DUY PHỤC. Dấu ấn một chiến thắng lịch sử: Kỷ niệm 28 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 30-04-1975 - 30-04-2003 / Duy Phục // Nhân dân. - 2003. - Ngày 30 tháng 4. - Tr.2, 4.
Kỷ niệm 28 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/04/1975 – 30/04/2003), phóng viên báo Nhân Dân đã có cuộc phỏng vấn Thượng tướng, GS Hoàng Minh Thảo, nguyên Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, trực tiếp chỉ huy trận đánh Buôn Ma Thuột. Nội dung cuộc phỏng vấn như sau:
PV: Thưa Thượng tướng, vì sao chung ta chọn Tây Nguyên làm chiến dịch mở màn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 ?
Thượng tướng Hoàng Minh Thảo: Bối cảnh chiến lược lúc này nguỵ đã bước vào phòng ngự, khu giải phóng của ta đã được hoàn chỉnh, các điều kiện tiến công đã chín muồi.
Tây Nguyên đã từ lâu được các nhà nghiên cứu quân sự đánh giá như là "mái nhà của Đông Dương", ai làm chủ được Tây Nguyên sẽ làm chủ Đông Dương. Tây Nguyên tuy là một chiến trường rừng núi hiểm trở, nhưng lại là một cao nguyên có một dung lượng chiến trường rất lớn, có điều kiện tổ chức chiến trường để thực hiện đánh lớn bằng binh chủ hợp thành. Thế trận chiến tranh nhân dân ở Tây Nguyên cũng rất phát triển và mạnh, bên cạnh đó đường chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh chạy qua Tây nguyên là cơ sở bảo đảm hậu cần kỹ thuật rất quan trọng. Ở phía Bắc Tây Nguyên, ta và địch đã nhiều lần đụng đầu (chiến dịch Sa Thầy – 1966, Đắc Tô I – 1967, Đắc Tô – Tân Cảnh – 1972) nên địch cho tập trung lực lượng chủ yếu ở đây Sư đoàn 23 và bốn thiết đoàn xe tăng thiết giáp và xây dựng Kon Tum, Plây Cu thành những tập đoàn cứ điểm vững chắc liên hoàn để ngăn chặn tiến công của ta và bảo vệ con đường 19 chạy cắt ngang Tây Nguyên nối liền với đồng bằng ven biển miền Trung. Tiếp đó, ở phái Nam Tây Nguyên, Buôn Ma Thuột là một thị xã 12 vạn dân nằm sâu trọng hậu cứ của địch, có sông ngăn cách. Địch cho rằng ta chưa đủ sức tiến công vào đây cho nên phòng thủ rất sơ hở. Lực lượng của địch ở đây không mạnh, chỉ có một trung đoàn chủ lực, một chi đội xe tăng thiết giáp, vài tiểu đoàn pháo binh, còn phần lớn là quân hậu cứ của sư đoàn bộ, trung đoàn bộ và các cứ điểm bảo an, dân vệ đống rải rác trong thành phố. Tuy nhiên, Buôn Ma Thuộc lại có một dung lượng chiến trường lớn, đánh chiếm được Buôn Ma Thuột sẽ có một giá trị rất lớn về mặt chiến lược không chỉ tạo ra bàn đạp giải phóng cả Tây Nguyên, uy hiếp đồng bằng ven biển miền trung, mà còn mở ra hướng tiến công quan trọng vào giải phóng miền đông Nam Bộ và Sài Gòn. Khó khăn chính của ta là phải chuẩn bị hậu cần, thiết bị chiến trường, làm đường cơ động và quan trọng hơn là phải tạo ra một đòn đánh bất ngờ đối với địch.
Đến cuối năm 1973, quân và dân ta trên hầu khắp chiến trường miền nam đã chặn được phần lớn các hoạt động "lấn chiếm và bình định" của địch, giành lại nhiều vùng mới bị lấn chiếm, ở một số nơi ta đã tiến công địch mở rộng vùng giải phóng.
Sang năm 1974, nhìn chung các chiến trường ở miền nam đều giành thắng lợi lớn. Khu 5 tiến công tiêu diệt địch ở Nông Sơn, Trung Phước, Thượng Đức, Minh Long, Gía Vụt. Nổi bật chiến thắng Thượng Đức tỏ rõ khả năng chiến đấu của chủ lực ta hơn hẳn chủ lực cơ động của nguỵ
Ở Trị Thiên, quân ta thắng lớn ở Cửa Việt và sau đó là sự ra đời của Quân đoàn 2 (17–5–1974) đứng chân ở phía tây Huế, tiếp tục giam chân sư đoàn lính thuỷ đánh bộ của địch.
Ở Tây Nguyên, sau khi ta đánh chiếm Chư Nghé, tiếp tục tiến công đánh chiếm Đắc Pét, Măng Bút, Măng Đen, la Súp. Đặc biệt việc đánh Đắc Pét góp phần mở rộng cung đường chiến lược, đánh la Súp là đã mở được cửa ngoài vào Buôn Ma Thuột, quét sạch được các căn cứ địch trong khu vực của ta hoàn chỉnh khu giải phóng.
Trong khi đó ở các chiến trường khác vẫn duy trì được thế tiến công đánh bại các cuộc hành quân của địch. Ở khu 7 tại miền đông Nam Bộ, Quân đoàn 4 được thành lập (ngày 20-7-1974) áp sát phía bắc Sài Gòn đang là mối lo lớn cho đầu não của nguỵ.
Sự chuyển hoá "thế" và "lực" này nhằm thực hiện nghệ thuật tác chiến mà Bộ Chính trị, Bộ Tổng tư lệnh đề ra với mưu kế chiến lược và căng địch ra hai đầu năm bắc chiến tuyến (Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn), để sơ hở quãng giữa (ven biển miền Trung và Tây Nguyên) khi ta áp sát Quân đoàn 1 ở bờ bắc sông Bến Hải; Quân đoàn 2 ở phía tây Huế và Quân đoàn 4 ở Đồng Nam Bộ - bắc Sài Gòn.
Thế trận của ta ngày càng phát triển, sức tiến công của ta ngày càng lớn, buộc địch phải từng bước chuyển vào thế phòng ngự bị động. Do ta bố trí các quân đoàn như thế nên ở vùng 1 (Huế - Đà Nẵng) địch bố trí năm sư đoàn, ở Nam Bộ vùng 3 và vùng 4 chúng bố trí sáu sư đoàn. Còn lại vùng 2 (từ Bình Định đến Khánh Hoà và Tây Nguyên) địch chỉ để có hai sư đoàn. Lực lượng dự bị chiến lược là sư đoàn dù và sư đoàn lính thuỷ đánh bộ chúng buộc phải bố trí ở Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn để sẵn sàng đối phó với ta. Với hình thái chiến trường như vậy, địch bộc lộ sơ hở ở quãng giữa, nhất là ở Tây Nguyên. Còn ở Tây Nguyên địch biết ta chỉ có hai sư đoàn đang đứng chân ở bắc Tây Nguyên và cho rằng khả năng của ta chỉ có thể tiến công ở Kon Tum hoặc Plây Cu, hơn nữa cũng chẳng làm được gì lớn đối với các tập đoàn cứ điểm vững chắc này.
Mưu kế chiến lược: ghìm địch ở hai đầu nam bắc chiến tuyến nhằm tạo ra thế chiến lược có lợi cho quãng giữa là Tây Nguyên. Sự chuyển hoá thế trận đến đây chính là thời cơ để ta hạ quyết tâm chọn nam Tây nguyên làm hướng tiến công chiến lược chủ yếu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Trên hướng chủ yếu, ta chọn Buôn Ma Thuột làm trận mở màn then chốt quyết định. Nhằm đánh vào chỗ yếu, vào nơi điểm yếu và có thể phát triển. Đây chính là đòn bất ngờ chí mạng đối với kẻ địch.
Nguyễn Trãi nói: "Bỏ chỗ vững đánh chỗ hở, tránh chỗ chắc, đánh chỗ hư, như thế thì dùng sức có một nửa, mà thành công gấp đôi".
PV: Thưa Thượng tướng, vì sao trận Buôn Ma Thuột quân ta thắng nhanh như vậy ?
Thượng tướng Hoàng Minh Thảo: Căn cứ vào kế hoạch chiến lược của Bộ Chính trị, Bộ Tổng tư lệnh, Bộ chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên thực hành tác chiến đã lập ra mưu kế chiến dịch là: ghìm địch ở phía Bắc (Kon Tum, Plây Cu), đánh địch ở phía Nam (Đức Lập), chia cắt địch bằng chiếm các trực đường giao quan trọng (đường 14, 19, 21) và bao vây Buôn Ma Thuột để tiêu diệt địch và giải phóng thành phố này.
Nhờ có thế trận chiến tranh nhân dân tốt, nên mưu kế của ta đã thực hiện thành công, địch bị hết bất ngờ này đến bất ngờ khác.
Nghi binh lừa địch để bố trí lực lượng tập trung sức mạnh.
Ta bí mật di chuyển Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 từ bắc Tây Nguyên về khu vực Buôn Ma Thuột, khi di chuyển ta để lại hệ thống thông tin vô tuyến vẫn cho phát sóng giả như đang hoạt động tại chỗ mà địch không hay biết. Đưa Sư đoàn 968 từ Hạ Lào về tập kết trên đường 19 để thay thế cho Sư đoàn 10 và 320. Một mặt tổ chức triển khai đội hình như là có nhiều sư đoàn sắp đánh vào Plây Cu, mặt khác cũng dùng pháo lớn và tổ chức đánh ở một số điểm như thật nhưng mà là giả nhằm kìm chân địch ở bắc Tây Nguyên và Trung đoàn 95a đánh đường 19 từ Quy Nhơn lên Plây Cu. Thậm chí, khi Sư đoàn 316 chủ lực mà Bộ tăng cường cho chiến dịch từ ngoài bắc vào, khi đã triển khai tiến công ở Buôn Ma Thuột, đến lúc ấy Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 của địch mới biết.
Những bất ngờ đó chứng tỏ đến tận thời điểm khi ta nổ súng tiến công mà tình báo của địch vẫn không nắm được ý đồ và lực lượng của ta. Ở đây có một điều rất quan trọng và rất hay là Bộ đã bất ngờ nhanh chóng tăng thêm cho Tây Nguyên hai sư đoàn nữa (968 và 316) là thành Tây Nguyên có bốn sư đoàn và một số trung đoàn độc lập, cộng thêm sự phối hợp của Sư đoàn Sao Vàng (Quân khu V), trở thành một tập đoàn chiến lược mạnh, nhờ đó "thế" và "lực" của ta đã tăng lên rất nhiều.
Thế vững chắc, lực đủ mạnh, ngày 10-3-1975, quân ta nổ sú tiến công Buôn Ma Thuột trong tình huống bất ngờ địch không phòng ngự dự phòng. Với sức mạnh áp đảo của ba sư đoàn chủ lực phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương, chỉ trong hai ngày, ta đã làm chủ hầu khắp thị xã 12 vạn dân này.
Tuy vậy, Bộ Tư lệnh chiến dịch đánh giá: chiếm được Buôn Ma Thuột chỉ là bước đầu là trận then chốt thứ nhất mà việc giữ được và đánh bại phản kích mới đi đến thắng lợi quyết định. Gạn lọc tình huống, ta đề ra kế hoạch đánh địch phản kích ở thế có lợi nhất. Do đường 14 là con đường duy nhất nối Plây Cu với Buôn Ma Thuột, ta cho Sư đoàn 320 ra cắt đường để buộc địch chỉ còn một cách là đi máy bay lên thẳng do thời gian đổ quân kéo dài, không mang theo được nhiều pháo lớn và xe tăng thì sức chiến đấu của chúng sẽ không mạnh. Đúng như dự kiến, bị mất Buôn Ma Thuột, địch vội vã đưa Sư đoàn 23 thực hành phản kích như đi chữa cháy bằng máy bay lên thẳng. Tại các khu vực đổ bộ của Sư đoàn 23 đến bị ta đón sẵn hoặc hành tiến tiến công tiêu diệt hoàn toàn. Trận then chốt thứ hai giành được thắng lợi đã tạo nên đòn then chốt quyết định. Đòn phản kích mà lực lượng chủ yếu và duy nhất của địch hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột bị đập tan đã làm tê liệt mọi hoạt động tác chiến của chúng trên chiến trường Tây Nguyên, thậm chí gây hoảng hốt đến tận sào huyệt nguỵ ở Sài Gòn và gây ra đột biến, tạo ra cục diện chiến lược mới, địch từ phòng ngự chuyển thành rút chạy.
Trong lúc này, các sư đoàn dự bị chiến lược của địch đến đã bị quân ta kìm giữ ở hai đầu nam - bắc chiến tuyến. Chẳng còn biện pháp gì hơn, Nguyễn Văn Thiệu đành phải ra lệnh "Tuỳ nghi di tản" rút bỏ Tây Nguyên hòng về co cụm ở đồng bằng ven biển miền Trung. Kon Tum, Plây Cu không đánh mà địch cũng phải rút chạy. Ta đã kịp thời tổ chức truy kích đánh địch, Toàn bộ quân địch rút chạy từ Kon Tum, Plây Cu trên đường số 7 đến Cheo Reo, Củng Sơn, rồi đến tận Tuy Hoà đã bị tiêu diệt và bắt sống. Đúng như lời tiên đoán của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi chia tay tôi vào chiến trường, ở Hà Nội cũng đã nói: Nếu địch bị thua đau ở Tây Nguyên, chúng sẽ về co cụm ở các tỉnh ven biển miền trung. Một dự đoán chiến lược mà nhờ đó Mặt trận đã được Bộ chỉ đạo truy kích tiêu diệt địch kịp thời.
Sở dĩ có chiến thắng Buôn Ma Thuột nhanh chóng đến như vậy, là do nghệ thuật tác chiến của ta biết kế thừa truyền thống đánh giặc của tổ tiên ta là dựa vào "thế" và "thời", là mưu kế, dựa vào chiến tranh nhân dân đánh địch ở khắp nơi, phân tán chia cắt quân địch, làm cho địch nhiều mà hoá ít, mạnh mà hoá yếu, không được tự do hoạt động. Nhưng muốn giành được thắng lợi vẫn phải tuân theo một quy luật chung là phải tạo ra một sức mạnh tập trung nào đó làm cho lực của ta ở vào thế có lợi và thời điểm có lợi để chế áp địch mà thắng địch.
PV: Xin Thượng tướng cho biết ý nghĩa chiến thắng Buôn Ma Thuột trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 ?
Thượng tướng Hoàng Minh Thảo: Chiến thắng Buôn Ma Thuột từ trận then chốt giải phòng thị xã đến trận then chốt đánh bại phản kích của Sư đoàn 23 của địch tạo thành trận then chốt quyết định. Từ thắng lợi của thế chiến dịch đã bùng nổ thành thế chiến lược và tạo nên đột biến: địch từ chỗ phòng ngự bị động về chiến lược chuyển sang rút chạy về chiến dịch và tiếp đó là rút chạy về chiến lược.
Thừa thắng sau chiến dịch Tây Nguyên, quân ta tiến xuống giải phóng các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung trong khí thế mới cùng với chiến dịch kế tiếp Huế - Đà Nẵng.
Chiến thắng nối tiếp chiến thắng. Địch bị tan vỡ từng mảng trong từng ngày một cách nhanh chóng và đột ngột. Như một phản ứng dây chuyền nhanh chóng lan ra làm suy sụp tinh thần toàn bộ quân địch và rối loạn chỉ huy từ trung ương đến cơ sở. Đây chính là thời cơ lịch sử để cả nước ra quân bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh với phương châm: "Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng". Bằng sức mạnh của 15 sư đoàn, quân ta đã tiến thẳng vào Dinh Độc lập, bắt sống tổng thống và toàn bộ nội các nguỵ quyền Sài Gòn, kết thúc 30 năm chiến tranh bằng chiến thắng 30–4–1975
PV: Thưa Thượng tướng, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày nay, chúng ta có được những bài học kinh nghiệm gì từ chiến thắng lịch sử đó ?
Thượng tướng Hoàng Minh Thảo: Ngày nay xây dựng đất nước phải đi đôi với bảo vệ đất nước. Muốn làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, ta phải ra sức phát triển kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống văn hoá, đồng thời phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác, cách mạng, giữ vững an ninh, củng cố quốc phòng, phát triển nền khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong thời đại mới, ta phải dựng nước đi đôi với giữ nước.
Ngày nay nếu kẻ địch gây ra chiến tranh thường là chiến tranh vũ khí công nghệ cao, bằng hoả lực đường không, bằng tên lửa hành trình kết hợp với tiến công của lục quân cơ giới. Không quân và tên lửa có nhiều ưu việt khắc phục được mâu thuẩn giữa hoả lực với địa hình và thống nhất được tình huống với thời cơ; đánh vào chỗ nào cũng được không bị hạn chế bởi không gian và thời gian; đánh rất nhanh và hoả lực rất mạnh, cơ động và thay đổi bất ngờ. Trong chiến tranh công nghệ cao phải đánh mạnh không quân và tên lửa hành trình mới đánh bại được bộ binh của địch.
Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của ta vẫn phải lấy tinh thần làm cơ sở, vẫn phải là chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, phát huy truyền thống dân tộc, tài thao lược, phải có mưu kế và thế trận. Dù có kém địch về vũ khí phương tiện vẫn cần phải vận dụng phương châm lấy hiện đại thông thường có một ít tinh xảo đánh lại hiện đại tinh xảo với truyền thống "lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều". Tinh thần và ý chí con người vẫn có vai trò quyết định. Phải tìm một phương pháp mới trong điều kiện mới để đánh bại quân xâm lược. Đó là phương pháp luận bộ - không, vẫn phải là đánh tiêu diệt ở trên bộ, đánh đau ở trên không, địch bị thiệt hại nhiều, bị sa lầy không hy vọng vào thắng lợi thì chúng mới bị đánh bại về lý trí xâm lược.
PV: Xin cảm ơn Thượng tướng.