Bỏ qua nội dung chính

Dọc miền đất nước

Tìm kiếm
Trang chủ
Tra cứu
Tài Liệu Số
Văn bản
  

Danh mục
Không có khoản mục nào trong danh sách này.
Blogs khác
Không có khoản mục nào trong danh sách này.
Liên kết
Không có khoản mục nào trong danh sách này.

Thư viện Tỉnh Đồng Nai > Dọc miền đất nước > Bài đăng > Sông Phú Lương và sông Cầu trong lịch sử
Sông Phú Lương và sông Cầu trong lịch sử

Trên vùng đất bao la đó, có một dòng sông lớn bắt nguồn từ đỉnh Tam Tao, thuộc dãy núi Pia- Biooc (núi Hoa); thời tiền khởi nghĩa (1941 - 1945), nhiều cán bộ cách mạng bí mật đi về, cư trú tại triền dãy núi này, họ gọi là núi "Cứu Quốc”. Dòng sông chảy từ huyện Chợ Đồn sang huyện Bạch Thông (tỉnh Bắc Kạn) theo hướng tây - đông, lòng sông chỗ hẹp, chỗ rộng nhưng không sâu lắm, nhiều chỗ chỉ như làn nước chảy qua thác. Khi đến địa phận xã Xuất Hóa (Bạch thống) thì dòng sông đổi hướng, chảy về phía nam qua thung lũng Chợ Mới - Phú Lương rồi thẳng xuống trung tâm thành phố Thái Nguyên. Đoạn sông chảy từ Chợ Mới đến Thác Huống (Thái Nguyên) là trung lưu, sông khá sâu và dòng chảy ổn định hơn. Trên đoạn sông này, được tiếp nước của một số con sông nhỏ (có chiều dài khoảng 30-40 km) như sông Chu (chợ Chu) thuộc huyện Định Hóa, sông Đu (huyện Phú Lương), sông Hích, sông Nghinh Tường (huyện Võ Nhai), sông Khe Mo (Đồng Hỷ). Từ Thác Huống về xuôi, dòng sông chảy qua vùng đất đồi thấp và đồng bằng nhỏ của các huyện Phú Bình, Phổ Yên (tỉnh Thái Nguyên) và huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang) và trở thành ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh. Đoạn này dòng sông khá sâu, lòng sông rộng, chảy uốn lượn qua nhiều làng mạc cổ, qua nhiều cánh đồng bát ngát, bãi mía, nương dâu... Đoạn hạ lưu này, sông cung nhận thêm một số phụ lưu như ngòi (suối) Úc Kỳ (Phú Bình), ngòi Tiểu Lễ (Phổ Yên)... Đặc biệt khi chảy tới ngã ba Vát (thuộc làng Phù Lôi, xã Thuận Thành, huyện Phổ Yên) thì nhận thêm nước của dòng sông Giã (nay gọi sông Công) dài gần 100 km từ núi rừng huyện Định Hóa, qua núi Hồng (Đại Từ), qua Hồ Núi Cốc rồi cắt ngang huyện Phổ Yên để cùng chảy về xuôi.

Nơi đây là ranh giới tự nhiên của ba tỉnh: Thái Nguyên, Bắc Giang và Hà Nội. Xuôi thêm khoảng 10 km nữa, dòng sông lại gặp sông Cà Lỗ (sông Binh Lỗ) chảy từ Vĩnh Phúc ngang sang, nơi ấy gọi là ngã ba Xà (huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh), nơi tiếp giáp ba tỉnh: Bắc Giang, Bắc Ninh và Hà Nội hiện nay. Dòng sông chảy từ đầu nguồn đến ngã ba Xà, thời trước gọi là sông Phú Lương, hoặc sông Lương(l). Theo học giả Hoàng Xuân Hãn thì "Phú Lương là tên phủ thời Lý, nay còn châu Phú Lương tức huyện Phú Lương thuộc tỉnh Thái Nguyên thời Lý, phủ Phú Lương - gồm cả tỉnh Thái Nguyên và cả huyện Đa Phúc nữa. Sông Phú Lương là khúc sông chảy qua đó"(2).

Còn đoạn sông tiếp theo, chảy từ Ngã ba Xà làm ranh giới giữa huyện Hiệp Hòa, Việt Yên (tỉnh Bắc Giang) với huyện Yên Phong (Bắc Ninh) chảy ngang về phía đông, qua các làng Như Nguyệt, Vọng Nguyệt (huyện Yên Phong), Đại Lâm... đến núi Khao Túc được gọi là sông Như Nguyệt (xưa còn gọi là sông Nguyệt Đức) là lá chắn phía trước bảo vệ kinh thành Thăng Long trước hiểm họa ngoại xâm. Chính đoạn sông này đã góp phần làm nên chiến thắng "Phòng tuyến sông Như Nguyện do danh tướng Lý Thường Kiệt chỉ huy, bảo vệ Thăng Long, đánh bại âm mưu xâm lược của quân Tống (l075-l077). Dọc theo đoạn sông này vẫn còn một số địa danh lịch sử lưu truyền lại đến ngày nay, như những cánh gò cao phía bắc sông thuộc xã Mai Đình (huyện Hiệp Hòa) được gọi là gò Xác, Bãi Xác(3) là nơi chôn thi thể quân Tống trong trận này. Hoặc trên cánh đồng sau làng Đại Lâm (Yên Phong) cũng có những gò đất cao, tương truyền là sau chiến thắng, có các cuộc hội quân tại đây, ngựa của các tướng sĩ buộc tại đó. Những gò đống này là các "đống phân" của ngựa. Nhân dân địa phương gọi là "đống phân". Sau đổi gọi là gò "Phấn động" cho đẹp hơn(4).

Còn đoạn sông từ núi Khao Túc (hay Khau Túc), nay gọi là núi Pháo Đài, chảy về qua chân dãy núi Nham Biền (huyện Yên Dũng) để xuôi ra Lục Đầu Giang (Phả Lại). Đây là đoạn sông chắn ngang con đường kinh lý quan trọng của triều đình lên phía Bắc, nhất là những dịp có phái đoàn "đi sứ” khi qua sông nơi gần núi Pháo Đài, xưa có bắc cầu dây (cầu treo), có họp chợ phiên, nên gọi là thị Cầu (chợ Cầu). Vì vậy, nhân dân gọi là sông Cầu (sông có cầu bắc qua). Trên đoạn sông này, thời Lý đã diễn ra trận đánh ác liệt nhất, làm hai hoàng tử Hoàng Chân, Chiêu Văn hy sinh(5). Đầu thế kỷ XV, các tướng Bùi quốc Hưng, Nguyễn Chích đã bao vây bức hàng toàn bộ quân xâm lược Minh tại thành Thị Cầu (3-1427). Đoạn sông từ ngã ba Xà về Lục Đầu Giang không dài lắm (69 km) nhưng lòng sông rộng, độ dốc thấp, nên nước chảy chậm. Do đó dòng sông đã để lại bao hình ảnh đẹp: "Sông Cầu nước chảy lơ thơ” trong các làn quan họ làm say đắm lòng người...

Trên dòng sông này, từ đầu nguồn xuống hạ du, theo các sách Lịch triều hiến chương loại chí (của Phan Huy Chú), Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX - từ Nghệ Tĩnh trở ra thì sông có nhiều điểm giao thông thuận lợi trở thành trung tâm giao lưu kinh tế của mỗi vùng. Như bến tuần Bạch Thông (nay là thị xã Bắc Kạn), bến tuần Đồng Mỗ (nay là trung tâm thành phố Thái Nguyên), bến Thủy Cơ, bến Hanh (nay thuộc huyện Phú Bình), bến cảng Đại Phùng (nay là bến Chã, huyện Phổ Yên)... Hàng phiên (dăm bảy ngày) các thuyền lớn (thuyền buồm) lại chở gạo, muối mắm, đồ gốm sứ, vải lụa, vôi... từ Bắc Ninh, Phả Lại lên bán, khi về họ lại chuyên chở các mặt hàng đặc sản từ Thái Nguyên về xuôi như cam quýt ở Thượng Đình, Phương Độ, bưởi Nga My (Phú Bình), trầu không các làng Đông Hạ, Nam Đô, Vân Trai (Phổ Yên), Hương Thịnh, Đại Mão (Hiệp Hòa), và đặc biệt là chè huyện Đại Từ, Tân Cương... Vì vậy đã hình thành nên địa danh Trà Thị (chợ Chè) từ lâu đời...

Do giao thông đường sông sớm phát triển, nên dòng sông này đã trở thành tuyến giao thông quan trọng bậc nhất nối liền đồng bằng Bắc bộ với vùng trung tâm núi rừng Việt Bắc. Tại bến Chã (bến Đại Phùng xưa) đã phát hiện được nhiều đồng tiền có trong lịch sử. Tiến Trung Quốc có Cảnh Đức Nguyên bảo, Nguyên Hựu thông bảo, Nguyên Phong thông bảo (thời nhà Tống); Vĩnh Lạc thông bảo (thời Minh); Khang Hy thông bảo, Càn Long thông bảo (nhà Thanh). Tiền Việt Nam có Thái Bình thông bảo (nhà Đinh); Thuận Thiên thông bảo (thời Hậu Lê); Khải Định thông bảo, Bảo Đại thông bảo (nhà Nguyễn). Điều đó chứng tỏ từ hàng ngàn năm trước, dòng sông Phú Lương với sông Cầu (Như Nguyệt - Thị Cầu) tuy là ba đoạn sông nhưng cùng một dòng chảy. Đây là con đường thủy quan trọng trong lịch sử là mạch nguồn kinh tế, vãn hoá từ ngàn đời nay, giữa vùng đồng bằng với vùng núi. Đây cũng là cầu nối giữa các nền văn hóa, những làn điệu dân ca, si lượn của các dân tộc ở đầu sông chảy theo dòng nước mát, hòa quyện chung với các làn điệu chèo, quan họ, hát ví, trống quân, cò lả... Ở cuối dòng sông. Những phong tục hay, kinh nghiệm tốt của người xuôi cùng phát triển, hòa đồng lên phía Bắc. Do đó, càng làm cho lưu vực dòng sông (đúng ra là ba đoạn sông Phú Lương - Như Nguyệt - Sông Cầu) thêm phong phú đa dạng.

Chú thích:

(1) Dư địa chí – Nguyễn Trãi toàn tập.

(2) Lý Thường Kiệt - quyển II, t.276.

(3) Lịnh sử Hà Bắc, tập 1, tr.87.

(4) Theo tài liệu do cán bộ Sở Văn hóa Hà Bắc cung cấp 9-1976.

(5) Lịch sử Hà Bắc, tập I, tr.86.

Tạp chí Xưa & Nay số 357 tháng 6 năm 2010 (tr.16 và tr.26-27)

 

Comments

Không có nhận xét nào cho bài đăng này.