Bỏ qua nội dung chính

Dọc miền đất nước

Tìm kiếm
Trang chủ
Tra cứu
Tài Liệu Số
Văn bản
  

Danh mục
Không có khoản mục nào trong danh sách này.
Blogs khác
Không có khoản mục nào trong danh sách này.
Liên kết
Không có khoản mục nào trong danh sách này.

Thư viện Tỉnh Đồng Nai > Dọc miền đất nước > Bài đăng > Vùng đất Trà Vang – Ba Thắc
Vùng đất Trà Vang – Ba Thắc

Tên gọi Sóc Trăng do Srok Treang hoặc Srok Khl’eang nói bằng tiếng Việt trại ra mà có:

- Srok Treang tiếng Khmer có nghĩa là xóm, xứ (xóm) Bãi Sậy;

- Còn Srok Khl’eang, trong đó Srok là xứ, xóm, cõi đất, vùng đất; Khl’eang là kho, lẫm, nơi chứa bạc. Srok Khl’eang là kho chứa bạc của nhà vua, tiếng Việt âm là /Sóc-khơ-lang/, lâu ngày nói trại thành Sóc Trăng. Ở Sóc Trăng còn có một n ôi chùa mang tên Khl’eang (nay thuộc khóm V, phường 6, TP. Sóc Trăng) còn lưu giữ một bản sao tài liệu ghi chép từ thư tịch cổ, trong đó có nói đến nguồn gốc địa danh Sóc Trăng, lịch sử xây dụng chùa. Có một giả thuyết khác, dưới triều Nguyễn, có 2 tên tướng cướp Sàna Tea là Sàna Tua (Sàna là nguyên soái, có tài liệu ghi là Sàna Sum), đánh chiếm đồn lũy, cướp của dân trong vùng, đem về đây làm kho cất giấu. Tại đây chúng còn làm kho chứa lương thực, vũ khí, đúc tiền (nay thuộc ấp Vồ xã Khánh Hưng, huyện Mỹ Xuyên. Do đó, có tên Srok Khl’eang (sóc kho).

Sông Ba Thắc, tức sông Hậu từ Châu Đốc ra biển) vùng Ba Thắc (gồm Sóc Trăng và một phần Bạc Liêu), người Pháp gọi là Bassac, xuất phát tiếng Khmer /Bàsàk/, trong cụm tù neak Tà Bàsàk, tức là ông Bàsàk. Ở Bãi Xàu (Sóc Trăng) trên đường đến chùa Tắc Giồng (Tham Đôn, Mỹ Xuyên) có ngôi miếu cổ thờ thần Ba Thắc (neac Tà Bàsàk). Tương truyền có một hoàng tử người Lào (có thể mẹ là người Lào), không biết vì lý do gì ông đến ngụ và mất nơi đây. Được dân làng dựng miếu thờ, đến nay vẫn còn, người Việt gọi là "Ba Thắc Cổ Miếu" tiếng Khmer gọi là “Vat Luong Bàsàk”.

Ở huyện Mỹ Xuyên (Sóc Trăng) có xã mang tên Tham Đôn. Nguyên vùng này ngày xưa, người Khmer gọi là Kompong Đôn (có nghĩa là Bến Dừa hoặc Vũng Dừa), sau được Vệt hóa thành Tham Đôn cho dễ gọi, song không có nghĩa gì. Tại đây có ngôi chùa mang tên Tat Giồng, một ngôi chùa được xem là cổ nhất ở Sóc Trăng, xây dựng cách nay khoảng 800 năm. Tương truyền lúc mới xây có dụng một nọn tháp cao để cho vị lãnh chúa của vùng đất này đến xem đua ghe hàng năm. Ngọn tháp cao tiếng Khmer gọi là Prasat, nên chùa còn có tên Prasthklong.

Bạc Liêu, người Khmer gọi là /Pô Loeu/ có nghĩa là cây lâm vồ (bồ đề) cao. Nhưng người Triều Châu nói là / Pô Léo/ có nghĩa lính Lèo, lính Lào/ Ai Lao. Trong các cuộc tranh chấp ngôi quốc vương ở Chân Lạp, một số vụ có sự tham gia của người Lào. Quốc vương Chey Chetra II (1618 - 1628) trước khi cưới công nương Ngọc Vạn (con chúa Nguyễn Phước Nguyên) đã có 2 người vợ, một bà người Khmer và một bà người Lào. Khi Chey Chetta băng hà, Ponhea Tu (con bà người Khmer) kế vị. Chau Ponhea (con bà người Lào), sử ta gọi là Nặc Ông Chân I, tức giận cướp ngôi năm 1642. Sau đó hai hoàng thân So là Ang Ton nhờ chúa Nguyễn giúp đỡ giành lại ngôi báu.

Bãi Xào do âm / bai chau/ trong Srok Bai Chau có nghĩa là "cơm chưa chín". Có nhiều giai thoại liên quan đến sự hình thành địa danh này.

Trà Vang hoặc Trà Vinh xuất âm Khmer /Préah Trapéang/ nơi có nghĩa  là tìm được tượng Phật bằng đá trong ao nước. Sự tích này không biết có từ bao giờ, năm đó, trong một trận nước lụt dân làng thấy một tượng Phật trôi tấp vào bờ ao, liền rước về một gò cao, cạnh đó xây chùa thờ phượng. Chùa được đặt tên Bodhisalareaj, nay gọi là chùa Ông Mẹt, tên vị sư cả đầu tiên. /Trapéang/ được Hán Việt hóa thành âm /Trà Văn/, sau bị nói trại thành Trà Vinh. Trong Monographie de la Province de Trà Vinh (1903) ở trang 6 và trang 34, có chép chuyện ao tên Préah Trapéang. Có một ông hoàng Chân Lạp chạy nạn, đến đây thuyền bị chìm, nhờ Phật độ nên thoát hiểm. Quốc vương lập chùa thờ Phật để tạ ơn, trong chùa có một cái ao to. Ao này nay vẫn còn ở xã Đôn Hóa (làng Lương Sa/ Luông Sa).

Trong khoảng hơn 250 ngôi chùa Khmer ở Trà Vinh, Sóc Trăng và Bạc Liêu có một số chùa rất cổ được xây từ trước thế kỷ XVI, nổi tiếng như Samrongek, tương truyền được xây từ năm 642, còn lưu giữ một số tượng cổ Noria bằng đá quý. Chùa Angkorette Pali (còn gọi là chùa Âng) xây dựng vào thế kỷ X, chùa Kamponynixprdle (tên khác là chùa Hang), chùa Mồng Rầy là những ngôi chùa đẹp nổi tiếng từ lâu với nhiều nét đặc trưng của kiến trúc Khmer. Những công trình cổ kính ở nơi đây còn là giang sơn của các loại chim, cò. Tiêu biểu hơn cả là chùa Nodol còn gọi là chùa Cò hay chùa Giồng Lớn được xây dựng vào năm 1677…

Về địa hình, dù bị gián đoạn bởi các cửa của sông Hậu, nhưng cả hai vùng đều cùng một dạng địa hình gò, giồng ven biển. Càng về phía biển, các giồng này càng cao và rộng lớn. Các giồng bị chia cắt bởi hệ thống sông rạch chằng chịt, làm địa hình trở nên khá phức tạp. Các vùng trũng xen kẹp với các giồng cao, xu thế độ dốc chỉ thể hiện trên từng cánh đồng. Riêng phần phía nam là vùng đất thấp, bị các giồng cát hình cánh cung chia cắt thành nhiều vùng trũng cục bộ, nhiều nơi chỉ ở độ cao 0,5-0,8m nên hàng năm thường bị ngập mặn 0,4-0,8m trong thời gian 3-5 tháng.

Đất Préah Trapeang là một dải đồng bằng ven biển bao gồm vùng châu thổ được hình thành lâu đời và những vùng đất trẻ mới bồi. Độ cao trung bình từ 2 đến 3m so với mực nuớc biển. Trà Vinh có hàng trăm gò, giồng đất và một mạng lưới sông rạch chằng chịt đã tưới tiêu và cung cấp phù sa cho cây trồng.

Riêng vùng Ba Thắc, nếu nhìn từ trên cao, giống như một con giao long lớn, mà mỗi bộ phận của nó là một giồng cát dài ví như đầu, mình, chân và đuôi. Mỗi giồng cát có một tên riêng:

- Giồng Lình Kía (còn gọi là giồng Long Tử).

- Giồng M'ha Tup (còn gọi là giồng Mã Tộ), nơi có chùa Dơi.

- Giồng Kompong Ko (giồng Cỏ): đúng ra là Vũng Bò hay Bến Bò (Vũng Gù).

- Giồng Sdrock Pou (Sóc Vồ) nơi đây ngày xưa có cây lâm vồ lớn.

- Giồng Ph’nor (giồng Phú Nổ).

- Giồng Kom Pong Trach hay còn gọi là giồng Văn Trạch hay An Trạch.

- Giồng Sần Ke (giồng Trường Khánh).

Trên địa bàn này có các sông lớn là: sông Hậu, sông Cổ Chiên, sông Măng Thích, sông Mỹ Thanh... Các sông ngòi, kênh rạch ở đây hợp lưu đổ ra biển chủ yếu qua các cửa sông chính: là Cổ Chiên, Cung Hầu, Định An, Ba Thắc (đã bị lấp) và Trấn Di. Riêng trên địa bàn Bạc Liêu, các sông rạch đều bắt nguồn ở Cà Mau, đổ nước ra biển Đông, có sông Gành Hào, Mỹ Thanh, rạch Bạc Liêu, rạch Cỏ Cò, Trà Nho, Trà Niêu... Chảy ra sông Ba Thắc (sông Hậu), ngoài rạch Ba Xuyên, có vô số rạch nhỏ.

Trước khi chính quyền chúa Nguyễn chính thức tiếp quản vùng đất này, năm 1739, từ Hà Tiên Mạc Thiên Tứ khai thác tiến về phía sông Hậu, lập thêm bốn đạo:

Long Xuyên (vùng Cà Mau)

Kiên Giang (Vùng Rạch Giá)

Trấn Giang (vùng Cần Thơ)

Trấn Di (vùng bắc Bạc Liêu)

Trong đó, Trấn Di thuộc đất Ba Thắc và năm 1778, phủ Ba Thắc thuộc quyền quản hạt của dinh Long Hồ.

Tháng 10, mùa đông năm Kỷ Hợi (1779), (Nguyễn Ánh) cho họa đồ chia cắt địa giới 3 dinh Trấn Biên (Biên Hòa), Phiên Trấn (Gia Định) và Long Hồ (sau gồm Vĩnh Long - An Giang) cho liền lạc nhau. Hai vùng Srok Khl’eang và Préah Trapeang nằm trong dinh Long Hồ. Dinh này ban đầu đặt lỵ sở ở Cái Bè (thôn An Bình Đông, Cái Bè ngày nay), sau dời qua ấp Long An, thôn Long Hồ. Sau đó lại dời đến bãi Bà Lúa (trên cù lao Hoàng Trấn), đổi tên thành dinh Hoằng Trấn. Năm 1780, chúa Nguyễn lo ngại ở đây có nhiều người Khmer, nếu có biến thì bãi Bà Lúa quá xa không ứng phó kịp, nên đổi thành dinh Vĩnh Trấn, và dời trị sở về thôn Long Hồ (TP. Vĩnh Long ngày nay). Nguyễn Văn Tồn, vốn người Khmer, tên Duyên (không có họ) ở Trà Vinh, nhờ có công, được mang họ Nguyễn, được giao trông coi phủ Trà Vinh và Măng Thít, lập đồn canh phòng, lính đồn toàn là người Khmer tại chỗ, gọi là Xiêm (Miên) binh.

Đến năm 1808, Nam kỳ có 5 trấn (Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường và Hà Tiên). Trấn Vĩnh Thanh gồm 1 phủ (trước là châu) là Định Viễn và 3 huyện là Vĩnh An (trước là tổng Bình An), Vĩnh Bình (trước là tổng Bình Dương), Tân An. Hai vùng Srok Khl’eang và Préah Trapeang nằm trong huyện Vĩnh Bình.

Năm 1820, trấn Vĩnh Thanh có 1 phủ (Định Viễn) là 4 huyện Vĩnh Bình, Vĩnh An, Vĩnh Định và Tân An. Srok Treang thuộc huyện Vĩnh Định.

Đến năm 1840, Nam kỳ chia ra 6 tỉnh. Trấn Vĩnh Thanh chia thành 2 tỉnh Vĩnh Long và An Giang. Préah Trapeang thuộc phủ Lạc Hóa (tỉnh Vĩnh Long), gồm 2 huyện là Tuân Nghĩa (Cầu Ngang, Mương Đục) và huyện Trà Vinh. Srok Khl’eang thuộc phủ Ba Xuyên, gồm 3 huyện là Phong Nhiêu (Bãi Xàu), Phong Thạnh (Nhu Gia) và Vĩnh Định (Ba Xuyên).

Theo nghị định ngày 5/1/1876, Pháp bãi bỏ Lục tỉnh, chia Nam kỳ ra làm 4 khu vục với 19 hạt (arrondissement) Trà Vinh, Sóc Trăng mỗi nơi là một hạt, Bạc Liêu thuộc hạt Rạch Giá.

Vào 1951, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam bộ nhập 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Trà. Huyện Tiểu Cần được nhập vào huyện Càng Long. Tỉnh Vĩnh Trà tồn tại đến năm 1954.

Từ năm 1956 đến 1975, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã đổi tên tỉnh Trà Vinh Vĩnh Bình, Bạc Liêu nhập vào Sóc Trăng thành tỉnh Ba Xuyên, nhưng đến 1964 lại tách ra như cũ.

Sau năm 197, qua một số lần thay đổi địa giới hành chính, vùng này nay thuộc 3 tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng và Bạc Liêu với 3 thành phố lớn thuộc tỉnh. Dù là tỉnh được tái lập sau cùng ở Đồng bằng sông Cửu Long, song cả ba đều có nhịp độ phát triển ngang tầm với các tỉnh trong khu vục. Tuy nhiên, bên cạnh lợi thế của vùng đồng bằng ven biển, nếu đặc điểm đa dân tộc, đa văn hóa được đánh giá như một lợi thế, một dạng tiềm năng kinh tế, được khai thác, tận dụng đúng mức, vùng này có điều kiện vươn nhanh hơn vùng khác trong khu vực.

CHÚ THÍCH:

(1) Lê Hương, Người Việt gốc Miên, Sài Gòn, 1969, tr.252-253

(2) Miếu này lúc đầu cất bằng cây theo kiến trúc Khmer. Năm 1927, ông Lê Văn Quạnh là người gốc Tàu và một số thân hào trong vùng quyên tiền cho cất lại miếu theo kiến trúc Trung Hoa dạng "bán cổ - bán kim” làm mất đi di tích xưa (Theo Vương Hồng Sển).

(3) Niên đại này cần dược xác minh.

(4) Có nhiều giai thoại liên quan đến sự ra đời của địa danh Bãi Xàu.

(5) Theo VNExpress.net.

(6) Có một số bản đồ người Pháp ghi nhầm là Trần Đề hoặc Tranh Đề. Trấn Di là tên một đạo thời chúa Nguyễn đặt cho vùng Bạc Liêu - Sóc Trăng, khi đó Cần Thơ là Trấn Giang.

(7) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện chính biên, T.II, Q.28, tr.534-535, Nxb. Thuận Hóa, 2005.

Trích tạp chí Xưa và nay số 363 tháng 9/2010

Comments

Không có nhận xét nào cho bài đăng này.