Bỏ qua nội dung chính

30thang4

Tìm kiếm
Trang chủ
Tra cứu
Tài Liệu Số
Văn bản
Danh mục
  

Blogs khác
Không có khoản mục nào trong danh sách này.
Liên kết
Không có khoản mục nào trong danh sách này.

Thư viện Tỉnh Đồng Nai > trangtin > 30thang4 > Bài đăng > Chuyến bay trở về với Đảng với dân
Chuyến bay trở về với Đảng với dân
ĐÀO VĂN SỬ. Chuyến bay trở về với Đảng với dân / Đào Văn Sử // Quân Đội Nhân Dân. - 2002. - Ngày 23 tháng 4. - Tr. 2

Đến hôm nay Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Thành Trung đã mặc thường phục, là một trong hai cơ trưởng máy bay Boing đầu tiên của nước ta, thuộc hãng hàng không Việt Nam Airlines.
Anh chính là người góp phần làm náo động Sài Gòn trước ngày 30-4-1975.
Gợi lại chuyện cũ, anh kể cho tôi nghe thật mạch lạc :
- Ngày 21-4-1975, tại sân bay Đà Nẵng, tôi trở thành huấn luyện viên về lái máy bay chiến đấu A37 - huấn luyện gấp rút để có ngay một biên đội 5 người tác chiến, mang tên “Biên đội Quyết Thắng”. Có lẽ trong lịch sử, không có lớp huấn luyện chuyển loại máy bay nào lại nhanh đến thế -chỉ có 5 ngày. Phi công ta giỏi thật, chỉ quen lái máy bay Mic mà sau mấy ngày luyện tập, đã hăng hái lái máy bay A37 của giặc Mỹ đi chiến đấu trên vùng trời chưa quen thuộc.
 Ngày 27-4 chúng tôi bay ra Phù Cát (Bình Định) lấy thêm 4 máy bay nữa rồi về sân bay Thành Sơn (Phan Rang). Lúc ấy trên nhận đinh: Sài Gòn sẽ là điểm quyết chiến của ta và địch, thành phố có thể đổ nát tan hoang. Nhưng tình huống xấu ấy chưa chắc đã xảy ra nếu ta biết điều chỉnh, bịt được ngòi nổ của cuộc chiến.
Lúc đó, Sài Gòn còn khoảng 3.000 cố vấn, nhân viên Mỹ. Nếu bọn này bỏ Sài Gòn thì ngụy quân ngụy quyền sụp đổ tinh thần, cuốn gói chạy theo luôn. Quân ngụy đang hoang mang lo lắng, theo dõi mọi động thái của Mỹ. Bọn Mỹ mà tháo chạy thì bắt buộc chúng phải xuất phát từ sân bay Tân Sơn Nhất. Vì vậy sân bay này được tăng cường lực lượng lớn bảo vệ.
Nếu ta đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất nghĩa là ta đã công khai báo cho Mỹ biết sân bay không còn an toàn nữa, phải chuồn sớm kẻo nguy. Chủ trương khôn khéo của ta là đánh vào sân bay nhưng vẫn để dành đường cất hạ cánh cho bọn Mỹ tranh thủ chạy về nước.
Trên lệnh cho chúng tôi phải đánh sân bay Tân Sơn Nhất vào 12 giờ trưa ngày 28-4-1975. Tôi báo cáo luôn và xin ý kiến: “Buổi trưa không phải là giờ nghỉ của không quân ngụy. Lúc này bọn chúng đều sẵn sàng ngồi trong máy bay. Ta đánh cũng được nhưng sẽ thương vong lớn bởi vì chúng sẽ dung máy bay F5E tiêu diệt A37 dễ dàng. Đề nghị được đánh vào 18 giờ là lúc chúng giao ca. Hơn nữa đánh xong, nhập nhoạng tối, máy bay ta tắt đèn chạy, chúng có đuổi theo cũng rất khó”.
Được trên chấp thuận, đúng 18 giờ từ ngày 28-4, biên đội chúng tôi bất ngờ từ sân bay Thành Sơn nhắm hướng sân bay Tân Sơn Nhất, rồi trút xuống đó 20 trái bom một cách mau lẹ chính xác (mỗi người cắt 4 trái, phá hỏng 25 máy bay giặc).
 Đúng như cấp trên nhận định, trận đánh của Biên đội Quyết Thắng như một đòn nốc ao đối với Mỹ - ngụy. Nơi tập kết để rút chạy không còn an toàn nữa. Ngay đêm đó, từ tòa đại sứ Mỹ lệnh trốn chạy đã phát ra. Máy bay trực thăng bay gầm gàotrên bầu trời Sài Gòn để bốc từng toán lính Mỹ lên máy bay tháo chạy. Trước cảnh tượng quan thầy rối loạn ấy, ngụy quân ngụy quyền càng nao núng cực độ. Và kết cục là hơn một ngày sau đó, chúng đầu hàng không đều kiện. Thành phố Sài Gòn không hề đổ nát, mọi người dân sống bình yên đón chào quân giải phóng trở về.
- Mọi người muốn biết là anh đã “trở” về vùng giải phóng bằng cách nào ? Có “kịch bản” sẳn không ? Tôi hỏi.
- Từ khi nhận lệnh bí mật của tổ chức cách mạng thực hiện ném bom, tôi vừa mừng vừa lo tính toán mọi bề, chỉ sợ mình sơ ý một chút là tan vỡ hết hoạch. Chờ đến sáng 8-4-1975 tôi mới có thời cơ thực hiện.
 Hôm ấy máy bay của tôi cùng 2 chiếc F5E trong đội bay chuẩn bị cất cánh làm nhiệm vụ. Ngay sau khi nhận lệnh cất cánh. tôi phát tín hiệu cho biên đội trưởng là máy bay của tôi bị hỏng máy phát điện, không thể bay được. Biên đội trưởng lệnh cho tôi ở lại nhưng người chỉ huy đường bay dưới mặt đất không biết. Theo quy định, thời gian mỗi chiếc cất cánh cách nhau 5 giây. Bởi vậy tôi không thể nấnná cất cánh quá 10 giây tại sân bay Biên Hòa. Đã tạo được sự hiểu lầm của người chỉ huy trên không và mặt đất, tôi gấp rút bay ngay về phía Chợ Lớn rồi vòng lên chợ Bến Thành, đến dinh Độc Lập. Phải bay như vậy vì chúng cấm máy bay quân sự vào không phận nội thành Sài Gòn. Tôi mang 4 quả bom, dự định ném 2 quả xuống dinh Độc Lập và 2 quả xuống tòa đại sứ Mỹ. Khi cắt bom, tâm lý tôi rất căng thẳng, cứ sợ bom rớt xuống chợ Bến Thành hoặc vô nhà dân cho nên ném 2 quả đầu tiên bị trật mục tiêu, rớt xuống vườn phía sau dinh Độc Lập, tôi vòng lại, chỉnh cẩn thận cắt nốt 2 quả xuống. Từ máy bay nhìn xuống thấy khói bốc ra từ các ô cửa sổ dinh, tôi yên tâm bom trúng mục tiêu nên bay thẳng ra kho xăng Nhà Bè, bắn xuống 200 viên đạn pháo 20mm. Nhưng không hiểu sao kho không cháy. Tôi hạ thấp độ cao để tránh ra-đa phát hiện rồi bay thẳng về sân bay Phước Long (tỉnh Bình Phước) an toàn.
Đây là sự an toàn rất mỏng manh, tôi không dám cầm chắc. Vậy mà cuối cùng người và máy bay tiếp đất an toàn. Tôi bước  ra khỏi máy bay là đón nhận ngay trong vòng tay âu yếm, xúc động của các chú, các anh lãnh đạo ở vùng giải phóng. Ngay lúc ấy nhà báo Trần Thăng đã nghi được hình ảnh cảm động này. Tấm ảnh ấy sau đó được xuất hiện ở nhiều nơi.
-Anh nói “sự an toàn rất mỏng manh” nghĩa là thế nào? Nguyễn Thành Trung cười thật tươi:
-Nghĩa là không dám chắc người và máy bay còn nguyên vẹn khi về với cách mạng. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là việc tôi đáp máy bay xuống Phước Long an toàn chỉ là do ngẫu nhiên, may mắn. Sự việc không đơn giản chút nào.
 Khi được tin Phước Long được giải phóng, tôi vui mừng báo cáo với tổ chức cho phép tôi tìm mọi cách để bay ra đó. Trước đấy tôi được biết sân bay Phước Long chỉ cho phép máy bay vận tải loại nhỏ lên xuống chứ không thể bảo đảm an toàn cho máy bay F5E của tôi hạ cánh. Đường băng ở đây chi dài 1km trong khi đường băng cho phép F5E hạ cánh an toàn là 3km. Nhưng đành mạo hiểm vậy! Lúc đó đồng chí Phạm Hùng-Bí thư Trung ương Cục, thay mặt Bộ Chính trịchỉ thị: “Nếu hạ cánh không an toàn, đồng chí phải nhảy dù ngay, không hy sinh vô ích. Nếu đồng chí trốn ra bằng đường không khó khăn thì ra bằng đường bộ...”.
Từ đó tôi thường xuyên tranh thủ tập hạ cánh theo kiểu giả định đường băng l.000m. Do tập nhiều, lốp nổ liên tục, tôi bị phê bình nên không được lên đại úy theo đúng niên hạn. Dù tập hạ cánh nhiều lần như vậy nhưng khi xuống sân bay Phước Long tôi vẫn hồi hộp. Quá đà một chút là máy bay lao xuống vực. Lần thứ nhất không xuống được vì tốc đổ cao quá. Lần thứ hai căn cự li không chuẩn, lỡ đà... Tới lần thứ ba thì tôi điều chỉnh tốc độ hợp lý, chỉ còn lệ thuộc vào chiếc dù ở đuôi. Nếu dù bị đứt thì tôi phải nhảy dù. Nhưng rất may, dù không đứt, lốp không nổ, tôi thắng bằng chân, máy bay chỉ lăn trên đường băng 970m, còn cách vực khoảng 30m. Hú vía! Xuống tới nơi. anh em đưa tôi vào rừng ngay vì sợ địch truy kích, ném bom. Tại căn cứ tôi nhận thư anh Bảy Dự (sau này là trưởng ban nội chính Thành ủy TP Hồ Chí Minh): “Anh cứ yên tâm, tổ chức đã đưa vợ con anh ra vùng giải phóng rồi!”. Sau này mới biết sự thật không phải  như vậy. Anh Bảy Dự làm công tác tư tưởng đê tôi yên tâm thôi. Ngay sau khi tôi ném bom xuống dinh Độc Lập, anh Năm Phong (sau này là cán bộ Sở công an TP phố Hồ Chí Minh) báo cho anh Tư Hạnh (sau này là trưởng chi cục thuế quận 6, TP Hồ Chí Minh) đưa vợ con tôi đi trốn nhưng không kịp. Bọn chúng đã nhanh chân hơn, bắt vợ con tôi từ Biên Hòa về giam tại số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sài Gòn. Lúc đó cháu thứ hai mới 8 tháng tuổi, còn cháu lớn được 6 tuổi. Hiện nay cả hai cháu đều là tiếp viên hàng không. Còn vợ tôi đang là cán bộ của Ủy Ban Mật trận Tổ quốc quận Tân Bình.
- Thưa anh, cho tới bây giờ, nhiều người chưa hiểu rõ về anh. Có người nói anh là lính ngụy phản chiến. Có người nói anh là tình báo chiến lược của ta, cài vào hàng ngũ địch. Có người lại cho rằng anh là kết quả của công tác binh vận. Thực chất là thế nào?
-Đúng là 27 năm nay nhiều người chỉ biết hành động ném bom phản chiến của tôi, mà không hiểu cội nguồn xuất xứ nên không hiểu đúng. Ngay cả một số đồng chí sau này là thủ trưởng của tôi ở đơn vị không quân cũng hiểu đại loại thư thế. 13 tuổi tôi đã nhìn thấy cảnh ba tôi chết thảm thương. Vìông là Bí thư Huyện ủy Châu Thành (Bến Tre) nên bị giặc giết hại, phơi xác ngoài thị xã rồi quăng xuống sông, không cho ai chôn cất. Tôi căm thù chính quyền Ngô Đình Diệm từ đó. Hai anh trai tôi đều vào bộ đội, bị địch giam giữ, tra tấn dã man ở nhà tù Phú Quốc và Côn Đảo. Các đồng chí lãnh đạo cách mạng ở địa phương - trực tiếp là chú Tư Chí, bí thư huyện ủy - quyết tâm đưa tôi đi học nên đã làm cho tôi lý lịch giả, không có ba, không có anh em, chỉ có hai má con đơn côi. Đến chiến dịch Mậu Thân 1968 tôi về Bến Tre rồi lại đi học tiếp. Khi còn một năm nữa là tốt nghiệp, tổ chức bí mật động viên tôi tìm mọi cách đi hoc không quân để tính chuyện lâu dài. Cuối năm 1968 tôi vào trường không quân của ngụy học. Ngày 31- 5-1969 tôi bí mật về Mỹ Tho để tổ chức cơ sở làm lễ kết nạp Đảng cho tôi. Sau đó vài tháng tôi được quân đội ngụy cử đi học chuyên ngành không quân ở Mỹ. Đến năm 1971 về nước, tôi được Ban binh vận chuyển về liên lạc trực tiếp với Trung ương Cục Miền.
Như vậy là sau bao nhiêu năm căng thẳng chờ đợi, mong ngóng cuốl cùng tôi đã có được 10 gịây đồng hồ quý giá tại sân bay Biên Hòa để trở về với Đảng với dân!

Comments

Không có nhận xét nào cho bài đăng này.