Bỏ qua nội dung chính

30thang4

Tìm kiếm
Trang chủ
Tra cứu
Tài Liệu Số
Văn bản
Danh mục
  

Blogs khác
Không có khoản mục nào trong danh sách này.
Liên kết
Không có khoản mục nào trong danh sách này.

Thư viện Tỉnh Đồng Nai > trangtin > 30thang4 > Bài đăng > Nhớ lại Sài Gòn ngày giải phóng
Nhớ lại Sài Gòn ngày giải phóng
HẢI NINH. Nhớ lại Sài Gòn ngày giải phóng / Hải Ninh // Cộng sản. - 2002. - Số 12. - Tr.29-29, 16.

Nhiệm vụ trao cho đoàn quay phim bị chúng tôi là bám theo mặt trận phía tây nam Sài Gòn, xuyên thẳng vào tận hang ổ cuối cùng của Mỹ - ngụy là dinh tổng thống ngụy quyền, ghi cho được những giờ phút lịch sử, những giây phút chiến thắng vinh quang của cuộc chiến tranh giải phóng và thống nhất vĩ đại nhất của dân tộc từ trước đến nay.
Đoàn quay phim mặt trận chúng tôi có sáu người : Hải Ninh, Hoàng Tích Chỉ, Nguyễn Khánh Dư, Trần Trung Nhàn, Đặng Đình Hùng, Trần Thúy Lan đã lên đường tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh với tốc độ cơ giới, hy vọng sẽ đuổi kịp cuộc hành quân thần tốc của các binh chủng quân đội đang tiến về Sài Gòn. Nhưng chúng tôi đến được nơi này thì quân dân ta đã giải phóng đất đai, tiêu diệt giặc từ hôm trước. Tình thế mặt trận diễn biến từng giờ, thay đổi từng ngày, không thể nào nắm bắt được. Các khu tập trung chiến lược, căn cứ quân sự, kho tàng, bến cảng, cho tới các thành phố bị chiếm đóng lâu nay nhanh chóng bị tan rã, sụp đổ. Các vùng quê trải dài từ đồng bằng lên cao nguyên, từ miền núi xuống vùng biển, cờ giải phóng, cờ đỏ sao vàng tung bay rợp trời trong niềm vui chiến thắng của nhân dân vùng giải phóng.
Cho đến sáng ngày 30-4-1975, chúng tôi tiếp cận được phòng tuyến ngoại vi Sài Gòn từ hướng tây nam. Trước ống kính của chúng tôi lúc này là các binh chủng xe tăng, xe bọc thép, các đoàn quân giải phóng đang rầm rập tiến về Sài Gòn. Khoảng cách cuối cùng của một cuộc chiến tranh đang diễn ra với tốc độ khủng khiếp.
Phòng tuyến bảo vệ, đô thành phía tây nam của địch bị phá vỡ từng mảng. Từng cụm xe tăng đề kháng của giặc ở cầu Bông bị đập nát, lổn nhổn lăn lóc dưới chân cầu. Từng đoàn ô tô nhà binh nối đuôi nhau chồng chất tắc nghẽn, nằm chết hai bên đường quốc lộ. Ngay ngoại vi phi trường Tân Sơn Nhất, một máy bay trực thăng chạy trốn không thoát mắc kẹt giữa các vòng dây điện chằng chịt trên gác thượng một ngôi nhà. Ngược lai với các mũi tiến công như vũ bão của quân giải phóng là đám sĩ quan, binh lính ngụy tháo chạy, vừa chạy vừa vứt vũ khí xuống đường, vừa trút các bộ quần áo lính loang lổ, bê bết máu me, cát bụi chiến trường. Hàng chục cây số đường vào thành phố mặt đường ngập ngụa áo quân, mũ mãng, lon cờ, giầy dép của lính ngụy, giống như một con rắn độc vừa quằn quại chạy trốn, vừa trút bỏ bộ da loang lổ tội ác của mình.
Cảnh tượng ấy còn kỳ lạ hơn, khi không thấy một anh lính giải phóng nào đuổi bắt, ngăn chặn, tra xét bọn tàn quân đang lũ lượt chạy trốn. Chúng chạy trong nỗi khiếp sợ và kinh hoàng trước các cuộc hành quân thần tốc, trước sức mạnh bão táp của quân giải phóng. Chúng chạy trong cơn hoảng loạn đến cực độ với bộ mặt sám hối cuộc đời làm tay sai cho Mỹ; nhưng lại le lói trong cặp mắt của chúng một niềm tin khoan dung, độ lượng của nhân dân, của những người chiến sĩ giải phóng và tự “lột xác” mình để được tha thứ. Có lẽ chưa có một cuộc chiến tranh nào trong lịch sử dân tộc diễn ra những cảnh tượng lạ kỳ đến như vậy. Bên cạnh sức mạnh về ý chí chiến đấu, về vũ khí hiện đại của quân dân ta trong trận quyết chiến cuối cùng, còn có một sức mạnh thần kỳ tiềm ẩn sâu trong lòng một dân tộc là biết lấy “đại nghĩa thắng hung tàn”.
Vào khoảng 10 giờ sáng ngày 30-4-1975, bám theo mũi tiến quân đầu tiên tiến vào thành phố, chúng tôi đã lọt vào cửa ngõ phía tây Sài Gòn, trước bệnh viện “Vì dân”. Máy quay của chúng tôi đang nhô cao để lấy cho được hình ảnh các đoàn quân giải phóng thì bất ngờ vấp phải đạn hóa học do các ổ đề kháng của địch trên các nhà tầng cao bắn xuống. Chỉ sau ít phút mọi người đã thấy choáng váng, đứng không vững trên xe. Đôi tay cầm máy của anh Khánh Dư đã bắt đầu run lên. Không thể để mất hình ảnh lịch sử ngàn năm mới có một lần, anh em trong đoàn đã nhanh chóng quan hệ với dân chúng bên đường phố lấy khăn ướt bảo vệ cho mọi người trong đoàn. Mặc cho tiếng súng kẻ thù vẫn nổ, song sáu anh em vẫn bình tĩnh đứng vững trên chiếc xe của mình để ghi trọn vẹn vào ống kính quay phim những giây phút lịch sử vô cùng quý giá.
Xe chúng tôi tiếp tục bám theo đoàn xe tăng đang tiến về dinh Tổng thống ngụy quyền. Để có được hình ảnh lịch sử quan trọng nhất như nhiệm vụ được giao, chúng tôi cho xe tăng tốc vượt lên đầu đoàn xe tăng. Lúc này tôi và anh Khánh Dư phải ra ngồi trên mũi xe để không bị vướng, quay cho rõ, cho đẹp. Chiếc xe đã đuổi kịp đoàn xe tăng. Mặt đường chấn động dữ dội vì tốc độ tấn công của cả một đoàn xe tăng. Chiếc xe con của chúng tôi cũng bị rung lên. Để vượt lên phía trước, anh Trần Thúy Lan phải vận dụng hết tài năng và lòng dũng cảm để luồn lách qua các dòng xe chạy loan trên đường có lúc xe bị ép lại giữa đoàn xe tăng và hàng dãy xe dài nằm chết bên đường. Khi Chiếc xe sắp vượt bên đầu đoàn xe tăng thì bỗng nhiên hai chúng tôi bị tung bổng lên không trung rồi rơi trên mặt đường, nằm kề gang tấc bên những vòng xích xe tăng. Một sự cố bất ngờ xảy ra trên đường phố, chiếc xe phải, phanh lại đột ngột để tránh một tai nạn chết người cho dân. Tuy bị thương nhưng tôi còn đủ tỉnh táo đưa mắt tìm kiếm anh Khánh Dư trong đám bụi mù của vòng xích xe tăng, và ứa nước mắt... Chuyện gì đã xảy ra... lẽ nào giữa những giây phút lịch sử thiêng liêng nhất chúng tôi lại chia tay nhau... Nếu số phận của anh và chiếc máy quay không còn nạn thì chúng tôi mất tất cả, không còn “vũ khí” để chiến đấu. Lo lắng về nhiệm vụ, nao lòng vì tình đồng đội, lại bị thương ở chân, người tôi như bị lên cơn sốt ác tính khi được đưa vào nhà dân để cứu chữa.
Tôi sung sướng biết bao khi thấy anh Hoàng Tích Chỉ trở lại đón tôi với gương mặt rạng rỡ, tôi hiểu ngay đã không có chuyện buồn xảy ra.
Chúng tôi đã hoàn thành những cảnh quay một cách trọn vẹn. Song điều đáng tiếc nhất là không lấy được cảnh chiếc xe tăng của quân giải phóng húc đổ cái cổng sắt trước dinh lũy cuối cùng ngụy quyền Sài Gòn.
Tối hôm đó, khi nằm đau ê ẩm trong phòng chiếu của một xưởng làm phim tâm lý chiến Mỹ - ngụy ở số 7 Thi Sách, anh Khánh Dư vừa hút thuốc lá vừa kể một cách khoái chí về cái thân hình gầy gò xương nhưng đầy tự hào của mình. Cho đến lúc ấy anh vẫn không giải thích được, khi anh bị chiếc xe hất tung ra hàng chục thước, mười phần chết chín, không bị xích xe tăng nghiền thì cũng nát xương, nhưng anh lại thoát hiểm, không chết. Và cũng không hiểu bằng cách nào chiếc máy quay vẫn được bảo vệ trong vòng tay của anh, toàn thân cuộn tròn lăn lông lốc trên đường phố mà chiếc máy quay không bị hỏng. Cho đến nay chuyện ấy vẫn còn nằm trong vòng bí ẩn. Chúng tôi tự giải thích với nhau có lẽ đó là khí thiêng của trời đất, tổ tiên, của cả dân tộc đã phù hộ, che chở cho chúng tôi để hoàn thành nhiệm vụ.
 Đoàn quay phim mặt trận chúng tôi đã có mặt ở dinh “Độc Lập'' vào trưa ngày 30-4-1975, đúng như 1ệnh chiến dịch ban ra từ Hà Nội. Lá cờ đỏ sao vàng đã ngạo nghễ tung bay trên nóc nhà dinh Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn.
Đồng chí Phó chính ủy quân đoàn chiến thắng đánh chiếm dinh Tổng thống ngụy quyền cho chúng tôi biết trên lầu có mặt đủ các nhân vật từ Tổng thống, Thủ tướng, Phó thủ tướng ngụy quyền, cho tới các “vị dân biểu”. Chúng tôi sẵn sàng trong tư thế bấm máy ghi một cách bất thần những trạng thái, diện mạo chân thật nhất của đối phương. Vừa bước chân lên khỏi bậc thang cuối cùng của tầng trệt, tiếng máy quay trên tay anh Khánh Dư đã kêu sè sè. Trước ống kính là một đám người phờ phạc, đứng ngồi lổn nhổn. Khi phát hiện thân hình to lớn của tướng Dương Văn Minh đang cúi đầu đi lại quanh quẩn trên hành lang một cách đơn độc và trầm lặng, máy chúng tôi đã bám sát ghi trọn trạng thái khủng hoảng, bế tắc của vị “Tổng thống” cuối cùng của chính quyền Sài Gòn. 
Khi biết chúng tôi là ai, khó khăn lắm Dương Văn Minh mới lấy lại được tư thế Bàn tay của vị “Tổng thống” phác vào không khí nhiều lần mới cất lên được tiếng nói: “... kính vỡ... uổng quá... loại kính này đắt tiền lắm... uổng quá...”.
Chúng tôi nhìn nhau khó hiểu, như đang đứng trước một người mê sảng. Có lẽ đó là sự nuối tiếc một cuộc sống vàng son trên chiếc “ngai vàng” đầy quyền uy và giàu có đã sập đổ tan tành.
Máy quay của chúng tôi lướt qua từng gian phòng đang chứa đầy ắp các “vị dân biểu” nằm ngồi ngổn ngang. Có “vị” đánh trần, quạt phành phạch bằng tờ báo. Kể ra dưới cái nóng tháng tư của Sài Gòn mà không có điều hòa nhiệt độ thì cực thật. Có lẽ là lần đầu tiên trong đời phải chịu khổ của những kẻ quen sống trên bơ sữa này. Sự xuất hiện bất ngờ của các phóng viên quay phim quân giải phóng đã gây những phản xạ náo loạn trong các gian phòng. Ống kính đã ghi lại.một cách tự nhiên các “vị dân biểu” vội chỉnh lại tư thế, có người đang cởi trần vội xỏ vào chiếc áo, người nào không kịp sửa sang lại quần áo thì vội xoay mặt đi, dấu mặt sau lưng người khác. Nhưng hầu hết các cặp mắt đều trố lên nhìn như không hiểu gì cả. Một cái gì đã sập đổ quá nhanh đã làm cho họ choáng váng, bàng hoàng, và cam chịu sự phán xét của lịch sử.
Người có đáng điệu bình tĩnh hơn cả là Nguyễn Văn Hảo - Phó thủ tướng chính quyền Sài Gòn. Hảo biết tự trấn an cho mình và cố giữ thể diện của một “chính khách” lúc thất thế bằng một câu nói khá kiểu cách : “Chúng tôi chờ đợi các ông vào thương thuyết, không ngờ các ông vào với sức mạnh”. Nếu Hảo thông minh và tỉnh táo hơn một chút thì sẽ không nói như vậy, vì chỗ đứng của ông ta lúc này là một tù binh. Nhưng để làm sáng tỏ một sự thật, tôi đã nói với Hảo.
- Nếu ông không tự dối mình thì điều ông vừa nói là một sự xuyên tạc sự thật. Cứ giả thử như các ông có ý định đó, như vậy các ông sẽ giải thích thế nào những hành động tử thủ chống đối cách mạng một cách ngoan cố ở Xuân Lộc, Đồng Xoài,. Biên Hòa, Bà Rịa, cầu Tân Cảng (Sài Gòn)... Ngay tại đây nhìn qua khe cửa, các ông có thể thấy rõ những đề kháng bằng xe tăng, xe bọc thép, súng ống hạng nặng của các ông đặt xung quanh dinh lũy cuối cùng này, không chứng minh cho,những điều ông vừa nói.
Hảo đấu dịu, tỏ vẻ biết điều hơn.
- Các ông chiến thắng là phải, vì các ông có tổ chức.
- Ông mới nói đúng một phần, điều quan trọng hơn là chúng tôi có chính nghĩa, chúng tôi chiến dấu vì nhân dân, chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Ông giải thích thế nào về hành động của Nguyễn Văn Thiệu đã bỏ các ông trong cơn binh lửa để chạy thoát than với 4 tấn vàng? Đúng lúc ấy một dáng người béo lùn mà sau này Tôi biết là Vũ Văn - Thủ tướng chính quyền Sài Gòn vội chạy đến thanh minh.
- Thưa quý ông, tôi lấy danh dự bảo đảm với quý ông là ông Hảo đã có công ngăn cản ông Thiệu giữ lại 4 tấn vàng. Trong lúc đối thoại anh Đặng Đinh Hùng đã bật máy ghi âm, Nguyễn Văn Hảo đã phản ứng.
- Tôi đề nghị các ông không được ghi âm, nếu Không chúng tôi cũng ghi âm.
Sự kìm nén cũng có giới hạn, tôi nghiêm mặt nhắc lại lần thứ hai về vị trí của Hảo lúc này.     
-   Ông không còn cái quyền đó nữa rồi!     
Chúng tôi đảo một lượt quanh “Phủ đầu rồng”, đã một thời không biết bao nhiêu báo chí phương Tây đã nói về nó như một dinh lũy chống cộng khét tiếng, được miêu tả như một pháo đài kiên cố, mà mấy quả bom phản chiến của Nguyễn Thành Trung ném trúng chính giữa ngôi nhà chỉ khoét được một cái lỗ to bằng cái nong.
Trong phòng làm việc của Thiệu còn giữ nguyên trạng 6 chiếc ghế bọc gấm hoa cho Tổng thống và các “đại thần”. Chiếc ghế của Tổng thống to hơn một chút. Đặc biệt có một nút điện báo động đặt rất kín đáo dưới tay ngai chiếc ghế .
Trên tường treo một bức tranh sơn dầu vẽ vùng biển quê hương miền Trung của Thiệu.
Ống kính của chúng tôi đặc biệt chú ý tới tấm bản đồ Việt Nam bọc ny lon cẩn thận treo trên tường phòng họp của các tướng lĩnh của Thiệu. Các mũi tiến công của quân cách mạng tràn xuống phía Nam như nước vỡ bờ được ghi trên bản đồ một cách chân thật, không chút dấu diếm.
Len lỏi qua các dẫy đầu thú dữ nhồi do các tướng tá đem về tặng “người hùng” từ chiến trường rừng núi Tây Nguyên, chúng tôi lên tận lầu trên cùng. Đây là tầng lầu bí mật của Tổng thống, được canh gác cẩn mật “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Ở đây Thiệu cho đặt một máy tiềm vọng kích, ngày đêm nhìn ngó ra xung quanh thành phố. Tình hình biến động trong thành phố có thể xem xét qua chiếc ống nhòm ma quái này. Tinh võ biền mà lại nhút nhát như Thiệu được bộc lộ rất rõ ở hai vật thể đặt cạnh nhau - chiếc tiềm vọng kính là nỗi Lo âu ám ảnh hàng ngày của Thiệu được đặt bên hai con hổ nhồi nhe nanh vuốt đọa dẫm, huênh hoang. Trước mọi thứ được dấu kín, bây giờ được phơi bày ra ánh sáng, lộ mọi hình tích, trông thật trơ trẽn. đấy là chưa kể đường hầm bí mật đặt ngầm dưới toà nhà để khi cần thoát thân cho nhanh.
Ống kính của chúng tôi đã ghi tất cả những thứ đó, khi những hình ảnh ấy được ghép lại sẽ cho mọi người hình dung được phần nào tính cách của một nhân vật đã đi ngược lại dòng lịch sử, phản bội lại dân tộc mình. Tất cả những điều đó đã được ghi lại trong bộ phím “Thành phố lúc rạng đông” sau này. Chúng tôi rời khỏi “Phủ đầu rồng”, có cảm giác như vừa qua một đêm dài tăm tối. Trong khi bên ngoài mọi người đang đón chào buổi rạng đông của thành phố. Những dòng người vô tận như những dòng thác lũ, với những băng cờ rực rỡ cuộn trôi trên các đường phố Sài Gòn. Xe chúng tôi như đang bi trôi đi giữa những dòng thác lũ của ngày hội dân tộc ấy. Sân bay Tân Sơn Nhất cũng rợp bóng cờ bay chờ đón Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Tất cả phóng viên báo chí, đặc biệt là các phóng viên quay phim đều hướng ống kính vào chiếc chuyên cơ từ Thủ đô Hà Nội vừa hạ cánh xuống sân bay để đón chào một con người trở về - từ một người thợ Ba Son, người tù Côn Đảo, người kéo cờ phản chiến trên “biển đen”, người chiến sĩ cách mạng, và bây giờ là Chủ tịch nước Việt Nam độc lập và thống nhất. Con người ấy đã đi qua cả một đêm trường nô lệ gần một trăm năm để hôm nay nhìn thấy đất nước quê hương mình đuợc giải phóng, thống nhất, với một nụ cười rạng rỡ .

Comments

Không có nhận xét nào cho bài đăng này.