﻿<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<!--RSS generated by Windows SharePoint Services V3 RSS Generator on 08/06/2026 9:36:27 SA-->
<?xml-stylesheet type="text/xsl" href="/huynhvannghe/_layouts/RssXslt.aspx?List=07a9daa7-f02e-46b4-8e5e-a097a11163a4" version="1.0"?>
<rss version="2.0">
  <channel>
    <title>Thi Tướng Huỳnh Văn Nghệ: Bài đăng</title>
    <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/huynhvannghe/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    <description>Liên kết nạp tin tự động RSS cho Bài đăng danh sách.</description>
    <lastBuildDate>Mon, 08 Jun 2026 02:36:26 GMT</lastBuildDate>
    <generator>Windows SharePoint Services V3 RSS Generator</generator>
    <ttl>60</ttl>
    <image>
      <title>Thi Tướng Huỳnh Văn Nghệ: Bài đăng</title>
      <url>/huynhvannghe/_layouts/images/homepage.gif</url>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/huynhvannghe/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    </image>
    <item>
      <title>Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Thi Tướng Huỳnh Văn Nghệ (02/02/1914 - 02/02/2014)</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/huynhvannghe/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=2</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass4A090073E5274C93B82C18E50C1A75B1><p> </p>
<p><br>
 </p>
<div style="text-align:center"><img title="Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ ở chiến khu Đ" alt="Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ ở chiến khu Đ" src="http://images.vietpress.vn/Images/Uploaded/Share/2013/02/25/77066.jpg" style="border-bottom:0px;border-left:0px;margin:5px;border-top:0px;border-right:0px">
<div style="font-family:Tahoma;font-size:10pt">Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ ở chiến khu Đ</div>
</div>
<p><br>
Ông sinh ngày 02 tháng 2 năm 1914 tại làng Tân Tịch, tổng Chánh Mỹ Hạ, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc xã Thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương), trong một gia đình nghèo.<br>
<br>
Trước khi sinh ra ông, gia đình ông từng sống du cư bằng ghe trên sông Bao Ngược. Năm 1903, gia đình ông gặp một trận bão lớn cuốn hết cả gia tài và hai người con đầu.<br>
<br>
Sau trận bão đó, gia đình ông lưu lạc lên lập nghiệp ở vùng Tân Uyên. Thân phụ của ông là ông Huỳnh Văn Tờn, từng học võ và biết chữ Nho, sống bằng nghề đi săn, nhưng có lúc phải đi làm mướn (cưa gỗ) để sinh kế. Là một người khẳng khái, mặc dù chính quyền thực dân cấm, ông Tờn vẫn lén lút dạy võ cho thanh niên trong làng và từng được hương chức làng mời ra làm hương tuần nhưng ông Tờn không nhận. Thân mẫu ông là bà Đoàn Thị Hiển, sinh năm Canh Thìn (1880), làm nghề gánh hàng bán cau khô, vải, nước mắm, thường đi chợ Tân Uyên để mua hàng về bán cho các làng lân cận như Tân Hòa, Mỹ Lộc...<br>
<br>
Huỳnh Văn Nghệ là con thứ 7 trong gia đình nên còn gọi là Tám Nghệ. Trừ 2 người đầu mất tích do bão lũ năm 1903, và người thứ ba và thứ sáu mất sớm, ông có một người anh thứ tư (Năm Thọ) và người chị thứ năm (Sáu Yển) và 2 người em út (Chín Lưỡng và Mười Mẫn).<br>
<br>
Tuy nhà nghèo, nhưng ông được hưởng một nền giáo dục rất tốt, được cha dạy dỗ về căn bản cả văn lẫn võ, được gia đình chăm lo ăn học đến nơi đến chốn. Ông được cho đi học bậc tiểu học tại làng Mỹ Lộc, quận Tân Uyên và học rất giỏi. Nhờ đó, năm 1928, sau khi tốt nghiệp bậc tiểu học, ông đã giành được học bổng bậc trung học của Trường Petrus Ký. Sau khi lên Sài Gòn học ít lâu, cha ông tử nạn bởi bị rắn độc cắn. Toàn bộ gia đình ông trông nhờ vào người mẹ buôn bán nhỏ và người anh làm thầy giáo ở quê nhà.<br>
<br>
<span style="font-weight:bold">Bước đầu hoạt động cách mạng</span><br>
<br>
Từ nhỏ, ông chịu ảnh hưởng tinh thần yêu nước của gia đình. Khi học bậc trung học tại trường Petrus Ký tại Sài Gòn, ông thường xuyên có thái độ bài Pháp thực dân và có thể đã có những tiếp xúc đầu tiên với những người Cộng sản.<br>
<br>
Sau khi tốt nghiệp với bằng Thành chung vào năm 1932, ông vào làm công chức tại Sở Hỏa xa Đông Dương (Sài Gòn). Thời gian này, ông được các cán bộ Cộng sản vận động, tham gia phong trào Đông Dương Đại hội vào năm 1936, một phong trào vận động thu thập dân nguyện đề nghị cải cách với chính quyền thực dân Pháp, bắt đầu hoạt động làm thơ, viết báo (tiếng Việt, tiếng Pháp) đăng trên các báo ở Sài Gòn với bút danh Hoàng Hồ. Năm 1937, ông được bí mật kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất.<br>
<br>
Năm 1940, Khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra và bị chính quyền thực dân đàn áp khốc liệt. Vì là một đảng viên bí mật nên thân phận của ông không bị bại lộ. Nhưng do việc thường xuyên tiếp tế cho một bộ phận nghĩa quân rút về lập căn cứ ở Tân Uyên, năm 1942, ông bị phát hiện và bị truy bắt. May mắn là ông kịp đào thoát sang Thái Lan. Tại đây, ông hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước, tổ chức xuất bản tờ báo Hồn cố hương, kêu gọi Việt kiều bào hướng về Tổ quốc, ủng hộ cách mạng.<br>
<br>
<span style="font-weight:bold">Hoạt động quân sự tại miền Đông Nam Bộ</span><br>
<br>
Năm 1944, ông trở về nước bắt liên lạc với Trần Văn Giàu, Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ và được giao lập khu nghĩa quân Đất Cuốc tại quê hương Tân Uyên, Biên Hòa.<br>
<br>
Tháng 7 năm 1945, lần thứ hai ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, Thủ lĩnh Thanh niên Tiền phong tại Biên Hòa, và tham gia Tổng khởi nghĩa tháng Tám, trực tiếp chỉ huy bắt sống Tỉnh trưởng và cảnh sát trưởng tỉnh Biên Hòa. Ông được giao nhiệm vụ chỉ huy trưởng lực lượng Giải phóng quân Biên Hòa, cố vấn cho Ủy ban kháng chiến miền Đông.<br>
<br>
Chính quyền cách mạng giao cho ông trọng trách mang hơn 10 vạn đồng (tiền Đông Dương) qua Campuchia mua vũ khí về phục vụ cách mạng nhưng hai kẻ môi giới cầm tiền đã bỏ trốn, khiến ông không hoàn thành nhiệm vụ. Sau này hai kẻ môi giới lừa bịp đã bị bắt.<br>
<br>
Cuối tháng 9 năm 1945, Sài Gòn bị Pháp chiếm, luật sư Dương Văn Giáo, một trong những lãnh đạo Việt Nam phục quốc đồng minh hội, đứng ra thành lập chính phủ Nam kỳ Cộng hòa quốc phục vụ cho thực dân Pháp. Huỳnh Văn Nghệ đã trực tiếp tham gia bắt sống Dương Văn Giáo.<br>
<br>
Ngày 25 tháng 10 năm 1945, giặc Pháp đánh chiếm Biên Hòa, Thủ Dầu Một. Ngày 22 tháng 10 Uỷ ban kháng chiến miền Đông rút ra Xuân Lộc, Phan Thiết. Một bộ phận 40 người và 30 súng trường do ông chỉ huy trở về Tân Tịch, ấp Đất Cuốc huyện Tân Uyên dựa vào rừng quê hương làm căn cứ xây dựng lực lượng chống thực dân Pháp, gọi là bộ đội Huỳnh Văn Nghệ. Căn cứ Tân Uyên được ông bố trí phòng ngự vững chắc, vận động nuôi ăn cho đơn vị tỉnh và bộ đội các tỉnh bạn về đây theo lệnh của Khu trưởng Nguyễn Bình, bảo vệ Khu bộ, tiếp liệu cho các công binh xưởng của khu. Không bao lâu, Tân Uyên trở thành một trong những căn cứ vững mạnh nhất ở Nam bộ.<br>
<br>
Tháng 4 năm 1946 ông được cử làm Phó Chủ tịch kiêm Ủy viên Quân sự của Ủy ban Hành chính tỉnh Biên Hòa.<br>
<br>
<span style="font-weight:bold">Chỉ huy Chi đội 10 Vệ quốc đoàn Nam Bộ</span><br>
<br>
Khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam lần thứ 2, trên địa bàn tỉnh Biên Hoà có 3 tổ chức vũ trang yêu nước là: Vệ quốc đoàn Châu Thành, Vệ quốc đoàn Long Thành, Vệ quốc đoàn Biên Hoà.<br>
<br>
Tháng 5 năm 1946, Hội nghị Quân sự tỉnh Biên Hoà tổ chức tại Chiến khu Đ và quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang Biên Hoà. Vệ Quốc đoàn Châu Thành sáp nhập với Vệ quốc đoàn Biên Hoà do Huỳnh Văn Nghệ làm chỉ huy. Lúc này, Vệ quốc đoàn Long Thành còn hoạt động độc lập.<br>
<br>
Ông đã chỉ huy nhiều trận đánh lớn tại miền Đông. Đặc biệt, với trận La Ngà ngày 1 tháng 3 năm 1948, đây là trận giao thông chiến lớn nhất Nam bộ kể từ ngày giặc Pháp tái chiếm nước ta. Quân ta tiêu diệt 2 đại đội địch, 63 xe camions và thiết giáp, giết hai tên quan năm De Désarigné và Barasat, bắt sống một số sĩ quan địch, trong đó có tên quan ba Goffrey bị thương. Đơn vị ông được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng thưởng Huân chương Chiến công, riêng Trung đoàn trưởng Huỳnh Văn Nghệ được đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thưởng riêng một áo trấn thủ.<br>
<br>
<span style="font-weight:bold">Tư lệnh quân khu VII</span><br>
<br>
Sau tháng 7/1948, Huỳnh Văn Nghệ nhận nhiệm vụ Khu Trưởng Khu 7, cùng Chính ủy Khu 7 Nguyễn Văn Trí xây dựng căn cứ mới của Khu, thành lập Bộ đội chỉ lực Khu 7, lấy tên là Bộ đội 303. Năm 1949, khi phát hiện một du kích đánh được tháp canh của địch, nghiên cứu sáng kiến cách đánh tháp canh này của du kích, ông phát triển chiến thuật, giao cho Tham mưu trưởng Khu 7 Nguyễn Văn Lung (Ba Lung) phân công đồng chí Lê Quang Nghiêm tức họa sĩ Lê Du cùng với hai đồng chí cán bộ tham mưu Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Soái và Hoàng Trọng Đức điều nghiên, vẽ sơ đồ hệ thống tháp canh De La Tour phục vụ Bộ Tư lệnh tổ chức trận đánh đầu tiên ở Biên Hòa, hạ 30 tháp canh trong một đêm. Kết quả giết được nhiều địch, thu nhiều vũ khí. Sau đó ông đã phổ biến kỹ chiến thuật đánh tháp canh cho khắp các tỉnh ở Nam bộ, Liên khu 5 và Cao Miên, đập tan sáng kiến chiến lược tháp canh De La Tour của Tương De La Tour và giải quyết được sự bế tắt chiến thuật của Khu 7 lúc đó.<br>
<br>
Năm 1950, sau khi sát nhập khu Sài Gòn - Chợ Lớn vào khu 7, Huỳnh Văn Nghệ là Phó Tư lệnh bộ Tư lệnh Khu 7.<br>
<br>
<span style="font-weight:bold">Tỉnh đội trưởng Tỉnh Thủ Biên</span><br>
<br>
Năm 1951 tỉnh Thủ Biên được thành lập trên cơ sở sát nhập 2 tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một trực thuộc Phân liên khu miền Đông gồm 9 huyện: Hớn Quản, Bến Cát, Lái Thiêu, Thủ Đức, Tân Uyên, Châu Thành, Sông Bé, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc và 2 thị xã: Thủ Dầu Một, Biên Hòa. Ông được cử làm Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Tỉnh đội trưởng... Tỉnh đội Thủ Biên đề ra kế hoạch mở cuộc tiến công đánh diệt Chi khu Trảng Bom nhằm đột phá một mắt xích quan trọng trong hệ thống đồn bót kềm tỏa của địch ở khu vực xung quanh thị xã Biên Hòa; phá bàn đạp của địch đánh vào Chiến khu Đ.<br>
<br>
Năm 1953, ông được cử ra Bắc học tập và tiếp tục công tác trong Quân đội với hàm Thượng tá, Trưởng phòng Thể dục Thể thao, Phó Cục trưởng Cục Quân huấn thuộc Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam.<br>
<br>
<span style="font-weight:bold">Trở về miền Nam</span><br>
<br>
Rời quân đội, Huỳnh Văn Nghệ chuyển sang làm Tổng cục phó Tổng cục Lâm nghiệp.<br>
<br>
Năm 1965, ông về miền Nam tham gia chống Mỹ, tham gia công tác tại Trung ương Cục miền Nam, giữ các cương vị Trưởng ban Căn cứ, Phó ban Kinh tài và Trưởng Ban Lâm nghiệp.<br>
<br>
Sau khi đất nước thống nhất, ông là Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp (về sau hợp nhất vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).<br>
<br>
Ông lâm bệnh và mất tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 05 tháng 3 năm 1977.<br>
<br>
Ba mươi năm sau, ông được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật cho các tác phẩm &quot;<span style="font-style:italic">Chiến khu xanh</span>&quot;, &quot;<span style="font-style:italic">Bên bờ sông xanh</span>&quot;, &quot;<span style="font-style:italic">Rừng thẳm sông dài</span>&quot;. Ngày 17 tháng 4 năm 2010, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.<br>
<br>
<span style="font-weight:bold">&quot;Thi tướng&quot;</span><br>
<br>
Không chỉ là một chỉ huy quân sự tài ba, ông còn là một nhà thơ có những vần thơ in đậm trong tâm trí người đọc. Đồng đội và nhân dân miền Nam gọi ông là &quot;<span style="font-style:italic">Thi tướng rừng xanh</span>&quot;.<br>
<br>
Ở Huỳnh Văn Nghệ nhiệm vụ chiến sĩ và sứ mệnh thi sĩ đã hoà quyện với nhau, như chính lời ông viết:<br>
<br>
<span style="font-style:italic">Tôi là người lăn lóc giữa đường trần,<br>
<br>
Không phân biệt lúc mài gươm múa bút.<br>
<br>
Đời chiến sĩ máu hoà lệ, mực<br>
<br>
Còn yêu thương là chiến đấu không thôi<br>
<br>
Suốt một đời gươm chẳng ráo mồ hôi<br>
<br>
Thì không lẽ bút phải chờ kiếp khác.<br>
<br>
Trên lưng ngựa múa gươm và ca hát,<br>
<br>
Lòng ta say chiến trận đến thành thơ…<br>
</span><br>
Thơ của ông giản dị mà gần gũi, đầy cảm hứng mà sâu sắc, hồn nhiên mà xúc động. Bài thơ <span style="font-style:italic">Nhớ Bắc</span> của ông làm tại Chiến khu Đ năm 1946 với 4 câu tuyệt bút mở đầu đã được nhiều thế hệ người Việt Nam truyền tụng:<br>
<br>
<span style="font-style:italic">Ai về xứ Bắc ta đi với<br>
<br>
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng<br>
<br>
Từ độ mang gươm đi mở cõi<br>
<br>
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.</span><br>
<br>
(Câu cuối có một số bản chép là &quot;Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long&quot;. Tuy nhiên sau này đã được đính chính lại đúng nguyên tác là &quot;trời Nam&quot;).<br>
<br>
Bài thơ kết thúc bằng 4 câu mang nặng tình với đất nước:<br>
<br>
<span style="font-style:italic">Ai đi về Bắc xin thăm hỏi<br>
<br>
Hồn cũ anh hùng đất Cổ Loa<br>
<br>
Hoàn Kiếm hồ xưa Linh Quy hỡi<br>
<br>
Bao giờ mang trả kiếm dân ta.</span><br>
<br>
Gần 50 bài thơ của ông đã được chọn in trong tập Thơ văn Huỳnh Văn Nghệ, NXB Đồng Nai, 1998. Ngoài ra ông còn viết truyện ký, tự truyện được tập hợp trong hai tập sách Quê hương rừng thẳm sông dài và Những ngày sóng gió.<br>
<br>
Tháng 12 năm 2006, các tập thơ Chiến khu xanh, Bên bờ sông xanh, Rừng thẳm sông dài được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.<br>
<br>
Đầu năm 2007, tỉnh Bình Dương phối hợp với tỉnh Đồng Nai và Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học Huỳnh văn nghệ - Cuộc đời và sự nghiệp tại Nhà Lưu niệm Huỳnh Văn Nghệ, thuộc xã Thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.<br>
<br>
Tại thị xã Thủ Dầu Một, có một con đường mang tên Huỳnh Văn Nghệ. Và cũng để tưởng nhớ công lao của một vị tướng - một nhà thơ và ở thành phố Biên Hòa cũng có con đương mang tên ông, tỉnh Bình Dương đã quyết định thành lập Giải thưởng văn học nghệ thuật Huỳnh Văn Nghệ của tỉnh Bình Dương. Và cũng tại Thành phố Hồ Chí Minh có con đường mang tên ông tại phường 15 quận Tân Bình<br>
<br>
Cuộc đời ông cũng được hãng TFS dựng thành phim truyền hình 37 tập &quot;<span style="font-style:italic">Vó ngựa trời Nam</span>&quot;, do Nghệ sĩ ưu tú Lê Cung Bắc làm đạo diễn và các diễn viên Huỳnh Đông vai Huỳnh Văn Nghệ, Lê Phương vai Nhàn, Phụng Cường vai Huỳnh Văn Nghệ lúc nhỏ, Tấn Hưng vai Tám Phát, Thạch Kim Long vai Chín Quỳ. Phim được dàn dựng từ năm 2007 và công chiếu vào tháng 3 năm 2010, nhận được một số lời khen ngợi.<br>
<br>
Ngoài ra, trong phim <span style="font-style:italic">Dưới cờ đại nghĩa</span> sản xuất năm 2006, ông được diễn viên Lê Văn Dũng thể hiện.<br>
<br>
Ông lấy vợ tên là Đoàn Thị Nhạn (1915-1988), có tất cả 9 người con.<br>
<br>
Hai người con đầu và người thứ bảy mất sớm.<br>
<br>
Người thứ ba là bà Huỳnh Xuân Lan, mất năm 2007, nguyên là Phó TGĐ Tổng Công ty xây dựng số 1.<br>
<br>
Người thứ tư là bà Huỳnh Thu Cúc, giảng viên đại học Bách Khoa.<br>
<br>
Người thứ năm là bà Huỳnh Thu Nguyệt, nguyên là kế toán trưởng.<br>
<br>
Người thứ sáu là ông Huỳnh Văn Nam, nguyên Tổng Giám đốc Đài Truyền Hình Thành phố Hò Chí Minh (8/2002-3/2011), hiện là Chủ tịch Hội Chống Gian lận thương mại và Hỗ trợ Người tiêu dùng Thành phố Hồ Chí Minh.<br>
<br>
Người thứ tám là bà Huỳnh Thị Sông Bé, kỹ sư xây dựng.<br>
<br>
Người con út là bà Huỳnh Thị Thành, hiện là trưởng khoa Vật lý Đo lường, Viện Kiểm Nghiệm Thuốc Thành phố Hồ Chí Minh.<br>
<br>
 </p>
<div style="text-align:center"><img title="Đền thờ và mộ phần Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ" alt="Đền thờ và mộ phần Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ" src="http://images.vietpress.vn/Images/Uploaded/Share/2013/02/25/2e365.jpg" style="border-bottom:0px;border-left:0px;margin:5px;border-top:0px;border-right:0px">
<div style="font-family:Tahoma;font-size:10pt">Đền thờ và mộ phần Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ</div>
</div>
<p><br>
 </p>
<div align=right><span style="font-weight:bold">Phan Xuân</span><br>
<span style="font-style:italic">Theo Hochiminhcity.gov.vn</span></div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 23/01/2014 8:00 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Huỳnh Văn Nghệ (1914-1977) là một nhà hoạt động cách mạng và là một chỉ huy quân sự Việt Nam, nổi tiếng về tài thi ca, có những câu thơ được nhiều người truyền tụng.
Ông được nhà nước Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, vì những đóng góp trong thời kỳ chống Pháp và Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.133</div>
]]></description>
      <author>LTDUNG</author>
      <pubDate>Thu, 23 Jan 2014 01:01:32 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/huynhvannghe/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=2</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ và bài thơ ''Tiếng hát Quốc ca''</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/huynhvannghe/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=4</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass7527C96BA3304795A4A71F3536027BCE><div class=ExternalClass79240D033B834EA68067AD6DD6B2BE58>
<p> </p>
<div style="text-align:center"><img title="Nhà thơ tướng quân Huỳnh Văn Nghệ tại chiến khu Đ." alt="Nhà thơ tướng quân Huỳnh Văn Nghệ tại chiến khu Đ." width=500 style="border-bottom:0px;border-left:0px;margin:5px;border-top:0px;border-right:0px" src="http://images.vietpress.vn/Images/Uploaded/Share/2012/07/23/fa291.jpg">
<div style="font-family:Tahoma;font-size:10pt">Nhà thơ tướng quân Huỳnh Văn Nghệ tại chiến khu Đ.</div>
</div>
<p><br>
Năm 1948 tôi đang là học sinh trung học. Ngày đó lần đầu tiên tôi được dự hội nghị văn nghệ tỉnh tại thị trấn Ngân Sơn bên dòng sông Phường Lụa thơ mộng. Mấy phút giải lao, nhà văn Ngô Tịnh Hà (em ruột nhà thơ Xuân Diệu), Tổng biên tập đặc san Nhánh lúa Hội Văn nghệ tỉnh Phú Yên cho tôi xem Tạp chí Tiếng rừng của Phân hội Văn nghệ miền Đông Nam bộ. Đọc đến trang giữa tôi gặp bài thơ Tiếng hát Quốc ca, bài thơ như bắt tôi dừng lại ở những câu thơ <span style="font-style:italic">“Cưa cứ cưa, xương cứ đứt/ Máu cứ rơi từng giọt đỏ bông/ Hai tay anh siết chặt đôi hông/ Dồn đôi phổi vào trong tiếng hát.</span><br>
<br>
Tôi đọc tiếp câu thơ nói rõ <span style="font-style:italic">“Bác sĩ đang cưa chân/ Một thương binh bằng cưa thợ mộc”.</span> Chừng ấy mấy câu thơ, hình ảnh người chiến sĩ thương binh và tên tác giả cứ chập chờn trước mắt tôi, trong trí tôi, tôi như sờ được, sờ những câu thơ không phải tả mà vẽ bằng màu đỏ của máu, sờ lên tên tác giả tôi thấy cộm ở đầu ngón tay. Bài <span style="font-style:italic">Tiếng hát Quốc ca</span> đưa cái mới vào thơ kháng chiến.<br>
<br>
Nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ viết về người thương binh đang được bác sĩ cưa chân bằng cưa thợ mộc, là một nét mới. Cái mới của lịch sử, lịch sử những ngày đầu kháng chiến thiếu thốn trăm bề. Mới nữa là khí phách anh hùng từ ngoài chiến trận đến sự dũng cảm trên bàn mổ chịu đựng cưa chân như cưa củi. Và, cái mới hơn Tiếng hát Quốc ca ghi lại giây phút người thương binh nhìn lên ảnh Bác Hồ để nhân lên sức mạnh, nhân lên sức chiến đấu thắng cái đau đớn tột cùng, nhân lên lòng tin, tin ở Bác, tin ở chân lý, tin như Bác tin Nam bộ là chân lý:<span style="font-style:italic"> “Nam bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”</span>. Ở Tiếng hát Quốc ca, ta thấy trong thơ có người, có nhân vật, có sự việc, trữ tình lẫn trong tự sự, tự sự trong tình thơ.<br>
<br>
Mãi đến tháng 10-1954, trong đêm khai mạc Đại hội Văn công toàn quân tại thị xã Hà Đông, được anh Từ Bích Hoàng, Trưởng phòng Văn nghệ quân đội, giới thiệu tôi gặp nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ - một cán bộ cao cấp, đại biểu một đơn vị quân đội Nam bộ về tham dự đại hội. Ngồi cạnh nhà thơ, tôi làm quen và đọc một đoạn bài thơ Tiếng hát Quốc ca. Nhà thơ im lặng cười nhẹ. Anh cho biết thêm vì sao anh viết Tiếng hát Quốc ca.<br>
<br>
Vào một buổi trưa năm 1946, nằm trên võng vải (hồi ấy chưa có võng dù) ở một góc rừng chiến khu Đ. Nhà thơ không ngủ được vì nhớ mãi tiếng hát Quốc ca của người thương binh trưa ngày hôm trước đi ngựa công tác qua trạm quân y. Trong trạm có treo ảnh Bác, ảnh của một họa sĩ Nam bộ cắn ngón tay lấy máu mình vẽ hình Bác. Ảnh Bác mà người chiến sĩ thương binh nhìn lên để hát lúc chân đang bị cưa bằng cưa thợ mộc. Nhà thơ cả ngày như không yên được. Hôm ấy về, nhà thơ viết liền một mạch bài thơ vào cuốn Nhật ký chiến đấu để kịp chiều cùng đồng đội xuất kích. Một tháng sau Tiếng hát Quốc ca đăng ở Tạp chí Tiếng rừng và bộ đội rừng miền Đông đều chuyền tay nhau đọc thuộc. Một trưa trên đường miền Đông hành quân, bất ngờ trong trạm giao liên, một đồng chí thương binh đi chiếc chân giả đến ôm cứng nhà thơ, miệng lắp bắp không nói nên lời, hai mắt ướt long lanh. Nhà thơ biết đó chính là người chiến sĩ thương binh hát Quốc ca. Nhà thơ nói với tôi chậm rãi tâm tình: “<span style="font-style:italic">Văn học nào mà không bắt nguồn từ nguyên mẫu của cuộc đời. Người chiến sĩ thương binh ấy là cái nguyên mẫu của bài thơ. Hồi ấy chuyện cưa chân, cắt tay bằng dao kéo thô sơ ở chiến trường Nam bộ nơi nào mà không có. Nhưng lại rất anh hùng, anh hùng đối với tôi”.</span><br>
<br>
Rồi nhà thơ khe khẽ đọc đoạn thơ cuối, hình như đoạn thơ tâm đắc của nhà thơ. Anh đọc với một giọng Nam bộ chân chất giàu xúc động: “<span style="font-style:italic">Cả núi rừng/ Như còn văng vẳng nghe lời ca chiến sĩ/ Và vang trời ngựa hí/ Chí phục thù cháy bỏng dây cương”.</span><br>
<br style="font-weight:bold">
 </p>
<div style="text-align:right"><span style="font-weight:bold">Trúc Chi</span><br>
<span style="font-style:italic">Theo SGGP</span></div>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/01/2014 1:30 CH</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Nhà thơ tướng quân Huỳnh Văn Nghệ viết bài thơ về người chiến sĩ thương binh hát Quốc ca để thắng cái chết, thắng nỗi đau cưa chân bằng cưa thợ mộc. Đó là bài thơ Tiếng hát Quốc ca được viết vào những ngày đầu năm 1946.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.578</div>
]]></description>
      <author>LTDUNG</author>
      <pubDate>Fri, 24 Jan 2014 06:33:12 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/huynhvannghe/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=4</guid>
    </item>
    <item>
      <title>''Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ'' được truy tặng danh hiệu Anh hùng</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/huynhvannghe/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=3</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassBC094E90889B4D0486BC2D54C10C0B8D><div class=ExternalClassC1F23E83413F4C998310626A8A8351AA>
<div class=ExternalClass75DCF9195AE14BB8855C0760C6E4D378>
<div class=ExternalClass0D3607B5DC01404489D64DF9CC7DCC7E>
<p> </p>
<p>
<table border=0 cellspacing=0 cellpadding=0 width="100%" align=center>
    <tbody>
        <tr>
            <td valign=top align=center style="height:328px">
            <table id=Table12 border=0 cellspacing=0 cellpadding=0 width=780 height=19>
                <tbody>
                    <tr>
                        <td valign=top width=780 align=center style="padding-right:6px">
                        <div align=left><span id=lbBody class="main_content">
                        <p> <font size=2>Đến dự buổi lễ còn có đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Hoàng Quân, Ủy viên TW Đảng, Chủ tịch TP Hồ Chí Minh, Thượng tướng Phan Trung Kiên, Ủy viên TW Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trung tướng Trần Đại Quang, Ủy viên TW Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an và các đồng chí đại diện lãnh đạo HĐND, UBND, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh... </font></p>
                        <p>
                        <table border=0 rules=none cellspacing=2 cellpadding=0 align=center style="width:20px;height:20px">
                            <tbody>
                                <tr>
                                    <td><img border=0 alt="" src="http://www.cand.com.vn/Uploaded_CANDONLINE/anhtu1/anhtu1/1_chu1726-400.jpg"></td>
                                </tr>
                                <tr>
                                    <td><font color="#808080">Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết với đại diện các tập thể, các cá nhân được phong tặng danh hiệu AHLLVTND.</font></td>
                                </tr>
                            </tbody>
                        </table>
                        </p>
                        <p> </p>
                        <p><font size=2>Được truy tặng, trao tặng danh hiệu AHLLVTND đợt này có 12 tập thể và 29 cá nhân gồm: Ban binh vận Trung ương Cục Miền Nam; Tập thể 32 công dân hỏa tuyến xã Vĩnh Lộc, huyện Bình Chánh trong Tết 1968; Ban Hoa vận đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định; Quân dân y Sài Gòn - Gia Định (SG-GĐ); Tiểu đoàn đặc công Gia Định 4; các đội 3, 4, 11 Biệt động SG-GĐ; Tiểu đoàn 4 Thủ Đức, SG-GĐ; Tiểu đoàn 5 Phân khu cánh Nam huyện Nhà Bè; Tiểu đoàn 6 Bình Tân, SG-GĐ, Tiểu đoàn 7 Củ Chi, SG-GĐ, Thiếu tướng Tô Ký, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ, nguyên Tỉnh đội trưởng tỉnh Bình Dương, Thượng tướng Nguyễn Minh Châu, Đại tá Nguyễn Thế Truyện, bác sĩ Cao Ngọc Sơn, Đại tá Lê Văn Nón, Thượng tá Phan Thị Ngọc Tươi; Ủy viên ban quân sự Thành Đoàn SG-GĐ Nguyễn Thị Tư; chính trị viên đội biệt động 67 Quân khu SG-GĐ Lê Tấn Quốc; đồng chí Trần Sỹ Hùng, nguyên Trưởng ban Trinh sát Ty Liêm phóng Hà Nam; Đội trưởng Đội 11 biệt động SG-GĐ Ngô Thanh Vân; chiến sĩ biệt động Tô Cẩm Vân và các liệt sĩ Lê Văn Tăng, Trần Quang Cơ, Phạm Văn Bảy, Nguyễn Minh Trí, Nguyễn Thị Rí, Nguyễn Hoài Thanh, Tô Hoài Thanh, Nguyễn Văn Thân, Đặng Tấn Tài, Nguyễn Thanh Tuyền, Nguyễn Gia Lộc, Bùi Văn Mới, Trần Văn Cưỡng, Nguyễn Văn Lém, Trương Thanh, Nguyễn Ngọc Đồng, Nguyễn Văn On.</font></p>
                        <p><font size=2>Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã nhiệt liệt chúc mừng các tập thể, cá nhân vinh dự được phong danh hiệu AHLLVTND lần này. Chủ tịch nước khẳng định những đơn vị, cá nhân anh hùng là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là những đóa hoa tươi thắm trong rừng hoa cách mạng Việt Nam. Họ đã không ngại hy sinh xương máu để đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước cho chúng ta có được cuộc sống tốt đẹp ngày hôm nay. Những công lao và hy sinh ấy phải được đời đời ghi nhớ, biết ơn… </font></p>
                        <p><font size=2>Chủ tịch nước biểu dương TP Hồ Chí Minh đã có nhiều cố gắng về chăm lo đời sống, vật chất, tinh thần các anh hùng, gia đình anh hùng, liệt sĩ, gia đình chính sách và mong muốn trong thời gian tới, các ngành, các cấp tại thành phố nói riêng, cả nước nói chung cần tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác này…</font></p>
                        </span></div>
                        </td>
                    </tr>
                </tbody>
            </table>
            <br>
             </td>
        </tr>
        <tr>
            <td align=center style="height:40px">
            <p align=center>
            <table id=Table10 border=0 cellspacing=0 cellpadding=0 width=780 height=19>
                <tbody>
                    <tr>
                        <td width=780 align=center>
                        <div align=right><span id=lbAuthor2 class=source>N.Nguyễn</span></div>
                        <div align=right><span class=source>Nguồn: <a href="http://www.cand.com.vn">http://www.cand.com.vn</a></span></div>
                        </td>
                    </tr>
                </tbody>
            </table>
            </p>
            </td>
        </tr>
    </tbody>
</table>
</p>
</div>
</div>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/01/2014 10:00 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Ngày 17/4, tại Nhà hát TP Hồ Chí Minh, Thành ủy, HĐND, UBND, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh đã long trọng tổ chức lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho 41 tập thể, cá nhân vừa được truy tặng và  phong tặng. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã đến dự.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.306</div>
]]></description>
      <author>LTDUNG</author>
      <pubDate>Fri, 24 Jan 2014 03:05:39 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/huynhvannghe/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=3</guid>
    </item>
  </channel>
</rss>