Là một người xuất thân Nho học, Vũ Phạm Khải từng theo đòi cử nghiệp, đã đỗ đạt và cũng được bổ làm quan, từ Tri huyện cho đến chức Hộ bộ viên ngoại lang rồi đương chức Toản tu Quốc sử quán, có lúc được dự bàn các cuộc đình nghị với các quan đại thần.
Được đào tạo từ hệ thống tư tưởng Tống Nho, là một đồ đệ trung thành của Khổng - Mạnh, Vũ Phạm Khải từ lúc đi học cho đến lúc ra làm quan bao giờ cũng tỏ ra một người mang tư tưởng chính thống Nho gia. Ông từng nói: “Khoa cử rất tai hại cho tâm thuật, vì nó trói buộc người ta quá. Nhưng ông Chu, ông Trình cũng còn phải theo, ta làm thế nào mà không học được?".
Khi ra đời rồi, ông vẫn đinh ninh tâm niệm rằng: “Sách Đại học nói tâm, sách Trung dung nói tính, đầu sách Luận ngữ nói sướng vui, ấy là tình vậy, sách Mạnh Tử nói nhân nghĩa, đó là tâm thông cả tính tình". Ông coi những lời giáo huấn của Khổng - Mạnh là thiên kinh địa nghĩa và cố gắng áp dụng nó trong cuộc đời.
Là một người con, ông lo sống cho tròn đạo hiếu với cha mẹ:
Trung hiếu ký thành năng thị tử
(Dịch là: Trung hiếu đã nên người con trọn vẹn).
Là một người bề tôi, ông lo sống cho tròn đạo trung tín:
Thùy vô trung tín tượng sinh bình
(Dịch là: Không có lòng trung tín thì làm sao sống được).
Là một vị quan, ông cũng xứng đáng là bậc "cha mẹ của dân". Ông luôn luôn lấy lòng nhân ái, nhân nghĩa để xử đối với nhân dân, để làm tròn trách nhiệm là kẻ chăn dắt dân.
Bởi vậy mà ông cũng đã từng dâng biểu lên Tự Đức rằng:
"Mong thánh học càng sâu, trị công làm rõ, gần kẻ hiền, nghe lời can, sửa sang chính trị, nuôi dưỡng dân lành, nêu liêm sỉ để làm cho kẻ sĩ ngay thẳng, đuổi lui thói đục khoét để kẻ lại trị được liêm chính, khiến cho bốn cõi có chim loan phượng hiện ra, lại thấy cảnh tượng thái bình ở lúc này...".
Cũng vì vậy mà có một lần được vua cử về Bắc Kỳ kinh lý. Khi đến huyện Kim Động (Hưng Yên), gặp lúc địa phương bị tai hạn mà trong huyện thành vẫn hát xướng, ông đã dâng sớ học xin cách chức viên tri huyện huyện này. Trong sớ có câu: "Ngoài thành khóc mà trong thành hát, không có lòng trắc ẩn, không phải là cha mẹ dân". Sau đó viên tri huyện này đã bị cách chức.
Một lần khác, gặp khi Ninh Bìnn và Hà Nội bị lụt, Vũ Phạm Khải thương xót nhân dân và viết thư cho bạn tư cho quan lại địa phương xem xét kỹ càng tình hình thiệt hại để có biện pháp cứu giúp.
Đặc biệt là khi ông làm tri huyện Quỳnh Lưu, do hết lòng chăm lo đời sống cho nhân dân, nên nhân dân rất mến phục. Lúc bấy giờ ở ấp Thạch Động vì đói kém và thuế khóa nặng nề, đã phải bỏ quê hương đi tha phương cầu thực. Vũ Phạm Khải đã đưa ra chính sách thực hiện giảm miễn thuế khóa, trợ cấp cho dân nghèo, đã thu hút trở lại được số dân phiêu tán trở về làm ăn sinh sống ở quê hương. Về sau, nhân dân áp Thạch Động đã lập đền thờ ông.
Hoặc như trong thời gian về nghỉ ở quê (1849 - 1856) ông đã cùng với Nguyễn Công Trả là bạn thân của mình khai khẩn vùng đất bồi Kim Sơn - Văn Hải ở gần ngay quê nhà. Khi ông chết, nhân dân ấp Tuy Định đã nhờ Phạm Văn Nghị, bạn thân của ông ở tỉnh Nam Định, làm bài văn tế nhắc đến công đức của ông, trong có đoạn: “Có một điều mà Cụ xưa thường nói: đất cát là để nuôi sống người. Phượng Trì ta có một phần bãi bể, đem người làng và con em ra mở mang lập ấp, một mặt để thêm thuế khóa cho nhà nước, một mặt để làm nơi sinh sống cho mọi người của ta..., đến nay đã đạt được nhiều năm có kết quả. Việc đó là nhờ có sức Cụ mở mang từ nhiều năm mới có được. Nay tuy Cụ mất đi, nhưng việc làm vẫn còn đó. Thế là Cụ vẫn sống mãi mãi".
Những sự việc trên đây nói lên rằng Vũ Phạm Khải không phải chỉ là một sĩ phu tầm thường, chỉ biết sống với thiên kinh địa nghĩa của Nho gia vốn đã quá cũ kỹ, lạc hậu ở dưới triều phong kiến nhà Nguyễn cực kỳ phản động, mà ông đã biết chất gạn lấy những gì là “khả thủ” của các đạo lý "nhân nghĩa", "trung tín" và tạo cho mình một lẽ sống, một nhân sinh quan khả dĩ phù hợp với cương vị là một thần dân có trách nhiệm với bản thân và với nhân dân, cũng như với cả triều đình nhà Nguyễn (những năm trước khi đầu hàng Pháp). Đó phải chăng cũng chính là một mặt biểu hiện của thứ nhân sinh quan tích cực vốn có trong truyền thống yêu nước yêu dân “sống với làng với nước" của ông cha ta.
Cho đến năm 1858, giữa lúc lịch sử nước ta chuyển qua một bước ngoặt quan trọng, nhân dân ta vừa bị ách thống trị nặng nề của chính quyền phong kiến thống trị trong nước đã cực kỳ thối nát, vừa phải đương đầu với một thế lực ngoại xâm hung hãn chực gấp rút thôn tính nước ta, triều đình nhà Nguyễn không có một đường lối, chính sách nối nội đối ngoại nào gọi là tương đối có hiểu biết để cùng nhân dân chống chọi với thực dân xâm lược. Trái lại, với đường lối chủ hòa đi đến đầu hàng giặc, triều đình đã để cho bọn Pháp lấn dần từng bước, để cho chúng chiếm đất cướp quyền... gây cho nhân dân ta biết bao thảm họa. Chứng kiến sự thực đau lòng đó, Vũ Phạm Khải với tinh thần trách nhiệm, với lòng yêu nước thiết tha và với nhiệt tình muốn đóng góp ý kiến với vua quan nhà Nguyễn đã lần lượt dâng sớ nêu quan điểm chủ chiến thậm chí ngay trong những phiên đình nghị được phép tham dự, ông đã bày tỏ chính kiến chống lại chủ trương hòa nghị một cách quyết liệt. Những văn kiện chống hòa nghị của ông như: Biện hoặc luận, Lỗ Trọng Liên bất đế Tần luận hay Hòa Nhung luận, một số thư từ của ông viết trong thời gian này là những tài liệu rất quý giá để nghiên cứu, đánh giá tư tưởng yêu nước, căm thù giặc và quyết chiến đấu và chiến thắng của ông.
Khác với phái quan lại và triều đình chủ hòa đầu hàng như Phan Thanh Giản, cũng khác với phái duy tân cải cách như Nguyễn Trường Tộ lúc bấy giờ, Vũ Phạm Khải đã đứng về phía chủ chiến. Ông cho rằng đó là đường lối duy nhất đúng đắn. Cố nhiên đấy là do xuất phát từ lòng yêu nước, từ nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, nhưng một phần cũng do Vũ Phạm Khải có một số hiểu biết nhất định về kẻ địch, về đối phương. Bởi vì, như ông nói, "ngoài cái học khoa cử", ông còn ''thiệp liệp đến cả thế vụ”. Có nghĩa là ông không tự gò mình trong thi thư lễ nghĩa, mà cũng có theo dõi cả tình hình thời sự đó đây nữa. Do đó, có thể ông cũng không hoàn toàn xa lạ với những thủ đoạn xâm lược của bọn đội lốt cố đạo truyền giáo, bọn gian thương phương Tây tự xưng là người của thế giới văn minh lúc đó.
Cho nên chúng ta sẽ không lấy làm lạ khi ông tỏ ra nắm được bản chất của Tây dương trong sự phô trương hàng hóa và vũ khi thể hiện trong bài Biện hoặc luận nhằm trả lời Trần Tú Dĩnh, người đã tỏ ra quá mê tín cơ xảo phương Tây rằng ''ông chỉ khen hàng hóa của Tây chứ không biết tâm địa của Tây. Họ đã từng đem những hàng hóa vô dụng đó mà đổi lấy đảo Ma Cao hay đảo Đài Loan rồi đấy. Hàng của họ đến đâu là người của họ đến đấy, há chẳng đáng xót xa hay sao?”.
Sở dĩ có câu trả lời đó là vì lúc bấy giờ phái chủ hòa trong triều đình đã tỏ ra khiếp nhược, sợ hãi “văn minh vật chất" của phương Tây, bọn họ chỉ chăm chăm nghĩ kế nhượng bộ như chính Phan Thanh Giản sau chuyến đi Tây xin chuộc đất về đã thốt ra:
Từ ngày đi sứ Tây kinh,
Thấy việc Âu châu phải giật mình!
Họ khiếp sợ và mất hết tin tưởng vào sức mạnh tự vệ sức mạnh của nhân dân ta chiến đấu chống giặc. Ở đây, Vũ Phạm Khải đã vạch rõ bản chất xâm lược của tư bản phương Tây đằng sau những nước sơn văn minh vật chất ấy. Nhưng rất tiếc là Tự Đức và phái chủ hòa quá ươn hèn lụn bại đã không thấy được điều đó.
Rồi thực tế đau xót đã xảy ra cho lịch sử nước ta trước sự uy hiếp của chủ nghĩa tư bản. Tiếng súng xâm lược vừa nổ; Đại đồn Kỳ Hòa thất thủ. Thực dân Pháp bắt đầu ép triều đình mở hòa nghị. Lúc bấy giờ còn ở Quốc sử quán, Vũ Phạm Khải dâng sớ lên vua, nói cái hại của sự giảng hòa và bàn nên cử chiến tướng ra trận. Đó là đạo sớ thứ nhất dâng lên triều đình khi hòa nghị mới nhóm. Ông nói với các bạn: “Nay mai vấn đề tranh chấp chỉ là chiến với hòa, nhưng chiến mà thắng thì cái thuyết hòa không cần phá cũng phải tự vỡ, chỉ sợ cứ thua thì mình cầu hòa cũng không được”.
Năm 1860, đang lúc ở nhà cư tang, nghe tin ở trong kinh có việc hòa nghị. Quan tỉnh hỏi ý kiến ông. Ông đáp:
"...Bây giờ cần phải giữ vững cõi bờ và mộ quân Cần Vương họp lại cho mạnh. Như thế mới có thể vãn hồi được. Nếu không chỉ đua nhau nói, sợ sau này không còn có đất m à nói được nữa”.
Năm 1862, khi nghe tin Pháp chiếm Gia Định, ông đã đau xót than thở rằng:
"Một cõi đất gian nan trăm năm mới khai thác được..., vậy mà nay chìm ngập vào tay quân giặc rợ ư".
Ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ mất, lòng ông đau xót vô cùng. Nhưng ông biết tai họa cho đất nước sẽ không dừng lại ở đấy, âm mưu của giặc nhằm thôn tính nước ta ngày một lộ rõ. Ông lại dâng sớ lên triều đình bàn kế phòng thủ và tiếp tục quyết chiến với giặc.
Cũng thời gian này, có dịp gặp lại Phan Thanh Giản, người đã cầm bút ký Hòa ước 1862, Phan nhận là “kẻ có tội muôn đời". Vũ Phạm Khải bèn nói lại:
"Sự đó chỉ cần xoay lại một chút mà thôi. Hòa mà có tội chi bằng làm trái ngay lại, lấy nghĩa mà xướng xuất thiên hạ, thiên hạ theo thì tội sẽ khỏi".
Trong bài Hòa Nhung luận (Bàn về việc hòa với rợ Nhung), Vũ Phạm Khải đã mượn câu chuyện lịch sử Trung Quốc, tức là chuyện Tần Cối hòa với rợ Kim để làm mất nước Tung. ông viết:
“Tần Cối biết rõ vua Cao Tông sợ việc dùng binh, do đó sớm tâu một lời, tối dâng một thuyết, giương thanh thế của giặc để cho vua khiếp sợ. Một khi đã biết rõ vua Cao Tông quả thực muốn hòa, lần đầu vua hỏi, Cối tâu: "Xin bệ hạ hãy suy nghĩ vài ba ngày đã"; lần sau vua hỏi, Cối lại tâu: "Xin bệ hạ hãy suy nghĩ vài ba ngày nữa". Cứ tâu dằng dai để đẩy cái lỗi về phía nhà vua, còn mình thì đứng vào giữa hai thế chiến và hòa, hòng che cái tội làm lỡ việc nước. Ấy tâm sự kẻ quyền gian là như thế, nhưng tai mắt muôn đời về sau đâu có bị nó lừa dối được...
Chỉ vì chủ hòa mà phạm sai lầm, khiến đời sau coi đó như tấm gương sáng lớn và hiểu rõ rợ Nhung là loài lang sói không thể gần được, cũng như không thể thay áo xiêm bằng vỏ ốc, vảy cá như quân mọi rợ được. Không phải chờ Giả Nghị khóc lóc thảm thiết và Hồ Dân bàn bạc hết lời mới rõ chủ hòa là việc không nên, dù người giỏi, người ngu cũng đều biết rõ...".
Với bài Hòa Những luận này, Vũ Phạm Khải nhằm chỉ trích đám quan lại chủ hòa đớn hèn đã vì quá sợ giặc, mất tin tưởng ở sức chiến đấu của nhân dân, nhất là đối với Phan Thanh Giản và với đám quân triều đình vì mang tư tưởng thất bại chủ nghĩa lúc bấy giờ để đến nỗi thua giặc ở Gia Định.
Vũ Phạm Khải tuy không phải là một võ quan, càng không phải là một đại thần có trách nhiệm trực tiếp trước đại cục, nhưng ông đã tỏ ra hết sức lo lắng đến nạn ngoại xâm đang đe dọa dân tộc ta. Ông đã đem hết tâm huyết dụ bảo vệ đường lối chủ chiến, chống lại đường lối hòa nghị.
Thực dân Pháp chiếm xong ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, lại muốn chiếm luôn ba tỉnh miền Tây. Chúng phái Vial từ Gia Định ra Huế đòi triều đình Tự Đức nhường nốt ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Vấn đề phải đem ra đình nghị. Vũ Phạm Khái cũng được tham dự. Các thân công, đại thần hướng vào ông, muốn ông phát biểu ý kiến. Ông đã không ngần ngại mà nói rằng:
"Lòng tham của giặc không bao giờ chán, ta đã trót lầm lỡ một lần, hay còn lầm lần thứ hai nữa? Nhất định không thể cho chúng nó được". Các quan nói:
- Nếu đánh thì nên như thế nào cho được vạn toàn?
Ông nói:
- Phải ở trong vòng vạn nguy, vạn chết mới làm ra được cuộc vạn toàn, chứ tôi chưa nghe thấy chỉ ngồi bó tay mà có sự vạn toàn được.
Quan Ngũ quân đô thống Đoàn Thọ hỏi:
- Nhưng họ có tàu, có súng mình làm thế nào mà chống lại được?
Ông nói:
- Thế nước Pháp với nước Phổ thì sao!
Rồi ông quát lớn:
"…Chiến sĩ đời xưa không nói hòa, chiến sĩ đời nay chỉ một mực nói hòa. Quan võ đời xưa không sợ chết, quan võ đời nay chỉ một mực sợ chết, sao mà đời nay lại khác hẳn đời xưa như vậy!".
Về sự kiện này, ông có kể lại trong một bức thư gửi cho con đề ngày 23-9-1866 rằng:
"…Liền mấy ngày bàn cãi, ta cũng hết sức trình bày lợi hại, không giấu giếm điều gì cả. Bởi thế việc bàn luận mới tạm đình, mà công luận đều cho là phải cả. Nhưng cũng có người khác với ý ta, hoặc lòng vì lo sợ chăng? Sự thể thế nào, đợi sau sẽ báo cho biết rõ".
Thái độ của ông trước chủ trương hòa nghị của đình thần là như vậy. Là người có trách nhiệm trước nhân dân, trước Tổ quốc thì không thể nhân nhượng quân giặc một tấc đất, mà phải đánh, dù phải hy sinh gian khổ mười mươi. Vả chăng, nếu có hòa với giặc thì cũng phải đánh mạnh, đánh thắng, giành cho được thế hơn địch đã. Ông đã dẫn lịch sử cuộc chiến tranh Pháp - Phổ để lưu ý đình thần. Và ngay lịch sử chiến tranh chống ngoại xâm của nước ta cũng không hiếm những dẫn chứng tương tự. Nếu như một triều đình biết tự trọng, còn giữ được truyền thống chống xâm lăng của dân tộc, biết dựa vào dân lúc nguy nan, thì đã có một đường lối mạnh bạo, cương quyết và đúng đắn trong việc chống giặc giữ nước như đời Trần, Lê. Trái lại, triều đình nhà Nguyễn đã không dựa vào dân, đã phản bội lại quyền lợi của Tổ quốc, xóa nhòa mọi truyền thống vẻ vang của dân tộc để đến nỗi quân thì một mực sợ chết", quan thì một mực "nói hòa" (tức là đầu hàng).
Chủ trương hòa nghị thực chất là một chủ trương đầu hàng dần từng bước đến đầu hàng vô điều kiện. Cho nên, trước sự hèn nhát của triều đình như thế, một số sĩ phu yêu nước trong đó có Vũ Phạm Khải không thể nào nghe theo. Họ không thể nào cứ nhắm mắt gia điều “trung tín" với đám vua quan ấy được nữa.
Sau khi ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ bị cắt cho thực dân Pháp, Vũ Phạm Khải đã viết bài luận Lỗ Trọng Liên bất đế Tần để nói lên tất cả lòng đau xót và uất hận.
Như vậy, Vũ Phạm Khải tuy xuất thân là một người Nho học và có tham gia chính quyền phong kiến trong giai đoạn đã quá suy tàn, phản động, nhưng ông lại là một người có lòng yêu nước thương dân, nên trước tình hình đất nước bị nạn xâm lăng đe dọa, ông đã sáng suốt chọn con đường cứu nước bằng cách tích cực chống lại con đường hòa nghị đầu hàng của triều đình và quan lại thời đó. Ông đã kiên trì đường lối chủ chiến bằng cách liên tiếp đưa ra những ý kiến xác đáng, đưa ra những dẫn chứng lịch sử làm gương, đồng thời cũng nêu lên những biện pháp tích cực cụ thể để đóng góp với triều đình, mong triều đình thay đổi chính sách để cứu nguy cho dân tộc. Ông đã tỏ ra là một người con dân của đất nước có tinh thần trách nhiệm, một người bề tôi giữ trọn đạo "tín trung" với vua. Trước kia, hồi làm quan ở địa phương, ông đã từng tuân mệnh vỗ an nhân dân, và khi giặc ngoại xâm đến, tuy tuổi già sức yếu, ông vẫn ước mơ được “đánh quân Kim" để báo ơn nhà Tống, muốn noi gương bạn ông như Phạm Văn Nghị dẫn đầu 400 quân Cần Vương vào Đà Năng ứng chiến với quân triều đình hồi năm 1858. Nhưng mọi ý kiến đúng đắn, mọi ước mơ cao đẹp của ông đã bị quan lại triều đình Tự Đức cự tuyệt! Những kiến nghị chủ chiến của ông cũng đã bị thế lực phản động cầm quyền lúc đó gạt bỏ cũng như chúng đã hết sức phũ phàng gạt bỏ đối với những đề nghị cải cách duy tân của Nguyễn Trường Tộ cùng thời gian ấy. Ông đau xót và uất hận vì nỗi triều đình để mất sáu tỉnh Nam Kỳ, "một dải đất gian nan trăm trận mới khai thác được… nay đã chìm ngập vào tay quân giặc!”. Cay đắng biết bao! Lại thêm tuổi già sức yếu, bị lắm kẻ trong triều gièm pha vì tính khảng khái không a phụ của ông gây thêm cho ông nhiều nỗi đau lòng. Cuối cùng, ông đã mang uất hận mà qua đời.
Ông mất đi, giới sĩ phu yêu nước chống Pháp hồi đó mất một người bạn đồng chí nhiệt thành, có khí phách anh dũng.. Và như Hoàng giáp Tam đăng Phạm Văn Nghị lúc bấy giờ làm Đốc học Nam Định, cũng là một văn thân chủ chiến, đã viết: ''Ông Đông Dương ở Phượng Trì là người bạn đáng sợ của tôi. Mắt cao vượt một thời, tâm hùng hơn muôn kẻ". Đó cũng là một lời đánh giá khá tiêu biểu và đúng đắn đối với Vũ Phạm Khải.
Trích sách góp phần tìm hiểu một số nhân vật lịch sử Việt Nam