﻿<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<!--RSS generated by Windows SharePoint Services V3 RSS Generator on 16/10/2026 10:11:33 CH-->
<?xml-stylesheet type="text/xsl" href="/docmiendatnuoc/_layouts/RssXslt.aspx?List=46ae8beb-3591-4b19-a8b6-0faee33cd89d" version="1.0"?>
<rss version="2.0">
  <channel>
    <title>Dọc miền đất nước: Bài đăng</title>
    <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/docmiendatnuoc/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    <description>Liên kết nạp tin tự động RSS cho Bài đăng danh sách.</description>
    <lastBuildDate>Fri, 16 Oct 2026 15:11:32 GMT</lastBuildDate>
    <generator>Windows SharePoint Services V3 RSS Generator</generator>
    <ttl>60</ttl>
    <image>
      <title>Dọc miền đất nước: Bài đăng</title>
      <url>/docmiendatnuoc/_layouts/images/homepage.gif</url>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/docmiendatnuoc/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    </image>
    <item>
      <title>Vùng đất Tầm Phong Long</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/docmiendatnuoc/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=2</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassF164FE5003A641E6B2CDA36BE0163A18><div class=ExternalClassAAFF5196DF49489BB0CB190E541B2C08>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Năm Đinh Sửu (1757), Nặc - nguyên, quốc vương Chân Lạp mất, chú họ là Nặc-nhuận đang làm giám quốc, xin hiến đất Srok Kleang và Préah Trapeang (tức đất Trà Vang - Ba Thắc), cầu xin chúa Nguyễn phong làm vua Chân Lạp, chúa Võ vương Nguyễn Phước Khoát chấp thuận. </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Nhưng liền san đó Nặc-nhuận bị con rể là Nặc-hinh giết và cướp ngôi. Cháu Nặc-nhuận là Nặc Tôn, chạy sang Hà Tiên nhờ Mạc Thiên Tứ, tâu với chúa Nguyễn xin được phong làm vua Chân Lạp. Chúa Võ vương thuận cho, và sai tướng Thống suất ngũ dinh tại Gia Định Trương Phước Du hợp cùng Mạc Thiên Tứ mang quân đánh dẹp Nặc-hinh và đưa Nặc-tôn về nước. Nặc-tôn được phong làm phiên vương. Để tạ ơn, Nặc-tôn cắt đất Tầm Phong Long (vùng đất giữa sông Tiền và sông Hậu), phía bắc của vùng Srok Kleang và Préah Tra-peang, dâng cho chúa Nguyễn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Theo Vương Hồng Sển, âm/ Tầm Phong Long/xuất phát từ &quot;Kompong Luông” của tiếng Khmer, có nghĩa là bến, vũng, sông của vua.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Tiếp thu vùng đất Tầm Phong Long là một trong những sự kiện đặc biệt trong lịch sử dân tộc, nó vừa góp phần mở rộng cương vực của Tổ quốc ta về phương nam, vừa đánh dấu kết thúc diễn trình Nam tiến của dân tộc ta trong 775 năm (982-1757).</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Ngay sau khi tiếp thu, đất Tầm Phong Long được Nguyễn Cư Trinh lập thành 3 đạo: Đông Khẩu đạo, Tân Châu đạo, Châu Đốc đạo và đặt dưới sự quản lý của dinh Long Hồ: Dinh Long Hồ lập năm 1732, năm 1800 đổi thành Vĩnh Trấn, năm 1808<span>  </span>đổi thành trấn Vĩnh Thanh. Để có phản ứng nhanh và hiệu quả trong việc bảo vệ biên cương, Nghi biểu hầu Nguyễn Cư Trinh cho dời trị sở của dinh Long Hồ từ An Bình Đông (Cái Bè) về xứ Tầm Bào (thuộc thôn Long Hồ, thành phố Vĩnh Long ngày nay), sát bờ sông Tiền, chiến thuyền dễ dàng tiến thoái hơn. Từ đâu dinh Long Hồ có Đông Khẩu đạo án ngữ làm tiền đồn thứ hai sau Tân Châu đạo và đồn Châu Đốc bảo vệ. Để khai thác vùng tân cương, đồng thời để xác định biên giới rõ rệt giữa hai nước, mặc dù có sự can ngăn của quan lớn Sen Nguyễn Văn Nhơn, năm 1817, vua Gia Long vẫn lệnh cho Thoại ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại đào kinh núi Sập (sau gọi là Thoại Hà)<i>. </i>Hai năm sau (1819), lại cho đào kênh Vĩnh Tế, kéo dài 5 năm mới xong.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Đào hai con kênh này quả có tác dụng vô cùng quan trọng trong công cuộc mở mang kinh tế và giữ yên bờ cõi. Nên chỉ hơn 10 năm sau, đến năm Minh Mạng thứ 13 (1832), vùng đất mới này thành được hai phủ:</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">- Tuy Biên gồm 2 huyện Tây Xuyên, Phong Phú.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">- Tân Thành có 2 huyện là Vĩnh An và Đông Xuyên.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">- Đây là cương vực ban đầu của tỉnh An Giang sau này. Đến năm 1835, lấn đất Ba Thắc lập thêm phủ Ba Xuyên, cai quản 3 huyện Phong Nhiêu, Phong Thạnh và Vĩnh Định. Đến năm l836, chia ra thành 2 tỉnh Vĩnh Long và An Giang. Lúc này Tân Châu đạo thuộc huyện Đông Xuyên và Đông Khẩu đạo thuộc huyện Vĩnh An, phủ Tân Thành, tỉnh An Giang.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Tiếp theo năm 1839, lập thêm huyện An Xuyên ở phủ Tân Thành, năm 1842<span>  </span>lấy phủ Tịnh Biên và huyện Hà Dương của Hà Tiên sáp nhập vào. Đến năm 1844, lập thêm<span>  </span>huyện Hà Âm. Năm 1850, giải thể phủ Tịnh Biên cùng huyện Hà Âm, lấy đất này nhập vào huyện Hà Dương<sup>(1)</sup>.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Như vậy đến khi Tự Đức lên ngôi, tức là gần tròn 100 năm sau khi thuộc chủ quyền người Việt, vùng Tầm Phong Long được khai mở với tiến độ khá nhanh, thành lập 274 xã thôn, phường, bang, được quy vào 3 phủ với 10 huyện, nằm trong địa phận tỉnh An Giang, tỉnh thành đặt tại Châu Đốc: </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">- Phủ Tuy Biên, có 4 huyện: Tây Xuyên gồm 3 tổng với 38 xã, thôn, phố bang; Phong Phú gồm ba tổng với 31 thôn; Hà Dương (tức Lình Quỳnh) có 4 tổng với 40 thôn, phố phường; Hà Âm (tức Giang Thành) gồm 2 tổng, 40 xã thôn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">- Phủ Tân Thành có 3 huyện: Vĩnh An gồm 4 tổng với 36 xã, thôn, phố, bang, huyện lỵ đóng tại thôn Vĩnh Phước (Sa Đéc), An Xuyên gồm 3 tổng với 25 xã thôn, huyện lỵ đặt tại thôn Tân Hựu; Đông Xuyên gồm 4 tổng với 33 xã thôn, huyện lỵ đóng ở thôn Long Sơn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">- Phủ Ba Xuyên có hai huyện: Phong Nhiêu gồm 3 tổng với 17 xã thôn, huyện lỵ tại thôn An Khánh; Vĩnh Định gồm 4 tổng với 19 xã thôn, huyện lỵ tại thôn Đại Hữu. </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">- Năm 1867, Pháp chiếm An Giang, chia vùng này ra 5 hạt (rồi đổi hạt thành tỉnh) Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng và Sa Đéc...</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">- Ngày nay thuộc địa phận các: tỉnh An Giang, TP. Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng và các huyện nam sông Tiền của tỉnh Đồng Tháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">- Vùng đất Đông Khẩu đạo gồm: các huyện Châu thành, thị xã Sa Đéc huyện Lai Vung và huyện Lấp Vò của tỉnh Đồng Tháp ngày naY. Trụ sở đồn trú tại Sa Đéc (thôn Vĩnh Phước), được lưu dân người Việt, người Hoa khai thác từ lâu, trong đó có nhiều thôn đạt diện tích khai thác thuộc loại lớn ở Nam bộ, như Tân Hưu, Tân Long, Long Hậu, Tân Lộc, Vĩnh Phước<i>... </i>Dân cư tập trung ngày một đông, nhiều tụ điểm cư dân hình thành về phía sông Tiền; ngoài Sa Đéc: Nha Mân<sup>(2)</sup>, Cái Tàu Hạ<sup>(3)</sup>, Tòng Sơn, Cái Tàu Thượng, về phía sông Hậu có Cường Oai (Lai Vung), Cường Thành (Lấp Vò)<i>...</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Người Hoa đến đây đa phần là người Phước Tiến giỏi buôn bán hơn làm ruộng, nên chỉ có thiểu số làm nghề nông chung với người Việt hai bên bờ rạch Nha Mân. Điều này được <i>Đại Nam nhất thống chí Lục tỉnh Nam Việt </i>chép: &quot;Sông Nha Mân ở phía bắc huyện An Xuyên ở bờ nam sông Tiền, chảy qua hướng nam rồi chuyển lên hướng tây chẻ ra các ngã: Tam Sao/Ba Miếu, Chàng Trà/Trà Kiệt, Cổ Đồ Bà/Cha Và, Cam Phù Ly, rồi đến Bồn Giang/Cái Vồn chảy ra sông Hậu. Dọc theo hai bờ sông có</span><span style="font-size:10pt;font-family:Arial"> <span style="color:black">nhiều ruộng vườn của người Tàu <sup>(4)</sup> mới khai phá <i>. </i></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Chợ Nha Mân hay rộng hơn là vùng Tân Hựu là trung tâm của vùng tập trung dân cư khá đông (Việt, Hoa, Khmer), vì vị trí nằm giữa Long Hồ và Sa Đéc, lại thêm thổ nhưỡng rất đặc biệt, nhất là nước sông Nha Mân rất ít độ phèn so với toàn vùng, rất thuận lợi cho phát triển nghề nông, làm vườn. Câu: &quot;Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh, gái nào bảnh bằng gái Nha Mân” nhằm ngợi ca sắc đẹp người con gái Nha Mân nhất là nước da trắng. Năm Minh Mạng thứ 20 (1839), huyện Vĩnh An tách ra làm hai thành lập huyện mới mang tên An Xuyên, trị sở của huyện đóng tại thôn Tân Hựu<sup>(5)</sup>. Chung quanh dinh thự tại huyện lỵ tập trung nhiều dân cư buôn bán ngày một sung túc, được dân gian quen gọi là chợ Dinh, sự sung túc của chợ được ca ngợi qua mấy câu: </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><i><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Đố anh con rít mấy chưn, </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><i><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Cầu Ô</span></i><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial"> <i>mấy nhịp, chợ Dinh mấy người;</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><i><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Chợ Dinh bán áo con trai,</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><i><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial"><span> </span>Chợ Trong bán</span></i><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial"> <i>chỉ, chợ Ngoài bán kim...</i><sup>(6)</sup></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Trong cuộc nội chiến Tây Sơn - Nguyễn Ánh (1777-1802), sau bao nhiêu lần thảm bại trước lực lượng bách chiến bách thẳng của Tây Sơn, năm 1788, Nguyễn Ánh về lập căn cứ ở Tân Long (Long Hưng), kề cận Sa Đéc. Lợi dụng chính quyền cơ sở của Đông định vương Nguyễn Lữ (Tây Sơn) trên địa bàn này quá non yếu, chưa thực hiện được công trình kinh tế - xã hội nào nhằm cải thiện, phục vụ đời sống cho nhân dân địa phương. Nguyễn Ánh triệt để khai thác lợi thế về vị trí và vai trò của con người và vùng đất Đông Khẩu đạo. Biến nơi này thành trung tâm thu hút nhiều quan văn, võ tướng, đại điền chủ trung thành với quan niệm tôn phò &quot;chính thống”<i>. </i>Thế lực này đã góp phần giúp Nguyễn Ánh đánh bật Tân Sơn ra khỏi Nam bộ. Cuộc nội chiến vô hình chung biến vùng Đông Khẩu đạo thành nơi tập trung một số môn đồ Nho học, ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi Nho học vốn chưa phổ biến sâu rộng. Điều này tác động không nhỏ đến quá trình hình bản sắc văn hóa địa phương.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Đạo Tân Châu gồm phần đất phía bắc sông Tiền, của các huyện Chợ Mới, Phú Tân, Phú Châu và Tân Châu của tỉnh An Giang ngày nay, trị sở lúc đầu đóng trên cù lao Gieng, sau dời về thôn Long Sơn, trên cù lao Cái Vừng. Đất Tân Châu như những chiếc chiến hạm khổng lồ, nằm án ngữ trên dòng sông Cửu Long, ngăn chặn sự xâm nhập từ hướng Chân Lạp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Để có phản ứng nhanh và hiệu quả trong việc bảo vệ biên cương, Nguyễn Cư Trinh lấy Dinh châu làm trị sở của Tân Châu đạo<sup>(7)</sup><i>. </i>Sách <i>Gia Định thành thông chí </i>của Trịnh Hoài Đức chép rõ: &quot;Dinh châu, tục gọi là cù lao Gieng ở thượng lưu sông Tiền, cách trấn về phía tây 117 dặm. Trước kia là đất thuộc đạo Tân Châu. Ở đây có dân cư của 4 thôn: Toàn Đức, Mỹ Hưng, Toàn Đức Đông, Phú Hưng. Phía tây có cù lao nhỏ cư dân của các thôn: Tân Phước, Phú An và Tân Tịch (tức cù lao Trâu, còn gọi là Ngưu châu)<i>. </i>Phía nam có cù lao nhỏ cư dân của thôn Tân Thới”<i>.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Tại đây có xây dựng một đồn lớn giữa hai sông làm trung tâm kiêm quản luôn cả hai thủ Chiến Sai và thủ Hùng Ngự. Do đồn Tân Châu vừa trú đóng nơi địa đầu hiểm yếu vừa cai quản hai thủ khác, nên Tân Châu không thuộc quyền cai quản của trấn địa phương là Long Hồ, rồi sau đó là Vĩnh Thanh mà trực tiếp thuộc quyền điều động của Gia Định phủ rồi Gia Định thành tức là chính quyền trung ương của Nguyễn Ánh. Điều đó cho thấy vai trò, vị thế của Tân Châu đạo trong việc bảo vệ tuyến biên giới tây nam. Trên tuyến này từ Tây Ninh đến Hà Tiên, dưới thời chúa Nguyễn và đầu nhà Nguyễn, có bố trí các đồn thủ biên phòng, như Quang Hóa (Tây Ninh), Tuyên Oai, Thông Bình, Hùng Ngự (Định Tường), Tân Châu, Chiến Sai, Châu Đốc (An<span>  </span>Giang)<i>... </i>Trong đó, đồn Tân Châu nằm ở vị trí đặc biệt nhất<sup>(8)</sup>.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Năm 1795, để lấy lòng người: Chân Lạp với mục đích giữ yên vùng biên giới tây nam, để tập trung vào việc chuẩn bị binh lực tiến công Tây Sơn ở miền Trung, chính quyền Gia Định trao trả 68 sở thủy lợi ở vùng biên giới (trên sông Sở Thượng và Sở Hạ) cho chính quyền Chân Lạp. Điều này càng làm cho trách nhiệm giữ yên biên giới của Tân Châu đạo nặng nề hơn, vì trước đây có các sở này làm vùng đệm, nay đồn Tân Châu phải tiếp cận sát sườn với Chân Lạp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Đến năm Gia Long thứ 17<i> </i>(1818), tình hình trong nước biên giới ổn định, triều đình ra lệnh dời đạo thủ Tân Châu đến cù lao Long Sơn, dời đạo thủ Chiến Sai đến cửa trên sông Hiệp Ân (sông Hồng Ngự ngày nay), dời đạo thủ Hùng Ngự đến cửa dưới sông Hiệp Ân<sup>(9)</sup>.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Đạo Châu Đốc với đất đai trải dài dọc theo biên giới Chân Lạp, bên cạnh công lao khai hoang mở cõi các thế hệ trước còn đổ nhiều xương máu để giữ yên cương vực trong suốt một thời gian dài đương đầu chống lại âm mưu đông tiến của người Xiêm, thường tận dụng mọi cơ hội để ra tay. </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Đến tháng 9 năm Tân Sửu (1841), lợi dụng khi quân ta do Trương Minh Giảng thống lĩnh, rời Chân Lạp về nước, người Xiêm dựng lên một hoàng tôn (cho là con hoàng tử Cảnh, cháu nội đích tôn của vua Gia Long, người chính thức được lên ngôi sau khi Gia Long băng hà, chứ không phải hoàng tử là Đảm, tức Minh Mạng), tập hợp một số người Lào, Chân Lạp, Việt... về nước giành lại ngôi báu, dưới sự bảo trợ của họ. </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Để thực hiện âm mưu này, tháng Giêng năm Nhâm Dần (1842) Phi Nhả Chất Tri sai tướng ô Thiệt Vương cho thủy quân tấn công Phú Quốc thăm dò, trên bộ, cho khoảng 5.000 quân hộ tống hoàng tôn đến Sách Sô (thuộc hạt Nam Ninh, trấn Tây Thành) và 10 thuyền đến đồn Cần Thăng thám sát kích động người Chân Lạp nổi dậy ở phủ Ba Xuyên, Sóc Trăng, Thất Sơn... qua tháng Hai, chúng xua đại quân tràn qua kinh Vĩnh Tế kết hợp với quân nổi dậy đánh phá các đồn Thất Sơn, Tân Châu, An Lạc, Hồng Ngự, Thông Bình<i>... </i>cướp bóc, bắn giết<i>... </i>gây thảm cảnh tang tóc khắp tuyến biên giới, nhất là ở Hà Tiên. Quân triều huy động quân binh cả 6 tỉnh Nam kỳ do tổng đốc Định Biên Lê Văn Đức làm tổng thống quân vụ, thự tổng đốc Long Tường Nguyễn Tri Phương, tổng đốc An Hà Phạm Văn Điển cùng đề đốc An Giang chia đường cùng nhân dân địa phương ra sức đương cự với giặc trên một tuyến dài từ Tiền Giang qua Hậu Giang, Thất Sơn đến tận Hà Tiên. Đến tháng Năm, ta tăng cường quân số, chia làm năm mũi tiến đánh, phá tan các chiến lũy của giặc, có đến cả ngàn ra hàng trong đó phần lớn là người Hoa và Chân Lạp. Thừa thắng ta truy đuổi giặc đến tận Phnom Pênh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Nếu trong buổi đầu Nghi biểu hầu Nguyễn Cư Trinh là người quy hoạch đất đai, thiết chế hành chánh, xây dựng đồn bảo, điều động binh lính bảo đảm an ninh vùng đất mới, thì Thoại ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại là người đã từng trực tiếp đốc suất việc đào kinh Vĩnh Tế, mở ruộng lập vườn, đắp nhiều đường, bắc cầu để phục vụ yêu cầu giao thông trong xứ và với nước láng giềng Chân Lạp, sau đó Doãn Uẩn, tổng đốc An Hà, ngoài đại công dẹp loạn, ông còn đặc biệt quan tâm ổn định đời sống nhân dân, chăm lo cả về sinh hoạt tinh thần, tín ngưỡng, tạo niềm tin, chỗ dựa tinh thần với ước vọng an lành cho cuộc vùng biên giới Tây nam tổ quốc. Chùa Tây An được Doãn Uẩn chủ trương xây dựng trong niềm ước vọng đó.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Nhưng có một người không phải là quan chức nhà nước, không hưởng bổng lộc của triều đình, bị giam lỏng trong chùa Tân An, lại góp phần không nhỏ trong công cuộc &quot;an tây”, từ quy dân khai hoang lập ấp đến khai sáng ra một mối đạo, mà hàng trăm năm sau có tới hàng triệu tín đồ khắp đồng bằng sông Cửu Long. Vị đó là Phật thầy Tân An Đoàn Minh Huyên, người sáng lập đạo Bửu Sơn Kỳ Hương<i>.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">CHÚ THÍCH:</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">(1) Quốc sử quán (1972) <i>Đại Nam nhất thống chí, Lục tỉnh Nam Việt, </i>Phủ quốc Vụ khanh đặc trách văn hóa (Sài Gòn), tr.9.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">(2) Nha Mân: Theo di cảo của Trương Vĩnh Ký là do tiếng Oknà Mẳn. Tuy nhiên cũng có người cho rằng là do Oknà Muối vì nó gần với âm &quot;nha mân” hơn. Oknà hay Oknha là một quan chức của người Khmer/ Chân Lạp có quyền cai quản một trấn, một hạt.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">(3) Theo nhà Nam bộ học Sơn Nam, Cái Tàu là địa danh chỉ nơi có nhiều người Tàu cư ngụ. Cái Tàu Hạ để phân biệt với Cái Tàu Thượng ở Hội An (nơi giáp ranh giữa hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp. Ở Nam bộ, ngoài hai địa danh này còn có địa danh Cái Tàu và Ngã ba Tàu ở Cà Mau. Nơi đây cũng là nơi có nhiều người Tàu cư ngụ, nhưng cũng là nơi bọn cướp biển Tàu Ô thường lẩn trốn và tại ngã ba này có một doi đất hình mũi tàu nhô ra. (Xem thêm <i>Tìm hiểu địa danh Nam bộ </i>của Nguyễn Hữu Hiếu, Nxb. KHXH, 2005 )<i>. </i>Trong Bản dịch <i>Đại Nam nhất thống chí, </i>tập 5 của Viện sử học, Nxb Thuận Hóa, 2006, ở trang 201 và 204, dịch tên hai con rạch Cái Tàu Hạ là kênh Hạ Thuyền và rạch Cái Tàu Thượng là kênh Thượng Thuyền nghe rất xa lạ, không biết hai con rạch này trên thực địa nằm ở đâu!</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">(4) Quốc sử quán, <i>Đại Nam nhất thống chí, Lục tỉnh Nam Việt, </i>tập III, PQVKĐTVH, 1973, tr.20, 24<i>.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">(5) Quốc sử quán: <i>Đại Nam nhất thống chí, Lục tỉnh Nam Việt, </i>tập Hạ, PQVKĐTVH, 1973, tr.20, 24<i>.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">(6) Nhưng không biết ám chỉ chợ Dinh nào, vì có một số chợ ở nơi khác cũng mang tên chợ Dinh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">(7) Trịnh Hoài Đức: <i>Gia Định thành thông chí, </i>tập Trung, tr.16.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">(8) Quốc sử quán: <i>Đại Nam thực lục </i>T.II, tr.126-136.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">(9) Trịnh Hoài Đức: <i>Gia Định thành thông chí, </i>Nxb Đồng Nai, 2005, tr.219-220.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">(10) Trịnh Hoài Đức: <i>Gia Định thành thông chí, </i>Sđd, tr.9.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">(11) Dẫn lại Thawi Swangpanyankoon, trong <i>Xưa&amp;Nay, </i>số 2003 (131) <i>.</i></span></p>
<p><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Trích tạp chí Xưa &amp; Nay</span></p>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 10/01/2011 3:35 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Năm 1698, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn vào Nam kinh lược, quy hoạch phần đất lưu dân người Việt khai phá từ trước, lập hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn. Đến năm 1708, Mạc Cửu dâng vùng Hà Tiên để xin nội thuộc. Như vậy, đến đầu thế kỷ XVII, vùng đất giữa sông Tiền và sông Hậu, mặc dù người Việt đã khai phá từ lâu, nhưng chính quyền chúa Nguyễn vẫn chưa có điều kiện thiết lập cơ sở hành chính để bảo vệ họ. Tình hình này đặt chính quyền Đàng Trong trong tình thế chẳng đặng đừng trên bước đường Nam tiến.</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 345</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <pubDate>Mon, 10 Jan 2011 08:37:56 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/docmiendatnuoc/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=2</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Môi Xoài - Bà Rịa như một khởi đầu...</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/docmiendatnuoc/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=4</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass4229251599B042149AB603AFCEB0AA5B><p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial"> </span></p>
<div align=center>
<table class=MsoTableGrid cellspacing=0 cellpadding=0 border=0 style="border-collapse:collapse">
    <tbody>
        <tr style="height:117pt">
            <td valign=top width=446 style="border-right:#d4d0c8;padding-right:5.4pt;border-top:#d4d0c8;padding-left:5.4pt;padding-bottom:0cm;border-left:#d4d0c8;width:334.5pt;padding-top:0cm;border-bottom:#d4d0c8;height:117pt;background-color:transparent">
            <p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial"><img height=207 width=600 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-1/h11712011_101254.gif"></span></p>
            </td>
        </tr>
    </tbody>
</table>
</div>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial"> </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Việc các chính quyền cai trị trên bán đảo Đông Dương gây chiến tranh với nhau là vì quyền lợi giữa các vương triều, giữa các thế lực các cứ và xâm chiếm lẫn nhau là thường xảy ra. Trong lịch sử từ những năm đầu sau Công nguyên, các cuộc xâm chiếm liên tục giữa các vương triều của Phù Nam, Chân Lạp, Lâm Ấp qua lại với những bộ tộc người Thái, Miến, Mã và cả Bắc Việt Nam kéo dài cho đến thế kỉ XIX. Mạnh được yếu thua là lẽ cạnh tranh sinh tồn. Tuy vậy, một điều chúng ta phải công nhận là giữa các bộ tộc ở Đông Dương không có sự kì thị chủng tộc gây nên những hận thù truyền kiếp. Vì vậy việc các dân tộc ở lẫn lộn, xen kẽ nhau một cách hòa bình trên bán đảo Đông Dương là một thực thể. Trong chiến tranh giữa các vương triều, mục đích là chiếm đất, chiếm dân chứ không phải để cuối cùng giết tận bá tánh dân thường. Ai làm chủ đất người đó làm chủ thần dân trăm họ. Nếu không có mầm mống manh nha chống đối thì bá tánh vẫn được an cư lạc nghiệp. Chúng ta không ngạc nhiên khi những cư dân Việt sống an bình trong làng xóm người Chàm, người Miên và ngược lại. Hiện tượng này cũng xảy ra giữa Chân Lạp và Chiêm Thành với các bộ tộc Thái, Hoa, Miến, Mã Lai và Phù Nam. </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial"> </span></p>
<p>
<table class=MsoTableGrid cellspacing=0 cellpadding=0 align=left border=0 style="margin:auto 6.75pt;border-collapse:collapse">
    <tbody>
        <tr style="height:166.75pt">
            <td width=413 style="border-right:#d4d0c8;padding-right:5.4pt;border-top:#d4d0c8;padding-left:5.4pt;padding-bottom:0cm;border-left:#d4d0c8;width:310pt;padding-top:0cm;border-bottom:#d4d0c8;height:166.75pt;background-color:transparent">
            <p class=MsoNormal align=center style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:center;mso-element:frame"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial"><img height=255 width=400 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-1/h21712011_101318.gif"></span></p>
            </td>
        </tr>
        <tr style="height:36.55pt">
            <td width=413 style="border-right:#d4d0c8;padding-right:5.4pt;border-top:#d4d0c8;padding-left:5.4pt;padding-bottom:0cm;border-left:#d4d0c8;width:310pt;padding-top:0cm;border-bottom:#d4d0c8;height:36.55pt;background-color:transparent">
            <p class=MsoNormal align=center style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:center;mso-element:frame"><i style=""><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Nhà việc Phước Lễ (Bà Rịa) và các hương chức, năm 1925</span></i></p>
            </td>
        </tr>
    </tbody>
</table>
</p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Trong thế kỉ XV sự có mặt của người Việt ở phần còn lại của Chiêm Thành hoặc người Việt có mặt ở Đông Nam bộ là điều không gì đáng ngạc nhiên. Những lưu dân Việt tha phương có nhiều nguyên nhân: có thể do chiến tranh giữa các thế lực Lê Mạc; có thể vì nghèo đói không đất để sinh sống; có thể là những kẻ tù tội, trộm cướp, lưu manh; mà cũng có thể đó là những kẻ chống đối triều đình cai trị... họ muốn đi xa tìm một nơi yên bình không có thù hận; không có người hiểu quá khứ của họ; họ muốn tránh xa nơi tranh chấp mà mạng sống của con người chẳng có giá trị gì hơn con giun, con kiến. Họ muốn trốn bắt lính, trốn xâu, trốn thuế (thật ra không thế trả nổi các khoảng xâu thuế này). </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Miền Chân Lạp đất rộng người thưa, sản vật phong phú được nghe kể bởi các thương hồ như là một thiên đường... một số người lặng lẽ ra đi, có thể bằng đường bộ cũng có thể là đường thủy trên các thuyền buôn, đánh cá. Không phải ai cũng đến được đích. Một số ra đi bị bỏ mạng bởi gió, sóng biển khơi; một số bị ma thiêng nước độc nằm lại giữa núi rừng, một số thành công. Người đi trước có kinh nghiệm truyền lại cho người đi sau và dần dần có mặt ở miền Đông Nam bộ. Mới đầu họ ở những vùng đất hoang vu hay lẫn với cư dân bản địa. Lần lần họ lập ra xóm, ra làng với những tập tục riêng biệt. Lâu dần có sự tranh chấp giữa xóm làng người Việt với cư dân bản địa. Và ở đất nước nào cũng vậy, quyền lợi người nhập cư trái phép luôn chịu thiệt thòi. Khi thất cơ lỡ vận, đói khát, con người chỉ cần một nơi để sinh cơ, một miếng ăn để chống đói, họ không có gì để cho kẻ khác tranh giành. Khi đã có tư sản họ xót đau, bực tức khi chúng bị cướp đoạt bởi kẻ mạnh hơn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Sự kiện này âm ỉ tháng này qua năm khác, và khi đã có một tập thể khá lớn họ đủ tự tin để quây quần lại cùng nhau bàn tính cho tương lai. Họ không dám chống đối chính quyền địa phương ngoài sự biếu xén để mong yên ổn. Nhưng những đòi hỏi biếu xén, những sự đàn áp giết chóc càng cao; càng làm cho họ phẫn hận. Để bảo vệ cho họ là ai nếu không phải là đồng bào ruột thịt, là chính quyền nơi họ ra đi.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Những nguồn tin cư dân Việt ở Môi Xoài... Những nguồn tin về một vùng miền trù phú... những nguồn tin cư dân Việt bị đối xử bất công có lẽ đến tai những vị quan cai trị khi trà dư tửu hậu với khách thương hồ hay với những thân nhân những người Việt lưu cư ở Quảng Nam hay Kẻ Huế. Trong một dịp nào đó đã đến tai công tử Nguyễn Phúc Nguyên, con của Nguyễn Hoàng đang trấn thủ dinh Quảng Nam từ năm 1602.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Nguyễn Phúc Nguyên là con trai thứ sáu của Nguyễn Hoàng, ông là một người hùng tài thao lược, có lòng nhân ái, mộ đạo Phật nên sau này được nhân dân Thuận Quảng mến mộ tôn là Sãi vương. Ông cho dựng chùa Hưng Long, chùa Bảo Chân ở Trà Kiệu, Quảng Nam (theo Nguyễn Đặc Xuân). Ông là một người nhìn xa trong rộng, nên rất muốn thân thiện hòa hiếu với lân bang để khi xảy ra chiến tranh với Trịnh khỏi phải lâm vào cảnh &quot;lưỡng đầu thọ địch”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Năm 1613, sau khi thay cha làm trấn chủ Thuận Quảng; chúa Sãi đã âm thầm vạch một kế hoạch cho tương lai. Chúa có bốn công nữ đó là Ngọc Liên, Ngọc Vạn, Ngọc Khoa, Ngọc Đỉnh. Ngọc Đỉnh được gả cho Nguyễn Cửu Kiều; Ngọc Liên gả cho Nguyễn Phúc Vinh; còn Ngọc Vạn, Ngọc Khoa không thấy dấu vết để lại trong lịch sử. Nhiều học giả trong và ngoài nước đã truy tìm được tung tích quận chúa Ngọc Vạn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Ngọc Vạn được gả cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II (1618-1628) năm 1620, có lẽ những cư dân đang lây lất ở Môi Xoài đã là nguyên nhân cho cuộc nhân duyên không bình thường này chăng? Không biết có phải vậy không nhưng năm Quý Hợi (1623) một đoàn sứ bộ Việt Nam lên đường qua Chân Lạp đế xin với vua Chey Chetta II cho người Việt được định cư ở Môi Xoài. Không thấy cuộc di dân nào qua Môi Xoài cùng sứ bộ hay sau đó. Phải chăng cuộc ngoại giao này để hợp thức hóa những lưu dân Việt đã được định cư? Chuyện nhỏ với Chey Chetta II nhưng không nhỏ với cư dân người Việt. Với sự chấp thuận của vua Chân Lạp, những người Việt ở Môi Xoài yên tâm được Hoàng gia che chở cho sinh sống làm ăn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Môi Xoài như một khắc ghi đần tiên trong lịch sử khai phá Nam bộ của người Việt Nam. Từ Môi Xoài họ lan rộng ra khi dân số tăng dần hoặc bởi sinh sôi hay những lưu dân sau đó; và Bà Rịa một địa danh rộng hơn của miền Đông Nam bộ được khai sinh giữa thế kỉ XVII đặt dấu ấn khai mở cho miền Đông.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Nhưng Bà Rịa không phải là một vùng đất hoàn toàn hoang hóa, vô chủ. Người Chân Lạp quản lí đất này nhưng chủ đất thật sự không phải là họ. Người ta đã đề cập đến một Vương quốc Châu Mạ nào đó với nhiều bộ tộc sinh sống nhưng không đủ căn cứ. Có lẽ người Châu Mạ, Châu Ro, Stieng là những bộ tộc bản địa cũ một vùng rộng lớn mà ngày xưa bước chân hái lượm, săn bắn đã đưa họ đi những miền xa hơn hòa lẫn với dân Phù Nam, Chiêm Thành, Chân Lạp, Mã Lai, Xiêm hoặc những vùng miền Nam đảo. Có lẽ họ lãng du sinh cư rải rác nhưng chưa bao giờ thiết lập một vương triều. Có thể họ đã bị đồng hóa một phần với các bộ tộc ở Đông Nam á. Riêng thành phần cư dân bản địa của họ ở giữa hai quốc gia Chân Lạp và Chiêm Thành thì vẫn giữ nguyên.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Họ là những người du cư chứ không định cư như người Việt. Bởi thế, khi những cư dân Việt nới rộng địa bàn hoạt động thì họ lùi sâu vào rừng hoặc lên vùng cao hơn. Thực sự trực tiếp khai mở đất đai là người Việt. Những khoảnh ruộng nước, những vườn cây trái cho đến những đường làng, ngõ xóm cũng do người Việt tạo ra. Từ đây, một sức sống mới đã tỏa dần ra trên đồng bằng non trẻ...</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt 36pt;text-indent:-36pt;text-align:justify"><b style=""><i style=""><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Tạp chí Xưa &amp; Nay số 352 tháng 3 năm 2010</span></i></b></p>
<p> </p></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 17/01/2011 10:10 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Không có tài liệu nào ghi nhận người Việt đã có mặt ở Nam bộ trong cuối thế kỉ XV vì thế việc chứng minh điều này là không thể. Tuy nhiên, trên bán đảo Đông Dương việc giao thiệp qua lại giữa các bộ tộc của các vùng miền dân cư như Thái, Miến, Mã Lai, Chăm, Việt lẫn lộn một cách hòa bình là điều tất yếu mà lịch sử đã ghi nhận từ thời miền Bắc Việt Nam còn bị người Trung Hoa đô hộ.</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 415</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <pubDate>Mon, 17 Jan 2011 03:13:30 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/docmiendatnuoc/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=4</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Động Từ Thức</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/docmiendatnuoc/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=14</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass7FE496625E67421897E4653979151BCC><p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 3pt 0.45pt;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Theo <i>Truyền kỳ mạn lục </i>của Nguyễn Dữ, Từ Thức được bổ làm tri huyện Tiên Du (nay thuộc Bắc Ninh). Có một người con gái xinh đẹp tuyệt trần đến nhà chùa dự hội xem hoa, vô tình làm gãy cành hoa bị người trong chùa giữ lại. Từ Thức động lòng cởi tấm áo cừu gấm đưa vào tăng phòng để chuộc tội cho người con gái, nên lấy được vợ tiên.</span></p>
<p>
<table class=MsoTableGrid cellspacing=0 cellpadding=0 align=left border=0 style="margin:auto 6.75pt;border-collapse:collapse">
    <tbody>
        <tr style="height:103.15pt">
            <td valign=top width=245 style="border-right:#d4d0c8;padding-right:5.4pt;border-top:#d4d0c8;padding-left:5.4pt;padding-bottom:0cm;border-left:#d4d0c8;width:183.4pt;padding-top:0cm;border-bottom:#d4d0c8;height:103.15pt;background-color:transparent">
            <p class=MsoNormal align=center style="margin:0cm 0cm 3pt;line-height:12pt;text-align:center;mso-element:frame"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial"><img height=225 width=300 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-4/dong-Tu-Thuc1642011_10395.gif"></span></p>
            </td>
        </tr>
        <tr style="height:222.15pt">
            <td valign=top width=245 style="border-right:#d4d0c8;padding-right:5.4pt;border-top:#d4d0c8;padding-left:5.4pt;padding-bottom:0cm;border-left:#d4d0c8;width:183.4pt;padding-top:0cm;border-bottom:#d4d0c8;height:222.15pt;background-color:transparent">
            <p class=MsoNormal align=center style="margin:0cm 0cm 3pt;line-height:12pt;text-align:center;mso-element:frame"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial"><img height=437 width=300 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-4/dong-Tu-Thuc2642011_103923.gif"></span></p>
            </td>
        </tr>
    </tbody>
</table>
</p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 3pt 0.45pt;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial"> </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 3pt 0.45pt;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Đường vào động là một lối đá mòn dễ đi, dài chừng 100 m. Trước cửa động hiện còn thấy hai bài thơ chữ Hán khắc trên đá, một của chúa Trịnh Sâm, bài thứ hai là của Lê Quý Đôn:</span><span style="font-size:10pt;font-family:Arial"></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 3pt 0.45pt;line-height:12pt;text-align:justify"><i><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Thế nhân khổ tác thiên thai mộng </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 3pt 0.45pt;line-height:12pt;text-align:justify"><i><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Thùy thức thiên thai diệc hí trường </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 3pt 0.45pt;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">(Người đời mơ tưởng lên tiên sướng</span><span style="font-size:10pt;font-family:Arial"></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 3pt 0.45pt;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Đâu biết lên tiên cũng chuyện đùa!)</span><span style="font-size:10pt;font-family:Arial"></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 3pt 0.45pt;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Qua khỏi cửa động, du khách tới động ngoài có hình dáng giống như chiếc bát úp khổng lồ<i>. </i>Nhiều khối thạch nhũ to lớn lấp lánh được đặt tên là kho bạc, kho gạo, kho muối... Đi sâu vào bên trong chừng vài chục mét, du khách sẽ bước trên những thạch nhũ hình rồng nằm cuộn tròn, ở giữa có những hòn đá cuội tròn (&quot;Rồng ấp trứng vàng&quot;). Ở trên vòm có nhiều thạch nhũ hình lá cây buông xuống, khi lấy dùi gỗ gõ nhẹ vào sẽ phát ra những âm thanh có nhiều cung bậc (“Phường bát âm”).</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 3pt 0.45pt;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Ở động giữa, thạch nhũ tạo thành những bức tranh giống như dấu ấn, mão, áo, bàn <span style="">cờ<i>... </i></span>Trên nền động, thạch nhũ kết nối thành nhiều đường nét hoa văn. Trong động còn có lối đi lên gọi là &quot;đường lên trời” và một hố sâu xuống dưới gọi là “đường xuống âm phủ”; một ao nước lạnh trong suốt... </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 3pt 0.45pt;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Động trong hẹp và nhỏ hơn, cao khoảng 8 m, rộng chừng 12 m. Nơi đây có một khối đá lớn gọi là &quot;mộ Từ Thức”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 3pt 0.45pt;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Động Từ Thức không những là một danh thắng mà còn là một di tích lịch sử trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngoài động Từ Thức còn có các động đá khác cách đó không xa như động Bạch Nha, Lục Vân, Vân Nham, Mắt Voi... kết thành một quần thể di tích, thắng cảnh nổi tiếng của đất Thanh. </span></p>
<p><b style=""><i style=""><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Trích tạp chí Dinh dưỡng và gia đình thường thức số 2/2011</span></i></b></p></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/04/2011 10:35 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Từ thị trấn Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, theo đường liên tỉnh đi về hướng đông bắc chừng 7 km sẽ đến địa phận xã Nga Thiện, trước mắt du khách là núi Thần Phú và núi Giáp Sơn trải dài, ở đây có một thắng cảnh được gọi là động Từ Thức hay động Bích Đào.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.824</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <pubDate>Wed, 06 Apr 2011 03:39:48 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/docmiendatnuoc/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=14</guid>
    </item>
    <item>
      <title>LÂU ĐÀI HOÀNG A TƯỞNG</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/docmiendatnuoc/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=15</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass2DB4D838E46F484DB4B0D95E28D18DA5><p class=MsoNormal style="margin:18.2pt 0cm 3pt 0.2pt;text-indent:1cm;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Tháng 3 năm 1886, thực dân Pháp đánh chiếm lên Lào Cai. Sau khi chiếm được Bắc Hà, nhận thấy đây là một vị trí chiến lược quan trọng của vùng Đông Bắc tỉnh Lào Cai, giữ được Bắc Hà coi như giữ được Lùng Phình, Si Ma Cai, giữ được cầu nối với với Hoàng Su Phì (Hà Giang) ở phía Đông, Pha Long, Mường Khuông, Ban Làu ở phía Tây. Hơn nữa thung lũng Bắc Hà được nối với các vùng xuôi bằng con đường độc đạo xuyên suốt xương sống huyện, rồi rẽ qua ngả Hà Giang và vươn lên tận Si Ma Cai nơi tiếp giáp với biên giới Việt Trung nên sau khi chiếm được Bắc Hà, một mặt Pháp mua chuộc, dụ dỗ các thổ ty, gắn chặt quyền lợi của thổ ty với chúng, song mặt khác chúng vẫn cảnh các giao các thổ ty cai quản từng vùng. Để phòng thủ, răn đe các vị thủ lĩnh trong vùng và giúp đỡ Tri châu trong cai trị dân chúng, cùng với việc<i> </i>xây dựng đồn binh kiên cố thực dân Pháp đã cho xây dựng dinh thự lớn cho Hoàng Yên Chao ở, làm việc và trở thành một lâu đài cố thủ khi cần thiết.</span></p>
<div align=center>
<table class=MsoTableGrid cellspacing=0 cellpadding=0 border=0 style="border-collapse:collapse">
    <tbody>
        <tr style="">
            <td valign=top width=461 style="border-right:#d4d0c8;padding-right:5.4pt;border-top:#d4d0c8;padding-left:5.4pt;padding-bottom:0cm;border-left:#d4d0c8;width:345.6pt;padding-top:0cm;border-bottom:#d4d0c8;background-color:transparent">
            <p class=MsoNormal align=center style="margin:18.2pt 0cm 3pt;line-height:12pt;text-align:center"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial"><img height=213 width=400 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-4/lau-dai-Hoang-A-Tuong1642011_143853.gif"></span></p>
            </td>
        </tr>
        <tr style="">
            <td valign=top width=461 style="border-right:#d4d0c8;padding-right:5.4pt;border-top:#d4d0c8;padding-left:5.4pt;padding-bottom:0cm;border-left:#d4d0c8;width:345.6pt;padding-top:0cm;border-bottom:#d4d0c8;background-color:transparent">
            <p class=MsoNormal align=center style="margin:18.2pt 0cm 3pt;line-height:12pt;text-align:center"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial"><img height=208 width=400 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-4/lau-dai-Hoang-A-Tuong2642011_143912.gif"></span></p>
            </td>
        </tr>
    </tbody>
</table>
</div>
<p class=MsoNormal style="margin:18.2pt 0cm 3pt 0.2pt;text-indent:1cm;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Dinh thự được khởi công từ năm 1920 đến năm 1921 thì hoàn thành. Việc xây dựng dinh thự như một lâu đài là kỳ công to lớn của họ Hoàng và của quan thầy Pháp quốc lúc bấy giờ. Với quyền thế của một tri châu giữa cao nguyên rộng lớn và sự hỗ trợ uy lực của đội quân đồn trú trong ba năm liên tục, Hoàng Yên Chao đã huy động hàng vạn công, hàng nghìn trâu ngựa vào việc xây dựng dinh thự. Nhằm khai thác tối đa tài nguyên cho việc xây dựng, viên tri châu đã tính theo sản vật từng vùng để khoán cho dân, ví như gỗ lim, cát Bảo Nhai, gỗ sến Nậm Mòn, gỗ táu Cốc Ly, đá đen Nậm Mòn, Lùng Phìn, vôi, gạch, ngói tự đốt hoặc huy động ngựa ra tận Phố Lu thồ về... Ngoài những nguyên liệu sản xuất tại chỗ, các vật liệu quan trọng khác như sắt thép, xi<i> </i>măng, gạch men... đều được thực dân Pháp cung cấp từ sân bay quân sự trên cánh đồng thuộc xả Thải Giàng Phố hoặc theo đường tàu lên tới phố Lu. Cùng với việc khai thác vật liệu, Hoàng Yên Chao cho người về kén thợ xây đá từ Ninh Bình, thợ mộc từ Hà Nam lên làm và việc xây dựng được sự giám sát, điều hành của một viên kỹ sư xây dựng người Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:18.2pt 0cm 3pt 0.2pt;text-indent:1cm;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Dinh thự họ Hoàng được xây dựng ngay giáp trung tâm huyện lỵ, địa thế đẹp, thiết kế theo kiểu lâu đài, gồm nhà ở, lô cốt, hầm ngầm thông với trại lính. Mỗi bề của lâu đài rộng 40 mét. Cầu thang hình cánh cung lồi hẳn ra bên ngoài hệ thống tường, bề rộng 15 mét, bề sâu 3,2 mét, gầm cầu thang là hai chòi canh gác và một gian nhỏ dùng để nghỉ ngơi tạm cho lính canh. Leo qua mười bẩy bậc cầu thang (cao ba mét so với mặt nền) sẽ lên tới ban công và chạm cổng chính của lâu đài. Việc bố trí cầu thang hợp lý vừa làm đẹp cho lâu đài, vừa thuận tiện cho sử dụng và tác chiến khi cần thiết.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:18.2pt 0cm 3pt 0.2pt;text-indent:1cm;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Bước qua cổng lâu đài khách sẽ không khỏi choáng ngợp trước một kiến trúc vừa uy nghiêm, trang trọng của phong cách Á Đông, ( vừa đồ sộ, thuận tiện trong sinh hoạt và thuận lợi trong phòng thủ của những lâu đài châu Âu. Sân lâu đài rộng gần hai trăm mét vuông, được lát bằng gạch nung các cỡ 8x25, 20x20. Ba dãy nhà hai tầng, mỗi tầng ba phòng ôm lấy sân. Dãy chính đối diện với cổng lâu đài nền nhà cao hơn mặt sân một mét hai, mái nhọn, lợp ngói âm dương, nền lát gạch hoa, mặt tiền được trang trí như một cung điện. Hai dãy nhà hai bên được xây dựng thấp hơn so với dãy chính. Đối diện với dãy nhà chính là bức tường dày 30cm nối hai dãy nhà hai bên. Bức tường được trang trí công phu. Tám hình trang trí xuyên qua tường vừa làm đẹp, thông thoáng, tôn thêm vẻ uy nghi cho lâu đài, vừa thành những lỗ châu mai lợi hại trong phòng thủ và tác chiến. Hệ thống trụ cột, vòm cuốn, cấp thoát nước, chống sét, chòi canh, lò sưởi bằng củi cho mỗi phòng, dầm, sàn tầng, cầu phong ly tô đều làm bằng gỗ nghiến đã ngâm tẩm kỹ, đảm bảo cho ngôi nhà vừa sử dụng thuận tiện, vừa chống chọi được với thời gian. Ngoài ra lâu đài còn có hai dãy nhà nối tiếp với hai dãy nhà hai bên, hông phía Bắc có hệ thống nhà bếp, nhà vệ sinh, bên ngoài lâu đài về phía sau có trại lính.</span><span style="font-size:10pt;font-family:Arial"></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 3pt 3.35pt;text-indent:1cm;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Dinh thự họ Hoàng làm xong đã trở thành một dinh thự to đẹp, kiên cố nhất vùng. Ngày khánh thành, Hoàng Yên Chao đã mời khắp các quan đồn, các quan đầu toà của tỉnh, các thổ ty trong vùng đến dự. Ngoài đội xoè được huấn luyện công phu, Hoàng Yên Chao còn cho mời cả đoàn kinh kịch của tỉnh Vân Nam - Trung Quốc về biểu diễn phục vụ. Tháng 10 năm 1950, trước sự tấn công như vũ bão của bộ đội ta, hệ thống phòng thủ của Pháp và tay sai ở Bắc Hà nhanh chóng tan rã, cả nhà họ Hoàng cuốn gói theo quan thầy về Hà Nội rồi sau đó rút vào miền Nam. Bắc Hà được giải phóng, Lâu đài họ Hoàng được chính quyền cách mạng tiếp thận, bảo quản và sử dụng cho đến ngày nay.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 3pt 3.35pt;text-indent:1cm;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Trong những năm gần đây, Bắc Hà là một vùng du lịch hấp dẫn. Các giá trị văn hóa đặc đáo, giàu bản sắc như chợ phiên, phong tục tập quán, văn hóa tộc người, môi trường cư trú, cảnh sắc núi non hùng vĩ và đặc biệt là lâu đài Hoàng A Tưởng (gọi theo tên của con trai Hoàng Yên Chao) đã được các khách du lịch trong và ngoài nước nô nức tìm đến tham quan, hưởng thụ. Theo sự biến thiên của thời gian, lịch sử, lâu đài dẫu có thay đổi, sửa chữa một số chi tiết, như dỡ bỏ hai tháp canh ở tầng thượng, trại lính phía sau, dãy nhà ngang, nhà bếp phía Bắc lâu đài bị dỡ bỏ, hệ thống lò sưởi không sử dụng... song cơ bản cấu trúc lâu đài vẫn được giữ nguyên. Tham quan lâu đài, quý khách không chỉ có cơ hội thưởng thức giá trị kiến trúc độc đáo từ đầu thế kỷ hai mươi, hình dung ra một thời cát cứ của một thổ ty hùng mạnh mà còn được tận hưởng cảnh quan thiên nhiên kỳ thú qua dòng suối uốn lượn, ẩn hiện như con rồng giữa những rừng mận tam hoa, qua những dãy núi đứng, núi ngồi nối nhau phía trước mặt, thu vào tầm mắt cả một thị trấn sôi động, đổi mới từng ngày.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 3pt 3.35pt;text-indent:1cm;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Trước đây, Lâu đài Hoàng A Tưởng được sử dụng làm Nhà khách của huyện Bắc Hà. Tôi đã có lần ngủ trên tầng hai, đêm vắng lặng, lơ mơ trong giấc ngủ chập chờn, nghe xa gần vẳng lại tiếng ngựa gõ móng, tiếng cối xay ngô nấu mèn mén và tiếng gia nhân họ Hoàng dưới ánh trăng xanh ngằn ngằn. Sáng hôm sau, các nhà văn, các nhạc sĩ đi trong đoàn cùng kể lại giấc mơ tương tự. Lâu đài Hoàng A Tưởng thật huyền bí, không thể cắt nghĩa được... Bây giờ, tất cả các phòng khách kê giường ngủ dạo trước được biến thành các nơi trưng bày văn hóa miền núi vùng cao: tranh ảnh, thổ cẩm, trang phục các dân tộc H'mông, Sán Dìu, Dao... Du khách đến Lâu đài Hoàng A Tưởng, không chỉ được nghe lại huyền thoại lâu đài, chiêm ngưỡng vẻ đẹp kiến trúc độc đáo giao hòa đông - tây mà còn được cảm nhận, thưởng thức văn hóa các dân tộc thiểu số vùng cao Bắc Hà.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 3pt 3.35pt;text-indent:1cm;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Là một di sản văn hóa vật thể giữa một vùng văn hóa đặc sắc, lâu đời, lâu đài Hoàng A Tưởng cần phải được tu tạo, khai thác hợp lý để vừa tạo ra nguồn thu nhập, vừa giới thiệu với du khách sự độc đáo, hấp dẫn cả về lịch sử, kiến trúc, cảnh quan của một vùng đất có nhiều dân tộc giữa cao nguyên một thời sóng gió<i>.</i><span style=""></span></span></p>
<p><b style=""><i><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Trích tạp chí Tinh hoa Việt số 2 tháng 2 năm 2011</span></i></b></p></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/04/2011 2:35 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Lâu đài Hoàng A Tưởng nằm giữa thung lũng Bắc Hà. Đó là một ngôi nhà hai tầng rộng trên 16000 mét vuông được xây dựng liên hoàn, khép kín, vừa mang phong cách châu Âu, vừa mang phong cách Á đông, do thục dân Pháp giúp Tri châu Hoàng Yên Chao.</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.927</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <pubDate>Wed, 06 Apr 2011 07:39:26 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/docmiendatnuoc/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=15</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Bãi Đá cổ Xín Mần và tục cúng thần Đá</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/docmiendatnuoc/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=13</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass68F8B9F4341F43609D8BC9F723ABC502><p>
<table class=MsoTableGrid cellspacing=0 cellpadding=0 align=left border=0 style="margin:auto 6.75pt;border-collapse:collapse">
    <tbody>
        <tr style="height:12.35pt">
            <td valign=top width=212 style="border-right:#d4d0c8;padding-right:5.4pt;border-top:#d4d0c8;padding-left:5.4pt;padding-bottom:0cm;border-left:#d4d0c8;width:158.7pt;padding-top:0cm;border-bottom:#d4d0c8;height:12.35pt;background-color:transparent">
            <p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify;mso-element:frame"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial"><img height=300 width=400 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-3/da%20co%20Xin%20Man1032011_10934.jpg"></span></p>
            </td>
        </tr>
        <tr style="height:12.35pt">
            <td valign=top width=212 style="border-right:#d4d0c8;padding-right:5.4pt;border-top:#d4d0c8;padding-left:5.4pt;padding-bottom:0cm;border-left:#d4d0c8;width:158.7pt;padding-top:0cm;border-bottom:#d4d0c8;height:12.35pt;background-color:transparent">
            <p class=MsoNormal align=center style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:center;mso-element:frame"><i style=""><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Lễ cúng thần Đá</span></i></p>
            </td>
        </tr>
    </tbody>
</table>
</p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Nằm ẩn sâu trong thung lũng, nơi có dòng suối Nấm Dẩn, cùng những tầng tầng, lớp lớp ruộng bậc thang uốn lượn ôm quanh quả núi, những nếp nhà sàn nhỏ xinh ẩn mờ trong mây núi, bất ngờ nổi lên những phiến đá to lớn có hình thù, hoa văn kỳ lạ. Trên mỗi phiến đá đó, người xưa đã khắc lên những hình tượng khác nhau, có hình như bàn chân người, hình vòng tròn, hình ruộng bậc thang, hình người, hình sinh thực khí... Tuy nhiên, đó cũng mới chỉ là theo những giả thuyết của các chuyên gia khảo cổ học (Viện Khảo cổ), tất cả đều đang chứa đựng những ẩn số, huyền bí. Để khẳng định và tìm lời giải cho vấn đề này, các nhà khoa học cần tiếp tục nghiên cứu...</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Nấm Dẩn là xã vùng biên của tỉnh Hà Giang. Nơi đây có 5 tộc người: Nùng, Hmông, Hoa, Kinh, Tày, trong đó tộc Nùng có số dân đông nhất (470 hộ, 2.724 khẩu), toàn xã có 12 thôn bản thì có tới 10 thôn bản 100% đều là người Nùng, tập trung thành từng khu trên các sườn núi. Hiện nay, người Nùng ở Nấm Dẩn còn bảo tồn được khá nguyên vẹn những nét văn hóa đặc trưng, truyền thống của mình trong lao động sản xuất và phong tục tập quán. Đồng thời họ cũng là tộc người có lịch sử cư trú lâu đời nhất ở đây. Người Nùng theo tín ngưỡng đa thần, họ quan niệm vạn vật hữu linh. Vũ trụ của người Nùng được chia làm 3 mường: mường trời là thế giới thần tiên, mường người là mặt đất, mường âm là mường của những người sống trong lòng đất chỉ nhỏ bằng chiếc bình vôi. Vì vậy họ thờ nhiều đối tượng như: thờ cúng tổ tiên, cúng Thổ Công, cúng thần Rừng, thần Suối. Đặc biệt Nấm Dẩn là xã duy nhất trong vùng có tục cúng thần Đá - nơi có bãi đá cổ Xín Mần. Thần Đá - tiếng Nùng gọi là “Đản guy”.</span></p>
<div align=center>
<table class=MsoTableGrid cellspacing=0 cellpadding=0 border=0 style="border-collapse:collapse">
    <tbody>
        <tr style="height:12.35pt">
            <td valign=top width=212 style="border-right:#d4d0c8;padding-right:5.4pt;border-top:#d4d0c8;padding-left:5.4pt;padding-bottom:0cm;border-left:#d4d0c8;width:158.7pt;padding-top:0cm;border-bottom:#d4d0c8;height:12.35pt;background-color:transparent">
            <p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial"><img height=300 width=400 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-3/da%20co%20Xin%20Man11032011_10106.jpg"></span></p>
            </td>
        </tr>
        <tr style="height:12.35pt">
            <td valign=top width=212 style="border-right:#d4d0c8;padding-right:5.4pt;border-top:#d4d0c8;padding-left:5.4pt;padding-bottom:0cm;border-left:#d4d0c8;width:158.7pt;padding-top:0cm;border-bottom:#d4d0c8;height:12.35pt;background-color:transparent">
            <p class=MsoNormal align=center style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:center"><i style=""><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Phiến đá có những hình khắc cổ</span></i></p>
            </td>
        </tr>
    </tbody>
</table>
</div>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial"> </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Bãi đá cổ là quần thể những phiến đá có khắc những ký hiệu trên đó, với tất cả 7 phiến đá lớn và 2 cự thạch (đá cực lớn), trên đó có khắc khoảng 80 hình và khoảng 80 vũng lõm khác nhau. Những hình khắc trên đá ở đây mới được phát hiện năm 2007, được nhà nước xếp hạng di tích khảo cổ học cấp Quốc gia năm 2008. Đây là điểm đến tham quan du lịch kỳ thú và hấp dẫn đối với nhiều du khách thích nghiên cứu, khám phá miền sơn cước phía tây của tỉnh Hà Giang. </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Tục cúng thần Đá ở Nấm Dẩn là tín ngưỡng ngẫu nhiên của đồng bào Nùng tại đây hay có sự gắn kết hoặc liên quan nào đó với các di tích cự thạch tại bãi đá cổ hay không? để làm sáng tỏ vấn đề này cần tiếp tục có sự nghiên cứu của các nhà dân tộc học, khảo cổ học. Vào ngày 2-6 âm lịch, người ta chọn nơi nào có những vách đá cao sừng sững nhất trong vùng để dựng bàn thờ ngay dưới chân vách đá đó, địa điểm cúng gần khu vực di tích cự thạch; đến nay họ chuyển địa điểm cúng lên khu vực có vách đá cao gần đỉnh núi - cách phiến đá A1 hơn 500m (là phiến đá có những hình khắc cổ độc đáo nhất trong khu vực bãi đá cổ Xín Mần được xếp hạng di tích cấp Quốc gia năm 2008). Sáng sớm ngày 2-6 âm lịch, những thanh niên trai tráng theo thầy cúng dựng lên một đàn cúng bằng các thanh gỗ cao 1,2m, dài 1,5m, rộng 1m sao cho đủ diện tích để bày đặt các lễ vật cúng. Đây là di sản văn hóa độc đáo cần được bảo tồn để phục vụ nhu cầu tâm linh, sinh hoạt văn hóa cho nhân dân địa phương, đồng thời quảng bá và thu hút khách du lịch biết và đến với bờ đá cổ Xín Mần.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><b style=""><i style=""><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Trích tạp chí Xưa &amp; Nay </span></i></b></p>
<p> </p></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 10/03/2011 10:05 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> NẰM CÁCH PHỐ HUYỆN GẦN 20KM, BÃI ĐÁ CỔ XÍN MẦN THUỘC THÔN NÙNG MÁ LỬ, XÃ NẤM DẨN, HUYỆN XÍN MẦN, HÀ GIANG (ĐỊA PHẬN GIÁP RANH VỚI HUYỆN BẮC HÀ CỦA TỈNH LÀO CAI). BÃI ĐÁ CỔ XÍN MẦN ĐƯỢC CÁC CHUYÊN GIA KHẢO CỐ HỌC, NHỮNG NHÀ NGHIÊN CỨU VĂN HÓA VÀ NHIỀU DU KHÁCH ĐÁNH GIÁ LÀ ĐỘC ĐÁO VÀ KỲ LẠ.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.822</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <pubDate>Thu, 10 Mar 2011 03:10:17 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/docmiendatnuoc/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=13</guid>
    </item>
  </channel>
</rss>