﻿<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<!--RSS generated by Windows SharePoint Services V3 RSS Generator on 09/04/2026 3:42:36 CH-->
<?xml-stylesheet type="text/xsl" href="/baiviet2016/ncdhthoai/_layouts/RssXslt.aspx?List=78af5a4d-4f82-416c-a159-275a6f352f07" version="1.0"?>
<rss version="2.0">
  <channel>
    <title>Những Con Đường Huyền Thoại: Bài đăng</title>
    <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/baiviet2016/ncdhthoai/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    <description>Liên kết nạp tin tự động RSS cho Bài đăng danh sách.</description>
    <lastBuildDate>Thu, 09 Apr 2026 08:42:36 GMT</lastBuildDate>
    <generator>Windows SharePoint Services V3 RSS Generator</generator>
    <ttl>60</ttl>
    <image>
      <title>Những Con Đường Huyền Thoại: Bài đăng</title>
      <url>/baiviet2016/ncdhthoai/_layouts/images/homepage.gif</url>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/baiviet2016/ncdhthoai/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    </image>
    <item>
      <title>Nguyễn Tri Phương – Danh tướng có công gìn giữ, mở mang vùng đất phương Nam.</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/baiviet2016/ncdhthoai/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=14</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassA43E06C37F534979B22C053954DE912D><div class=ExternalClass8E4BBBBF41F445A8BA8E78B1AEE2D303>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span class=Bodytext><span style="font-style:normal;font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">          Nguyễn Tri Phương tên thật là Nguyễn Văn Chương, tên tự là Hàm Trinh, tên hiệu là Đường Xuyên. Ông sinh ngày 09/09/1800, nhằm ngày 21 tháng 7 năm Canh Thân, trong một gia đình có truyền thống yêu nước, hiếu học tại tổng Chánh Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Vua Tự Đức đã cải tên Nguyễn Văn Chương thành Nguyễn Tri Phương lấy ý từ câu “Dõng thả Tri Phương” tức là vừa dũng cảm, vừa mưu lược.<span>    </span></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><span>          </span></span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Thời niên thiếu, Nguyễn Tri Phương đã bộc lộ tài năng và chí lớn. Tuy không được học về lối cử nghiệp (lối khoa cử) nhưng các sách như Thượng thư, Tả truyện, Ngũ kinh, Luận ngữ ông đ</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ề</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">u đọc nghiên cứu sâu.</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Năm 20 tuổi, ông làm thư lại tại huyện Phong Điền, được người dân mến mộ bởi sự hiểu biết và làm việc mẫn cán. Dẫu không qua thi cử đỗ đạt nhưng từ một viên quan ở huyện Phong Điền, bằng tài năng và sự tiến cử của các quan đại th</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ầ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">n, Nguyễn Tri Phương đã lên tỉnh Thừa Thiên làm việc, sau đó được vua Minh Mạng sát hạch trực tiếp, cho vào phủ nội vụ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><span>          </span></span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Năm 1826, Nguyễn Tri Phương giữ chức Biên tu Văn thư phòng, hàm chánh thất phẩm. Sau đó, thăng chức Hàn lâm việc tu soạn hàm Tòng lục phẩm (1828), Hàn lâm viện thị độc hàm chánh ngũ phẩm (1829), Hàn lâm việc thị giảng học sĩ hàm tứ phẩm (1830), Hàn lâm việc thị độc học sĩ hàm Chánh tứ phẩm (1831), chức</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Th</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ự </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Thượng Bảo khanh làm việc ở nội các (1834), chức Hữu Thị lang bộ Lễ hàm chánh tam phẩm (1835), gia Tham tri bộ lễ hàm tòng nhị phẩm, Chủ sự phủ nội vụ, Lang trung (1837), chức Lễ bộ Tả thị lang (1838), Tham tri (1839), Tuần phủ Nam - Ngãi tức cả vùng Quảng Nam và Quảng Ngãi (1840).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span class=Bodytext><span style="font-style:normal;font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><span>            </span></span></span><span class=Bodytext><span lang=VI style="font-style:normal;font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Đối với đất nước Việt Nam ở thế kỷ XIX, trong công cuộc trị an và chống xâm lược phương Tây, Nguyễn Tri Phương là một vị tướng tài, có mặt trên khắp các mặt trận từ Bắc chí Nam. Một con người xuất chúng đ</span></span><span class=Bodytext><span style="font-style:normal;font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ã</span></span><span class=Bodytext><span lang=VI style="font-style:normal;font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> kinh qua những chức vị cao qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức nhưng sống cuộc đời thanh bạch, giản dị.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><span>          </span></span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Thời vua Minh Mạng (1820 -1840), Nguyễn Tri Phương cùng một số quan chức được triều đình cho phép thực hiện nhiều chuyến xuất dương đến Singapore, Philipines, Indonesia, Quảng Đông, Ấn Độ, Trung Quốc... để làm việc công. Với kinh nghiệm trong tiếp xúc với người nước ngoài, Nguyễn Tri Phương được vua Minh Mạng tin cẩn giao cho những trọng trách như làm việc với đặc sứ Mỹ vào năm 1832, khi họ đến Phú Yên. Làm việc với người Anh khi họ đến Đà N</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ẵ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ng năm 1834.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><span>          </span></span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Năm 1837, Nguyễn Tri Phương được lệnh đến Gia Định để xem xét tình hình. Trước sự kháng cự dũng mãnh của quân Lê Văn Khôi, nhiều viên tướng bàn tính gấp rút đánh thành Phiên An. Thế nhưng, với cách nhìn toàn cục thấu đáo, Nguyễn Tri Phương dâng sớ xin vua cho tạm lưu lại ở Gia Định để điều nghiên, nắm chắc tình hình đề ra phương án đánh thành hiệu quả nhất, ông đã trực tiếp chỉ huy binh sỹ tấn công vào những điểm yếu, tiêu diệt quân phiến loạn chiếm lại thành Phiên An, thiết lập lại trật tự, lập công lớn với triều đình, đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><span>          </span></span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Dưới thời vua Thiệu Trị (1841 -1847), Nguyễn Tri Phương quản lý phủ Nội vụ năm 1841. Sau đó, chuyển ông sang làm Quản lý thủy sư kinh kỳ rồi Tả Tham tri bộ công. Nguyễn Tri Phương được tin dùng trong những trọng trách chỉ huy quân chống giặc. Đặc biệt, từ năm 1841 trở về sau, sự nghiệp của danh tướng Nguyễn Tri Phương gắn liền với những mặt trận chống ngoại xâm trên cả đất nước từ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Trung Bộ, Nam Bộ và Bắc Bộ. Nguyễn Tri Phương là một viên tướng tài năng, đức độ, chí lớn, tận tụy với công việc, tận trung với triều đình, luôn nghĩ về đại nghĩa của dân tộc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><span>          </span></span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Năm 1841, vua Thiệu Trị cử Nguyễn Tri Phương làm</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Tuần phủ An Giang, Hộ lý</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">quan phòng</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Tổng đốc An Hà bình định dẹp loạn. Với tài thao lược, điều binh khiển tướng, được nhân dân ủng hộ, ông đã lãnh đạo quân sỹ đánh bại quân Xiêm và thổ phỉ. Năm 1842, ông tiếp tục chỉ huy đánh bại thủy binh quân Xiêm, sau đó xuất quân, bình ổn xứ Cao Miên, được vua ban thưởng và phong làm Tổng đốc Long Tường. </span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Sau đó, </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Nguyễn Tri Phương được vua Thiệu Trị ban thưởng và phong là An Tây Trí Dũng tướng, Hiệp biện Đại</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">, Phụ Chính đại thần.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><span>          </span></span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Dưới thời vua Tự Đức, Nguyễn Tri Phương tận tâm cống hiến và được vua tin yêu, giao những trọng trách của đất nước. Năm 1847, vua Tự Đức phong cho Nguyễn Tri Phương tước Tráng liệt bá. Năm 1850, Nguyễn Tri Phương được sung chức Kinh lược xứ ở Nam kỳ, lãnh Tổng đốc Định Biên, kiêm coi hai đạo Long Tường và An Hà. Nhận nhiệm vụ mới, Nguyễn Tri Phương đã tiến hành một chủ trương hình thành đồn điền, lập ấp để mở mang thêm đất đai, tạo nguồn lương thực. Song song với việc dùng binh lính khai mở đồn điền, Nguyễn Tri Phương cho tập trung dân lưu tán để an cư lạc nghiệp, tạo nên đời sống yên ổn cho người dân và bình ổn trong</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">quản lý. Năm 1855, ông về kinh thành Huế rồi sau đó, về quê nhà an nghỉ cho đến năm 1857.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><span>          </span></span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Năm 1858, Vua Tự Đức cho triệu Nguyễn Tri Phương về triều và giao trọng trách Tổng thống quân thứ Quảng Nam. Trong tình thế khó khăn, an nguy cả đất nước, ông không h</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ề</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> quản ngại tiếp tục gánh vác sứ mạng c</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ầ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">m quân kháng chiến chống ngoại xâm. </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Trước sự t</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ấ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">n công của quân Pháp khi đánh chiếm Nam Kỳ, Nguyễn Tr</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">i</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Phương đ</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ã</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> đến với vùng Biên Hòa - Gia Định để lãnh đạo quân binh kháng chiến. Khi Đại đồn Chí Hòa ở Gia Định th</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ấ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">t thủ, ông cùng quân sỹ rút về Biên Hòa để chuẩn bị cho công cuộc phòng thủ. Thế nhưng, Nguyễn Tri Phương ph</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ả</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">i trở v</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ề </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">kinh khi tình thế</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">b</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ắ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">t buộc, lệnh triều đình phải bãi binh trước mưu sự còn dang dở. Tương truyền, người dân Biên Hòa đã cản đ</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ầ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">u ngựa, khẩn c</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ầ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">u Nguyễn Tr</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">i</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Phương ở lại cùng quyết chiến với quân thù. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span class=Bodytext><span style="font-style:normal;font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><span>            </span></span></span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Tháng 9 năm 1862, Nguyễn Tri Phương được triều đình cử ra Bắc l</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ầ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">n thứ nhất với chức vụ Tổng thống quân vụ đại th</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ầ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">n. Từ năm 1862 đến năm 1866, Nguyễn Tri Phương kiêm nhiệm thêm chức vụ Tổng thống quân vụ ở Tây và B</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ắ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">c, sau đó chuyển sang Tổng thống quân thứ Hải An.</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Thời gian này, Nguyễn Tri Phương dồn tâm lực lãnh đạo quan quân thực hiện nhiệm vụ bình định và chiêu dân giữ an các tỉnh biên giới phía Bắc từ miền núi đến duyên hải và một số tỉnh trung du… Vua Tự Đức hết lời khen ngợi, ban thưởng và đã g</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ả</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> công chúa Đồng Xuân cho Nguyễn Lâm, con trai của ông.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><span>          </span></span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Năm 1872, Nguyễn Tri Phương đã qua cái tuổi thất thập cổ lai hy, nhưng vẫn được vua Tự Đức cử ra Bắc với chức vụ Khâm Mạng Tuyên sát Đổng sức đại th</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ầ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">n với quyền hạn giải quyết mọi việc quân dân. Lúc bấy giờ, quân Pháp từ Nam Kỳ chuyển quân ra Hà Nội và cấu kết với các nhóm vũ trang từ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Trung Quốc với ý định đánh chiếm Bắc Kỳ.</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Trước tình thế này, triều đình lệnh cho Nguyễn Tri Phương giữ thành Hà Nội với</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">chức Tổng đốc. Sử cũ ghi: </span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">“</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">...Nguyễn Tri Phương <span>đ</span></span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ã</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">vì</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">nước, vì <span>vua, </span>làm hết trách nhiệm không thoái thác được</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">”</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><span>          </span></span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Tháng 11 năm 1873, trong trận quyết chiến giữ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Thành Hà Nội, con trai Nguyễn Tri Phương là Phò mã Nguyễn Lâm bị trúng đạn chết tại trận, Nguyễn Tri Phương cũng bị trọng thương, ông được lính Pháp cứu chữa, nhưng ông khẳng khái từ chối và nói rằng: </span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">“</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Bây gi</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ờ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">”</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">. Sau đó, ông tuyệt thực g</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ầ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">n một tháng và mất vào ngày 20 tháng 12 năm 1873 (1 tháng 11 Âm lịch), thọ 73 tuổi.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><span>          </span></span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Khắc ghi công lao của Nguyễn Tri Phương, vua Tự Đức truyền quan tỉnh Hà Nội sai quân phu hộ tang quan tài ông và con trai về làng an táng. Năm 1875, vua</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Tự</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Đức cho lập đền thờ NguyễnTri Phương ở làng Đường Long, phủ Thừa Thiên và truy tặng Binh bộ tả Tham tri</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">..</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><span>          </span></span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Với vùng đất Biên Hòa, danh tướng Nguyễn Tr</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">i</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> Phương</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> thực sự</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> đ</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ã</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> trở thành bất tử. Là danh tướng của triều Nguyễ</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">n</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">, </span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">nhưng </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">một ph</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ầ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">n cuộc đời của ông g</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ắ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">n li</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ề</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">n với m</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ả</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">nh đất Biên Hòa - Gia Định xưa, tức Đồng Nai - Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Hay ti</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">n</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ô</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ng mất, người dân Bi</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ê</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">n Hòa tiếc thương và tạc tượng ông rư</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ớ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">c vào đ</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ì</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">nh thờ phụng. Ghi nhớ công lao và ngưỡng mộ tài n</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ă</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ng, đức độ c</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ủ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">a ông, người dân nơi đây tôn ông lên bậc th</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ầ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">n linh, trở thành vị phúc th</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ầ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">n của là</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">n</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">g xã, cung kính thờ trong đ</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ì</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">nh Mỹ Khánh</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">,</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">sau khi bổ sung danh nhân Nguyễn Tri Phương vào thờ tại đình, từ ấy </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">đ</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ì</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">nh có tên gọi là đền thờ Nguyễn Tri Phương</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">. <span>  </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><span>          </span>Cùng đó, Ủy ban Nhân dân thành phố Biên Hòa đã quyết định đặt tên Nguyễn Tri Phương cho con đường nối liền đường Hà Huy Giáp, đường Cách mạng tháng Tám, cắt ngang đường Nguyễn Ái Quốc thể hiện được tính tiếp nối và kế thừa truyền thống của lịch sử dân tộc, qua Cù lao Phố gắn với công cuộc khai mở của Triều Nguyễn ở xứ Đồng Nai. Đường Nguyễn Tri Phương có chiều dài 4.124 m, vị trí của đường bắt đầu từ Cầu Rạch Cát chạy đến ngã tư Cầu Hang thuộc địa phận xã Hóa An, thành phố Biên Hòa.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><span>          </span>Nguyễn Tri Phương, người lãnh đạo quân triều đình nhà Nguyễn chống Pháp ở Gia Định và Biên Hòa khi thực dân Pháp chiếm thành Biên Hòa năm 1861, người anh hùng, vị tướng quân của dân tộc vừa có tâm, có tài không mưu cầu danh lợi, suốt đời sống thanh bạch, gia tài để lại đối với con cháu chỉ là tiếng thơm. Nhưng đối với cả dân tộc Việt Nam, t</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ấm gương cả một đời tận tụy vì đại nghĩa dân tộc của Nguyễn Tri Phương cùng những người trong họ tộc Nguyễn Tri </span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">đã xả thân </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">hy sinh vì nước luôn nhắc nhở cho lớp </span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">lớp </span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">hậu nhân Biên Hòa – Đ</span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ồ</span><span lang=VI style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">ng Nai khắc ghi công lao của vị danh tướng ngời sáng trong một giai đoạn lịch sử lắm bi thương nhưng rất đỗi hào hùng của dân tộc. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"> </p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;margin:0in 0in 0pt"><b><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">HÌNH ẢNH VỀ CON ĐƯỜNG NGUYỄN TRI PHƯƠNG</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;margin:0in 0in 0pt"> </p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> <img width=673 height=403 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2016-9/duong-nguyen-tri-phuong2092016_143913.jpg"></span></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"><img width=638 height=444 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2016-9/nguyen-tri-phuong-noi-dai-bui-huu-nghia2092016_143924.jpg"></span></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;margin:0in 0in 0pt"> </p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt"> </span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;margin:0in 0in 0pt"><b><i><span style="font-family:'Times New Roman','serif';font-size:14pt">Đinh Nhài</span></i></b></p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 20/09/2016 2:30 CH</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 936</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Tue, 20 Sep 2016 07:39:52 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/baiviet2016/ncdhthoai/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=14</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Con đường mang tên Bác sĩ Nguyễn Văn Hoài -  Vị Giám đốc Việt Nam đầu tiên của bệnh viện Tâm Thần trung ương II</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/baiviet2016/ncdhthoai/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=21</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass4966463532644C69999FD0AEF60B1CFF><div class=ExternalClass9902699C354F4B069F5D6616688E9F19>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Bệnh viện Tâm Thần trung ương II - Nơi bác sĩ Nguyễn Văn Hoài đã gắn bó và cống hiến đến hơi thở cuối cùng, được Pháp thành lập từ năm 1915 với tên gọi ban đầu là trú xá của người Biên Hòa. Qua các thời kỳ lịch sử, bệnh viện được đổi thành nhiều tên gọi khác nhau như: Dưỡng trí viện Nam Kỳ (1937), Dưỡng trí đường Biên Hòa (1945), Dưỡng trí đường Trần Phú (1945), Dưỡng trí viện miền Nam Việt Nam tại Biên Hòa (1953), Dưỡng trí viện bác sĩ Nguyễn Văn Hoài (1955), Bệnh viện Tâm trí bác sĩ Nguyễn Văn Hoài (1971), Bệnh viện Tâm trí Biên Hòa (1975), Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa (1980) và từ năm 2003 đến nay đổi tên thành Bệnh viện Tâm thần Trung ương II. </font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Từ khi thành lập đến nay, đã có rất nhiều bác sĩ điều hành bệnh viện như:<span>  </span>bác sĩ C. Pusat (1918 – 1921); bác sĩ Robert (1921 – 1922); bác sĩ Roussy (1922 – 1925); bác sĩ Augagneur (1925 – 1933); bác sĩ Lê Trung Lương (1955 - 1962); bác sĩ Nguyễn Tuấn Anh (1962 - 1972); bác sĩ Tô Dương Hiệp (1972 - 1973); Phó giáo sư, bác sĩ Lý Anh Tuấn (1987 - 1988); Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Hữu Thọ (1999 - 2010); … Nhưng có lẽ, người có đóng góp nhiều nhất cho sự hình thành và phát triển của Viện Dưỡng Trí Biên Hòa là bác sĩ Nguyễn Văn Hoài, điều hành bệnh viện từ năm 1945 – 1955.</font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"><img align=left width=191 height=298 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2016-11/BS-Nguyen-Van-Hoai17112016_10241.jpg">Bác sĩ chuyên khoa tâm thần Nguyễn Văn Hoài sinh ngày 7-6-1898 tại Long Châu, tỉnh Vĩnh Long. Bác sĩ Hoài tốt nghiệp Cao đẳng Y khoa Hà Nội năm 1919. Bác sĩ đã công tác nhiều nơi như: Tây Ninh, Trảng Bàng, Tam Bình (Vĩnh Long), Long Xuyên và Chẩn y viện Sài Gòn. </font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Năm 1926, Bác sĩ Hoài sang Pháp học khoa tâm lý và triết lý tại Đại học đường Sorbonne. Năm 1929, bác sĩ về nước và tình nguyện làm việc tại “nhà thương điên” Biên Hòa, lúc đó gọi là Asile d' aliénés (Trú xá người điên) vì ít ai chịu đến làm việc ở nơi có bệnh nhân không bình thường này. Đây là một trong những trung tâm điều trị bệnh nhân tâm trí lớn nhất ở khu vực Đông Dương lúc bấy giờ (Lào và Campuchia chưa có). Chính vì vậy mà bác sĩ Hoài, người giám đốc cơ sở y tế này trong suốt 25 năm cũng đã làm cho người dân địa phương còn nhắc nhớ mãi đến ông.</font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Với chức vụ là y sĩ thường trú dưới quyền của các bác sĩ người Pháp, bác sĩ Hoài đã luôn tìm cách tiếp cận và nghiên cứu ra những phương pháp để điều trị bệnh nhân đạt hiệu quả bên cạnh thuốc men còn thiếu thốn và trình độ y khoa còn chưa được tiến bộ như hiện nay. Cho đến năm 1941, bác sĩ Hoài đã hợp tác với bác sĩ Dorolle sáng chế ra máy điện kinh (electrochoc) để chạy điện cho bệnh nhân và đưa bệnh viện Tâm thần Biên Hòa trở thành trung tâm thứ tư trên thế giới dùng máy điện kinh sau các nước: Nhật, Ý và Algiéria (An-giê-ri)</font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Minh dành lại chính quyền, xây dựng miềm Bắc đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Dưỡng trí viện cũng không nằm ngoài sự quản lý của Pháp, Nhật, Việt Minh rồi lại Pháp. Năm 1945, để bảo vệ an ninh khu vực, các đồng chí lãnh đạo Biên Hòa đã yêu cầu sơ tán Dưỡng trí viện vào rừng cùng các chiến sĩ cách mạng. Lo lắng trước sự an nguy của các bệnh nhân tâm trí trước những thiếu thốn về thuốc men, điều kiện vật chất, điều kiện tinh thần trong rừng sâu, đồng thời bác sĩ Hoài cũng sợ những bệnh nhân tâm trí mất tự chủ, đi lang thang trong rừng sẽ ảnh hưởng đến lối đánh du kích, vô tình cung cấp thông tin cho địch sẽ ảnh hưởng đến hoạt động cách mạng. Nên bác sĩ Hoài đã thuyết phục các đồng chí lãnh đạo Biên Hòa đồng ý không di chuyển Dưỡng trí viện Biên Hòa nhưng vẫn bảo đảm an toàn cho người bệnh và cán bộ y bác sĩ làm việc trong đó.</font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Đến năm 1946, khi Pháp tái cầm quyền, Dưỡng trí viện gần như bị bỏ quên và người ta đã giảm phần ăn của bệnh nhân từ ba xuống hai bữa. Một lần nữa bác sĩ Hoài đã đấu tranh với “Chính phủ Trần Văn Hữu” một cách thành công với những lời lẽ đầy bác ái : “<i>Họ là những người xấu số nhất, tâm trí đã rối loạn rồi, nay lại làm cho bao tử họ thiếu ăn để cho cơ thể họ suy mòn, ảnh hưởng đến tâm trí họ thì có khác gì giết phứt họ đâu! Xin cấp trên tìm cách tiết kiệm ở những nơi khác</i>”. Bác sĩ Hoài luôn tìm cách để bênh vực cho nhân viên và người bệnh của ông trước những vụ bắt bớ, đòn roi, tra tấn của bọn tay sai bán nước để lấy thông tin về hoạt động cách mạng. Năm 1947, bác sĩ Nguyễn Văn Hoài chính thức được bổ nhiệm làm giám đốc Dưỡng trí viện Biên Hòa, nhưng thật ra ông đã đảm nhiệm chức vụ khó khăn này từ tháng 3-1945, sau khi các bác sĩ người Pháp ra đi.</font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Cho đến năm 1955, sau hơn 25 năm phục vụ ở Dưỡng trí viện, bác sĩ Hoài đã biến nơi đây từ chỗ giam nhốt người điên (thời kỳ đầu) thành bệnh viện có chữa trị. Bác sĩ mở rộng xây dựng cơ sở vật chất, cải tạo vườn hoa, cây cảnh, suối nước, hồ tắm, sửa sang đường lối đi lại, giữa vườn hoa đều có tượng gốm mỹ nghệ. Bác sĩ chủ trương “biến địa ngục nhốt người điên thành cõi thiên đường cho người đi dưỡng trí”. Quả thật, Dưỡng trí viện thời kỳ này rất khang trang sạch sẽ, đẹp đẽ đến nỗi một du khách ghi trong sổ vàng, trang 177 của bệnh viện như sau: “<i>Cầm một mảnh giấy con, tôi không biết bỏ vào đâu</i>”. Bác sĩ lập các khu nông trại để bệnh nhân nhẹ lao động nhằm tìm lại cám giác quen thuộc, mau hồi phục tâm trí và nhanh chóng tái hòa nhập với xã hội, đồng thời cải thiện đời sống sinh hoạt cho bệnh nhân khi không được chính quyền cai trị quan tâm.</font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Ngoài lĩnh vực y học, bác sĩ Hoài còn nghiên cứu nhiều lĩnh vực khác như: văn hóa, xã hội, triết học, siêu hình, thần học, tâm lý học. Bác sĩ Hoài biết và thành thạo nhiều ngôn ngữ như: Hán, Pháp, La-tinh, Hy Lạp, Anh. Bác sĩ nghiên cứu và viết rất nhiều sách như: <i>Lược khảo về vấn đề hòa bình</i> viết năm 1950 ; <i>Điên? Dưỡng Trí Viện?</i> viết năm 1952 ; <i>Từ bệnh tâm trí đến bệnh giết người ; Về sự tổ chức Dưỡng trí viện ; Adolf Hitler xét như một bệnh nhân tâm trí</i> ; … Bác sĩ sống rất thanh bạch, ngay thẳng và giản dị như bài thơ “<i>Phong hóa chữ I</i>” của ông :</font></span></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Chữ I ngay thẳng,</font></span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Chẳng vì ai,</font></span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Chẳng tùy ai,</font></span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Chẳng khuất ai,</font></span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Mãi mãi ta theo ánh sáng.</font></span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Vì quá mệt mỏi, năm 1948 bác sĩ Hoài xin từ chức nhưng đơn của ông không được chấp nhận. Theo dữ liệu trong cuốn sách “<b>Biên Hòa - Đồng Nai: 300 năm hình thành và phát triển</b>” của Lâm Hiếu Trung chủ biên viết: “<i>ngày 28-5-1955, bác sĩ Nguyễn Văn Hoài đã qua đời vì bệnh tim, hưởng dương 57 tuổi”.</i> Nhưng trong cuốn sách “<b>Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam</b>” của Nguyễn Quyết Thắng và Nguyễn Bá Thế Đám lại viết: “<i>5 giờ,</i> <i>ngày 28-5-1952, ông mất đột ngột vì bệnh tim, hưởng dương 54 tuổi</i>”. Tuy dữ liệu lịch sử ghi chép lại ngày mất của bác sĩ Hoài khác nhau, song không gì có thể thay đổi được những hi sinh, cống hiến lớn lao của bác sĩ cho Dưỡng Trí Viện Biên Hòa. Tang lễ của bác sĩ được tổ chức và an táng tại Dưỡng trí viện Biên Hòa trong niềm tiếc thương khôn cùng của toàn thể nhân viên và bệnh nhân. Để ghi nhớ công lao của bác sĩ, chỉ gần hai tháng sau khi bác sĩ mất, ngày 11-7-1955 chính quyền sở tại đã lấy tên bác sĩ để đặt tên cho Dưỡng trí viện. </font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Với những cống hiến lớn lao ấy, ngày 15 tháng 7 năm 1952, bác sĩ Nguyễn Văn Hoài được tặng thưởng “Bảo quốc huân chương” vì những sự nghiệp mà ông đã làm. </font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Năm 1957, tên tuổi bác sĩ Hoài được nhà văn Lê Văn Siêu và họa sĩ Tú Duyên đưa vào bức tranh “Cây Văn hiến Việt Nam” cùng với nhiều danh nhân Việt Nam khác. </font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Năm 1991, tiểu sử của bác sĩ được giới thiệu trong “<b>Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam</b>” do Nguyễn Quyết Thắng và Nguyễn Bá Thế biên soạn. Ngày 28/05 dương lịch hằng năm, ban giám đốc và nhân viên Dưỡng trí viện đều tổ chức lễ kỷ niệm ngày Bác sĩ Hoài viên tịch trong vòng thân mật của giới y tế, nhưng đượm lòng nhớ tiếc người xưa.</font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Với vốn kiến thức bác học uyên thâm và tinh thần nhân đạo hết lòng vì người bệnh của bác sĩ Nguyễn Văn Hoài, bác sĩ thật xứng đáng được tôn là bậc tài danh của đất Biên Hòa, nơi gia đình bác sĩ đã sống, nơi bác sĩ suốt đời cống hiến và đã đón bác sĩ trở về với lòng đất. Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa tự hào đã được mang tên bác sĩ Nguyễn Văn Hoài. </font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Trước những cống hiến lớn lao của bác sĩ Nguyễn Văn Hoài với sự nghiệp điều trị những bệnh nhân bị bệnh tâm trí, Đảng bộ và nhân dân Biên Hòa – Đồng Nai vinh dự lấy tên bác sĩ đặt cho đoạn đường quốc lộ một từ đường Nguyễn Ái Quốc (gần bệnh viện Tâm thần Trung ương II) chạy ôm phía sau của bệnh viện Tâm thần Trung ương II. </font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Đường Nguyễn Văn Hoài dài 440m, rộng 10.5m, lộ giới 20.5m. </font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Khi tuyến đường Nguyễn Văn Hoài đi vào sử dụng đã giúp cho người dân phường Trảng Dài đi vào hướng thành phố Biên Hòa thuận tiện hơn, tránh ùn ứ cục bộ tại nút giao thông Ngã tư Tân Phong. </font></span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><b><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Đào Thanh</font></span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"> </font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><b><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Tài liệu tham khảo</font></span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">1. Biên Hòa sử lược toàn biên /<span>  </span>Lương Văn Lựu. - Biên Hòa : [Knxb.] , 1972; 21 cm. Quyển 2 :<span>  </span>Biên Hùng oai dũng. -<span>  </span>1972 -<span>  </span>318 tr. : ảnh, minh họa.</font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">2. Kỷ Yếu Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II, 95 năm hình thành và phát triển ( 1915 – 2010)</font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">3. Biên Hoà - Đồng Nai: 300 năm hình thành và phát triển / Lâm Hiếu Trung chủ biên ; Trần Quang Toại, Trần Toản. - In lần thứ 2, có sửa chữa và bổ sung. - Đồng Nai : Nxb. Đồng Nai , 1998,<span>  </span>531 tr. : 08 ảnh màu ; 23 cm.</font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">4. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam / Nguyễn Quyết Thắng, Nguyễn Bá Thế ; Huỳnh Lứa đọc duyệt, hiệu chỉnh. - H. : Khoa học xã hội , 1991, 1094 tr. : 15 tờ ảnh ; 21 cm.</font></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><b><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"> </font></span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><b><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Hình ảnh về đường Nguyễn Văn Hoài:</font></span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"> </p>
<p style="text-align:center"><img width=774 height=361 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2016-11/Nguyen-Van-Hoai-tiep-giap-Nguyen-Ai-Quoc17112016_10352.jpg"></p>
<p style="text-align:center"><img width=776 height=358 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2016-11/Duong-Nguyen-Van-Hoai17112016_1046.jpg"></p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 17/11/2016 9:55 SA</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.025</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Thu, 17 Nov 2016 03:04:37 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/baiviet2016/ncdhthoai/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=21</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Đường Đoàn Văn Cự, tên một lãnh tụ nghĩa quân kháng Pháp với hình thức ''Hội kín'' tại Biên Hòa, Đồng Nai</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/baiviet2016/ncdhthoai/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=17</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassD466EAAFD92E4FF7AE177EB5CDBD09E9><div class=ExternalClass1E5F382D188F4F22917D7093ADFB3D58>
<div class=ExternalClassD55554D4CE21404493D1C62CE1EFF9C3>
<p style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt;background:white"><b><i><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">          Sơ lược về con đường Đoàn Văn Cự: </font></span></i></b></p>
<p style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt;background:white"><font face="Times New Roman"><b><i><span style="font-size:14pt"><span>          </span></span></i></b><span style="font-size:14pt">Đường Đoàn Văn Cự là con đường mang tên một lãnh tụ nghĩa quân kháng Pháp ông tên Đoàn Văn Cự, ông đã đứng lên thành lập “Hội kín” chống lại ách thống trị của thực dân Pháp, mọi việc chưa thành, ông đã hy sinh.</span></font></p>
<p style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt;background:white"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"><span>          </span>Về con đường Đoàn Văn Cự: Trước năm<span class=apple-converted-space> </span></font><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none"><font face="Times New Roman">1975</font></span><font face="Times New Roman">, Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai đã lấy tên Đoàn Văn Cự, đặt tên cho một khu cư xá và một con đường nối liền Quốc lộ 1 (nay là<span class=apple-converted-space> </span></font><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none"><font face="Times New Roman">Quốc lộ 1A</font></span><font face="Times New Roman">) và đường liên tỉnh 24. </font></span></p>
<p style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt;background:white"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"><span>          </span>Tiếp đó, ngày 6/9/2007, Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai đã ra quyết định số 2854/QĐ-UBND theo Nghị quyết số 91/2007/NQ-HĐND ngày 25/7/2007 của HĐND tỉnh Đồng Nai về việc đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng tại thành phố Biên Hòa, theo đó một con đường ở thành phố<span class=apple-converted-space> </span></font><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none"><font face="Times New Roman">Biên Hòa</font></span><font face="Times New Roman">, tỉnh Đồng Nai (đoạn nối từ đường Phạm văn Thuận đến đường Đồng Khởi) thuộc phường Tam Hiệp được mang tên Đoàn Văn Cự. Con đường có chiều dài 650 m, gắn với ngôi đền Đoàn Văn Cự - Di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia, nơi ghi nhớ sự nghiệp đấu tranh cách mạng chống Pháp của ông.</font></span></p>
<p style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt;background:white"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"><span>          </span><b><i>Sơ lược về tiểu sử của Đoàn Văn Cự: </i></b></font></span></p>
<p style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt;background:white"><font face="Times New Roman"><b><i><span style="font-size:14pt"><span>          </span></span></i></b><span style="font-size:14pt">Ngày 31 tháng 8 năm 1858, thực dân Pháp nã súng vào Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược chính thức ở nước ta. Ngay<span>  </span>từ những ngày đầu, thực dân Pháp liên tiếp phải đương đầu với sự kháng cự mạnh mẽ của lực lượng quan, quân triều đình và các cuộc khởi nghĩa do các sỹ phu yêu nước lãnh đạo. Trong đó, cuộc khởi nghĩa có tổ chức do Đoàn Văn Cự lãnh đạo (<span style="background:#fafafa">được thành lập dưới hình thức Hội kín) </span>ở Biên Hòa tuy quy mô không lớn nhưng đã để lại tiếng vang, có tác động mạnh mẽ đến phong trào chống Pháp của nhân dân ta đầu thế kỷ XX.</span></font></p>
<p style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt;background:#fafafa"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"><span>          </span>Đoàn Văn Cự sinh năm<span class=apple-converted-space> </span></font><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none"><font face="Times New Roman">1835</font></span><font face="Times New Roman"> (</font><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none"><font face="Times New Roman">Ất Mùi</font></span><font face="Times New Roman">) tại làng Bình An, huyện Bình An, tỉnh<span class=apple-converted-space> </span></font><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none"><font face="Times New Roman">Biên Hòa</font></span><font face="Times New Roman"><span class=apple-converted-space> </span>(nay là<span class=apple-converted-space> </span></font><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none"><font face="Times New Roman">quận Thủ Đức</font></span><font face="Times New Roman">,<span class=apple-converted-space> </span></font><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none"><font face="Times New Roman">thành phố Hồ Chí Minh</font></span><font face="Times New Roman">). Cha ông là một bậc túc nho có chí khí và lòng yêu nước nồng nàn. Gia đình ông luôn bị thực dân Pháp theo dõi, cụ phải dời quê hương đến trú tại rừng Bưng Kiệu, thôn Vĩnh Cửu tỉnh Biên Hòa<span>  </span>(nay thuộc phường Tam Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai), nơi có ít tai mắt của bọn thực dân.<span>  </span></font></span></p>
<p style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt;background:#fafafa"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"><span>          </span>Tiếp nối truyền thống của gia đình, Tại Bưng Kiệu, Đoàn Văn Cự mở các lớp dạy học và làm nghề bốc thuốc gia truyền, kiêm luôn xem bói tướng cho người dân. Hàng ngày, ông ăn mặc giống như một người tu hành, sống hiền hòa, lương thiện và được nhiều người trong vùng kính nể. Đoàn Văn Cự theo nghề cha dạy học và làm thuốc để giúp đỡ dân nghèo nên được gọi là <span>ông thầy Cự</span>. Nhờ vậy, ông che tai mắt<span class=apple-converted-space> </span></font><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none"><font face="Times New Roman">thực dân Pháp</font></span><font face="Times New Roman"><span class=apple-converted-space> </span>được một thời gian, đồng thời tạo được uy tín và điều kiện để tiếp xúc tuyên truyền, chiêu tập những người dân có cùng chí hướng khơi dậy lòng yêu nước trong các tầng lớp nhân dân lao động. Lợi dụng địa thế rừng, ông xây dựng Bưng Kiệu thành căn cứ để mưu cầu đại sự.</font></span></p>
<p style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt;background:#fafafa"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"><span>          </span>Là người thông minh, tài trí, ông đã khéo léo dùng hình thức hoạt động tôn giáo để thu phục nhân tâm, qua đó tuyên truyền thức tỉnh lòng yêu nước, tinh thần xả thân vì đại nghĩa dân tộc. Các tín đồ và đồng chí của ông có mặt khắp miền Đông, như: Chợ Đồn, Bình Đa, Cù Lao phố, nhưng đông nhất là vùng Bình An, chợ Chiếu cho tới khu vực núi Nứa (thuộc huyện Long Thành, nay thuộc<span class=apple-converted-space> </span></font><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none"><font face="Times New Roman">Bà Rịa</font></span><font face="Times New Roman"> – Vũng Tàu). Để chuẩn bị cho đại cuộc đánh Pháp, ông Cự chọn vùng Bưng Kiệu (thuộc xã Tam Hiệp) làm căn cứ, tổ chức lực lượng theo lối<span class=apple-converted-space> </span></font><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none"><font face="Times New Roman">Thiên Địa Hội</font></span><font face="Times New Roman"><span class=apple-converted-space> </span>(còn gọi là Hội kín), (<span style="background:#fafafa">lúc này, Đoàn Văn Cự đã bước sang tuổi 67), </span>đồng thời cho tích lũy lương thực, mua sắm khí giới, lập lò rèn vũ khí, luyện tập nghĩa quân... Lực lượng Hội kín do Đoàn Văn Cự lãnh đạo khá đông đảo và có mặt trên địa bàn rộng lớn củ tỉnh Biên Hòa thời bấy giờ. Tổ chức Hội kín do ông thành lập quy tụ nhiều danh tài hảo hán, tinh thông võ nghệ, coi việc nghĩa là việc đại sự, một lòng vì nước, vì dân. Lực lượng nghĩa quân phát triển ngày một lớn mạnh, lương thực, khí giới được tích trữ mỗi lúc một nhiều hơn để chuẩn bị cho việc dấy binh.<span style="background:#fafafa"> Vào thời điểm ấy, hưởng ứng các bang hội khác, nhiều cuộc nổi dậy kháng Pháp đã diễn ra. Điển hình như Trương Công Định chiêu mộ quân sỹ và lập căn cứ tại Gò Công (Tiền Giang) hay vụ Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu quân Pháp trên dòng sông Vàm Nhật Tảo huyền thoại. Cùng với đó là hàng loạt các cuộc nổi dậy dưới &quot;mác&quot; Thiên Địa hội hay Hội kín.</span><span>          </span></font></span></p>
<p style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt;background:#fafafa"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"><span>          </span>Mọi việc còn đang trong giai đoạn chuẩn bị, nhưng hoạt động bí mật của Hội kín không còn giữ được, vì giặc Pháp đã nắm được tin. Ngày 11 tháng 05 năm 1905 (tức ngày 8 tháng 4 âm lịch), chính quyền thực dân cho một tiểu đội lính bí mật đến bao vây thôn Vĩnh Cửu. Được tin, Đoàn Văn Cự đã triệu tập hàng trăm nghĩa quân tổ chức mai phục sẵn sàng đón địch. Phục kích cả ngày không thấy đến, tưởng địch đã rút lui, đến tối Đoàn Văn Cự cho nghĩa quân rút về căn cứ ăn cơm. Lúc này giặc mới ập tới, vây chặt căn cứ Bưng Kiệu. Tên đại úy chỉ huy quân Pháp dẫn một tốp lính xông thẳng vào nhà Đoàn Văn Cự. Biết khó lòng thoát hiểm, ông điềm tĩnh vận bộ trang phục uy nghi, đầu chít khăn lụa điều, mình buộc thắt lưng màu hồng, giắt đoản đao đầu hổ, làm lễ trước bàn thờ tổ chờ địch đến. khi toán lính bước vào nhà, ông vung thanh đoản đao sáng loáng chém tên chỉ huy bị thương. Hắn bắn ra một loạt đạn. Đoàn Văn Cự trúng đạn, ngã xuống trước bàn thờ tổ. Quân Pháp tấn công vào doanh trại của nghĩa quân và đốt phá kho lương thực. Rừng Bưng Kiệu ngập khói lửa kín một góc trời. Mười sáu nghĩa quân đã anh dũng hy sinh, số còn lại đều chạy thoát vào rừng. Sau đó, quân Pháp bắt dân làng chôn Đoàn Văn Cự cùng với 16 nghĩa quân vào một hố lớn. </font></span></p>
<p style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt;background:#fafafa"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"><span>          </span>Hội kín Đoàn Văn Cự tan rã nhưng tinh thần yêu nước, vì đại nghĩa của tổ chức này đã tô thắm trang sử chống giặc ngoại xâm hào hùng của vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai.</font></span></p>
<p style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt;background:white"><font face="Times New Roman"><span style="font-size:14pt"><span>          </span>Đoàn Văn Cự</span><span class=apple-converted-space><span style="font-size:14pt"> </span></span><span style="font-size:14pt">là một thủ lĩnh kiên trung, bất khuất, với chí khí cách mạng kiên cường ông đã dìu dắt và lãnh đạo nghĩa binh trong công cuộc chống<span class=apple-converted-space> </span><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none">Pháp</span><span class=apple-converted-space> </span>tại<span class=apple-converted-space> </span><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none">Biên Hòa</span>, Đồng Nai. Cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo tuy quy mô không lớn nhưng đã để lại tiếng vang, có tác động mạnh mẽ đến phong trào chống pháp của nhân dân ta, đặc biệt là nhân dân vùng vùng miền Đông<span class=apple-converted-space> </span><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none">Nam Bộ</span><span class=apple-converted-space> </span>trong những năm đầu<span class=apple-converted-space> </span><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none">thế kỷ. </span></span></font></p>
<p style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt;background:white"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"><span>          </span>Đoàn Văn Cự hy sinh, để lại trong lòng nhân dân Đồng Nai một niềm thương tiếc và ngưỡng mộ vô cùng. Cảm phục trước tấm gương trung nghĩa hy sinh vì nước của Đoàn Văn Cự và những nghĩa binh của Thiên Địa Hội, người dân Biên Hòa đã góp công, góp của xây dựng ngôi mộ, miếu thờ hàng năm tổ chức lễ giỗ với sự tham gia của chính quyền và nhân dân địa phương. Hiện nay, ngôi mộ của Thủ lĩnh Đoàn Văn Cự cùng 16 nghĩa quân, tọa lạc trên khu đất cạnh dòng suối Linh Tuyền (gọi tắt là suối Linh), thuộc phường Long Bình, thành phố </font><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none"><font face="Times New Roman">Biên Hòa</font></span><font face="Times New Roman"> do nhân dân xây dựng để tưởng nhớ, ghi nhận, công lao của thủ lĩnh Đoàn Văn Cự và nghĩa binh đối với vùng đất này. Cùng đó, ngôi đình Đền thờ Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh cũng được xây dựng từ năm<span class=apple-converted-space> </span></font><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none"><font face="Times New Roman">1956</font></span><font face="Times New Roman">, cách phần mộ khoảng 1</font><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none"><font face="Times New Roman">km</font></span><font face="Times New Roman"><span class=apple-converted-space> </span>về hướng<span class=apple-converted-space> </span></font><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none"><font face="Times New Roman">Đông Bắc</font></span><font face="Times New Roman">. Đền thờ tọa lạc trên khu đất bằng phẳng, thuộc phường Tam Hiệp (</font><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none"><font face="Times New Roman">thành phố Biên Hòa</font></span><font face="Times New Roman">) trên<span class=apple-converted-space> </span></font><span style="color:windowtext;text-decoration:none;text-underline:none"><font face="Times New Roman">Quốc lộ 15</font></span><font face="Times New Roman"> gần đường Đoàn Văn Cự.</font></span></p>
<p style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt;background:white"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"> </font></span></p>
<p align=center style="text-align:center;margin:0in 0in 0pt;background:white"><b><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Hình ảnh về đường Đoàn Văn Cự</font></span></b></p>
<p style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt;background:white"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"> </font></span></p>
<p style="text-align:center;margin:0in 0in 0pt;background:white"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"><img alt="" width=585 height=443 src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2016-9/duong-doan-van-cu2992016_95146.jpg"></font></span></p>
<p style="text-align:center;margin:0in 0in 0pt;background:white"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"><img alt="" width=585 height=439 src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2016-9/duong-doan-van-cu-gan-den-tho2992016_9521.jpg"></font></span></p>
<p style="text-align:center;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;background:white"> </p>
<p> </p>
<p style="text-align:right;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;background:white"><b><i><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Đinh Nhài</font></span></i></b></p>
<p style="text-align:center"> </p>
<p style="text-align:center"> </p>
<p style="text-align:center"> </p>
<p style="text-align:center"> </p>
<p style="text-align:center"> </p>
</div>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 29/09/2016 9:45 SA</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 4.710</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Thu, 29 Sep 2016 02:52:32 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/baiviet2016/ncdhthoai/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=17</guid>
    </item>
    <item>
      <title>CON ĐƯỜNG MANG TÊN PHAN CHU TRINH - NHÀ CHÍ SĨ CÁCH MẠNG MỘT ĐỜI ''VỊ QUỐC VONG THÂN''</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/baiviet2016/ncdhthoai/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=15</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassA682F45B33EF40A5911832DD85219A68><div class=ExternalClassEA97F7AAB45749978DAFCBA5713D8BDB>
<p style="text-align:justify;text-indent:0.5in"><strong><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Phan Châu Trinh là một tấm gương sáng trong phong trào Duy Tân đầu thế kỷ 20. Ông là một nhà nho yêu nước có nhiều suy nghĩ tiến bộ.Có thể xem ông là người có tư tưởng dân chủ sớm nhất trong số các nhà nho yêu nước tiến bộ đầu thế kỷ.</font></span></strong></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"><img align=right width=219 height=265 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2016-9/nha-chi-si-cach-mang-phan-chu-trinh2492016_84324.jpg">Phan Châu Trinh (còn gọi là Phan Chu Trinh, Phan Tây Hồ) tên chữ là Tử Cán, hiệu Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã, sinh năm 1872 (Nhâm Thân, Tự Đức năm thứ 25) ở làng Tây Lộc, huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam, nay là thôn Tây Lộc, xã Tam Lộc, thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Thân mẫu ông mất sớm vào năm ông lên 6 tuổi. Quê nhà bị quân Pháp đốt cháy trong cuộc trấn áp phong trào Cần Vương nên ông phải theo cha, được cha dạy chữ và dạy võ. Năm ông 16 tuổi thì cha mất, ông trở về quê sống với anh là Phan Văn Cừ và tiếp tục đi học. Ông nổi tiếng học giỏi, năm 27 tuổi ông được tuyển vào trường tỉnh và học chung với Trần Quý Cáp, Huỳnh Khúc Kháng, Nguyễn Đình Hiến, Phan Quang và Phạm Liệu.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Là một học sinh xuất sắc nhưng với chế độ thi cử ngày trước, Phan Châu Trinh sau nhiều lần lều chõng vẫn bị lạc đề, mãi đến năm 1900 (29 tuổi), ông mới đỗ cử nhân thứ ba ở trường Thừa Thiên. Năm 1901 (30 tuổi), triều đình mở ân khoa thì ông đỗ phó bảng, cùng đỗ khoa này với ông có Nguyễn Đình Hiển, Ngô Đức Kế, Nguyễn Sinh Huy (thân sinh Bác Hồ). Sau khi đỗ phó bảng (1902) thì ông anh cả Phan Văn Cừ mất, Phan Châu Trinh ở nhà cư tang và dạy học trong làng một thời gian.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Đến năm 1903, ông được bổ làm Thừa biện bộ Lễ. Nhưng sau một năm gần gũi với giới quan trường và triều đình nhà Nguyễn thối nát, ông từ chức Thừa biện bộ Lễ. Và cũng từ đó ông thật sự dấn thân vào cuộc đời hoạt động cách mạng, công khai chống bọn quan lại tay sai Nam triều và chính quyền thực dân. </font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Đầu năm 1904, nổi bật là phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh khởi xướng, ông đã quy tụ những nhà yêu nước tên tuổi tại quê nhà Quảng Nam như Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp, hình thành 3 vị đại khoa đầy nhiệt huyết, phấn đấu cho mục tiêu: <i>“Khai Dân trí, chấn Dân khí, hậu Dân sinh”</i> với chủ thuyết <i>“Dân quyền”</i> đầy sức sống của phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Sau ngày phong trào Duy Tân thành lập, Phan Châu Trinh quyết định con đường <i>“Nam du”</i> và lấy địa bàn Quảng Nam để hoạt động. Ông đã đi vào Nam ra Bắc và đến tìm gặp Hoàng Hoa Thám, lãnh tụ kháng chiến tại chiến khu Yên Thế, rồi sang Nhật tiếp kiến Phan Bội Châu, cùng vận động phong trào Đông Du và mở rộng hoạt động phong trào Duy Tân, do 2 nhà yêu nước sáng lập. Tháng 11 – 1906, Phan Châu Trinh về nước và gửi thư cho Toàn quyền Beau, nói lên nỗi khổ cực của người dân Việt Nam và quy trách nhiệm cho quan lại triều đình Huế mà chính phủ Pháp phải có biện pháp giải quyết. Từ đó, phong trào Duy Tân ảnh hưởng ngày càng sâu rộng trong quần chúng nhân dân, Phan Châu Trinh càng tích cực tuyên truyền vận động cho chủ thuyết <i>“Dân quyền”</i> và tổ chức diễn thuyết về đề tài <i>“Dân trí – Dân khí – Dân sinh”</i> ở Hà Nội, Huế, Đà Nẵng trong những năm 1906 – 1907, đã khơi dậy tư tưởng dân quyền trong lòng người dân yêu nước, Phan Châu Trinh càng nhiệt tâm cổ xúy thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) và biểu thị sự đồng tình ủng hộ phong trào kháng thuế ở quê nhà đang lan rộng ra các tỉnh miền Trung đất nước.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Trước những hoạt động của Phan Châu Trinh ngày càng rộng mạnh, kẻ thù không để yên Phan Chu Trinh đã bị bắt giam, kết án tử hình về tội <i>“mưu phản”</i> và đày ra Côn Đảo vào tháng 4 – 1908 và Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa cũng trong thời gian ấy. Trong thời gian này, ông có chân trong hội Nhân quyền và Dân quyền ở Pháp nên hội Nhân quyền can thiệp mạnh với chính phủ Pháp. Nên đến cuối năm 1911, thực dân ở Đông Dương buộc lòng phải trả tự do cho ông. Nhưng trên thực tế khi về đến Sài Gòn, ông bị giam lỏng ở Mỹ Tho, do đó ông viết thư gửi cho Toàn quyền yêu cầu hoặc trả ông về Côn Đảo hoặc để ông tự do sang Pháp. Bọn thực dân chấp thuận cho ông sang Pháp vì chúng thấy đây là một cơ hội tốt để <i>“đày khéo”</i> Phan Châu Trinh nên chúng bằng lòng cho ông xuất ngoại với người con trai đầu lòng là Phan Châu Dật.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Trong thời gian ở Pháp, ông viết một loạt tác phẩm như <i>“Trung Kỳ dân biến thỉ mạt ký, Đông dương chính trị luận luận”</i> trước là để tự biện hộ, thân oan cho các đồng chí, sau trình nghị viện Pháp để chúng thấy rõ cái tệ trạng của nền hành chánh thuộc địa ở Đông Dương, nhất là cảnh tham quan ô lại của bọn tay sai Nam triều. Cũng trong thời gian ở Pháp, ông còn viết nhiều tác phẩm khác như: Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam, Cuộc ngoại nhân kim nhật chi Trung Quốc quan, Ký Khải Định hoàng đế thư, Tây Hồ và Santé thi tập, Tỉnh quốc hồn ca II,..</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Năm 1914, chiến tranh Pháp – Đức bùng nổ (đại chiến thế giới lần thứ nhất), nhân cơ hội này, nhà cầm quyền Pháp gọi Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường – một luật sự, nhà báo người Việt chống thực dân, đi lính, nhưng hai ông phản đối do không phải là công dân Pháp. Mấy tháng sau, chính quyền khép tội hai ông là gián điệp của Đức để bắt Phan Văn Trường giam ở lao Cherchemidi và Phan Châu Trinh bị giam ở nhà tù Santé gần một năm. Trong thời gian ở trong ngục, ông đã viết Santé thi tập với hơn 200 bài thơ ông sáng tác.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Ra tù, Phan Châu Trinh học nghề rửa ảnh rồi làm thuê cho các hiệu chụp ảnh để kiếm sống.Trong hoàn cảnh chiến tranh, giá sinh hoạt đắt đỏ, cảnh ngộ của hai cha con rất đỗi cơ cực. Chẳng lâu sau, Phan Châu Dật phải bỏ học về nước vì bị lao ruột và qua đời tại Huế và được đem về an táng cạnh một mẹ tại Tây Lộc (Tiền Phước, Quảng Nam).</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Năm 1919, Phan Châu Trinh cùng với Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành soạn bản <i>“Yêu sách của nhân dân An Nam”</i> gửi cho Hội nghị Versailles, ký tên chung là “Nguyễn Ái Quốc” và đã gây được tiếng vang. </font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Năm 1922, khi vua Khải Định sang Pháp dự đấu xảo Marseille, ông viết một bức thư dài buộc tội vua Khải Định 7 điều (Thất Điều Trần hay Thư Thất Điều), khuyên vua về nước gấp, đừng làm nhục quốc thể. Cũng trong năm này, ông viết bài Tỉnh quốc hồn ca mới, xuyên suốt tác phẩm này vẫn là một đường lối cải cách dân chủ, vẫn là thực trang tăm tối của xã hội thực dân phong kiến và những thủ đoạn tàn bạo của chính sách thuộc địa ở Việt Nam.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Thấy hoạt động ở Pháp không thu được kết quả gì, đã nhiều lần ông yêu cầu chính phủ Pháp cho ông trở về quê hương nhưng đều không được chấp thuận. Mãi đến năm 1925, khi thấy sức khỏe ông đã suy yếu, nhà cầm quyền Pháp mới cho phép ông về nước.Trong khoảng thời gian này, ông đã viết cuốn Đông Dương chính trị luận.</font></span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin:0in 0in 0pt;background:white"><span style="color:#000000"><font face="Times New Roman"><span style="font-size:13pt">            Tháng 6 năm 1925, </span><span style="font-size:14pt">Phan Châu Trinh cùng nhà cách mạng trẻ Nguyễn An Ninh xuống tàu rời nước Pháp về Sài Gòn. Sau đó, ông Ninh đưa ông về thẳng khách sạn Chiêu Nam Lầu của cha mình là ông Nguyễn An Khương. Ở đây mấy ngày, ông về ở tại nhà riêng của ông Khương ở Mỹ Hòa để tiện việc tiếp đón bạn bè đến thăm và trao đổi công việc, đồng thời cũng để tiện ông Nguyễn An Cư (Chú của ông Ninh, một lương y nổi tiếng) chăm sóc sức khỏe.</span></font></span></p>
<p style="margin:0in 0in 0pt;background:white"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">          Tuy bị bệnh nhưng Phan Châu Trinh cố gắng diễn thuyết thêm hai đề tài là Đạo đức và luân lý Đông Tây, Quản trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa.Hai bài này đã tác động không nhỏ đến thế hệ trẻ tại Sài Gòn.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Vào ngày 24/3/1926, Chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh từ trần để lại bao niềm tiếc thương vô hạn của nhân dân cả nước. Tang lễ của ông được cử hành trọng thể tại Sài Gòn (4/4/1926), quy tụ hàng vạn người đến viếng và tiễn đưa linh cửu nhà Chí sĩ yêu nước về cõi vĩnh hằng, đánh dấu một <i>“Ngày mới”</i> – ngày thức tỉnh tinh thần yêu nước, khơi dậy ý chí đấu tranh của các tầng lớp nhân dân cả nước, nhằm <i>“đạp đổ cường quyền áp chế” </i>mà Phan tiên sinh đã nêu cao tư tưởng <i>“Dân quyền”</i>, nền tảng của phong trào Duy Tân ngày càng tỏa sáng trong sự nghiệp cứu nước giải phóng dân tộc, đầu thế kỷ XX, Phan tiên sinh xứng đáng được hậu thế ngày nay thành kính tri ân và tôn vinh <b><i>“Chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh, một Danh nhân văn hóa lớn của dân tộc”</i></b>.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Khu lăng mộ và lưu niệm của Phan Châu Trinh hiện ở đường Phan Thúc Duyên, Quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh. Với những giá trị quý báu trên, ngày 12 tháng 12 năm 1994 đã vinh dự được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Tại đây, khu lưu niệm luôn được bảo quản, các hoạt động tưởng niệm luôn được diễn ra thường niên một cách trọng thể và đây cũng là một cách thể hiện lòng cảm phục, kính trọng của nhân dân đối với một nhà cách mạng tiên phong, nhà yêu nước lớn.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">Để ghi nhớ đến công lao của Chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Đồng Nai đã lấy tên ông đặt tên cho con đường Phan Chu Trinh, phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa, Đồng Nai (một điểm giáp với con đường Phan Đình Phùng, một điểm giáp với con đường Cách mạng tháng 8) và đặt tên Trường TH Phan Chu Trinh ở khu phố 8, phường Tân Phong, Biên Hòa nhằm nêu cao tinh thần yêu nước nồng nàn của ông, suốt đời gắn bó với vận mệnh đất nước, với cuộc sống sôi nổi, gian khó và thanh bạch, ông xứng đáng để hậu thế ngưỡng mộ và noi theo.</font></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"> </p>
<div style="text-align:center"><b><i><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"><img width=550 height=365 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2016-9/phan-chu-trinh-giap-voi-phan-dinh-phung2492016_84352.jpg"></font></span></i></b></div>
<div style="text-align:center"><b><i><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman"><img width=543 height=394 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2016-9/phan-chu-trinh-giap-voi-cach-mang-thang-tam2492016_84421.jpg"></font></span></i></b></div>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"> </p>
<p class=MsoNormal style="text-align:right;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><b><i><span style="font-size:14pt"><font face="Times New Roman">_ Thanh Vân_</font></span></i></b></p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/09/2016 8:40 SA</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 835</div>
]]></description>
      <author>nnkduy</author>
      <pubDate>Sat, 24 Sep 2016 01:44:38 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/baiviet2016/ncdhthoai/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=15</guid>
    </item>
  </channel>
</rss>