﻿<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<!--RSS generated by Windows SharePoint Services V3 RSS Generator on 14/04/2026 4:42:07 CH-->
<?xml-stylesheet type="text/xsl" href="/docmiendatnuoc/_layouts/RssXslt.aspx?List=46ae8beb-3591-4b19-a8b6-0faee33cd89d" version="1.0"?>
<rss version="2.0">
  <channel>
    <title>Dọc miền đất nước: Bài đăng</title>
    <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/docmiendatnuoc/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    <description>Liên kết nạp tin tự động RSS cho Bài đăng danh sách.</description>
    <lastBuildDate>Tue, 14 Apr 2026 09:42:07 GMT</lastBuildDate>
    <generator>Windows SharePoint Services V3 RSS Generator</generator>
    <ttl>60</ttl>
    <image>
      <title>Dọc miền đất nước: Bài đăng</title>
      <url>/docmiendatnuoc/_layouts/images/homepage.gif</url>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/docmiendatnuoc/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    </image>
    <item>
      <title>LÂU ĐÀI HOÀNG A TƯỞNG</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/docmiendatnuoc/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=15</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass2DB4D838E46F484DB4B0D95E28D18DA5><p class=MsoNormal style="margin:18.2pt 0cm 3pt 0.2pt;text-indent:1cm;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Tháng 3 năm 1886, thực dân Pháp đánh chiếm lên Lào Cai. Sau khi chiếm được Bắc Hà, nhận thấy đây là một vị trí chiến lược quan trọng của vùng Đông Bắc tỉnh Lào Cai, giữ được Bắc Hà coi như giữ được Lùng Phình, Si Ma Cai, giữ được cầu nối với với Hoàng Su Phì (Hà Giang) ở phía Đông, Pha Long, Mường Khuông, Ban Làu ở phía Tây. Hơn nữa thung lũng Bắc Hà được nối với các vùng xuôi bằng con đường độc đạo xuyên suốt xương sống huyện, rồi rẽ qua ngả Hà Giang và vươn lên tận Si Ma Cai nơi tiếp giáp với biên giới Việt Trung nên sau khi chiếm được Bắc Hà, một mặt Pháp mua chuộc, dụ dỗ các thổ ty, gắn chặt quyền lợi của thổ ty với chúng, song mặt khác chúng vẫn cảnh các giao các thổ ty cai quản từng vùng. Để phòng thủ, răn đe các vị thủ lĩnh trong vùng và giúp đỡ Tri châu trong cai trị dân chúng, cùng với việc<i> </i>xây dựng đồn binh kiên cố thực dân Pháp đã cho xây dựng dinh thự lớn cho Hoàng Yên Chao ở, làm việc và trở thành một lâu đài cố thủ khi cần thiết.</span></p>
<div align=center>
<table class=MsoTableGrid cellspacing=0 cellpadding=0 border=0 style="border-collapse:collapse">
    <tbody>
        <tr style="">
            <td valign=top width=461 style="border-right:#d4d0c8;padding-right:5.4pt;border-top:#d4d0c8;padding-left:5.4pt;padding-bottom:0cm;border-left:#d4d0c8;width:345.6pt;padding-top:0cm;border-bottom:#d4d0c8;background-color:transparent">
            <p class=MsoNormal align=center style="margin:18.2pt 0cm 3pt;line-height:12pt;text-align:center"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial"><img height=213 width=400 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-4/lau-dai-Hoang-A-Tuong1642011_143853.gif"></span></p>
            </td>
        </tr>
        <tr style="">
            <td valign=top width=461 style="border-right:#d4d0c8;padding-right:5.4pt;border-top:#d4d0c8;padding-left:5.4pt;padding-bottom:0cm;border-left:#d4d0c8;width:345.6pt;padding-top:0cm;border-bottom:#d4d0c8;background-color:transparent">
            <p class=MsoNormal align=center style="margin:18.2pt 0cm 3pt;line-height:12pt;text-align:center"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial"><img height=208 width=400 alt="" src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2011-4/lau-dai-Hoang-A-Tuong2642011_143912.gif"></span></p>
            </td>
        </tr>
    </tbody>
</table>
</div>
<p class=MsoNormal style="margin:18.2pt 0cm 3pt 0.2pt;text-indent:1cm;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Dinh thự được khởi công từ năm 1920 đến năm 1921 thì hoàn thành. Việc xây dựng dinh thự như một lâu đài là kỳ công to lớn của họ Hoàng và của quan thầy Pháp quốc lúc bấy giờ. Với quyền thế của một tri châu giữa cao nguyên rộng lớn và sự hỗ trợ uy lực của đội quân đồn trú trong ba năm liên tục, Hoàng Yên Chao đã huy động hàng vạn công, hàng nghìn trâu ngựa vào việc xây dựng dinh thự. Nhằm khai thác tối đa tài nguyên cho việc xây dựng, viên tri châu đã tính theo sản vật từng vùng để khoán cho dân, ví như gỗ lim, cát Bảo Nhai, gỗ sến Nậm Mòn, gỗ táu Cốc Ly, đá đen Nậm Mòn, Lùng Phìn, vôi, gạch, ngói tự đốt hoặc huy động ngựa ra tận Phố Lu thồ về... Ngoài những nguyên liệu sản xuất tại chỗ, các vật liệu quan trọng khác như sắt thép, xi<i> </i>măng, gạch men... đều được thực dân Pháp cung cấp từ sân bay quân sự trên cánh đồng thuộc xả Thải Giàng Phố hoặc theo đường tàu lên tới phố Lu. Cùng với việc khai thác vật liệu, Hoàng Yên Chao cho người về kén thợ xây đá từ Ninh Bình, thợ mộc từ Hà Nam lên làm và việc xây dựng được sự giám sát, điều hành của một viên kỹ sư xây dựng người Pháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:18.2pt 0cm 3pt 0.2pt;text-indent:1cm;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Dinh thự họ Hoàng được xây dựng ngay giáp trung tâm huyện lỵ, địa thế đẹp, thiết kế theo kiểu lâu đài, gồm nhà ở, lô cốt, hầm ngầm thông với trại lính. Mỗi bề của lâu đài rộng 40 mét. Cầu thang hình cánh cung lồi hẳn ra bên ngoài hệ thống tường, bề rộng 15 mét, bề sâu 3,2 mét, gầm cầu thang là hai chòi canh gác và một gian nhỏ dùng để nghỉ ngơi tạm cho lính canh. Leo qua mười bẩy bậc cầu thang (cao ba mét so với mặt nền) sẽ lên tới ban công và chạm cổng chính của lâu đài. Việc bố trí cầu thang hợp lý vừa làm đẹp cho lâu đài, vừa thuận tiện cho sử dụng và tác chiến khi cần thiết.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:18.2pt 0cm 3pt 0.2pt;text-indent:1cm;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Bước qua cổng lâu đài khách sẽ không khỏi choáng ngợp trước một kiến trúc vừa uy nghiêm, trang trọng của phong cách Á Đông, ( vừa đồ sộ, thuận tiện trong sinh hoạt và thuận lợi trong phòng thủ của những lâu đài châu Âu. Sân lâu đài rộng gần hai trăm mét vuông, được lát bằng gạch nung các cỡ 8x25, 20x20. Ba dãy nhà hai tầng, mỗi tầng ba phòng ôm lấy sân. Dãy chính đối diện với cổng lâu đài nền nhà cao hơn mặt sân một mét hai, mái nhọn, lợp ngói âm dương, nền lát gạch hoa, mặt tiền được trang trí như một cung điện. Hai dãy nhà hai bên được xây dựng thấp hơn so với dãy chính. Đối diện với dãy nhà chính là bức tường dày 30cm nối hai dãy nhà hai bên. Bức tường được trang trí công phu. Tám hình trang trí xuyên qua tường vừa làm đẹp, thông thoáng, tôn thêm vẻ uy nghi cho lâu đài, vừa thành những lỗ châu mai lợi hại trong phòng thủ và tác chiến. Hệ thống trụ cột, vòm cuốn, cấp thoát nước, chống sét, chòi canh, lò sưởi bằng củi cho mỗi phòng, dầm, sàn tầng, cầu phong ly tô đều làm bằng gỗ nghiến đã ngâm tẩm kỹ, đảm bảo cho ngôi nhà vừa sử dụng thuận tiện, vừa chống chọi được với thời gian. Ngoài ra lâu đài còn có hai dãy nhà nối tiếp với hai dãy nhà hai bên, hông phía Bắc có hệ thống nhà bếp, nhà vệ sinh, bên ngoài lâu đài về phía sau có trại lính.</span><span style="font-size:10pt;font-family:Arial"></span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 3pt 3.35pt;text-indent:1cm;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Dinh thự họ Hoàng làm xong đã trở thành một dinh thự to đẹp, kiên cố nhất vùng. Ngày khánh thành, Hoàng Yên Chao đã mời khắp các quan đồn, các quan đầu toà của tỉnh, các thổ ty trong vùng đến dự. Ngoài đội xoè được huấn luyện công phu, Hoàng Yên Chao còn cho mời cả đoàn kinh kịch của tỉnh Vân Nam - Trung Quốc về biểu diễn phục vụ. Tháng 10 năm 1950, trước sự tấn công như vũ bão của bộ đội ta, hệ thống phòng thủ của Pháp và tay sai ở Bắc Hà nhanh chóng tan rã, cả nhà họ Hoàng cuốn gói theo quan thầy về Hà Nội rồi sau đó rút vào miền Nam. Bắc Hà được giải phóng, Lâu đài họ Hoàng được chính quyền cách mạng tiếp thận, bảo quản và sử dụng cho đến ngày nay.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 3pt 3.35pt;text-indent:1cm;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Trong những năm gần đây, Bắc Hà là một vùng du lịch hấp dẫn. Các giá trị văn hóa đặc đáo, giàu bản sắc như chợ phiên, phong tục tập quán, văn hóa tộc người, môi trường cư trú, cảnh sắc núi non hùng vĩ và đặc biệt là lâu đài Hoàng A Tưởng (gọi theo tên của con trai Hoàng Yên Chao) đã được các khách du lịch trong và ngoài nước nô nức tìm đến tham quan, hưởng thụ. Theo sự biến thiên của thời gian, lịch sử, lâu đài dẫu có thay đổi, sửa chữa một số chi tiết, như dỡ bỏ hai tháp canh ở tầng thượng, trại lính phía sau, dãy nhà ngang, nhà bếp phía Bắc lâu đài bị dỡ bỏ, hệ thống lò sưởi không sử dụng... song cơ bản cấu trúc lâu đài vẫn được giữ nguyên. Tham quan lâu đài, quý khách không chỉ có cơ hội thưởng thức giá trị kiến trúc độc đáo từ đầu thế kỷ hai mươi, hình dung ra một thời cát cứ của một thổ ty hùng mạnh mà còn được tận hưởng cảnh quan thiên nhiên kỳ thú qua dòng suối uốn lượn, ẩn hiện như con rồng giữa những rừng mận tam hoa, qua những dãy núi đứng, núi ngồi nối nhau phía trước mặt, thu vào tầm mắt cả một thị trấn sôi động, đổi mới từng ngày.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 3pt 3.35pt;text-indent:1cm;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Trước đây, Lâu đài Hoàng A Tưởng được sử dụng làm Nhà khách của huyện Bắc Hà. Tôi đã có lần ngủ trên tầng hai, đêm vắng lặng, lơ mơ trong giấc ngủ chập chờn, nghe xa gần vẳng lại tiếng ngựa gõ móng, tiếng cối xay ngô nấu mèn mén và tiếng gia nhân họ Hoàng dưới ánh trăng xanh ngằn ngằn. Sáng hôm sau, các nhà văn, các nhạc sĩ đi trong đoàn cùng kể lại giấc mơ tương tự. Lâu đài Hoàng A Tưởng thật huyền bí, không thể cắt nghĩa được... Bây giờ, tất cả các phòng khách kê giường ngủ dạo trước được biến thành các nơi trưng bày văn hóa miền núi vùng cao: tranh ảnh, thổ cẩm, trang phục các dân tộc H'mông, Sán Dìu, Dao... Du khách đến Lâu đài Hoàng A Tưởng, không chỉ được nghe lại huyền thoại lâu đài, chiêm ngưỡng vẻ đẹp kiến trúc độc đáo giao hòa đông - tây mà còn được cảm nhận, thưởng thức văn hóa các dân tộc thiểu số vùng cao Bắc Hà.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:3pt 0cm 3pt 3.35pt;text-indent:1cm;line-height:12pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Là một di sản văn hóa vật thể giữa một vùng văn hóa đặc sắc, lâu đời, lâu đài Hoàng A Tưởng cần phải được tu tạo, khai thác hợp lý để vừa tạo ra nguồn thu nhập, vừa giới thiệu với du khách sự độc đáo, hấp dẫn cả về lịch sử, kiến trúc, cảnh quan của một vùng đất có nhiều dân tộc giữa cao nguyên một thời sóng gió<i>.</i><span style=""></span></span></p>
<p><b style=""><i><span style="font-size:10pt;color:black;font-family:Arial">Trích tạp chí Tinh hoa Việt số 2 tháng 2 năm 2011</span></i></b></p></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/04/2011 2:35 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Lâu đài Hoàng A Tưởng nằm giữa thung lũng Bắc Hà. Đó là một ngôi nhà hai tầng rộng trên 16000 mét vuông được xây dựng liên hoàn, khép kín, vừa mang phong cách châu Âu, vừa mang phong cách Á đông, do thục dân Pháp giúp Tri châu Hoàng Yên Chao.</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.912</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <pubDate>Wed, 06 Apr 2011 07:39:26 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/docmiendatnuoc/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=15</guid>
    </item>
    <item>
      <title>CHÂU ĐỐC TÂN CƯƠNG</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/docmiendatnuoc/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=8</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass7831DE20B17B47F29C7D43AA4BCDE2DC><p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Rõ ràng, đây là vùng đất được khai thác sau cùng ở Nam bộ. Mùa xuân năm Mậu Dần (1698), thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn vào Nam kinh lược, lập ra hai huyện Phước Long và Tân Bình cho thuộc hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn, gọi chung là Gia Định phủ, trên phần đất từ sông Đồng Nai đến sông Tiền. Sau biến cố này, Mạc Cửu không còn tin tưởng vào sự bảo vệ của Chân Lạp trước áp lực đông tiến của Xiêm. Vì tương lai của Hà Tiên và do tình cảm riêng (ông lấy vợ Việt người Biên Hòa tên Bùi Thị Lẫm), khiến Mạc Cửu đi đến quyết định xin cho Hà Tiên nội thuộc xứ Đàng Trong của chúa Nguyễn vào năm Mậu Tý (1708).</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Như vậy, đến thời điểm giữa thế kỷ XVIII, dinh Phiên Trấn đến sông Tiền và trấn Hà Tiên đến bờ sông Hậu, vùng đất Tầm Phong Long nằm giữa sông Tiền và sông Hậu vẫn còn hoang vắng, chưa nội thuộc chủ quyền chúa Nguyễn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Sử cũ chép năm Đinh Sửu (1757) quốc vương Chân Lạp là Nặc-nguyên mất, chú họ Nặc-nhuận đang làm giám quốc, xin hiến đất Srok Treang (tức đất Ba Thác gồm Sóc Trăng - Bạc Liêu) và Préah Trapeang (tức đất Trà Vang gồm Trà Vinh - Bến Tre) cầu xin chúa Nguyễn phong làm vua Chân Lạp, chúa Võ vương Nguyễn Phước Khoát chấp thuận. Nhưng liền sau đó Nặc-nhuận bị con rể là Nặc-hinh giết và cướp ngôi. Cháu Nặc-nhuận là Nặc-tôn, chạy sang Hà Tiên nhờ Mạc Thiên Tứ, tâu với chúa Nguyễn xin được phong làm vua Chân Lạp. Chúa Võ vương thuận cho, và sai tướng Thống suất ngũ dinh tại Gia Định Trương Phước Du hợp cùng Mạc Thiên Tứ mang quân đánh dẹp Nặc-hinh và đưa Nặc-tôn về nước. Nặc-tôn được phong làm phiên vương.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Để tạ ơn Nặc-tôn cắt đất Tầm Phong Long (tức vùng đất nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, về phía bắc Longhor/Vĩnh Long ngày nay) dâng cho chúa Nguyễn. Vùng đất này, được Nghi biểu hầu Nguyễn Cư Trinh lập thành ba đạo:</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">- Đông Khẩu đạo bao gồm các huyện Châu Thành, thị xã Sa Đéc, huyện Lai Vung và huyện Lấp Vò của tỉnh Đồng Tháp ngày nay. Trị sở đồn trú tại Sa Đéc (thôn Vĩnh Phước).</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">- Tân Châu đạo bao gồm phần đất của các huyện Chợ Mới, Phú Tân, Phú Châu và Tân Châu của tỉnh An Giang ngày nay.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">- Châu Đốc đạo bao gồm phần đất phía tây bắc sông Hậu, chạy dài đến Hà Tiên.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Cả ba đạo mới này đều đặt dưới chế độ quân quản do dinh Long Hồ kiêm quản. </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Đây là vùng đất xa xôi, đất đai rộng nhưng lại nằm ở vị trí then chốt về mặt an ninh quốc phòng. Ngay trong buổi đầu, ta chưa đủ binh lực bố phòng, chỉ có một số đồn bảo dọc theo biên giới như các bảo Vĩnh Thông, Vĩnh Lạc, Thân Nhơn, Vĩnh Gia, Vĩnh Điều cư dân người Việt thưa thớt chỉ sống bám quanh các bảo để được an toàn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Đến thời Gia Long, vùng này vẫn còn hoang vu, nên vua lệnh quan địa phương mộ dân đến khai khẩn, đặt quan quản đạo cai trị, vẫn thuộc quyền cai quản của trấn Vĩnh Thanh, nơi địa đầu quan ải của trấn Vĩnh Thanh với Chân Lạp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Từ vàm sông Châu Đốc (sông Hậu) ngược lên phía bắc tiếp giáp vùng Thất Sơn rồi sông Giang Thành, kéo dài đến vịnh Xiêm là đường biên giới giữa ta và Chân Lạp rất mơ hồ. Để bảo vệ vùng giới tuyến địa đầu quan trọng không kém biên cương phía bắc, năm Gia Long thứ 14 (1815), triều đình ra lệnh cho trấn thủ Vĩnh Thanh, Lưu Phước Tường tập họp 3000 dân binh đào hào, đắp lũy xây dựng đồn Châu Đốc ở phía tây sông Hậu, có giao thông hào ăn thông với sông này, để tiện chuyển quân khi có biến. Xây xong, vua thông báo cho quốc vương Chân Lạp biết đồn Châu Đốc chẳng những bảo vệ Hà Tiên mà còn ứng cứu Nam Vang.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Để khai thác vùng tân cương, đồng thời để xác định biên giới rõ rệt giữa hai nước, mặc dù có sự can ngăn của quan lớn Sen Nguyễn Văn Nhơn, năm 1817, vua Gia Long vẫn lệnh cho Thoại ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại đào kinh núi Sập (sau gọi là Thoại Hà). Hai năm sau (1819) lại cho đào kinh Vĩnh Tế, kéo dài 5 năm mới xong. </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Hai con kinh này quả có tác dụng vô cùng quan trọng trong công cuộc mở mang kinh tế và giữ yên bờ cõi. Ngay khi kinh Vĩnh Tế đào chưa hoàn tất đã thu hút lưu dân đến dâng đơn xin khai khẩn sinh sống. Lúc bấy giờ Nguyễn Văn Thoại là Khâm sai Thống chế, án thủ đồn Châu Đốc, lãnh ấn Bảo hộ Cao Miên quốc, kiêm quản Hà Tiên trấn biên vụ, chỉ cần ông phê duyệt và đóng dấu Bảo hộ Cao Miên quốc chi chương vào đơn là coi như lưu dân có bằng khoáng đất (sổ đỏ). Nên chỉ hơn mươi năm, đến năm Minh Mạng thứ 13 (1832), Châu Đốc tân cương thành được hai phủ:</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">- Tuy Biên gồm hai huyện Tây Xuyên, Phong Phú.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">- Tân Thành có hai huyện là Vĩnh An và Đông Xuyên.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Đây là cương vực ban đầu của tỉnh An Giang. Đến năm 1835, lấy đất Ba Thác lập thêm phủ Ba xuyên, cai quản ba huyện Phong Nhiêu, Phong Thanh và Vĩnh Định. Tiếp theo năm 1839, lập thêm huyện An Xuyên ở phủ Tân Thành, năm 1842<span style="">  </span>lấy phủ Tịnh Biên và huyện Hà Dương của Hà Tiên sáp nhập vào. Đến năm 1844, lập thêm huyện Hà Âm. Năm 1850, giải thể phủ Tịnh Biên cùng huyện Hà Âm, lấy đất này nhập vào huyện Hà Dương.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Như vậy đến khi Tự Đức lên ngôi, tức là gần tròn 100 năm sau khi thuộc chủ quyền người Việt, vùng Châu Đốc được khai mở với tiến độ khá nhanh, thành lập 274 xã thôn, phường bang, được quy vào hai phủ với 10 huyện, nằm trong địa phận tỉnh An Giang, tỉnh thành đặt tại Châu Đốc: </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">- Phủ Tuy Biên, có ba huyện: </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">+ Tây Xuyên gồm ba tổng với 38 xã, thôn, phố bang.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">+ Phong Phú gồm ba tổng với 31 thôn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">+ Hà Dương (tức Lình Quỳnh) có 4 tổng với 40 thôn, phố phường.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">+ Hà Âm (tức Giang Thành) gồm 2 tổng, 40 xã thôn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">- Phủ Tân Thành có ba huyện: </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">+ Vĩnh An gồm 4 tổng với 36 xã thôn, phố, bang, huyện lỵ đóng tại thôn Vĩnh Phước (Sa Đéc). </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">+ An Xuyên gồm 3 tổng với 25 xã thôn, huyện lỵ đặt tại thôn Tân Hựu.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">+ Đông Xuyên gồm 4 tổng với 33 xã thôn, huyện lỵ đóng ở thôn Long Sơn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">- Phủ Ba Xuyên có hai huyện: </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">+ Phong Nhiêu gồm 3 tổng với 17 xã thôn, huyện lỵ tại thôn An Khánh </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">+ Vĩnh Định gồm 4 tổng với 19 xã thôn, huyện lỵ tại thôn Đại Hữu.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Năm 1867, Pháp chiếm An Giang, cưỡng chiếm thành Châu Đốc đêm 21-6-1867. Sau đó, họ chia An Giang làm 5 hạt (rồi đổi hạt thành tỉnh): Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng và Sa Đéc…</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Ngày nay vùng này thuộc địa phận các tỉnh An Giang, Tp.Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng và các huyện nam sông Tiền của tỉnh Đồng Tháp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Tháng 11, năm Quý Tỵ (1833), nhân cơ hội Lê Văn Khôi nổi dậy chiếm Gia Định thành, quân Xiêm do tướng Bodin (Phi Nhã Chất Tri) thống lĩnh 3 vạn binh thủy bộ, mở bốn mặt trận nghi binh dọc theo biên giới Việt Lào, hỗ trợ mũi chính diện đánh thần tốc chiếm Hà Tiên và Châu Đốc vào cuối năm 1833, với ý đồ xuôi dòng Tiền Giang chiếm Sa Đéc rồi Vĩnh Long, Mỹ Tho, cuối cùng chiếm thành Gia Định, nơi Lê Văn Khôi đang bị quân triều đình vây hãm. </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Nhưng bị quân ta dưới sự chỉ huy của Thượng tướng Trần Vãn Năng tổ chức trận địa mai phục trên sông Vàm Nao, ở đoạn Cổ Hủ, phá tan. Thừa thắng ta xua quân chiếm lại Châu Đốc và Hà Tiên và tiến lên giải phóng Phnôm Pênh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Năm 1840, người Chân Lạp ở Tịnh Biên nổi loạn, quan phủ hoảng sợ, bỏ trốn. Loạn quân kéo về Hà Tiên đánh phá đồn Châu Nham (Đá Dựng). Trong khi đó 2000 loạn quân khác từ Thất Sơn xuống đánh phá Rạch Giá, rồi đóng đồn trụ lại. Vùng biên giới Thất Sơn -Vĩnh Tế (huyện Hà Dương, Hà Dương) chìm trong khói lửa chiến tranh. Sở dĩ loạn quân dám ngạo mạng như vậy là vì lúc bấy giờ tướng Bodin (Phi Nhã Chất Tri) của Xiêm đóng đồn dọc theo kinh Vĩnh Tế (trên đất Chân Lạp) hỗ trợ và xúi dục. Triều đình phái Nguyễn Tri Phương mang quân đánh dẹp suốt cả năm mới yên.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Đến tháng 9 năm Tân Sửu (1841), lợi dụng khi quân ta do Trương Minh Giảng thống lĩnh, rời Chân Lạp về nước, người Xiêm dựng lên một hoàng tôn, tập hợp một số người Lào, Chân Lạp, Việt...về nước giành lại ngôi báu, dưới sự bản trợ của họ. Ở đây người Xiêm tiếp tục khai thác mâu thuẫn giữa Lê Văn Duyệt và vua Minh Mạng để can thiệp vào nội tình nước ta. Nguyên khi Hoàng thái tử Cảnh qua đời vào năm 1801, Gia Long không lập con cháu dòng chánh làm thái tử kế vị (tức con của hoàng thái tử Cảnh là Nguyễn Phước Mỹ Đường), mà chọn con dòng thứ là hoàng tử Phúc Kiểu, huý là Đảm, làm thái tử tức Minh Mạng sau. Sở dĩ Gia Long bỏ trưởng lập thứ, vì Mỹ Đường theo đạo Thiên Chúa, nhưng Lê Văn Duyệt không hiểu ngầm ý của Gia Long hết lời can ngăn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Để thực hiện âm mưu này, tháng Giêng năm Nhâm Dần (1842) Phi Nhả Chất Tri sai tướng Ô Thiệt Vương cho thủy quân tấn công Phú Quốc thăm dò, còn trên bộ, cho khoảng 5.000 quân hộ tống hoàng tôn đến Sách Sô (thuộc hạt Nam Ninh, trấn Tây Thành) và 10 thuyền đến đồn Cần Thăng thám sát, kích động người Chân Lập nổi dậy ở phủ Ba Xuyên, Sóc Trăng, Thất Sơn... Qua tháng 2, chúng xua đại quân tràn qua kinh Vĩnh Tế kết hợp với quân nổi dậy đánh phá các đồn Thất Sơn, Tân Châu, An Lạc, Hồng Ngự, Thông Bình... cướp bóc, bắn giết... gây thảm cảnh tang tóc thê lương khắp tuyến biên giới, nhất là ở Hà Tiên, chúng dùng súng lớn (bắn bằng viên đạn 3 tấc rơi xuống tan như mưa) bắn suốt ngày đêm, gây nhiều thiệt hại cho dân thường (trong dân gian gọi là giặc Hà Tiên). Quân triều huy động quân binh cả sáu tỉnh Nam kỳ do tổng đốc Định-Biên Lê Văn Đức làm tổng thống quân vụ, thự tổng đốc Long Tường Nguyễn Tri Phương, tổng đốc An Hà Phạm Văn Điển cùng đề đốc An Giang chia đường cùng nhân dân địa phương ra sức đương cự với giặc trên một tuyến dài từ Tiền Giang qua Hậu Giang, qua Thất Sơn đến tận Hà Tiên. Bước đầu ngăn chặn được sức tiến của giặc, nhưng chúng chưa chịu rút lui, mà xây thành đắp lũy trụ lại ở núi Cô Tô, một vị trí hiểm ở thất Sơn, với âm mưu chiếm đóng lâu dài. </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Đến tháng 5, ta tăng cường quân số, chia làm năm mũi tiến đánh, phá tan chiến lũy ở núi Cô Tô của quân giặc, có đến cả ngàn ra hàng trong đó phần lớn là người Hoa và Chân Lạp. thừa thắng ta truy đuổi giặc đến tận Phnôm Pênh và Kompong Luông. Về thành Châu Đốc, tháng Giêng năm: Quý Tỵ (1833) vua Minh Mạng thấy đồn Châu Đốc chật hẹp, chưa được tiện lợi, nên khiến cho quan Giám thành Trấn thủ Ngô Bá Nhơn, nhắm lựa chỗ nào sảng khái và đón được hai ngả sông Tiền, sông Hậu, mà đường đất vừa cân để làm thành tỉnh. Rồi chọn xứ Long Sơn ở miệt thượng du, địa thế cao ráo, qua lại tiếp ứng, thiệt là chỗ hình thế hiểm trở, bèn đem việc ấy tâu lên. Vua khiến Bộ công vẽ đồ thức đắp thành. Nhưng do tình hình biên giới lúc bấy giờ rất phức tạp, hễ dẹp yên nơi này thì nơi khác lại ứng lên, thành thử việc dời thành tỉnh bị bỏ trôi, cuối cùng vẫn giữ y ở Châu Đốc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Nếu trong buổi đầu Thoại Ngọc Hầu là người đã từng trực tiếp đốc suất việc đào kinh Vĩnh Tế, mở ruộng lập vườn, đắp nhiều đường, bắc cầu để phục vụ yêu cầu giao thông trong xứ và với nước láng giềng Chân Lạp, thì sau đó Doãn Uẩn, Tổng đốc An Hà, ngoài đại công dẹp loạn, ông còn đặc biệt quan tâm ổn định đời sống nhân dân, chăm lo cả về sinh hoạt tinh thần, tín ngưỡng, tạo niềm tin, chỗ dựa tinh thần với ước vọng an lành cho vùng biên giới tây nam Tổ quốc. Chùa Tây An được Doãn Uẩn chủ trương xây trong niềm ước vọng đó. </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Hai trăm năm sau (1997), Thủ tướng Võ Văn Kiệt kế tục tầm nhìn chiến lược của người xưa cho đào các kinh T4, T5 và T6 với tổng chiều dài 100km, góp phần xả nước sông Hậu ra biển. Trong đó, kinh T5 (kinh Võ Văn Kiệt) quan trọng nhất dài 48km, nối liền từ xã Lạc Quới (Vĩnh Tế - An Giang) đến Hòn Đất (Kiên Giang), tạo thêm màu xanh của lúa trên cánh đồng tứ giác Long Xuyên. Trên vùng lúa mênh mông này, ngày nay hiện lên thành phố Long Xuyên trẻ trung năng động đầy sức sống trong thời hiện đại hóa công nghiệp hóa với tượng đài &quot;Con Cá Basa”, bên cạnh thị xã Châu Đốc cổ kính hiền hòa đang vươn mình lên trong xu thế phát triển của cả nước; người vẫn không quên &quot;giặc Hà Tiên&quot; và những người đã nằm xuống trong chiến đấu bảo vệ biên cương thuở nào:</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><i style=""><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">…Bậu lỡ thời như nhái lột da, </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><i style=""><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Nhái lột da người ta còn bắt </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><i style=""><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Bậu lỡ thời như giặc Hà Tiên, </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><i style=""><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Giặc Hà Tiên người ta còn đánh...</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Với hình ảnh thê lương tang tóc nơi chiến địa, được nhà thơ Bùi Hữu Nghĩa khắc họa lại khi qua vùng Hà Âm (Hà Tiên - Vĩnh Tế): </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Mù mịt mây đen kéo tối sầm, </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Đau lòng thuở nọ chốn Hà Âm. </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Đống xương vô định xương phao trắng,</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">vũng máu phi thường cỏ nhuộm thâm</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Gió chốt dật dờ nơi chiến lũy, </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Đèn trời leo lét dặm u lâm</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Nghĩ thương con tạo sao dời đổi, </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Dắng dỏi đêm trường tiếng dế ngâm.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Nguyễn Hữu Hiếu </span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><b style=""><i style=""><u><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Chú thích:</span></u></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">(1) Quốc sử quán (1972) Đại Nam nhất thống chi lục tỉnh Nam Việt, Phú QVKĐTVH, Sài Gòn, tr2.2.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">(2) Hãn Nguyên (1970): <i style="">Hà Tiên, Chìa khóa Nam tiến của dân tộc Việt Nam xuống đồng bằng sông Cửu Long</i>, Tập san sử Địa số 19-20, 1970, Sài gòn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">(3) Về niên đại Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn, có một số tài liệu ghi là năm 1714. Ngay trong <i style="">Gia Định thành thông chí, </i>cùng trong Q.III (tập trung) Trịnh Hoài Đức cũng ghi năm 1714 ở phần Cương vực chí (tr.13), nhưng ở phần trấn Hà Tiên (tr.79) lại ghi là 1708. Vấn đế này đã có nhiều tranh luận và năm 1708 có lẽ hợp lý hơn. Xem thêm Trương Minh Đạt <i style="">Nhận thức mới về Hà Tiên, </i>Nxb Trẻ, 2001, tr.39-50.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">(4) Quốc sử quán (1972) <i style="">Đại Nam nhất thống chí lục tỉnh Nam Việt</i>, Phủ quốc Vụ khanh đặc trách văn hóa (Sài Gòn), tr.9.</span></p>
<p class=MsoNormal style="margin:0cm 0cm 0pt;text-align:justify"><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">(5) Nguyễn Đình Đầu, (1994) <i style="">Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn – Tỉnh An Giang</i>, tr. 200-254. (6) Quốc sử quán (1960) Đại Nam thực lục chính biên, Q.27, tr.63.</span></p>
<p><b style=""><i style=""><span style="font-size:10pt;font-family:Arial">Tạp chí Xưa và Nay số 356 tháng 5 năm 2010 (tr.2 và tr.26-29)</span></i></b></p></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 19/01/2011 2:15 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Kể từ ngày khai cương thác địa đến nay, địa danh Châu Đốc vẫn được trân trọng gìn giữ. Buổi đầu cha ông ta gọi &quot;Châu Đốc tân cương&quot; với ý rằng, đây là vùng đất mới của Tổ quốc được khai thác sau cùng. /Châu/: vùng đất; Đốc/: sau cùng, sau rốt). Nhưng cũng có giả thuyết cho rằng /Châu Đốc có thể là do âm của tiếng Méât Chrouk (Khơmer ngữ) có nghĩa là mồm hay miệng heo, ta âm ra là Ngọc Luật hay Mật Luật. Đề cập đến địa danh này, sử cũ ghi rõ: &quot;Vì đất ấy nhiều chỗ bỏ hoang, đầu đời Gia Long mộ dân đến ở, gọi là Châu Đốc tân cương&quot;.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 338</div>
]]></description>
      <author>TBHUYEN</author>
      <pubDate>Wed, 19 Jan 2011 07:20:33 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/docmiendatnuoc/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=8</guid>
    </item>
  </channel>
</rss>