảng trân trọng giới thiệu với bạn đọc. Đầu đề do BBT đặt.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Đồng chí Hồ Chí Minh mến!</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Hôm nay, Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Nhân dân Lào tổ chức buổi lễ truy điệu Đồng chí với lòng đau buồn và thương tiếc vô hạn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Đồng chí đã vĩnh biệt chúng tôi nhưng tên tuổi và tinh thần của Đồng chí mãi mãi sống trong lòng chúng tôi.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trong hơn nửa thế kỷ qua, tên tuổi, đạo đức và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gắn liền với cuộc sống và cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, gắn liền với phong trào cộng sản quốc tế, phong trào đấu tranh vì độc và tự do của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới... Đồng chí đã hiến dâng cả cuộc đời mình, đã hy sinh tất cả cho cách mạng, cho Tổ quốc, cho nhân dân. Đồng chí đa nêu cao đạo đức cách mạng cao quý, tác phong sáng chói và tinh thần quốc tế vô sản, kiên quyết cách mạng cho đến phút cuối cùng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:34.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 1.2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cuộc đời cách mạng của Đồng chí đầy gian khổ và nguy nan, nhưng dù trong lao tù của địch, dù trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, thiếu thốn, dù bị địch bao vây, lùng bắt, dù trong chiến tranh hay hòa bình, dù ở tiền tuyến hay hậu phương, bất kỳ ở đâu và lúc nào, Đồng chí cũng luôn luôn nêu cao khí thế và tinh thần lạc quan cách mạng của người chiến sĩ cộng sản trung thành với chủ nghĩa Mác - Lê nin, đấu tranh không ngừng cho cách mạng, tin tưởng và thắng lợi cuối cùng, tiến công liên tục để chiến thắng kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, lý tưởng cao cao cả của mình.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:34.8pt;margin:0cm 0cm 6pt 1.2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Đó là tấm gương sáng chói của tinh thần cách mạng triệt để, tinh thần tấn công cách mạng vô cùng dũng cảm, kiên quyết, bền bỉ dẻo dai cho những người cộng sản nói chung và nhất là đối với những người cộng sản Lào.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.05pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.95pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trong đời hoạt động cách mạng của mình, lúc nào Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nghĩ đến Tổ quốc và nhân dân, Đồng chí đã nói: <span style=""> </span>“Chừng nào Tổ quốc và nhân dân chưa được giải phóng, tôi ăn không ngon, ngủ không yên - Không có gì quý hơn độc lập và tự do - Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu để mất nước, không chịu làm nô lệ''. Do đó, Đồng chí đã lấy việc phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân làm mục tiêu cao cả cho mọi hoạt động của mình, đã chịu gian khổ trước nhân dân và hưởng hạnh phúc sau nhân dân. Đồng chí đã quán triệt sâu sắc rằng cách mạng là sự nghiệp cửa quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đồng chí đã dạy rằng lực lượng quần chúng là rất vĩ đại, có quần chúng làm thì mọi việc đều nên, do đó phải tin tưởng và dựa vào quần chúng, phải kiên trì vận động quần chúng đứng dậy làm cách mạng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.05pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.95pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Những người cách mạng chúng ta phải ghi nhớ và thực hiện thật đúng lời dạy đó.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0cm 0cm 6pt 0.95pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Dù ở đâu và lúc nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn luôn nhắc nhở những người cách mạng là muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải đoàn kết trong nội bộ Đảng, phải đoàn kết toàn dân. Đồng chí đã nói là 3 dân tộc Việt Nam, Khmer và Lào phải đoàn kết để cùng nhau đấu tranh, đồng thời phải đoàn kết rộng rãi với các dân tộc bị áp bức trên <span style=""> </span>toàn thế giới, kết hợp chặt chẽ tinh thần yêu nước chân chính với tinh thần quốc tế vô sản, đó là sức mạnh hùng hậu để đấu tranh với kẻ địch, đưa thắng lợi lại cho cách mạng. Đây là lời giáo huấn rất quý báu mà những người cộng sản chúng ta phải ghi nhớ và thực hiện thật đúng đắn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.05pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.95pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Điều nổi bật nhất ở Chủ tịch Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng và tác phong cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, trung với Đảng, hiếu với dân. Từ khi còn là một nhà cách mạng bình thường cho đến khi trở thành Chủ tịch Đảng và Chủ tịch nước, đồng chí Hồ Chí Minh đã không ngừng nêu cao ngọn cờ đạo đức cách mạng và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là tấm giương trong sáng về mọi mặt, soi rọi trong mọi công tác. Đồng chí đã hết lòng đoàn kết thương yêu đồng chí, làm việc không biết mệt mỏi, cân nhắc kỹ việc lớn, không bỏ qua việc nhỏ, sống một cuộc đời trong sạch, khiêm tốn và giản dị, ăn ở như quần chúng, chan hoà gắn bó với quần chúng. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.3pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.7pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Đây là một tấm gương quý báu mà những người cộng sản phải noi theo nếu muốn hoàn thành sự nghiệp cách mạng của mình.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.3pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.7pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Với những đức tính cao quý đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều thành quả to lớn trong sự nghiệp cách mạng của mình như xây dựng Đảng Cộng sản Đông Dương trước đây và Đảng lao động Việt Nam ngày nay, đưa chủ nghĩa Mác- Lê nin một chủ nghĩa cách mạng triệt để và Đông Dương, tổ chức Mặt trận Dân tộc Thống nhất và quân đội nhân dân, tổ chức và lãnh đạo Cách mạng tháng Tám thắng lợi, sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lãnh đạo nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp trước đây và chống đế quốc Mỹ hiện nay để giải phóng miền Nam Việt Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất đất nước, giành được thắng lợi to lớn và vẻ vang trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Đồng chí cũng đã đóng góp quan trọng vào việc tăng cường sự lớn mạnh của phe xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:35.3pt;margin:0cm 0cm 6pt 0.7pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Riêng đối với Lào chúng ta, từ ngày thành lập Đảng cộng sản Đông Dương, Đồng chí Hồ Chí Minh luôn luôn lo lắng đến cách mạng Lào. Thực hiện lời chỉ dẫn của Đồng chí, trước tình hình hết sức gay go, Đảng bộ Đảng cộng <span style=""> </span>sản Đông Dương ở Lào đã ra sức vận động cách mạng, đưa lại kết quả là lãnh đạo nhân dân Lào đứng lên làm Cách mạng tháng tám, cướp chính quyền thắng lợi, tiếp đó, trong công cuộc đấu tranh cứu nước của Lào, đồng chí Hồ Chí Minh đã luôn luôn giúp đỡ một cách tận tình. Ngoài việc gửi cán bộ và bộ đội tình nguyện Việt Nam sang Lào, Đồng chí còn chỉ dẫn rất sát sao về đường lối và chính sách.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.2pt;margin:0cm 0cm 6pt 4.8pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Năm 1946, Đồng chí đã chỉ cho thấy là phải chuyển hướng từ thành thị về nông thôn, xây dựng cơ sở nhân dân, phát động quần chúng nông dân.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.2pt;margin:0cm 0cm 6pt 4.8pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Nhờ đó, các khu căn cứ kháng chiến được xây dựng nhiều nơi, trình độ giác ngộ của nhân dân Lào ngày càng được nâng cao. Điều này, chúng ta sẽ tiếp tục thực hiện; chúng ta sẽ dựa vào quần chúng, chúng ta sẽ đi theo đường lối quần chúng, kiên trì vận động toàn dân Lào đứng dậy đấu tranh tự giải phóng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.2pt;margin:0cm 0cm 6pt 4.8pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Năm 1948, Đồng chí đã chỉ cho chúng ta thấy là phải xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, lấy chất lượng làm chính, lấy chính trị làm gốc và chú ý đến đời sống vật chất và tinh thần của chiến sĩ. Làm theo lời chỉ dẫn này, lực lượng vũ trang nhân dân của chúng ta từ những tổ du kích, đội võ trang tuyên truyền phân tán, đã ngày càng lớn mạnh, chúng ta sẽ tiếp tục xây dựng quân đội của chúng ta thật lớn mạnh, làm công cụ sắc bén của Đảng và phục vụ nhân dân.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.2pt;margin:0cm 0cm 6pt 4.8pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cũng trong năm đó, đồng chí Hồ Chí Minh còn chỉ dẫn cho chúng ta xây dựng căn cứ địa tầng vùng, từng tỉnh và căn cứ địa Trung ương. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.2pt;margin:0cm 0cm 6pt 4.8pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Thực hiện lời chỉ đẫn trên, chúng ta đã xây dựng nhiều căn cứ địa trong cả nước và đã trở thành vùng giải phóng bao gồm 213 đất đai. Chúng ta sẽ tiếp tục xây dựng và củng cố vùng giải phóng của chúng ta trở thành căn cứ địa vững chắc cho công cuộc giải phóng toàn quốc và làm chỗ dựa giúp cho nhân dân các nước láng giềng tiến hành cách mạng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.2pt;margin:0cm 0cm 6pt 4.8pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Năm 1950, đồng chí Hồ Chí Minh lại chỉ dẫn chúng ta là phải đoàn kết tập hợp mọi dân tộc, mọi tầng lớp vào trong Mặt trận thống nhất trên cơ sở liên minh công nông. Thực hiện đường lối đúng đắn trên, chúng ta đã thành lập Mặt trận Itsala trước đây và Mặt trận Lào yêu nước ngày nay. Chúng ta đã đoàn kết các dân tộc, các tầng lớp và các lực lượng yêu nước, liên minh với lực lượng trung lập yêu nước. Chúng ta sẽ tiếp tục củng cổ và mở rộng Mặt trận dân tộc chống Mỹ, hình thành một lực lượng chính trị to lớn, bảo đảm cho thắng lợi trước mắt cũng như lâu dài của cách mạng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.2pt;margin:0cm 0cm 6pt 4.8pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở chúng ta là làm cách mạng thì phải dựa vào sức mình; củng cố và phát triển lực lượng của mình là chính; phải xây dựng và phát huy tinh thần tự lực cánh sinh, tinh thần độc lập, tự chủ và tự tin ở mình. Trong thời gian hòa hợp dân tộc, Đồng chí đã chỉ cho chúng ta thấy là vấn đề hoà hợp dân tộc ở lào chỉ là vấn đề sách lược; còn vấn đề bảo vệ, củng cố và phát triển lực lượng cách mạng là vấn đề chiến lược. Làm theo lời chỉ dẫn sáng suốt đó của đồng chí Hồ Chí Minh qua các lần hoà hợp lực lượng cách mạng Lào không những được duy trì mà còn phát triển lớn mạnh hơn. Chúng ta sẽ tiếp tục đề cao tinh thần tự lực cánh sinh, ra sức phát triển lực lượng chủ quan của cách mạng Lào, đó là nhân tố quyết định thắng lợi cuối cùng của cách mạng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:31.2pt;margin:0cm 0cm 6pt 4.8pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cuối năng 1950, căn cứ vào sự lớn mạnh của cuộc đấu tranh cách mạng Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn cho chúng ta là cần phải tổ chức một Đảng Mác - Lênin chân chính của Lào để lãnh đạo cách mạng Lào. Đảng phải có sự đoàn kết thống nhất về tư trang và hành động, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc vô điều kiện, tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc tập thể, có kỷ luật sắt và tự giác. Đảng phải có đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức cách mạng và có đầy đủ khả năng, cán bộ phải là đầy tớ của dân. Thực hiện nguyên tắc trên đây, chúng ta đã thành lập Đảng Nhân dân Lào; mặc dù còn non trẻ nhưng trong mọi tình huống khó khăn phức tạp, Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng Lào đạt được thắng lợi ngày càng to lớn, đội ngũ cán bộ của Đảng ta ngày càng phát triển và được tôi luyện trong lò lửa đấu tranh ác liệt. Chúng ta sẽ ra sức phát triển củng cố Đảng và đội ngũ cán bộ của Đảng ngày càng vững mạnh, nhất là ra sức bảo vệ và tăng cường đoàn kết nội bộ chặt chẽ hơn nữa để Đảng ta đủ khả năng làm tròn sứ mạng lịch sử mà Tổ quốc, nhân dân và giai cấp đã giao phó. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Những điều trên đây nói lên công lao vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh không những đối với đất nước Việt Nam, đối với phong trào cộng sản quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc mà còn đối với Đảng ta, với nhân dân ta. Lịch sử cách mạng Lào mãi mãi ghi công ơn của đồng chí Hồ Chí Minh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Đồng chí rất xứng đáng là nhà yêu nước vĩ đại, là lãnh tụ vĩ đại, vô cùng kính mến của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, là một nhà Mác xít - Lêninnít lỗi lạc, là một chiến sĩ kiên cường và sắc bén của phong trào cộng sản quốc tế, là bạn chiến đấu thân thiết của nhân dân Lào và của các dân tộc đang đấu tranh cho độc lập và tự do.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần làm cho những người cộng sản và nhân dân Lào chúng tôi rất đau buồn. Đồng chí Hồ Chí Minh từ trần, đó là một tổn thất to lớn đối với Đảng lao động Việt Nam; phong trào cộng sản quốc tế đã mất đi một chiến sĩ cách mạng lão thành, thiên tài và giàu kinh nghiệm. Phong trào cách mạng lào và phong trào giải phóng dân tộc đã mất đi một người bạn chiến đấu thân thiết nhất của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, chúng ta mất đi vị lãnh tụ vĩ đại vô cùng kính yêu.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vĩnh biệt chúng ta, nhưng sự nghiệp vĩ đại của Đồng chí nhất định sẽ được kế tục thắng lợi. Dưới sự lãnh đạo và xây dựng của Đồng chí trong thời gian qua, lực lượng cách mạng Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, là cơ sở vững chắc và là di sản quý báu cho Đảng và nhân dân Việt Nam trong việc tiếp tục sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Đồng chí.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cách mạng Lào do Đảng ta lãnh đạo đang bước vào một giai đoạn mới. Tương quan lực lượng giữa ta và địch đang thay đổi ngày càng có lợi cho ta. Ta vẫn ở thế tấn công, địch rơi vào thế bị động phòng ngự và bị cô lập hơn bao giờ hết về chính trị. Nhưng chúng vẫn ngoan cố. Chúng sẽ dùng mọi thủ đoạn nham hiểm hòng cứu vãn những thất bại nặng nề của chúng, hạn chế thắng lợi của ta. Trước tình hình đó, để giành thắng lợi to lớn hơn nữa cho đất nước, Trung ương Đảng ta đã chỉ thị đẩy mạnh việc thi hành Nghị quyết 16 của Trung ương, kiên quyết tấn công địch một cách mạnh mẽ và liên tục, giành thắng lợi liên tiếp, phát huy cao độ nhân tố chủ quan của cách mạng lào. Chúng ta phải phấn đấu thực hiện chỉ thị đó thật tốt, đạt kết quả vượt mức. Chúng ta phải quyết tâm khắc phục các nhược điểm của mình, phải chống mọi tư tưởng lệch lạc, phải nêu cao tinh thần tấn công địch trên mọi mặt và trong mọi công tác, tinh thần đấu tranh chống Mỹ cứu nước triệt để, chống tư tưởng sợ chết, ỷ lại, không tin ở sức mình, ảo tưởng hoà bình, cầu an, chờ đợi. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Hôm nay, trong buổi lễ trọng thể này, để tỏ lòng thương tiếc và kính mến Chủ tịch Hồ Chí Minh để tiếp tục sự nghiệp vĩ đại của đồng chí Hồ Chí Minh, toàn thể những người cộng sản Lào chúng ta hứa sẽ học tập tư tưởng, tinh thần cách mạng triệt để, đạo đức tác phong cách mạng cao quý của đồng chí Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ mãi mãi đoàn kết với Đảng lao động Việt Nam, thắt chặt mối quan hệ với cán bộ và bộ đội tình nguyện Việt Nam; triệt để nêu cao và phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của mình trong mọi công tác của Đảng, kiên quyết lãnh đạo cách mạng Lào dũng cảm và sáng suốt đến thắng lợi hoàn toàn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Đồng chí Hồ Chí Minh kính mến!</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Trong giây phút này, với lòng xúc động thương tiếc và đau buồn vô hạn, chúng tôi xin chào vĩnh biệt Đồng chí lần cuối cùng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:36pt;margin:0cm 0cm 6pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"><strong>Nguồn</strong><span style="font-size:smaller"> <span lang=EN-US style="font-family:'Times New Roman';color:black"><strong>Lịch sử đảng. – 2008. – Số 9. – Tr. 51-54</strong></span></span></span></p>
<p> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần IV: Thế giới viết về Bác</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 3:00 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Lời BBT: Mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, thủy chung, trong sáng giữa hai nước Việt Nam - Lào được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản cùng các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp,đã trở thành tài sản vô giá, là nhân tố quan trọng bảo đảm cho sự phát triển lớn mạnh cách mạng mỗi nước.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.296</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần IV: Thế giới viết về Bác</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 08:04:38 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=51</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nguyễn Ái Quốc - Người tạo dựng nền tảng phát triển của cách mạng Đông Dương</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=20</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass9B9857D3D9CD4171A73A8CDE69003A9D><p>
<table class=MsoNormalTable border=0 cellspacing=3 cellpadding=0 width=1 align=left style="width:0.75pt">
    <tbody>
        <tr style="">
            <td style="border-bottom:#ece9d8;border-left:#ece9d8;padding-bottom:1.5pt;background-color:transparent;padding-left:1.5pt;padding-right:1.5pt;border-top:#ece9d8;border-right:#ece9d8;padding-top:1.5pt">
            <p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><img width=250 height=192 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-6/NAQ762011_84211.jpg"></span></p>
            <p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt;mso-element:frame"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (8-2-1966). Ảnh tư liệu</span></p>
            </td>
        </tr>
    </tbody>
</table>
</p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau nhiều năm nghiên cứu lý luận cách mạng và khảo sát đời sống chính trị, xã hội tại nhiều nước đế quốc và thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc không dừng lại ở con đường cách mạng tư sản và vẫn vươn tới khám phá chân lý cách mạng soi sáng con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa, giải phóng dân tộc Việt Nam và hai nước Lào, Campuchia. Tháng 7 năm 1920, khát vọng đó của Người được đáp ứng, khi Người phát hiện ở bản <i style="">Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin cái cẩm nang về giải phóng dân tộc thuộc địa</i>.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Điều quan trọng nhất trong nhận thức của Nguyễn Ái Quốc đối với chủ nghĩa Mác-Lênin được thể hiện nhất quán trong cuộc đời và hoạt động cách mạng của Người, là lập trường của giai cấp vô sản về giải phóng dân tộc thuộc địa, giải phóng các gaii cấp bị áp bức, giải phóng con người; quan điểm cách mạng triệt để “cách mạng rồi phải gioa quềyn cho dânc húng số nhiều”; phương pháp biện chứng duy vật; xử lý mối quan hệ anh em, đồng chí, đồng bào có lý, có tình. Người vận động những điều đó vào điều kiện cụ thể của các dân tộc bị áp bức để đưa ra những luận đi63m về cách mạng giải phóng thuộc địa, cách mạng Đông Dương và cách mạng Việt Nam.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Có thể thấy rõ những luận điểm của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng Đông Dương bao hàm những nội dung cốt yếu sau đây:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">1- Con đường giải phóng nhân dân Đông Dương là con đường cách mạng vô sản </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước hết, Nguyễn Ái Quốc vạch trần tội ác không thể dung tha do đế quốc Pháp gây ra cho nhân dân Đông Dương, từ chinh phục bằng lưỡi lê, đến áp bức, bóc lột tàn bạo. Người Đông Dương bị đầu độc bằng rượu cồn và thuốc phiện; bị giam hãm trong vòng ngu tối, cứ 10 trường học thì có 1000 đại lý thuốc phiện chính thức. Nhà tù của chính quyền thuộc địa chật ních người bản xứ bị giam giữ. Ở Đông Dương hoàn toàn không có tự do tư tưởng đúng như nhận xét của Nguyễn Ái Quốc: “Bất kỳ người bản xứ nào có tư tưởng xã hội chủ nghĩa đều bị bắt và đôi khi bị giết mà không cần xét xử”<a name="_ftnref2"></a><sup>1</sup>.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đáp ứng nguyện vọng thiết tha nhất của nhân dân Đông Dương là trút bỏ gông cùm nô lệ của tư bản Pháp, Nguyễn Ái Quốc đưa ra luận điểm quan trọng nhất về giải phóng Đông Dương là con đường cách mạng vô sản. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ năm 1921, trong bài “Đông Dương” đăng trên <i style="">La Revue Communiste (Tạp chí Cộng sản)</i> số 15, Nguyễn Ái Quốc dựa trên cứ liệu lịch sử để khẳng định rằng, chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á hơn là châu Âu. Người cho rằng, người Đông Dương đều bị thực dận Pháp đầu độc nhưng không thể làm cho tư tưởng cách mạng của họ bị tê liệt. Làn gió cách mạng thổi từ nước Nga Xô viết, từ Trung Quốc cách mạng, từ Ấn Độ chiến đấu đang thức tỉnh họ. Trên diễn đàn Đại hội Đảng Xã hội Pháp cuối tháng 12-1920 và các tổ chức của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đề nghị Đảng Xã hội phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội tại các thuộc địa của tư bản Pháp và đề xuất những hoạt động cần phải tiến hành tại địa bàn này, trong đó có Đông Dương và cử người tới Đông Dương nghiên cứu tình hình vì: “Nói rằng Đông Dương gồm hai mươi triệu người bị bóc lột, hiện nay đã chín muồi cho một cuộc cách mạng là sai, nhưng nói rằng Đông Dương không muốn cách mạng và bằng lòng với chế độ bây giờ như những ông chủ của chúng ta thường vẫn nghĩ như thế, thì lại càng sai hơn nữa”<a name="_ftnref3"></a><sup>2</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sự thật là người Đông Dương lúc bấy giờ chưa có những điều kiện cần thiết để hiểu biết lý luận, lại bị đầu độc, bị giam hãm trong tình trạng lạc hậu, cộng với sự đàn áp khốc liệt của chế độ thuộc địa. Nhưng Nguyễn Ái Quốc đã thấy rõ <i style="">sức sống mãnh liệt của người Đông Dương.</i> Từ đó, Nguyễn Ái Quốc đề nghị Quốc tế Cộng sản tăng cường giúp đỡ cách mạng Đông Dương về đào tạo cán bộ, xây dựng tổ chức cách mạng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">2- Cách mạng cần phải giảng giải lý luận cho dân hiểu để dân đoàn kết và đấu tranh</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ một nhà yêu nước, giác ngộ lý tưởng cách mạng của giai cấp vố sản, tại nước Pháp những năm đầu thập kỷ 1920, Nguyễn Ái Quốc đã ra sức tuyên truyền để nhân dân Pháp hiểu rõ bản chất xấu xa của chế độ thuộc địa mà ủng hộ sự nghiệp giải phóng dân tộc bị áp bức; đồng thời Người tham gia sáng lập và phát hành báo Le Paria<a name="_ftnref4"></a><sup>3</sup> (<i style="">Người cùng khổ),</i> một công cụ tuyên truyền, giác ngộ nhân dân các nước thuộc địa Pháp. Đông Dương là một địa chỉ tiếp nhận và lưu hành tờ báo này.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1923, đánh giá kết quả hoạt động của Hội Liên hiệp thuộc địa và báo Người cùng khổ, Nguyễn Ái Quốc viết trong <i style="">Thư gửi các bạn cùng hoạt động:</i> “Công việc chung của chúng ta “Hội Liên hiệp thuộc địa” và báo Người cùng khổ đã có những kết quả tốt. Nó đã làm cho nước Pháp, nước Pháp chân chính hiểu rõ những việc xảy ra trong các thuộc địa. Làm cho nước Pháp hiểu rõ bọn cá mập thực dân đã lợi dụng tên tuổi và danh dự nước Pháp để gây nên những tội ác không thể tưởng tượng được. Nó đã thức tỉnh đồng bào chúng ta. Đồng thời nó cũng giúp cho đồng bào chúng ta nhận rõ nước Pháp, nước Pháp tự do bình đẳng và bác ái”<a name="_ftnref5"></a><sup>4</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước khi rời nước Pháp lên đường về nước, Người đặt câu hỏi cho các bạn cùng hoạt động và tự nêu câu trả lời cho riêng mình:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">“Chúng ta phải làm gì?</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chúng ta không thể đặt vấn đề ấy một cách máy móc</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, <i style="">đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”<sup>5</sup> </i>(chúng tôi nhấn mạnh - NBS)<a name="_ftnref6"></a> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ở thời điểm khởi nguồn cho chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng cách mạng Nguyễn Ái Quốc đi đến với nhân dân Đông Dương, cuốn sách Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc, xuất bản năm 1925 tại Paris, được chuyển tới nhiều thuộc địa Pháp, đã giữ vai trò quan trọng giác ngộ thanh niên, học sinh, sinh viên, trí thức, về tư tưởng cách mạng giải phóng thuộc địa theo con đường cách mạng vô sản, bắt đầu từ đấu tranh kết liễu chế độ thực dân tàn bạo để mở hướng xây dựng một xã hội mới theo gương cách mạng Tháng Mười Nga.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc cho người đọc nhận thức rõ bản chất xấu xa của chế độ thực dân do tư bản Pháp tiến hành xâm lược và dựng lên tại các nước thuộc địa của nó. Dưới ngòi bút sắc sảo của tác giả, cảnh bắt lính, tước đoạt ruộng đất, tăng các loại thuế, mức thuế, đầu độc và ngu dân, tệ tham nhũng của bộ máy quan chức thuộc địa… bị phơi bày và kết án. Và điều quan trọng nữa là, Nguyễn Ái Quốc đưa ra luận điểm mới của mình về phương pháp đấu tranh thủ tiêu chế độ tư bản trên quy mô toàn thế giới bằng sự hợp lực giữa giai cấp vô sản ở chính quốc và giai cấp vô sản thuộc địa: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”<a name="_ftnref7"></a><sup>6</sup>. Hình tượng trên giúp người đọc thấu hiểu cách mạng thuộc địa là một bộ phận hữu cơ của cách mạng vô sản thế giới như Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”<a name="_ftnref8"></a><sup>7</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu, Trung Quốc, tháng 11 năm 1924. Đầu năm 1925, Người mở lớp huấn luyện cho những thanh niên Việt Nam yêu nước đang ham muốn tiếp nhận lý luận chính trị. Dựa trên cơ sở các bài giảng tại lớp huấn luyện, Nguyễn Ái Quốc viết tác phẩm <i style="">Đường cách mệnh</i><a name="_ftnref9"></a> nêu bật giá trị của lý luận cách mạng đối với sự thành công của cách mạng mà Lênin đã tổng kết: “Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động… chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, Đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong”<sup>8</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tác phẩm Đường cách mệnh rất xứng đáng là cuốn sách giáo khoa lý luận, chính trị và phương pháp hoạt động cách mạng; là tác phẩm giáo dục đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng, ý chí đấu tranh cho cán bộ và quần chúng nhân dân Việt Nam, Lào những địa bàn mà Nguyễn Ái Quốc đang dốc lòng, dốc sức gieo mầm cách mạng<a name="_ftnref10"></a><sup>9</sup>. Tác phẩm này còn giữ vai trò quan trọng trong tiến trình chuẩn bị về nhiều mặt cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và không lâu sau khi thành lập chuyển thành Đảng Cộng sản Đông Dương.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Giữa năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và sáng lập báo Thanh niên, cơ quan ngôn luận của tổ chức này. Người là cây bút quan trọng nhất của tờ báo. Đây là tờ báo cách mạng đầu tiên bằng chữ quốc ngữ, thực hiện chức năng giáo dục, tập hợp và thống nhất tư tưởng, hành động của các chiến sĩ cách mạng và trang bị kiến thức chính trị cho đội ngũ cán bộ vận động quần chúng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau những hoạt động trên, trong thời gian hoạt động tại Xiêm, Nguyễn Ái Quốc tới Bản Đông, Uđon, Noọng khai, Sacôn nơi cư trú của nhiều kiều bào Việt Nam, từ tháng 7-1928 đến tháng 10-1929 (tại Bản Đông, Người tự giới thiệu là Thọ, biệt hiệu là Nam Sơn, tại Uđon, Người lấy tên là Chín), Nguyễn Ái Quốc sinh sống và lao động chan hoà với kiều bào ta tại các địa bàn này. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong thời gian hoạt động tại Uđon, Nguyễn Ái Quốc dịch cuốn Nhân loại tiến hoá sử và Cộng sản ABC: Người sáng tác Bài ca Trần Hưng Đạo và vở kịch Hoàng Hoa Thám để giáo dục nâng cao lòng yêu nước của đồng bào Việt kiều. Đặc biệt, Người đã đến Noọng Khai gặp gỡ một số cán bộ hoạt động từ Viêng Chăn sang để nắm tình hình cách mạng Lào. Năm 1928, Người đã tới vùng Xiềng Vang thuộc lãnh thổ Lào để tuyên truyền trong kiều bào ta về chính trị, tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc…</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong hai năm 1928, 1929, Nguyễn Ái Quốc tự thể nghiệm phương pháp vận động quần chúng Việt kiều bằng cách đan xen, kết hợp nhiều hình thức hoạt động, vừa giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng nâng cao lòng yêu nước cho đồng bào vừa đào tạo cán bộ và củng cố, mở rộng tổ chức cách mạng, chỉ dẫn biện pháp thắt chặt quan hệ thân ái, đoàn kết với cư dân bản địa và nội bộ kiều bào. Đồng thời, bằng lối sống giản dị, gần gũi đồng bào, Người cũng nhận được sự tin yêu, kính trọng của họ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Kết quả dân vận của Nguyễn Ái Quốc tại Xiêm và Lào là nhân tố quan trọng tạo dựng <i style="">nền móng bền chắc của lực lượng hậu thuẫn cho cách mạng Việt Nam và Lào.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">3- Phải xây dựng đảng cách mạng</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng đã được Nguyễn Ái Quốc luận định sáng rõ trong tác phẩm <i style="">Đường cách mệnh</i> khi trả lời câu hỏi do Người nêu ra: “Cách mạng trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có Đảng cách mạng, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”<a name="_ftnref11"></a><sup>10</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 6-1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản như chủ đích mà Người gửi gắm ở tổ chức này: “Nó là quả trứng, mà từ đó nở ra con chim non cộng sản”. Tôn chỉ của Hội là: “phụ trách tổ chức và lãnh đạo cuộc cách mạng ở Việt Nam hết sức phấn đấu để thâu phục lấy đại bộ phận thợ thuyền, dân cày và binh lính, dẫn đạo cho quần chúng lao khổ bị áp bức ấy liên hiệp với vô sản giai cấp thế giới để một mặt đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, chế độ phong kiến và chủ nghĩa tư bản mà dựng ra chính quyền độc tài (tức chuyên chính - TG) của thợ thuyền, dân cày và binh lính; một mặt tham gia vào cuộc thế giới c.m (tức cách mạng - TG) san trừ (tức đánh đổ - NBS) tư bản chủ nghĩa cả thế giới đặng thực hiện chủ nghĩa cộng sản”<a name="_ftnref12"></a><i style=""><sup>11</sup></i>. Tổ chức và hoạt động của Hội phát triển rộng khắp toàn Đông Dương. Riêng tại Lào, từ năm 1928 tổ chức Hội đã được thành lập tại Viêng Chăn, Thà Khẹc, Phôn tịu, mỏ Thiếc, Xavănnakhệt, qua đó <i style="">Đường cách mệnh</i>, báo <i style="">Thanh niên</i> và nhiều tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc cũng được truyền bá tại Lào.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Những hoạt động trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, đào tạo cán bộ xây dựng Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc tiến hành sâu rộng tác động trực tiếp tới sự chuyển biến của cách mạng Việt Nam và Lào, đưa tới sự ra đời của <i style="">Đông Dương Cộng sản Đảng </i>(tháng 6-1929), <i style="">An Nam Cộng sản Đảng </i>(tháng 11-1929), Đông Dương Cộng sản liên đoàn (cuối tháng 12-1929), xuất hiện một yêu cầu cấp bách là thành lập một Đảng Cộng sản.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trước tình hình đó, Nguyễn Ái Quốc chủ động tổ chức Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập <i style="">Đảng Cộng sản Việt Nam </i>tại Hồng Công, đầu năm 1930. Các văn kiện: <i style="">Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt </i>do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được Hội nghị thảo luận và nhất trí thông qua thể hiện rõ bản chất của Đảng là đảng vô sản kiểu mới, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, thực hiện cách mạng ruộng đất, xây dựng đất nước theo hướng đi lên chủ nghĩa cộng sản. Đảng chủ trương đoàn kết các giai cấp và tầng lớp yêu nước đoàn kết với các dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới. Nguyễn Ái Quốc đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc ở vị trí quan trọng nhất so với nhiệm vụ cách mạng ruộng đất và huy động sức mạnh cao nhất là lực lượng đại đoàn kết các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các đảng phái yêu nước để giành độc lập, tự do. Điều đó bắt nguồn từ tư tưởng Nguyễn Ái Quốc lấy tinh thần yêu nước chống đế quốc làm cơ sở xây dựng khối đoàn kết dân tộc, bao gồm công nông, tiểu tư sản trí thức, trung nông; và phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản “chia rõ mặt phản cách mạng” cùng các tổ chức đảng phái yêu nước. Mặt khác, điều này cũng là sự thể hiện quan điểm của Người đã viết trong cuốn Đường cách mệnh: “dân tộc cách mệnh thì chưa phân giai cấp, nghĩa là sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền”<a name="_ftnref13"></a><sup>12</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lời phát biểu của Hồ Chí Minh tại Đại hội II của Đảng, tháng 2-1951 đã nêu cao giá trị to lớn của sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam và góp phần thúc đẩy sự phát triển của cách mạng thế giới: “Tôi sung sướng vì tôi nhớ lại lúc Đảng Cộng sản Đông Dương (Đảng Cộng sản Việt Nam -NBS) thành lập. Thành lập như thế nào? Thành lập bí mật, Đảng ta lúc sinh ra cũng như một người con đẻ bí mật. Nó đẻ ở đâu? Trên một cái đồi tạm thời thuộc đế quốc. Nó đẻ ra ở đâu? Bên một sân bóng của đế quốc tư bản. Lúc đó chỉ có một nhóm nhỏ con con đồng chí. Số người tuy ít nhưng lòng kiên quyết rất to. Tuy số người con con nhưng đã tin tưởng Đảng sẽ giải phóng dân tộc và giúp vào cuộc giải phóng thế giới. Bây giờ chúng ta đang giải phóng dân tộc, đang giúp vào công cuộc bảo vệ hoà bình thế giới, cuộc giải phóng thế giới. Thế là cái mục đích, cái hy vọng nho nhỏ của một số ít đồng chí không những đã thành mục đích, hy vọng lớn của toàn dân tộc mà cũng là mục đích hy vọng lớn của đa số nhân dân thế giới. Thế là:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rằng bây giờ mới thấy đây</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Mà lòng đã chắc những ngày còn thơ<a name="_ftnref14"></a><sup>13</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đến tháng 10-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương, lãnh đạo cách mạng toàn Đông Dương.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">4- Cách mạng Đông Dương do nhân dân Đông Dương tự tiến hành, kết hợp với sự ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, nhân dân Đông Dương bị đầu độc và áp bức, bóc lột nặng nề dẫn tới tình trạng suy kiệt về thể chất, là điều dễ nhận biết. Nhưng có phải vì thế mà tiềm năng cách mạng của họ cũng bị vơi cạn? Giải đáp vấn đề đó, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Không! Người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi. Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương”<a name="_ftnref15"></a><sup>14</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến”<a name="_ftnref16"></a><sup>15</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Người giải thích: “Đau khổ, nghèo đói và sự đàn áp tàn bạo là những người thầy duy nhất của họ”<a name="_ftnref17"></a><sup>16</sup>. Mặt khác, họ cũng chịu tác động tích cực của nhiều phong trào cách mạng trên thế giới như Cách mạng Tháng Mười Nga, cách mạng Trung Quốc và phong trào đấu tranh của nhân dân Ấn Độ. Nói như vậy không có nghĩa là vào thập niên 1920, cách mạng Đông Dương có thể bùng nổ và thu được thắng lợi là sai, nhưng nói rằng Đông Dương không muốn cách mạng và bằng lòng với chế độ bây giờ như các ông chủ của chúng ta thường vẫn nghĩ như thế, thì lại càng sai hơn nữa<a name="_ftnref18"></a><sup>17</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ý thức rõ sức mạnh của thế hệ thanh niên đối với sự thay đổi vận mệnh dân tộc và công tác giáo dục, thu hút họ vào con đường cách mạng, vượt qua sự đầu độc nặng nề của chủ nghĩa thực dân, Nguyễn Ái Quốc phải kêu gọi thống thiết thanh niên, nhằm giúp họ tự nhận rõ trách nhiệm đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp giải phóng Đông Dương khỏi hiểm hoạ diệt vong: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nêu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”<a name="_ftnref19"></a><sup>18</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hội Liên hiệp thuộc địa –</span></i><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> một trong những tổ chức mà Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập tại Pháp năm 1921 là để giúp nhân dân các nước thuộc địa, trong đó có Đông Dương, tiến hành sự nghiệp tự giải phóng. <i style="">Tuyên ngôn của Hội Liên hiệp thuộc địa </i>viết: “Vận dụng công thức của Các Mác<a name="_ftnref20"></a><sup>19</sup>, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Hội Liên hiệp thuộc địa thành lập chính là để giúp đỡ anh em trong công cuộc ấy”<a name="_ftnref21"></a><sup>20</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nếu Hội Liên hiệp thuộc địa và tờ báo <i style="">Le Paria</i> của Hội đóng vai trò “thức tỉnh đồng bào chúng ta” như Nguyễn Ái Quốc đã viết, thì từ khi thành lập (năm 1925), Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và báo Thanh niên cũng thúc đẩy mạnh mẽ xu thế ấy phát triển lên trình độ mới: vừa giác ngộ người Đông Dương, vừa tổ chức họ thành lực lượng cách mạng ở khắp lãnh thổ xứ này, tạo điều kiện chín muồi cho sự thành lập chính đảng của giai cấp vô sản và phong trào cách mạng phát triển rầm rộ từ đầu năm 1930.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Vấn đề lý luận được Nguyễn Ái Quốc chú trọng làm sáng tỏ là quan hệ giữa con đường tự giải phóng và giá trị đoàn kết quốc tế. Người cho biết: “Miền Cận Đông và Viễn Đông, kể từ Xyri đến Triều Tiên - chỉ tính những nước thuộc địa và nửa thuộc địa thôi - có một diện tích rộng hơn 15 triệu km2, với số dân hơn 1.200 triệu người. Tất cả những nước rộng lớn ấy hiện đang ở dưới ách của chủ nghĩa đế quốc tư bản và mặc dầu dân số của họ đáng lẽ phải làm cho họ có sức mạnh, <i style="">các dân tộc bị áp bức đó vẫn chưa bao giờ ra sức tìm tòi thật đến nơi đến chốn con đường tự giải phóng, cho nên họ chưa hiểu được giá trị của sự đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế</i> (tác giả nhấn mạnh). Họ chưa có những mối liên hệ giữa các lục địa như các dân tộc châu Âu và châu Mỹ”<sup>21</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong thư gửi đồng chí Pêtơrốp, Tổng Thư ký ban phương Đông, Người còn nhấn mạnh nguyên nhân làm suy yếu sức mạnh đấu tranh của các nước phương Đông là tình trạng biệt lập. Người giải thích rõ thêm nguyên nhân và hậu quả của hiện tượng ấy: “Họ hoàn toàn không biết đến những việc xẩy ra ở các nước láng <a name=VNS0001>giềng</a> của họ, do đó họ THIẾU SỰ TIN CẬY LẪN NHAU, SỰ PHỐI HỢP HÀNH ĐỘNG VÀ SỰ CỔ VŨ LẪN NHAU”<sup>22</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nối tiếp hoạt động của Hội Liên hiệp thuộc địa (1921-1926), tháng 7-1925, Nguyễn Ái Quốc chủ động phối hợp với một số nhà cách mạng Trung Quốc thành lập <i style="">Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức</i>, một tổ chức quốc tế đoàn kết nhiều dân tộc thuộc địa, nửa thuộc địa như Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên, Inđônêxia. Tuyên ngôn của Đại hội thành lập Hội nêu rõ: “Con đường thoát duy nhất để xoá bỏ sự áp bức chỉ có thể là liên hiệp các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản toàn thế giới áp dụng những phương pháp cách mạng để lật đổ về căn bản chủ nghĩa tư bản đế quốc cực kỳ hung ác”<sup>23</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1927, Hội đã xuất bản cuốn Đường cách mệnh dùng làm tài liệu giáo dục, tuyên truyền cách mạng ở Đông Dương.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Với danh nghĩa là hội viên Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức, Nguyễn Ái Quốc đến gặp Uỷ ban bãi công Cảng Tỉnh (địa danh chỉ Hồng Kông và Quảng Châu) đề nghị tham gia Đội diễn thuyết. Người được Uỷ bản đồng ý mời đến một số cơ sở báo cáo về vấn đề <i style="">Quan hệ giữa công nhân Trung Quốc với các dân tộc bị áp bức và sự cần thiết phải liên hiệp lại đánh đổ đế quốc.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tại nhiều diễn đàn quốc tế, Người lên tiếng kêu gọi Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Cộng hội đỏ, Quốc tế Nông dân và các Đảng Cộng sản Anh, Pháp ủng hộ, giúp đỡ cách mạng Đông Dương.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đặt đúng tầm quan trọng <i style="">Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa</i> do Lênin trình bày tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản năm 1920, và yêu cầu của thực tiễn cách mạng giải phóng thuộc địa, tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản năm 1924, Nguyễn Ái Quốc kêu gọi: “Thưa các đồng chí, vì chúng ta tự coi mình là học trò của Lênin, cho nên chúng ta phải tập trung tất cả sức lực và nghị lực để thực hiện trên thực tế những lời di huấn quý báu của Lênin đối với chúng ta về vấn đề thuộc địa cũng như các vấn đề khác”<sup>24</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cũng ở tầm lý luận của vấn đề đoàn kết giữa cách mạng phương Tây và phong trào giải phóng thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc luận giải sáng rõ luận điểm của Lênin: “cách mạng ở phương Tây muốn thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với phong trào giải phóng, chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước bị nô dịch và vấn đề dân tộc... chỉ là một bộ phận của vấn đề chung về cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản”<sup>25</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ những quan điểm cách mạng đúng đắn trên, Người đưa ra những nhận định rất xác đáng về vị trí quan trọng nhất của vấn đề thuộc địa trong chính sách của Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Anh: “sẽ không phải là quá đáng nếu nói rằng chừng nào Đảng Pháp và Đảng Anh chúng ta chưa thi hành một chính sách thật tích cực trong vấn đề thuộc địa, thậm chí chưa đề cập đến quần chúng các nước thuộc địa, thì toàn bộ chương trình rộng lớn của hai đảng đó vẫn không có hiệu quả gì”<sup>26</sup>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản, năm 1924, Người cho biết những thủ đoạn cướp đoạt ruộng đất kèm theo nhiều loại thuế đánh vào nông dân Việt Nam, một xứ thuộc địa lớn nhất tại Đông Dương, và các thuộc địa ở châu Phi, gây nên nạn bần cùng ngày càng gia tăng cùng nỗi phẫn uất cao độ và đương nhiên những phản ứng quyết liệt với chế độ thuộc địa đã diễn ra. Song họ đều bị đàn áp khốc liệt. Nguyên nhân của tình trạng đó là do nông dân “thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo”. Người đề nghị “Quốc tế Cộng sản cần phải giúp đỡ họ tổ chức lại, cần phải cung cấp cán bộ cho họ và chỉ cho họ con đường đi tới cách mạng và giải phóng”<sup>27</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguyễn Ái Quốc khái quát: Ở Đông Dương thực dân Pháp đã phục hồi chế độ nô lệ. Lúc bấy giờ, giai cấp vô sản Đông Dương chưa thể làm gì được để chống lại chế độ bóc lột đó, vì chưa xây dựng được tổ chức nào của họ. Nhưng Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra lối thoát: “với sự giúp đỡ của các tổ chức gần gũi của Quốc tế Công hội đỏ, chúng tôi quyết đập tan lực lượng của chủ nghĩa đế quốc châu Âu áp bức chúng tôi<a name="_ftnref29"></a>”<sup>28</sup> . Tiếp theo, Người kiến nghị giải pháp đưa tới kết quả của giai cấp vô sản Đông Dương: “các đồng chí chúng ta trong các tổ chức công nhân cách mạng Pháp phải tích cực giúp đỡ chúng tôi trong cuộc đấu tranh giải phóng của chúng tôi<a name="_ftnref30"></a>”<sup>29</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một kết quả hoạt động kịp thời của Nguyễn Ái Quốc là Tổng Công hội thống nhất (Pháp) cùng kiến nghị đưa vào Nghị quyết của Đại hội với những nhiệm vụ trước mắt: </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">“1- Tổ chức những người Đông Dương hiện làm việc ở Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">2- Tiến hành một chiến dịch mạnh mẽ vì quyền lợi công đoàn của người bản xứ song song với chiến dịch cho công chức.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">3- Cử những đại biểu thường trực (ít ra là 2) sang Đông Dương với sứ mệnh là tuyên truyền trong dân bản xứ và tổ chức họ<a name="_ftnref31"></a>”<sup>30</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trên đây là những luận điểm đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng Đông Dương được nêu ra trong khoảng thời gian 10 năm từ năm 1920 đến năm 1930, thể hiện kết quả nghiên cứu lý luận gắn kết chặt chẽ với hoạt động thực tiễn của Người. Đó là những nhân tố xác định hướng phát triển của cách mạng Đông Dương, hiện rõ phương pháp tư duy độc lập, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trên cơ sở vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><a name="_ftn1"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">1</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">,2,4,5,14,15,16,17,18,22,24,25,26,27,28,29. Hồ Chí Minh Toàn tập, CTQG, H, 1995, T.1, tr.22, 27, 191, 192, 118, 28, 28, 27 133, 236, 282, 277, 289, 292-293, 293.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><a name="_ftn4"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">3. </span></a><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Báo Le Paria: Cơ quan tuyên truyền của Hội Liên hiệp thuộc địa, do Nguyễn Ái Quốc làm chủ nhiệm kiêm chủ bút và quản lý, xuất bản từ tháng 4 năm 1922 đến tháng 4-1926, đình bản sau số 38.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><a name="_ftn5"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">6</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">, 7, 8, 10, 12, 20, 21. Hồ Chí Minh Toàn tập, CTQG, H, 2000, T.2, tr. 120, 124, 259, 267-268, 266, 128, 123</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">9. Nghị quyết chính trị của Đại biểu Đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 3-1935, cho biết, ở Lào, tác phẩm Đường cách mệnh được dùng làm tài liệu huấn luyện (xem Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, sđd, tập 5, tr. 20).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">11. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, sđd, tập 1, tr. 118.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">13. Biên bản Đại hội lần thứ II của Đảng, tr. 122. Lưu tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">19. Công thức này Mác viết trong Điều lệ của Hội Liên hiệp lao động quốc tế: “Sự nghiệp giải phóng của giai cấp công nhân phải là sự nghiệp của bản thân giai cấp công nhân”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">23. T. Lan, Vừa đi đường, vừa kể chuyện, Nxb Sự thật, H.1976, tr.27.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">30. Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, H.1993, tập 1, tr.199.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Lịch sử Đảng. –2010. –Số 5. –Tr.13-20</span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 8:30 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trải qua nhiều con đường đấu tranh chống hoạ xâm lược và ách thống trị của thực dân Pháp từ cuối thế kỷ XIX đến 20 năm đầu thế kỷ XX, nhưng nhân dân Đông Dương chưa giành được độc lập, tự do và vẫn khát khao tìm đến một con đường mới để có thể đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc tới thành công. Nguyễn Ái Quốc là người đi tiên phong đảm đương sứ mệnh cao cả ấy.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 4.938</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần II: Bác Hồ ở nước ngoài</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 01:43:02 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=20</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Ngôi nhà thời thơ ấu của Bác Hồ</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=5</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass18CF0EAC0A014FB2B3C4507B64587041><p> </p>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt">Ngôi nhà tranh ấy gồm ba gian nho nhỏ, xinh xinh, phần cuối được nối thêm một khoảng và cho nép vào phía sau, tiếng địa phương gọi là cái cổ hôn, làm nơi nấu nướng nhằm cho khói và bồ hóng đỡ xông vào các gian kia. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt">Đó là ngôi nhà do cụ Hoàng Đường và cụ Nguyễn Thị Kép, tức ông bà ngoại cậu Cung dựng cho bố mẹ của cậu là Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Thị Loan ngay trong vườn nhà mình khi họ kết thành gia thất.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Cũng như cách bố trí thông thường ở trong vùng, ngôi nhà của ông Sắc, gian ngoài thờ ông thần bếp và là nơi đặt bàn học, còn nữa kê bộ phản gỗ để ông và hai cậu con trai nằm. Gian giữa rộng nhất, phía trong đặt bàn thờ cúng gia tiên. </span></div>
<div style="text-align:center;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"><img width=478 height=353 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-6/nhaBHoNgheAn662011_15276.gif"></span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"> </div>
<div style="text-align:center;text-indent:18pt" align=center><span style="font-size:10pt">Ngôi nhà thời thơ ấu của Bác Hồ</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"> </div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt">Còn nữa đặt bộ tràng kỷ bằng tre để ông đón tiếp người thân, bạn bè. Gian nhà trong, phía sau là buồng, chỗ nghỉ của bà Loan cũng là nơi bà sinh nở và chăm nuôi các con khi họ mới lọt lòng. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Phía ngoài của gian đó đặt chiếc chõng tre, nơi các dì, các thím, bà con trong xóm thường đến thân tình trò chuyện. Phần còn lại là nơi đến bận cơm thì có chiếc mươn ngã ra làm bàn ăn. Xong rồi, mươn được ngoắc lên vách nhà.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Thật khó mà tìm thấy một thứ vật liệu nào khác lạ so với các ngôi nhà thanh bạch khác ở trong thôn. Những cây cột, đường xà, chiếc kèo đều bằng các thứ gỗ thị, bời lời, xoan đâu, cũng như đòn dông và các đòn tay làm bằng tre là đều lấy từ trong vườn. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Chúng được chặt sẵn, ngâm nước lâu ngày để khỏi bị mọt. Chỉ có rui, mè trên mái và vách chắn, liếp cửa là đều bằng nứa nên phải mua. Còn tranh lợp thì kết bằng lá mía bóc của ruộng nhà có từ ngoài bãi. Sức tự cấp tự túc ở dây cũng đến mức được tận dụng triệt để như của mọi gia đình nghèo khó khác ở trong vùng. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Và, tất cả đều được ông bà cụ Đường lựa chọn, trau chuốt thật kỹ càng. Cụ Kép thường dặn con gái là phải thường xuyên chăm sóc quét dọn để giun dế và kiến mối khỏi làm sủi nền và hỏng vách. Họ nhà mối chúng dễ từ mặt đất mà xông lên đến tận nóc nhà.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Trong vườn, ngoài nhà ông Sắc, còn có nhà ông bà ngoại và nhà thờ họ Hoàng mà cụ Đường là tộc trưởng. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Cụ Đường đặt hướng nhà cho gia đình của con gái sau khi đã hỏi ý kiến các vị cao tuổi và có nhiều trải nghiệm ở trong họ, trong thôn. Nhà ngoảnh về hướng Đông - Nam, như vậy dễ đón được bình minh lên. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Chiều về bóng mát từ hàng hiên sớm trải ra sân và gió nồm dễ dàng thổi tới. Nắng gió, sương móc là những của cải vô vàn do thiên nhiên ban tặng, chỉ sợ con người không đủ sức và không còn thời gian mà tận hưởng. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Cụ Đường thường nói với con cháu trong nhà như vậy. Trong ngôi nhà ấy, năm 1884, bà Loan sinh con gái đầu lòng là Nguyễn Thị Thanh, năm 1888 sinh Nguyễn Sinh Khiêm tức Tất Đạt và năm 1890 sinh Nguyễn Sinh Cung, tức Tất Thành sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Khu vườn cụ Đường rộng gần 5 sào (Trung Bộ). Nhà thờ, nhà lớn của hai cụ và cả nhà riêng của vợ chồng ông Sắc, tất cả chỉ choán hết một phần nhỏ diện tích mà thôi. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Toàn khu vườn xung quanh là lũy tre, xen vào có các cây cổ thụ, là nơi cho nhiều loại chim chóc về làm tổ theo mùa. Và vườn vẫn dư dả đất đai để trồng khoai lúa, rau màu. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Là gia đình một nhà nho, ngoài các thứ cây ăn quả thì đất dành cho các loại thảo lan, cúc, mẫu đơn, nhài, phật thủ... cũng được dành một diện tích thích đáng.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Vườn nhà ông bà ngoại là phần thiên nhiên quan trọng trong thế giới tuổi thơ của cậu Nguyễn Sinh Cung. Những buổi, mẹ từ chợ về, không còn tiền để mua quà. Thay vào đó có cây táo quả đã đến thì đọng mật. Bà ngoại đưa tay ngoèo một cành, hái lấy những quả mập căng mà phân phát cho chị em Thanh. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Bé Cung được lớn dần lên trong cảnh nhà ấm cúng như vậy.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Một buổi chiều, sau khi tạnh cơn giông, cậu hỏi một học trò của ông ngoại:</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> - Sấm từ đâu mà có? </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt">Người học trò đáp: </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt">- Sấm sinh ra tự trên trời. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt">Cậu hỏi tiếp: </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt">- Ngoài sấm, trên trời còn có những gì?</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Người thanh niên chỉ cười vì không biết đáp như thế nào! </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Lên bốn tuổi, bé Cung đòi học chữ và mẹ cũng là cô giáo.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Buổi đầu, mẹ đưa tay vạch lên giấy: chữ &quot;Nhất&quot; 1 nét, chữ &quot;Nhị&quot; 2 nét, chữ &quot;Tam&quot; 3 nét. Cậu hỏi, thế có phải chữ &quot;Tứ&quot; gồm 4 nét? Bà mẹ cười trước câu hỏi ngộ nghĩnh mà có lý của con trai và đáp: </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> - Không phải, đến chữ &quot;Tam&quot; là thôi cách viết như vậy; và đó là cách viết đơn, còn viết kép thì các chữ kia đều có nhiều nét.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Mẹ vẫn tiếp tục giữ vai trò là một cô giáo của Cung, một cậu bé luôn đặt ra nhiều câu hỏi mà tiếng địa phương cho là &quot;trái khoáy&quot; nhưng sẽ ở vào một nơi khác.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Năm 1893, ông ngoại qua đời. Năm 1894, bố của Cung thi đỗ Cử nhân. Năm 1895, Cung cùng anh trai theo bố mẹ vào Huế và cậu sống lần đầu tại đó cho đến tuổi lên mười thì mẹ mất.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Đầu năm 1901, anh em cậu theo bố về lại làng Chùa. Cũng năm đó, bố của cậu thi đỗ Phó bảng rồi gia đình cậu về sống tại làng Sen, quê nội. Mùa thu năm 1905, cậu theo bố vào Kinh học tập và năm 1911 thì ra đi tìm đường cứu nước.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:18pt"><span style="font-size:10pt"> Sau 30 năm bôn ba khắp các đại lục tìm đường cứu dân cứu nước để năm 1941 thì về lại Tổ quốc, chuẩn bị để tiến hành Cách mạng Tháng 8 thành công (1945), lại 16 năm tiếp, là thời gian làm Chủ tịch nước, bận bịu với công cuộc kháng chiến, kiến quốc, đến cuối năm 1961, Người mới có dịp về thăm lại ngôi nhà này và đó cũng là lần cuối cùng Người trở về ấn những dấu chân lên mảnh vườn thơ ấu của mình.</span></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần I: 1890 - 1911</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/06/2011 3:20 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Đó là ngôi nhà do cụ Hoàng Đường và cụ Nguyễn Thị Kép, tức ông bà ngoại cậu Cung dựng cho bố mẹ của cậu là Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Thị Loan ngay trong vườn nhà mình khi họ kết thành gia thất.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.370</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần I: 1890 - 1911</category>
      <pubDate>Mon, 06 Jun 2011 08:27:19 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=5</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Tìm hiểu vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến dịch Việt Bắc năm 1947</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=46</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass6F78C9AF0E2047AF8C195A3A5D7DE7AD><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chiến thắng Việc Bắc nhờ chủ trương đường lối sáng suốt của Đảng, tinh thần dũng cảm, kiên cường của quân và dân ta, đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì đấu tranh ngoại giao để vãn hồi hoà bình.</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> Mặc dù kháng chiến toàn quốc đã bùng nổ nhưng Người vẫn kiên trì tìm cách ngoại giao với Quốc hội và Chính phủ Pháp nhằm chấm dứt chiến tranh xâm lược của Pháp. Theo Người, nhân dân Việt Nam chỉ mong muốn: “Tự do, hoà bình và độc lập”. Người kêu gọi nhân dân và binh lính Pháp, nhân dân các nước đồng minh hãy tìm cách ngăn chặn bàn tay của bọn thực dân hiếu chiến Pháp. Trong thư gửi Chính phủ và nhân dân Pháp nhân dịp đầu năm mới 1947, Hồ Chí Minh viết: “Tôi kêu gọi nhân dân Pháp để chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn và năm 1947 mang lại nền hoà bình và tình hữu ái giữa nước<span style="">  </span>Pháp và nước Việt Nam”<sup>1</sup> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ ngày<span style="">  </span>1-1 đến ngày 1-10-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 21 lần trực tiếp hoặc gián tiếp đề nghị Chính phủ Pháp thương lượng để chấm dứt chiến tranh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 1-10-1947, Hồ Chí Minh lại gửi điện trả lời chi bộ Đảng Xã hội Pháp ở Sài Gòn, đề nghị Chính phủ Pháp giữ “tinh thần hữu hảo, sự tin cậy và sự hợp tác giữa hai dân tộc Việt – Pháp”. Đồng thời, chính phủ và nhân dân Việt Nam lúc nào cũng sẵn sàng chấm dứt cuộc xung đột”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đáp lại thực dân Pháp xua quân đánh vào căn cứ địa Việt Bắc. Vì vậy nhân dân Việt Nam buộc phải cầm súng chống lại. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn Việt Bắc làm căn cứ kháng chiến hậu phương của cả nước.</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> Trong lịch sử dân tộc ta có nhiều kinh nghiệm và xây dựng căn cứ địa hậu phương cho các cuộc khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Tháng 5-1945 từ Cao Bằng về Tuyên Quang, Người đã chọn Tân Trào (Tuyên Quang) làm căn cứ để lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngay sau cách mạng tháng Tám thành công Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự kiến trước thực dân Pháp sẽ quay lại xâm lược nước ta. Vì thế, trước khi về Thủ đô Hà Nội, Người đã chủ trương tiếp tục xây dựng, củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Tháng 11-1946, khi thực dân Pháp khiêu khích ở Hải Phòng và Hà Nội, Người gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp hỏi nếu địch mở rộng chiến tranh trên miền Bắc thì Hà Nội giữ được bao lâu? Đại tướng thưa rằng Giữ được một tháng, các thành phố khác ít khó khăn hơn, vùng nông thôn nhất định ta giữ được. Suy nghĩ trong giây lát, Người nói “Ta lại trở về Tân Trào”. Sau đó, Người đã cử đồng chí Nguyễn Lương Bằng trở lại Việt Bắc chuẩn bị căn cứ địa kháng chiến. Trong thời gian ngăn, các cơ sở chính trị của ta được củng cố, hoàn thiện. Hệ thống thông tin liên lạc, phòng gian bảo mật và lực lượng vũ trang cũng được xây dựng và củng cố đồng bộ. Hơn 42.000 tấn máy móc, nguyên liệu để sản xuất vũ khí và 20.000 tấn muối đã đưa lên Việt Bắc. Trước và sau ngày toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng cơ quan lãnh đạo của Đảng và Chính phủ di chuyển lên Việt Bắc an toàn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Sau khi vồ hụt cơ quan lãnh đạo của ta ở Hà Nội cuối năm 1946, thực dân Pháp vẫn nuôi mộng bắt bằng được cơ quan lãnh đạo cao nhất của cuộc kháng chiến. Ỷ vào binh hoả lực mạnh, sức cơ động cao thực dân Pháp định nhảy vào Việt Bắc bắt Chính phủ Hồ Chí Minh. Nhưng núi rừng Việt Bắc đã trở thành mồ chôn giặc Pháp. Đúng như Hồ Chí Minh nhận định: Căn cứ địa Việt Bắc có thế chiến lược lợi hại, tiến có thể đánh, lui có thể giữ. Nhờ vậy, mỗi chiến khu, mỗi tỉnh, thậm chí huyện cũng có thể xây dựng được căn cứ địa, căn cứ du kích. Tiêu biểu như các căn cứ Lang Tài (Bắc Ninh), Kim Môn (Hồng Quảng), Bác Ái (Ninh Thuận). Các làng chiến đấu như: Cự Nẫm, Cảnh Dương (Quảng Bình), Chi Lăng (Lạng Sơn), Xi Tơ (Tây Nguyên), Cao Pha (Tây Bắc), Nguyên Xá (Thái Bình). Căn cứ địa Việt Bắc là một đóng góp lớn của Hồ Chí Minh. Hậu phương Việt Bắc đã góp phần tạo lên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><i style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tư tưởng chiến lược chính trị, quân sự thiên tài Hồ Chí Minh toả sáng trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947.</span></i><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> Thiên tài đó đã được thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam kiêm nghiệm. Trước Cách mạng tháng Tám, Người đã quyết định nhiều vấn đề quân sự quan trọng như hoãn cuộc khởi nghĩa Cao - Bắc - Lạng, chỉ thị xây dựng Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và chỉ đạo tổng khởi nghĩa năm 1945. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong những năm củng cố chính quyền cách mạng sau tổng khởi nghĩa, Người lo tổ chức chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang và kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ. Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng BCHTƯ Đảng vạch ra đường lối Kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Lúc đầu thế địch mạnh muốn nhanh chóng bóp chết lực lượng vũ trang nhỏ bé, trang bị thô sơ của ta. Người chỉ đạo: Nhanh chóng tổ chức đánh du kích giam chân địch trong các thành phố, tiêu thổ kháng chiến tổ chức tản cư lên vườn không nhà trống; chuyển toàn bộ đất nước từ thời bình sang thời chiến. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Mùa hè 1947 từ khu V trở ra ta có 12 vạn quân trong đó chỉ có 1/4 chiến sĩ được trang bị súng. Riêng chiến trường Việt Bắc, ta chỉ có 20 tiểu đoàn quân chủ lực. Trong khi đó thực dân Pháp tập trung gần 30 tiểu đoàn tinh nhuệ có phi pháo mạnh yểm trợ. Người phân tích: Âm mưu của địch là hội quân ở Bắc Cạn tạo thành cái ô bọc lấy Việt Bắc, hai cánh quân tạo thành hai gọng kìm. Một theo đường số 4 ở phía Đông; hai theo đường sông Hồng, sông Lô ở phía Tây kẹp chặt lấy Việt Bắc. Chúng chỉ mạnh ở hai gọng kìm Đông và Tây. Nếu ra cùng lực lượng bao vây chặt và tiêu hao quân dù ở Bắc Cạn tập trung lực lượng kiên quyết phản công tiêu diệt các cánh quân địch ở Đông và Tây thì cái ô sẽ cụp xuống thành cái ô rách. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ta không chủ trương đem quân chủ lực ra chọi nhau với địch mà dùng lực lượng nhỏ thực hiện phương châm: “đại đội độc lập tiểu đoàn tập trung”, phục kích đánh địch trên các địa hình hiểm trở. Bằng phương thức đó, ta đã vô hiệu hoá sức mạnh phi pháo và đội quân vừa đông vừa thiện chiến của địch. Rừng Việt Bắc trở thành “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Cuộc tấn công lên Việt Bắc của Pháp bị thất bại nặng nề làm cho chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của chúng bị phá sản. Buộc chúng phải đánh theo cách đánh của ta – đánh lâu dài.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Kỷ niệm một năm ngày toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “…bọn quân phiệt thực dân khoe miệng rằng chóng thì dăm tuần, chậm th2i ba tháng chúng sẽ chinh phục được ta”. Đến nay, “Lực lượng của chúng cũng như mặt trời vào lúc hoàng hôn, hống hách lắm nhưng đã gần tắt nghỉ… lực lượng của ta ngày càng thêm mạnh, như suối mới chảy, như lửa mới nhóm, chỉ có tiến, không có thoái”<sup>2</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Thắng lợi Việt Bắc, Thu – Đông 1947 là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện của Đảng ta, thể hiện rực rỡ nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh tài tình, sắc bén, sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thắng lợi này của quân và dân ta đã làm cho quân Pháp từ chủ động sang thế bị động.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:14.2pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tìm hiểu vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến thắng Việt Bắc, Thu – Đông 1947, chúng ta càng thấy: Tư tưởng quân sự của Người, một trong những nền tảng tư tưởng quân sự của Đảng ta, đã được phát triển trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954).</span></p>
<p><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">1, 2. Hồ Chí Minh Toàn tập, CTQG, H, 1995, T.5, tr.3, 313.</span></p>
<p><strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nguồn</span></strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"> <span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Lịch sử Đảng. -1997. –Số 11. –Tr. 25-26, 32.</strong></span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 2:50 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Khi thực dân Pháp mở cuộc tấn công vào căn cứ địa Việt Bắc (10-1947), dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chủ Minh bộ đội, dân quân, du kích và toàn thể đồng bào ta ra sức tiêu diệt địch. Sau hai tháng chiến đấu ngoan cường dũng cảm, quân dân Việt Bắc loại khỏi vòng chiến đấu hơn 7.000 tên địch. Thực dân Pháp phải rút chạy khỏi Việt Bắc.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 7.439</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 07:53:14 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=46</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Người lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt thác ghềnh</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=43</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass4F8E07FBC2394DCFB6152D6A98FE2CA6><p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.95pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Đây lại là một ngày vui lớn nữa đang đến với Bác, đang đến với cách mạng Việt Nam.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.95pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Mới đêm nào còn ngồi bên chiếc giường tre, trong căn lán nhỏ, những ngày Bác mệt nặng tại Tân Trào. Vào những giây phút đó mới thấy hết được tấm lòng khát khao cháy bỏng của Bác đối với nền độc lập tự do của dân tộc. Không phải chỉ ở những lời Bác dặn dò về công tác cán bộ, cách giữ vững phong trào, &quot;dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập, tự do”. Tấm lòng của Bác còn hiện lên rất rõ qua mỗi cử chỉ nhỏ, qua cái nhìn khi Bác chợt tỉnh giữa những cơn sốt, qua sự đấu tranh với bệnh tật hiểm nghèo để giành từng phút, từng giây cho cách mạng.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.95pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Theo lời hiệu triệu của Đảng, của Bác, suốt mấy ngày nay, cả dân tộc ta từ Bắc chí Nam đã vùng dậy với một sức mạnh như triều dâng, thác đổ. Tại Hà Nội, quần chúng cách mạng đã vượt qua hàng rào sắt để xông vào chiếm Bắc Bộ phủ. Đồng bào già, trẻ, gái, trai, lớn, bé đã siết thành đội ngũ, giương cờ Việt Minh, tiến vào trước họng đại bác xe tăng Nhật ở trại bảo an binh. Xe tăng, súng máy và lưỡi lê của quân Nhật phải lùi. Bọn Nhật đành phải trao cho cách mạng toàn bộ kho vũ khí của bảo an binh đóng tại đây. Tin khởi nghĩa thắng lợi ở khắp các địa phương đang dồn dập bay về .<i>..</i></span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chúng tôi vào làng Gạ.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Bác ở một ngôi nhà gạch nhỏ nhưng sạch sẽ. Chúng tôi bước vào, nhìn thấy ngay Bác đang ngồi nói chuyện với cụ chủ nhà.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 1.9pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ngày nào ở Việt Bắc, Bác còn là ông ké Nùng. Bữa nay, Bác đã trở thành một cụ nông dân miền xuôi, rất thoải mái, tự nhiên trong bộ quần áo nâu. Bác vẫn gầy nên đôi gò má cao. Những đường gân hằn rõ trên trán và hai thái dương. Nhưng với vầng trán rộng, bộ râu đen, và đôi mắt, nhất là đôi mắt, luôn luôn ngời sáng, một sức mạnh tinh thần kỳ lạ toát ra từ hình dáng mảnh dẻ của Bác. Dù sao, so với những ngày dự hội nghị ở Tân Trào, Bác đã khá hơn nhiều.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 1.9pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cụ chủ nhà thấy chúng tôi tới, giữ ý, mời thế nào cũng không ngồi lại, nói vài câu chào rồi lánh đi chỗ khác. Bác tươi cười nhìn chúng tôi, nói:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 1.9pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">- Trông các chú bữa nay ra dáng người tỉnh thành rồi.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 1.9pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chúng tôi sôi nổi báo cáo với Bác tình hình khởi nghĩa ở Hà Nội và các tỉnh. Bác ngồi lắng nghe, vẻ mặt điềm đạm. Tính Bác như vậy, khi vui khi buồn đều vẫn bình thản.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 1.9pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chúng tôi nói với Bác ý Thường vụ muốn tổ chức sớm lễ ra mắt của Chính phủ. Theo quyết định của Hội nghị toàn quốc họp tại Tân Trào, ủy ban dân tộc giải phóng do Bác làm Chủ tịch sẽ trở thành Chính phủ lâm thời.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Với một vẻ vui vui, Bác nói như hỏi lại chúng tôi:</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Mình làm Chủ tịch à?</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Thực ra, một thời kỳ vẻ vang nhưng cũng cực kỳ hiểm nghèo của dân tộc đã bắt đầu. Bác đã nhận sứ mệnh khó khăn: Lái con thuyền cách mạng Việt Nam vừa mới hình thành, vượt qua những thác ghềnh nguy hiểm. Bác đã đón nhận nhiệm vụ đó trước lịch sử, trước nhân dân đúng như Bác đã trả lời các nhà báo nước ngoài ba tháng sau đó: “Tôi tuyệt đối không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận”</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chúng tôi trở về Hàng Ngang trước để chuẩn bị. Anh Nhân (đồng chí Trường Chinh) lên sau, ở lại đến chiều cùng về với Bác.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Đây là lần đầu tiên Bác đến Hà Nội. Chặng đường ba trăm ki-lô-mét từ ngôi nhà tranh nhỏ hẹp tại làng Kim Liên tới đây, Bác đã đi mất ngoài ba mươi lăm năm.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Con đường Bác đã đi không giống bất cứ con đường của một người Việt Nam yêu nước nào đã đi trước Bác. Bác đã một mình lặn lội, xông pha trên những nẻo đường của hầu khắp các miền khác nhau trên Trái Đất. Chủ nghĩa tư bản đã bước vào giai đoạn phát triển tột cùng của nó trở nên vô cùng xấu </span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">xa. Nó tìm mọi cách xóa nhòa ranh giới giữa trắng đen,<span style="color:black"> giữa thiện ác. Nó xuyên tạc mọi giá trị tinh thần chân chính mà loài người đến đó đã thành đạt được. Nó đang bưng bít mọi ánh sáng của công lý, tự do.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Bác đã đi giữa những ngày đông ảm đạm, vòm trời châu Âu, châu Á bị những đám mây đen chiến tranh của chủ nghĩa đế quốc che phủ. </span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Thế gian hỗn loạn, đau thương; tội ác của chủ nghĩa đế quốc chồng chất. Giữa lúc vàng-thau lẫn lộn, giả-thật khó phân, Bác đã nhanh chóng nhìn thấy ánh sáng của chân lý Bác đã đến với chủ nghĩa Lê-nin. Bác đã thấy học thuyết Lê-nin chính là “mặt trời đưa lại nguồn sống vui tươi”. Bác đã thấy ngọn cờ Lê-nin là “tượng trưng cho lòng tin và đuốc sáng của hy vọng&quot;. Người yêu nước Việt Nam vĩ đại đã tìm được ở chủ nghĩa Mác <i>– </i><span style="">L</span>ê-nin cho đồng bào ta và những người cùng hội cùng thuyền-những dân tộc bị đọa đày vì chủ nghĩa đế quốc-một con đường giải phóng duy nhất: <i>Đường k</i>ách <i>mệnh.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">Một sự đổi thay đã đến trong đời sống của dân tộc. <span style="color:black">Mấy ngày trước đây, Hà Nội còn giữ nguyên vẹn bộ mặt một sản phẩm của chế độ thực dân thối nát thời chiến. Cả thành phố chìm đắm trong những hoạt động chợ đen. Cuộc sống tính từng ngày. Những chiếc xe chở rác không đủ để đưa xác những người chết đói ra vùng ngoại ô, đổ xuống những hố chung. Trong khi đó, ở các cửa ô, người đói khắp làng quê vẫn ùn ùn kéo vào. Họ đi vật vờ như những chiếc lá khô buổi chiều đông. Nhiều khi, chỉ một cái gạt tay của viên cảnh sát cũng đủ làm họ ngã xuống không bao giờ trở dậy.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Lại thêm tháng Tám năm nay, nước triều sông đều lên to. Cơn “hồng thủy” đã phá vỡ những đê điều từ lâu không được bọn thống trị nhòm ngó tới. Sáu tỉnh đồng bằng vựa thóc của cả miền Bắc, bị chìm dưới làn nước trắng. Dịch tả hoành hành. Bao nhiêu tai họa của chế độ thực dân cùng một lúc dồn đến. Cùng với bọn đầu cơ kinh tế, bọn đầu cơ chính trị cũng đua nhau nổi lên. Chúng vừa hô “Việt Nam độc lập” vừa hô &quot;Đại Nhật Bản vạn tuế. Thay vào những tên đội xếp Pháp mang dùi cui là những tên hiến binh Nhật đeo kiếm dài, lết xệt đôi ủng đi trên các hè phố.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Không phải chỉ riêng Hà Nội mà cả dân tộc ta đang sống những giờ phút đau thương.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Thắng lợi vĩ đại của Hồng quân Liên Xô đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật vào giữa tháng tám, đã đưa lại cho dân tộc một thời cơ lớn.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cách mạng nổi lên như một cơn lốc.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chỉ trong vài ngày những vết nhơ, những nỗi nhục nhằn, khổ đau của chế độ nô lệ đã được quét đi khá nhiều.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Sức hồi sinh của cách mạng thật lạ thường. Hôm trước, cả thành phố còn tê liệt vì nạn đói, vì bệnh dịch, vì sự khủng bố. Hôm sau, tất cả những đường to, ngõ hẻm đã sôi lên. Hàng vạn, hàng vạn con người ầm ầm kéo đi với sức mạnh như những dòng thác.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chính quyền nhân dân cách mạng vừa mới thành lập. Phần lớn đồng bào còn chưa biết những ai là người thay mặt cho chính quyền mới nhưng mọi người đã tự động tạo nên một trật tự mới, trật tự của cách nạng. Nạn cướp giật mất hẳn, trộm, cắp hầu như không xảy ra. Những người ăn xin cũng không còn. Hoạt động buôn bán, hoạt động chủ yếu của thành phố đã nhường chỗ cho một hoạt động mới: hoạt động cách mạng. Một người đi xe đạp đến đầu phố cầm loa hô lớn: &quot;Mời đồng bào đến tập trung ở địa điểm X. tham gia biểu tình&quot;. Không biết người đó là ai, nhưng lời hô hào lập tức được truyền đi. Nhiều người dân tự động vác loa ra đứng giữa đường làm công tác thông tin.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Ai đang làm dở việc gì cũng để lại đấy. Tất cả ào ào kéo đi. Chỉ chốc lát, hàng vạn người đã có mặt ở địa điểm biểu tình. Họ sẵn sàng làm bất cứ việc gì mà cách mạng cần đến.</span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Không khí Hà Nội trở nên trong lành, náo nức. <i>Đoàn quân Việt Minh đi, chung lòng </i>cứu <i>quốc...</i>, những bài ca cách mạng vang lên rộn ràng từ sớm tới khuya. Cờ sao mỗi lúc một nhiều hơn, đẹp hơn. Cờ bay đỏ nhà, đỏ phố. Cách mạng đúng là ngày hội của những người bị áp bức.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chập tối, Bác đến nhà. Chúng tôi ra đón nhận thấy trên nét mặt của Bác những dấu hiệu xúc động.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:12pt;margin:3pt 0cm 3pt 0.2pt"><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Bác đã về đến Hà Nội. Ít ngày nữa Hà Nội sẽ trở thành Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ Công hòa. Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên tại Đông Nam châu Á. Hà Nội chưa được cùng san sẻ với chúng tôi hôm nay niềm vui đón Bác trở về. Ngay cả đồng chí lái xe bữa ấy cũng vậy. Mấy ngày sau, anh xin phép nghỉ, lên Thái Nguyên dẫn bố về dự Tết Độc lập để xem mặt Cụ Chủ tịch nước. Đến quảng trường Ba Đình, anh mới biết Chủ tịch chính là Cụ già bữa trước mình đã đánh xe đi đón ở làng <i>Gạ.</i></span><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt"></span></p>
<p><strong>Nguồn </strong><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"><strong>Sự kiện &amp; nhân chứng : Nguyệt san của báo quân đội nhân dân. - 2007. - Tháng 8. - Số 164. - Tr. 3, 33 </strong></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 2:25 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác, lênh đênh góc bể chân trời, đã có những ngày vui lớn. Đó là ngày Bác tìm thấy con đường giải phóng dân tộc khi đọc Luận cương của Lê-nin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Đó là ngày thành lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920 mà Bác là một thành viên. Và ngày lịch sử mồng 3 tháng 2 năm 1930, ngày thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương...</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.232</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần III: Bác Hồ với phong trào GPDT</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 07:28:37 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=43</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Người học sinh khác thường</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=6</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass316BCE866BBF4E14B3903FBAB5112DFB><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;color:#333333;font-size:10pt">Anh Thành bước vào trường Quốc học sau sự kiện vua Thành Thái tốn vị (abdiqué), vua Duy Tân bị áp đặt lên ngôi. Cái mà làm cho lớp trẻ lưu ý nhất là ông vua Duy Tân chưa đầy tám tuổi này đã có những biểu hiện bất khuất trước chính quyền thực dân Pháp. Anh em học trò rỉ tai nhau câu nhận xét của một nhà báo Pháp về ông vua trẻ này: “Un jour de trône a changé complètement le visage d’un enfant à huit ans”. (Một ngày ngồi trên ngai vàng đã thay đổi hoàn toàn khuôn mặt của một cậu bé tám tuổi).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;color:#333333;font-size:10pt">Anh Thành tiếp tục rèn luyện môn Pháp văn trên ghế nhà trường Quốc học. Lúc mới vào trường anh rất buồn. Dần dần anh cũng tìm thấy những niềm vui. Bên dưới cái bộ mặt buồn bã của một ngôi trường trong tay thực dân còn có một trái tim nóng bỏng vì tình dân nghĩa nước. Anh được thầy Hoàng Thông dạy chữ Hán rất thương. Thầy giao cho anh lên viết bài học trên bảng đen và đọc trước cho học trò đọc theo. Nhiều hôm thầy bận việc đến trễ, thầy giao cho anh Thành coi lớp. Sau giờ học, anh hay lại nhà thầy ở trong trường, xin thầy đọc những Tân Thơ, Tân Sách do thầy biên soạn hay thầy đã sao chép được. Sách do thầy viết cuốn Tự Trị Thượng Sách; sách do người Việt Nam soạn có các cuốn: Thiên Hạ Đại Thế Luận, Thời Vụ Sách của Nguyễn Lộ Trạch, Đinh Hoàn Chí Lược của Phạm Phú Thứ; những sách báo nói về tình hình Trung Quốc mà gần giống với Việt Nam có Ẩm Băng, Tự Do Thư, Trung Quốc Hồn; những sách của Tây Phương do người Trung Quốc dịch lại có Dân Ước của Lư Thoa (J.J. Rousseau), Tiến Hóa Luận của Tư Tân Tắc (Spencer), Dân Quyền Thiên của Mạnh Đức Tư Cưu (Montesquieu).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;color:#333333;font-size:10pt">Người thầy thứ hai mà anh cũng hết sức kính trọng là thầy Lê Văn Miến. Thầy Miến là người Diễn Châu, người đồng tỉnh với anh. Thầy Miến có một cung cách đặc biệt, trước kia thầy được cử sang học ở trường hành chánh thuộc địa cùng với Thân Trọng Huề và Hoàng Trọng Phu. Khi tốt nghiệp, hai ông kia về làm quan to, còn thầy Miến thì xin ở lại học trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Pháp (Ecole des Beaux-Arts de Paris). Học xong, thầy về Hà Nội làm cho nhà in Shneide. Tổng đốc An Tịnh là Đào Tấn biết thầy giỏi, đã ra đưa thầy về Vinh rồi đưa vào Huế làm hành tấu ở bộ Công với Đào tiên sinh. Trong một vụ vỡ lở có dính dáng đến việc vẽ các kiểu súng trường cho vua Thành Thái đúc chuẩn bị đánh Pháp, thầy bị đưa ra Vinh mở trường Pháp – Việt, rồi đến năm 1907 thì đưa thầy về dạy vẽ ở trường Quốc học. Bọn Pháp biết thầy Miến có tư tưởng chống Pháp nhưng chúng không dám hãm hại thầy vì lẽ thầy rất có uy tín với dư luận Pháp. Sau những giờ dạy vẽ, thầy Miến thường kể chuyện thầy đã đi du lịch nhiều nước trên thế giới. Thầy thường kể với học sinh:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;color:#333333;font-size:10pt">- Người Pháp ở chính quốc khác với người Pháp ở đây. Ở thủ đô Ba Lê cũng có rất nhiều người nghèo. Chiều chiều, những người già không có nơi nương tựa phải chống gậy đi học phố moi móc trong các thùng rác xem thử có còn gì ăn được thì lấy ra ăn; đêm đêm ở vườn Luýt-xăm-bua thơ mộng, nhiều cô gái nghèo phải bán thân nuôi miệng. Người dân Pháp, từ người thứ dân cho đến vị Hàn lâm, thấy những người Việt Nam mất tư cách thì họ tỏ ra khinh bỉ, nhưng ngược lại thấy những người có đạo đức, biết tự trọng, có tài, họ rất kính phục, ít có chuyện phân biệt vì chủng tộc nòi giống (race). Đặc biệt, ở Ba Lê có rất nhiều viện bảo tàng, nhiều thư viện tàng trữ những hiện vật xưa, sách cổ quí giá. Sách về yêu nước và cách mạng thế giới có nhiều, ai muốn đọc cũng được, không hạn chế và không ngăn cấm.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;color:#333333;font-size:10pt">Nghe những chuyện ấy, anh Thành rất náo nức, anh càng tự quyết tâm cao hơn để sớm có đủ trình độ Pháp văn tiếp xúc với những thứ quý giá ấy. Một hôm trả Luận văn, thầy Queignec cầm bài luận của anh Thành đưa ra giữa lớp nói lớn:</span></p>
<p><span style="font-family:Arial;color:#333333;font-size:10pt">- Thành a traité le sujet de rédaction en vers, c’est un élève intelligent et vraiement distingué (Trò Thành đã làm đề luận này bằng thơ, đây là một học sinh thông minh và xuất chúng).</span></p>
<p><span style="font-family:Arial;color:#333333;font-size:10pt">Nguồn <span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:#333333;font-size:10pt">http://hachovoihue.vilolet.vn</span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần I: 1890 - 1911</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/06/2011 3:25 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trường Quốc học là trường trung học dạy Pháp văn và khoa học Tây phương đầu tiên ở Việt Nam do vua Thành Thái mở năm 1896. Cơ sở của trường dựa vào doanh trại thủy sư cũ của Hoàng gia (bỏ trống từ sau ngày Pháp đánh chiếm Huế, 7-1885). Trường gồm có hai dãy nhà tranh  nằm song song với đường Jules Ferry chung quanh có tường bao bọc. Ở bốn mặt đều trổ cửa ra vào. Cửa chính nhìn ra sông Hương, bên trên xây lầu, trong lầu treo một cái chuông lớn để điểm giờ học. Trường mở ra theo yêu cầu đào tạo người có hiểu biết để giúp Nam Triều tiếp xúc với Pháp cho nên có mời một số thầy giáo Pháp vào dạy. Phần lớn giáo viên là các nhà Nho yêu nước không muốn làm quan, nhân có trường dạy học, họ xin vào để giấu mình gửi gắm một chút tâm sự cho lớp trẻ. Bọn Pháp thấy Quốc học là một môi trường rất lợi hại, chúng đã tìm mọi cách để thâm nhập vào với hai mối lợi: lợi thứ nhất là chế ngự những người có ý tưởng chống Pháp đã dựa vào cái bóng của vua Thành Thái mà núp trong trường Quốc  học; hai là dùng trường Quốc học để đào tạo một bọn tay sai thay thế cho bọn bồi bút bất tài đem từ thuộc địa Nam kỳ ra. Dưới nhãn quan của thực dân, ngôi trường Quốc học là một công cụ của chúng. Nhưng chúng đã không thành công.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.166</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần I: 1890 - 1911</category>
      <pubDate>Mon, 06 Jun 2011 08:29:20 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=6</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Báo chí thế giới viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=50</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass33474059B845405C9FA1438ACEA961AD><p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Không riêng Gray, nhiều phóng viên nước ngoài khác cũng cảm nhận rất rõ tình cảm của người dân Việt Nam dành cho vị lãnh tụ của dân tộc, và đã viết về Hồ Chủ tịch với sự kính phục.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong bài viết “Hồ Chí Minh - Chiến thắng một tầm nhìn” trên tạp chí In Asien của Đức, tác giả Dierk Szekielda nói rằng sự ngưỡng mộ của ông với Chủ tịch Hồ Chí Minh và với nhân dân Việt Nam đầy sức sống đã thôi thúc ông viết bài báo này. Ông ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước và là người soi sáng con đường đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam, một người có phẩm chất phi thường.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Nhà báo Canađa George Fogarasi kể lại trong bài “Con phượng Hoàng của Bác Hồ đứng dậy từ tro tàn của cuộc chiến tranh” trên tờ The Straits Times của Singapore: “Tôi hỏi một người đạp xích lô về Bác Hồ, người này đã có thời kỳ đi học tập cải tạo vì từng đứng trong hàng ngũ của chế độ Sài Gòn cũ. Nhưng anh vẫn kính trọng đạo đức của Bác Hồ, và gọi bác là một người Việt Nam chân chính”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trên tờ Time (Mỹ), nhà báo, tác giả cuốn “Việt Nam - Một lịch sử” Stanley Karnow đã viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh như sau: “Một thân hình gầy gò, chòm râu dài, chiếc áo khoác cũ và đôi dép cao su đã mòn, Hồ Chí Minh đã tạo ra một hình ảnh Bác Hồ hiền lành giản dị. Nhưng người là nhà cách mạng dày dạn kinh nghiệm và một nhà dân tộc chủ nghĩa nồng nhiệt, suốt đời đấu tranh cho một mục đích duy nhất: mang lại độc lập tự do cho dân tộc mình. Không có sự dao động trong niềm tin của Hồ Chí Minh, không thể lay chuyển ý chí của Người, ngay cả khi cuộc chiến tranh của Mỹ leo thang, tàn phá đất nước, người vẫn giữ niềm tin đối với nền độc lập của Việt Nam. Dưới con mắt phương Tây, điều dường như không thể tưởng tượng được là Hồ Chí Minh có thể cống hiến sự hy sinh to lớn như ông đã làm”. Và Time đã bình chọn Bác Hồ là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ XX.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Xã luận trên tuần báo Bằng chứng Thiên Chúa giáo viết “Cụ Hồ Chí Minh là một trong những chiến sĩ đầu tiên của thế giới thứ 3, của các dân tộc nghèo đói và khát khao cuộc sống cho ra con người”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tờ Manila Times thì viết: “Cụ Hồ là một biểu tượng của châu Á. Không những cụ đã thành công trong sự lãnh đạo một cách mẫu mực, toàn tâm, toàn ý phục vụ quyền lợi của nhân dân mà còn nêu một chân lý chưa từng thấy: Một dân tộc dù nhỏ bé nếu có quyết tâm thì có thể chống lại cả những cường quốc quân sự mạnh nhất”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:18pt;margin:0cm 0cm 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tờ Tiến lên của Xri Lanca nhận định: “Người (Hồ Chủ Tịch) đã làm nên lịch sử hiện đại, là một trong những nhân vật cao quý nhất, đáng kính nhất của thời đại chúng ta. Sự lãnh đạo lâu dài và vẻ vang của người trong cuộc đấu tranh giành tự do ở Việt Nam có ảnh hưởng không chỉ đối với Việt Nam mà còn ảnh hưởng với quá trình phát triển các sự kiện toàn thế giới”.</span></p>
<p><strong>Nguồn </strong><b style=""><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"><a href="http://vietbao.vn/"><span style="color:black;text-decoration:none;text-underline:none">http://vietbao.vn</span></a>. </span></b><b style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">-2005. -</span></b><b style=""><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 18 tháng </span></b><b style=""><span lang=EN-US style="font-family:Arial;font-size:10pt">5</span></b></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Phần IV: Thế giới viết về Bác</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 07/06/2011 3:00 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> “Việt Nam có thể có những bước thăng trầm, nhưng ký ức về vị lãnh tụ cộng sản được sinh ra cách đây 115 năm sẽ tồn tại mãi mãi”, phóng viên Denis Gray của hãng tin AP khẳng định.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.249</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <category>Phần IV: Thế giới viết về Bác</category>
      <pubDate>Tue, 07 Jun 2011 08:01:59 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/100bacho/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=50</guid>
    </item>
  </channel>
</rss>