﻿<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<!--RSS generated by Windows SharePoint Services V3 RSS Generator on 15/08/2026 12:05:38 SA-->
<?xml-stylesheet type="text/xsl" href="/trangtin/diachiDN/_layouts/RssXslt.aspx?List=4ec2c073-99ac-47d8-b9ae-2dbe43169359" version="1.0"?>
<rss version="2.0">
  <channel>
    <title>Địa chí Đồng Nai: Bài đăng</title>
    <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    <description>Liên kết nạp tin tự động RSS cho Bài đăng danh sách.</description>
    <lastBuildDate>Fri, 14 Aug 2026 17:05:37 GMT</lastBuildDate>
    <generator>Windows SharePoint Services V3 RSS Generator</generator>
    <ttl>60</ttl>
    <image>
      <title>Địa chí Đồng Nai: Bài đăng</title>
      <url>/trangtin/diachiDN/_layouts/images/homepage.gif</url>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    </image>
    <item>
      <title>VỊ TRÍ ĐỊA LÝ TỈNH ĐỒNG NAI:</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=179</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass762940BDFD24448DA66615BDCC7E1E37><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt"> Đồng Nai là tỉnh thuộc Miền Đông Nam Bộ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có diện tích 5.894,73 km<sup>2</sup>, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ. Dân số toàn tỉnh theo số liệu thống kê năm 2005 là 2.218.900 người, mật độ dân số: 365 người/km<sup>2</sup>. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của toàn tỉnh năm 2005 là 1,28%. Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: <a><span style="color:purple">Thành phố Biên Hòa</span></a> - là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của tỉnh; <a href="http://c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.202"><span style="color:#0879d5">Thị xã Long Khánh</span></a> và 9 huyện: <a href="http://c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.201"><span style="color:#0879d5">Long Thành</span></a>;<a href="http://www.thuviendongnai.gov.vn/c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.205"><span style="color:#0879d5">Nhơn Trạch</span></a>; <a href="http://www.thuviendongnai.gov.vn/c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.207"><span style="color:#0879d5">Trảng Bom</span></a>; <a href="http://c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.208"><span style="color:#0879d5">Thống Nhất</span></a>; <a href="http://www.thuviendongnai.gov.vn/c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.210"><span style="color:#0879d5">Cẩm Mỹ</span></a>; <a><span style="color:#0879d5">Vĩnh Cửu</span></a>; <a><span style="color:#0879d5">Xuân Lộc</span></a>; <a href="http://www.thuviendongnai.gov.vn/c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.200"><span style="color:#0879d5">Định Quán</span></a>; <a><span style="color:#0879d5">Tân Phú</span></a>.</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Là một tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam Đồng Nai tiếp giáp với các vùng sau: </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><ul><li><a><span style="color:#0879d5;font-family:Arial;font-size:10pt">Đông giáp tỉnh Bình Thuận.</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:9pt">
			</span></li><li><a><span style="color:#0879d5;font-family:Arial;font-size:10pt">Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng.</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:9pt">
			</span></li><li><a><span style="color:#0879d5;font-family:Arial;font-size:10pt">Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương</span></a><span style="font-family:Arial"><span style="color:#ff6600;font-size:10pt"> và <a><span style="color:#0879d5">tỉnh Bình Phước.</span></a></span><span style="font-size:9pt">
				</span></span></li><li><a><span style="color:#0879d5;font-family:Arial;font-size:10pt">Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:9pt">
			</span></li><li><a><span style="color:#0879d5;font-family:Arial;font-size:10pt">Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh.</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:9pt">
			</span></li></ul><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#006600;font-size:10pt">Là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên.</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p>
 </p><div style="text-align:center"><table style="border-collapse:collapse" border=0><colgroup><col style="width:624px"></colgroup><tbody valign=top><tr><td valign=middle style="border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>ĐỊA HÌNH</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Tỉnh Đồng Nai có địa hình vùng đồng bằng và bình nguyên với những núi sót rải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng bắc nam. Có thể phân biệt các dạng địa hình chính như sau:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#006600;font-size:10pt">F Địa hình đồng bằng gồm 2 dạng chính:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Các bậc thềm sông có độ cao từ 5 đến 10 m hoặc có nơi chỉ cao từ 2 đến 5 m dọc theo các sông và tạo thành từng dải hẹp có chiều rộng thay đổi từ vài chục mét đến vài km. Đất trên địa hình này chủ yếu là các aluvi hiện đại.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển: là những vùng đất trũng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai với độ cao dao động từ 0,3 đến 2 m, có chỗ thấp hơn mực nước biển, thường xuyên ngập triều, mạng lưới sông rạch chằng chịt, có rừng ngập mặn bao phủ. Vật liệu không đồng nhất, có nhiều sét và vật chất hữu cơ lắng đọng.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#006600;font-size:10pt">F Dạng địa đồi lượn sóng:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Độ cao từ 20 đến 200m. Bao gồm các đồi bazan, Bề mặt địa hình rất phẳng, thoải, độ dốc từ 30 đến 80. Loại địa hình này chiếm diện tích rất lớn so với các dạng địa hình khác bao trùm hầu hết các khối bazan, phù sa cổ. Đất phân bổ trên địa hình này gồm nhóm đất đỏ vàng và đất xám.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt"><span style="color:#006600">F Dạng địa hình núi thấp:</span>
								</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Bao gồm các núi sót rải rác và là phần cuối cùng của dãy Trường Sơn với độ cao thay đổi từ 200 – 800m. Địa hình này phân bố chủ yếu ở phía bắc của tỉnh thuộc ranh giới giữa huyện Tân Phú với tỉnh Lâm Đồng và một vài núi sót ở huyện Định Quán, Xuân Lộc. Tất cả các núi này đều có độ cao (20–300), đá mẹ lộ thiên thành cụm với các đá chủ yếu là granit, đá phiến sét.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Nhìn chung đất của Đồng Nai đều có địa hình tương đối bằng phẳng, có 82,09% đất có độ dốc &lt; 8<sup>o</sup>, 92% đất có độ dốc &lt;15<sup>o</sup>, các đất có độ dốc &gt;15<sup>o</sup> chiếm khoảng 8%. Trong đó: Đất phù sa, đất sét và đất cát có địa hình bằng phẳng , nhiều nơi trũng thấp ngập nước quanh năm. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Đất đen, nâu, xám hầu hết có độ dốc &lt; 8<sup>o</sup> , đất đỏ hầu hết &lt; 15<sup>o</sup>
								</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Riêng đất tầng mỏng và đá bọt có độ dốc cao.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>ĐẤT ĐAI</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Tỉnh Đồng Nai có quỹ đất phong phú và phì nhiêu. Có 10 nhóm đất chính. Tuy nhiên theo nguồn gốc và chất lượng đất có thể chia thành 3 nhóm chung sau: </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Các loại đất hình thành trên đá bazan: Gồm đất đá bọt, đất đen, đất đỏ có độ phì nhiêu cao, chiếm 39,1% diện tích tự nhiên (229.416 ha), phân bố ở phía bắc và đông bắc của tỉnh. Các loại đất này thích hợp cho các cây công nghiệp ngắn và dài ngày như: cao su, cà phê, tiêu…</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét như: đất xám, nâu xám, loang lổ chiếm 41,9% diện tích tự nhiên (246.380 ha), phân bố ở phí nam, đông nam của tỉnh (huyện Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Biên Hoà, Long Thành, Nhơn Trạch). Các loại đất này thường có độ phì nhiêu kém, thích hợp cho các loại cây ngắn ngày như đậu, đỗ…một số cây ăn trái và cây công nghiệp dài ngày như cây điều…</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Các loại đất hình thành trên phù sa mới như: đất phù sa, đất cát. Phân bố chủ yếu ven các sông như sông Đồng Nai, La Ngà. Chất lượng đất tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng như cây lương thực, hoa màu, rau quả…</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Theo quy định của luật đất đai, việc kiểm kê đất đai được tiến hành 5 năm một lần. Ngày 18/08/1999, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 24/1999/CT –TTg về tổng kiểm kê đất đai năm 2000. Công tác tổng kiểm kê đất đai năm 2000. Trung tâm Kỹ thuật Địa chính – Nhà đất là đơn vị được giao nhiệm vụ phối hợp với phòng Địa chính các huyện, thành phố Biên Hoà và cán bộ địa chính các xã, phường, thị trấn trong tỉnh để tổ chức thực hiện, số liệu tổng kiểm kê đất đai năm 2000 đã được kiểm tra nghiệm thu và sử dụng thống nhất trong toàn tỉnh, giai đoạn 2001 – 2005.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Tổng diện tích toàn tỉnh có: 589.473 ha. Bao gồm:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Diện tích đất nông nghiệp: 302.845 ha. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Diện tích đất lâm nghiệp: 179.807 ha.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Diện tích đất chuyên dùng: 68.018 ha.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Diện tích đất ở: 10.546 ha.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Diện tích đất chưa sử dụng và sông suối , núi đá: 28.255 ha</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đất của tỉnh Đồng Nai có 10 nhóm đất chính như:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Đất xám chiếm 40,05% diện tích tự nhiên (DTTN), thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và cho xây dựng.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Đất đen chiếm 22,44% DTTN, thích hợp trồng các loại cây hằng năm </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Đất đỏ chiếm 19,27% DTTN, rất thích hợp trồng các cây công nghiệp dài ngày </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Ngoài ra là các nhóm đất như đất phù sa (4,76%) có thể dùng cho trồng lúa, hoa mầu và các loại khác.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Lâm nghiệp: 292.611.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Lâm nghiệp: 174.762.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Chuyên dùng: 70.286.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Đất ở: 10.975.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Tình hình sử dụng đất của tỉnh những năm qua có biến động ít nhiều, nhưng đến nay, Đồng Nai vẫn là tỉnh có quy mô đất nông nghiệp lớn nhất Đông Nam Bộ.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>KHÍ HẬU</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đồng Nai nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với khí hậu ôn hòa, ít chịu ảnh hưởng của thiên tai, đất đai màu mỡ (phần lớn là đất đỏ bazan), có hai mùa tương phản nhau (mùa khô và mùa mưa). </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nhiệt độ cao quanh năm là điều kiện thích hợp cho phát triển cây trồng nhiệt đới, đặc biệt là các cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nhiệt độ bình quân năm 2005 là: 26,3<sup>o</sup>C chênh lệch nhiệt độ cao nhất giữa tháng nóng nhất và lạnh nhất là 4,2<sup>o</sup>C.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Số giờ nắng trung bình trong năm 2005 là: 2.243 giờ. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Lượng mưa tương đối lớn và phân bố theo vùng và theo vụ tương đối lớn khoảng 2.065,7mm phân bố theo vùng và theo vụ.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Vì thế Đồng Nai đã sớm hình thành những vùng chuyên canh cây công nghiệp ngắn và dài ngày, những vùng cây ăn quả nổi tiếng,... cùng với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch phát triển. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Độ ẩm trung bình năm 2005 là 80%.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Mực nước thấp nhất sông Đồng Nai năm 2005 là: 109,24m.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Mực nước cao nhất sông Đồng Nai năm 2005: 113,12.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>TÀI NGUYÊN</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đồng Nai có nhiều nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú gồm tài nguyên khoáng sản có vàng, thiếc, kẽm; nhiều mỏ đá, cao lanh, than bùn, đất sét, cát sông; tài nguyên rừng và nguồn nước... </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Ngoài ra Đồng Nai còn phát triển thuỷ sản dựa vào hệ thống hồ đập và sông ngòi. Trong đó, hồ Trị An diện tích 323km<sup>2</sup> và trên 60 sông, kênh rạch, rất thuận lợi cho việc phát triển một số thủy sản như: cá nuôi bè, tôm nuôi.... </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:green;font-size:10pt"><strong>TÀI NGUYÊN NƯỚC</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước mặt: Tỉnh Đồng Nai có mật độ sông suối khoảng 0,5 km/km<sup>2</sup>, song phân phối không đều. Phần lớn sông suối tập trung ở phía bắc và dọc theo sông Đồng Nai về hướng tây nam. Tổng lượng nuớc dồi dào 16,82 x 109 m<sup>3</sup>/năm, trong đó mùa mưa chiếm 80%, mùa khô 20%.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Sông Đồng Nai: Sông Đồng Nai chảy vào tỉnh Đồng Nai ở bậc địa hình thứ 3 và là vùng trung lưu của sông. Đoạn từ ranh giới Đồng Nai - Lâm Đồng đến cửa sông Bé Tân Uyên sông chảy theo hướng tây bắc – đông nam. Địa hình lưu vực đoạn trung lưu từ 100-300 m, đoạn từ Tà Lài đến Trị An có nhiều thác ghềnh. Đoạn sau Trị An sông chảy êm đềm, lòng sông mở rộng và sâu. Các phụ lưu lớn của sông Đồng Nai có sông La Ngà, Sông Bé.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Sông La Ngà: Đoạn sông La Ngà chảy trong tỉnh Đồng Nai dài 55 km, khúc khuỷu, nhiều ghềnh thác (ví dụ: thác Trời cao trên 5m). Đoạn này sông La Ngà hẹp, có nhiều nhánh đổ vào, điển hình là suối Gia Huynh và suối Tam Bung. Suối Gia Huynh có lưu vực 135 km<sup>2</sup>, mô đun dòng chảy 91/s km<sup>2</sup> vào mùa khô và 47,41/s km<sup>2</sup> vào mùa mưa, bắt nguồn từ vùng Quốc Lộ 1, ranh giới Đồng Nai - Bình Thuận. Suối Tam Bung có diện tích lưu vực 155 km<sup>2</sup>, bắt nguồn từ phía bắc cao nguyên Xuân Lộc, mô đun dòng chảy 101/s km<sup>2</sup> vào mùa khô và 651/s km<sup>2</sup> vào mùa mưa. Sông La Ngà đổ vào hồ Trị An một lượng nước khoảng 4,5x109 m<sup>3</sup>/năm, chiếm 1/3 tổng lượng nước hồ, mô đun dòng chảy năm 351/s km<sup>2</sup>.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Sông Lá Buông: Bắt nguồn từ phía tây cao nguyên Xuân Lộc, chảy theo hướng từ đông sang tây, độ dốc lưu vực đạt 0.0035. Độ dài sông tính theo nhánh dài nhất khoảng 40 km, sông có lượng nước dồi dào so với các sông nhỏ trong tỉnh với tổng lượng nước trung bình 0,23 x 109 m<sup>3</sup> /năm, mô đun dòng chảy năm 27,61/s km<sup>2</sup>.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Sông Ray: Lưu vực sông chiếm gần 1/3 diện tích phía Nam của tỉnh. Sông bắt nguồn từ phía nam, đông nam cao nguyên Xuân Lộc, đổ thẳng ra biển, chảy theo hướng bắc nam, độ dốc lưu vực khá lớn (0,004), do vậy nếu không có đập chặn giữ thì nước sông sẽ tập trung nhanh ra biển, trong mùa khô thường cạn kiệt nước. Tổng lượng nước sông khá lớn 0,634 x 109 m<sup>3</sup> /năm trong đó mùa mưa chiếm 79%. Sông Ray nếu được sử dụng hợp lý có thể giải quyết vấn đề khô cạn cho vùng đông nam của tỉnh.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Sông Xoài và sông Thị Vải: Đây là 2 sông thuộc vùng phía tây nam của tỉnh, bắt nguồn từ cao nguyên Xuân Lộc và đổ thẳng ra biển. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Sông Thị Vải ở phía thượng lưu gồm các suối nhỏ và dốc, phần hạ lưu (phía duới Quốc Lộ 51 đi Vũng Tau) là sông nước mặn, lòng sông mở rộng.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Sông Xoài có 2 nhánh chính là Châu Pha và Suối Dun, các suối ngắn và hẹp. Diện tích lưu vực 184 km<sup>2</sup>, tổng lượng nước trung bình 0,1015 x 109 m<sup>3</sup> /năm, mô đun dòng chảy năm 17,51/s km<sup>2</sup>, sông Xoài có ý nghĩa to lớn đối với vùng sản xuất nông nghiệp Châu Thành và cấp nước ngọt cho Vũng Tàu. Hạ lưu sông Xoài là vùng nước mặn, độ mặn có thể đạt tới độ mặn của nước biển..</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước ngầm:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Trữ lượng nước tĩnh của toàn tỉnh Đồng Nai là 793.379 m<sup>3</sup>/ngày. Trong đó trữ lượng dung tích (trữ lượng tĩnh trọng lực) là 789.689 m<sup>3</sup>/ngày và trữ lượng đàn hồi là 3691 m<sup>3</sup> /ngày.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Trữ lượng động khoảng 4.714.847 m<sup>3</sup> /ngày là toàn bộ dòng mặt vào mùa khô và là giới hạn dưới của trữ lượng nước dưới đất. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Như vậy tổng trữ lượng nước dưới đất của tỉnh Đồng Nai là khoảng 5.505.226 m<sup>3</sup> /ngày.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Tuy trữ lượng nước dưới đất tỉnh Đồng Nai phong phú, nhưng phân bố không đều, các tháng mùa khô không có mưa, nhu cầu khai thác lại lớn, vì vậy khai thác nước dưới đất phải theo qui hoạch khai thác hợp lý.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:green;font-size:10pt"><strong>TÀI NGUYÊN DU LỊCH</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đồng Nai có nhiều di tích lịch sử, văn hoá và các điểm du lịch có tiềm năng: Khu Văn miếu Trấn Biên, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, khu du lịch Bửu Long, khu du lịch ven sông Đồng Nai , Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, làng bưởi Tân Triều, Thác Mai - hồ nước nóng , Đảo Ó... </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đến Đồng Nai du khách sẽ có dịp tham gia những chuyến du lịch sinh thái trong các khu rừng hoặc vườn cây ăn quả, câu cá, du thuyền trên sông Đồng Nai, dã ngoại tại các thắng cảnh: hồ Long ẩn, khu văn hoá Suối Tre, thác Trị An, rừng Mã Đà,... hay tham quan các di tích lịch sử, văn hóa: chiến khu Đ, Văn miếu Trấn Biên, nghiên cứu các di chỉ khảo cổ: mộ cổ Hàng Gòn, đàn đá Bình Đa.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:green;font-size:10pt"><strong>TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Kim loại:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Vàng: Đến nay đã phát hiện 17 mỏ, điểm quặng và khoáng hoá. Tập trung chủ yếu ở phía bắc Tỉnh. Có 2 mỏ nhỏ ở Hiếu Liêm và Vĩnh An rất có triển vọng. Còn lại là các điểm quặng chưa được đánh giá đầy đủ ở: Suối Ty, Suối Nho, Tam Bung, Suối Sa Mách, lâm trường Vĩnh An, lâm trường La Ngà, lâm trường Hiếu Liêm.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Nhôm (Quặng bauxit): Mới phát hiện 2 mỏ ở DaTapok (lâm trường Mã Đà) và lâm trường La Ngà, diện tích khoảng 1.120ha, tuy nhiên đã thuộc vào vùng cấm (rừng Nam Cát Tiên) trên 2/3 diện tích. Trữ lượng ước đạt khoảng 450 triệu m<sup>3</sup>.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Thiếc: Chỉ gặp dưới dạng vành phân tán khoáng vật. Các vành này có diện rộng nhưng hàm lượng thấp không có ý nghĩa tìm kiếm. Tập trung ở núi Chứa Chan, Suối Rét, Suối Sao, và sông Gia Ray.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Chì kẽm đa kim: Được phát hiện ở núi Chứa Chan.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Không kim loại:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Kao lin: Đã phát hiện 10 mỏ, chủ yếu là các mỏ nhỏ và các điểm quặng. Tập trung chủ yếu ở Phước Thiền, Hang Nai, Phước Thọ, Tam Hòa, Tân Phong, Bình Ý, Thạnh Phú.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Sét màu: Đến nay đã phát hiện 9 điểm quặng ở khu vực Long Bình Tân, Xuân Khánh và Xuân Lộc. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đá vôi: Chỉ mới phát hiện 2 điểm ở Tân Phú và Suối Cát.. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Thạch anh mạch: Phân bố rải rác, chỉ mới phát hiện 1 điểm ở Xuân Tâm (huyện Xuân Lộc).</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Thạch anh mạch được sử dụng trong luyện kim.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đá xây dựng và ốp lát: Đá xây dựng. 24 mỏ đang khai thác, tập trung ở Biên Hòa, Thống Nhất, Trảng Bom, Long Thành, Vĩnh Củu, Định Quán, Nhơn Trạch, Xuân Lộc.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Cát xây dựng: Chủ yếu trên sông Đồng Nai từ ngã ba Tân Uyên đến ngã ba mũi đèn đỏ, đã được thăm dò đánh giá trữ lượng. Ngoài ra trong các sông suối nhỏ đều có cát ở khu vực Định Quán, Tân Phú đặc biệt là trong lòng hồ Trị An.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Cát san lấp: Phước An (Đồng Mu Rùa, Gò sim…), Sông Nhà Bè, Đồng Tranh.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Sét gạch ngói: Khá phong phú, phân bố chủ yếu Thiện Tân, Thạnh Phú (huyện Vĩnh Cửu), Long An, Long Phước (huyện Long Thành).</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Keramzit: Phân bố ở Đại An và Trị An với trữ lượng ước tính khoảng 8 triệu tấn.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Puzolan: Rất phong phú, tập trung ở Định Quán, Long Thành và 1 ít ở Cây Gáo, Gia Kiệm (Thống Nhất) và Vĩnh Tân (Vĩnh Cửu).</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Laterit: Khá phổ biến. Tập trung ở Vĩnh Cửu, Biên Hoà, Long Thành và nhơn Trạch.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Đá quý và báu quý: Quy mô nhỏ, không có triển vọng khai thác công nghiệp.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Ziricon: Gia Kiệm, Núi Lá, Tân Phong</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Saphia: Cầu La Ngà, phía nam Tân Phong, Gia Kiệm.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Pyrop-ziricon.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Opan-canxedoan: núi Chứa Chan.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Tecfic: bắc Tài Lài.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Nước khoáng, nước nóng và nước ngầm gồm: </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước khoáng - nước nóng: ở Phú Lộc và Kay</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước khoáng Magie – bicarbonat: ở suối Nho</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước khoáng siêu nhạt: ở Tam Phước và Nhơn Trạch</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước khoáng sắt: ở phía Nam Thành Tuy Hạ</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước mặn loại Clorua – Natri: ở Nam Tuy Hạ</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước ngầm: Biên Hoà, Long Thành, Nhơn Trạch trên thung lũng các sông Đồng Nai, La Ngà.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:green;font-size:10pt"><strong>TÀI NGUYÊN RỪNG</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động thực vật phong phú đa dạng, tiêu biểu là vườn Quốc gia Nam Cát Tiên. Năm 1976, tỷ lệ che phủ của rừng còn 47,8% DTTN, năm 1981 còn 21,5%. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Năm 2004 độ che phủ rừng là 26,05% tổng diện tích tự nhiên, có khu bảo tồn thiên nhiên vườn quốc gia Nam Cát Tiên, với nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Với việc triển khai thực hiện chương trình trồng rừng và quy hoạch này, có thể dự báo tỷ lệ che phủ (bao gồm cả cây công nghiệp dài ngày) sẽ tăng lên đạt 45-50% trong thời kỳ đến năm 2010.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="color:#cc0000;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Diện tích các loại rừng:</strong></span></p></td></tr></tbody></table></div><p> 
 </p><div style="text-align:center"><table style="border-collapse:collapse" border=0><colgroup><col style="width:143px"><col style="width:170px"><col style="width:172px"><col style="width:146px"></colgroup><tbody valign=top><tr><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Loại rừng</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tổng diện tích (ha)</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rừng tự nhiên (ha)</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rừng trồng (ha)</span></p></td></tr><tr><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rừng đặc dụng</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">82.795,5</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">80.520,4</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">2.275,1</span></p></td></tr><tr><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rừng phòng hộ</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">44.144,2</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">21.366,8</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">22.777,4</span></p></td></tr><tr><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rừng sản xuất</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">26.646,3</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">8.406,4</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">18.239,9</span></p></td></tr><tr><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tổng cộng</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">153.586,0</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">110.293,6</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">43.292,4</span></p></td></tr></tbody></table></div><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>GIAO THÔNG</strong></span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Đồng Nai đã có bước tiến nhanh trong đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông, nhất là giao thông đường bộ. Hệ thống quốc lộ với tổng chiều dài 244,5 km đã và đang được nâng cấp mở rộng thành tiêu chuẩn đường cấp I, II đồng bằng (QL1, QL51), cấp III đồng bằng như QL 20 (tuyến đi Đà Lạt, trên địa bàn tỉnh dài 75km đã được trải thảm lại mặt đường). Hệ thống đường bộ trong tỉnh có chiều dài 3.339 km, trong đó gần 700km đường nhựa. Ngoài ra, hệ thống đường phường xã quản lý, đường các nông lâm trường, KCN tạo nên 1 mạng lưới liên hoàn đến cơ sở, 100% xã phường đã có đường ô- tô đến trung tâm.</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Theo quy hoạch trong tương lai gần, hệ thống đường cao tốc đi Bà Rịa - Vũng Tàu và TP. Hồ chí Minh, hệ thống đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu, nâng cấp tỉnh lộ 769 nối quốc lộ 20, quốc lộ 1 với quốc lộ 51... sẽ tạo nên một mạng lưới giao thông hoàn chỉnh, phục vụ nhu cầu phát triển KTXH địa phương và khu vực..</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>HỆ THỐNG CẢNG ĐỒNG NAI</strong></span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Cảng Long Bình Tân trên sông Đồng Nai: cách quốc lộ 1, phía bên phải hướng từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Hà Nội 800 mét; công suất 460.000 T/năm với tàu 2000 GRT đã xây xong và đã đa vào khai thác một cầu cảng 60m, một bến xà lan; Tương lai, sau khi nạo vét luồng: 5.000 DWT. Văn phòng chính đặt tại Phường Long Bình Tân, Thành phố Biên Hòa. Điện thoại: 84.61.83225/ 831439 - Fax: 84.61.831259. </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Cảng Gò Dầu A trên sông Thị Vải: cách quốc lộ 51, phía bên phải hướng từ Biên Hòa đi Vũng Tàu 2 km. Hiện tại, cỡ tàu lớn nhất tiếp nhận được khoảng 2.000 GRT; tương lai sau khi nạo vét luồng là 10.000 DWT. Văn phòng phân cảng đặt tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Điện thoại: 84.61.827328 - Fax: 84.61.841252. </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Cảng Gò Dầu B trên sông Thị Vải: cách quốc lộ 51, phía bên phải hướng từ Biên Hòa đi Vũng Tàu 2,5 km; đã đưa vào khai thác và sẽ nâng cấp lên đạt công suất thiết kế 10 triệu tấn/năm, 2 bên có khả năng tiếp nhận tàu 15.000 DWT. Văn phòng phân cảng đặt tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Điện thoại: 84.61.841599 - Fax: 84.61.816790. </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Ngoài ra, đang tiến hành lập dự án các Cảng Phú Hữu, Cảng Phước An. Giám đốc Cảng Đồng Nai: Ông Nguyễn Mạnh Tiến. Mobile phone: 091.942.248.</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Các dịch vụ chính là đại lý hàng hải, bốc xếp, kho hàng, giao nhận vận tải. Sản lượng hàng hóa thông qua các cảng đã đạt 700.000 tấn/năm. Dự kiến nâng sản lượng hàng hóa thông qua cảng lên 25 - 30 triệu tấn/năm. </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>HỆ THỐNG ĐƯỜNG SẮT QUỐC GIA ĐI QUA TỈNH</strong></span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đồng Nai có hệ thống đường sắt quốc gia đi qua tỉnh vời tổng chiều dài là 87,5 km với 12 ga: Gia Huynh, Trảng Táo, Gia Ray, Bảo Chánh, Xuân Lộc, An Lộc, Dầu Giây, Bàu Cá, Trảng Bom, Long Lạc, Hố Nai và Biên Hoà. </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Tuyến đường sắt này là mạch máu giao thông quan trọng nối tỉnh Đồng Nai với miền Bắc và TP. Hồ Chí Minh.</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:gray;font-size:10pt"><strong><em>THKC biên tập theo số liệu từ Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai cung cấp</em></strong></span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Vị trí địa lý tỉnh Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 25/06/2010 2:28 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 14.953</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Vị trí địa lý tỉnh Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 19:28:10 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=179</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chiến khu Đ – vùng đất huyền thoại lịch sử</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=14</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass8FA9E0DDBBFF46F8BE20067EFE71380E>
<div><b><font color="#666666" size=2>Mảnh đất “lam sơn trướng khí hội tụ anh hùng”</font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Qua hết con đường nhựa, xe chạy dọc con đường đất đỏ quanh co đưa chúng tôi đến với căn cứ Khu uỷ miền Đông (là một trong những căn cứ nằm trong căn cứ địa chiến khu Đ). Đọc cuốn tài liệu “Di tích lịch sử Căn cứ khu uỷ miền Đông Nam Bộ (chiến khu Đ)” mà chị Lan Hương, tổ trưởng tổ thuyết minh khu di tích đưa cho và nghe chị hướng dẫn, được xem những thước phim tư liệu của một thời hùng tráng nơi đây, chúng tôi cùng bồi hồi trong niềm tự hào xúc động hình dung về lịch sử cách đây 60 năm.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Từng là căn cứ đầu tiên của tỉnh Biên Hòa được xây dựng vào tháng 2-1946, sau Hội nghị cán bộ quân sự ở Lạc An, huyện Tân Uyên (nay là xã Lạc An, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) với địa thế hiểm trở của phần đất cuối cùng chuyển tiếp của dãy Trường Sơn xuống vùng đồng bằng, chiến khu Đ chính thức trở thành trung tâm lãnh đạo phong trào cách mạng miền Nam và được mở rộng bao trùm toàn bộ vùng rừng ngang đường 16, trải dọc lưu vực hữu ngạn sông Đồng Nai, đổ về thượng nguồn giáp giới Sông Bé. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp các cơ quan, đơn vị ta tại Chiến khu Đ đã vượt qua nhiều khó khăn: nào thiên tai (đặc biệt là cơn bão lụt khốc liệt năm Nhâm Thìn 1952), nào địch họa do càn quét, đánh phá bằng bom đạn, phá hoại kinh tế, gài do thám chỉ điểm, biệt kích... đã giữ vững căn cứ địa cách mạng, đóng vai trò hậu phương tại chỗ của miền Đông, là bàn đạp để lực lượng ta tiến công vào các cơ quan đầu não, căn cứ quân sự, kho tàng, đường giao thông chiến lược của địch, góp phần vào thắng lợi chung của quân dân cả nước, đưa đến việc ký Hiệp định Giơnevơ năm 1954.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại, vùng chiến khu Đ tiếp tục được mở rộng bao gồm toàn bộ cao nguyên miền Trung và biên giới Campuchia, được coi là vùng “tam giác sắt” nối liền từ chiến khu rừng Sác, Dầu Tiếng, Xuyên Mộc, Phước Cơ đến căn cứ Củ Tri, Bến Cát và được coi là thủ đô kháng chiến của dân tộc với nhiệm vụ chính của mình là trung tâm tâm lãnh đạo cách mạng miền Nam, là nơi xây dựng các binh đoàn chủ lực, đào tạo, huấn luyện cán bộ, chiến sĩ. Trong lòng chiến khu cách mạng ngày càng mở rộng, nhiều căn cứ được hình thành và phục vụ đắc lực cho phong trào cách mạng miền Đông Nam Bộ. Căn cứ khu uỷ miền Đông Nam Bộ, nơi chúng tôi đang đứng chân nơi đây được xây dựng vào năm 1962, thuộc địa phận phân trường 6, Lâm trường Hiếu Liêm, xã Trị An, huyện Vĩnh Cửu để đảm nhận nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng trên địa bàn khu. Căn cứ địa toạ lạc giữa đỉnh đồi đất sỏi khá bằng phẳng với diện tích hơn 28ha. Toàn bộ khu đồi được bao phủ bởi rừng cây dày đặc trong hệ thống rừng miền Đông với hệ thống giao thông hào, hệ thống địa đạo liên hoàn và hệ thống nơi làm việc, trú ẩn của lãnh đạo Khu uỷ và các cơ quan trực thuộc. Tại khu căn cứ này, Khu uỷ miền Đông đã đứng chân trong suốt thời gian dài lãnh đạo cách mạng (1962-1967), góp phần làm nên những chiến thắng Phước Thành, Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Sắn…chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"> Là nơi đào tạo, nuôi quân, là cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam, Chiến khu Đ cũng chính là một trong 3 mũi giáp công, là bàn đạp tấn công vào cửa ngõ Sài Gòn theo hướng Đông Bắc. Vì thế mà Mỹ - nguỵ đã ra sức tìm cách tàn phá nơi đây. Song mảnh đất chiến khu Đ vẫn anh dũng vượt qua bao khắc nghiệt của bom Napan, của chất độc hoá học, những trận càn quét khốc liệt của địch trở thành “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, xứng đáng là nơi hội ngộ của những anh hùng trên khắp mọi miền đất nước, những người vì cuộc kháng chiến của dân tộc mà đến và cũng từ đây mà ra đi, nơi tụ hội trí khí, niềm tin thiêng liêng của cả dân tộc, làm nên đại thắng mùa xuân 1975, hoàn thành cuộc trường chinh cứu nước vĩ đại.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><b><i>* Chiến khu Đ trong tương lai: Hành trình về nguồn</i></b></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Đoạn đường từ xã Phú Lý đến di tích Khu uỷ miền Đông - Chiến khu Đ hôm nay đã có nhiều đổi thay. Đi trên con  đường trải nhựa láng mướt, hoà mình trong không khí mát lành giữa cây rừng xanh bạt ngàn, chúng tôi mới càng thấm thía và cảm nhận hết được sức sống phi thường của thiên nhiên cũng như con người nơi đây khi phải oằn mình suốt mấy mươi năm trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ trường kỳ, gian khổ để cất vang khúc khải hoàn chiến thắng mùa xuân năm 1975 và để hôm nay mảnh đất, tình người chiến khu xưa lại giang rộng vòng tay đón chào các thể hệ cháu con trong những chuyến du lịch về nguồn…</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Nơi đây có một di tích và truyền thống lịch sử hào hùng, chính vì điều đó trong những năm qua đã có rất nhiều những cuộc du lịch tìm về nguồn giúp các thế hệ thanh niên tìm hiểu về mảnh đất và con người nơi chiến khu Đ, tìm hiểu về lịch sử nơi đã trở thành thành trì kiên cố bảo vệ an toàn cho cán bộ và nhân dân các tỉnh miền Đông Nam bộ suốt 2 cuộc kháng chiến và đồng thời cũng giáng cho quân thù những trận đòn chí tử. Trong vòng 3 năm trở lại đây đã có trên 70 ngàn lượt du khách đến thăm quan Căn cứ Khu uỷ miền Đông Nam bộ - chiến khu Đ. Hiện nay, di tích Căn cứ Khu ủy miền Đông đã được tôn tạo, trùng tu và được công nhận là Di tích lịch sử Quốc gia. Trong hướng quy hoạch chung, di tích Căn cứ Khu ủy miền Đông cùng với hệ thống di tích địa đạo Suối Linh, di tích Căn cứ Trung ương cục miền Nam, khu công viên lịch sử văn hoá miền Đông Nam bộ trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu sẽ trở thành một địa điểm sinh hoạt văn hóa truyền thống lý thú, du lịch sinh thái hấp dẫn. Theo như dự án Trung tâm sinh thái – văn hóa - lịch sử Chiến khu Đ, sẽ có đến 73% diện tích dành cho cây xanh và mặt hồ, với 7 hạng mục công trình: tượng đài trung tâm, di tích 9 tỉnh miền Đông, bảo tàng Chiến khu Đ, sân lễ hội, khu hành chính, cây xanh và hồ nước, bãi đậu xe. Mọi sự tôn tạo, trùng tu, xây mới sẽ được thực hiện trên nguyên tắc bảo vệ nguyên hiện trạng lịch sử, tôn trọng yếu tố tự nhiên và bảo vệ rừng sinh thái đầu nguồn thủy điện Trị An. Ngoài mục tiêu tôn vinh các dự tích lịch sử và giáo dục truyền thống lịch sử, truyền thống cách mạng cho lớp thế hệ con cháu, dự án còn nỗ lực tạo sức bật mới cho ngành du lịch Đồng Nai trong thời kỳ mới.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Ông Phạm Thanh Sơn – Phó Giam đốc Khu bảo tồn thiên nhiên và di tích huyện Vĩnh Cửu cho biết thêm: Trung tâm sinh thái – văn hóa - lịch sử Chiến khu Đ sẽ có điểm nhấn kết hợp với các quần thể di tích. Khi du khách đến tìm hiểu lịch sử, sẽ được thăm quan nhiều nơi khác như: tìm hiểu lễ hội và sinh hoạt văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Châu Ro, thăm quan Bãi đá dựng - Suối Linh, thác Bàng, Di chỉ khảo cổ Lò gốm cổ ở trạm 3 xã Hiếu Liêm có niên đại cách đây 2500 – 3000 năm, nhà máy thủy điện Trị An… Kết hợp với các địa điểm này, là các dịch vụ phục vụ ăn uống, vui chơi giải trí cho du khách gắn với văn hóa ẩm thực của chiến khu Đ: canh lá rừng, khoai mì, cá tào đồi, măng rừng… Bên cạnh đó, khi mà khu du lịch này được đầu tư quy mô, các nghề truyền thống của đồng bào dân tộc sẽ có điều kiện phát triển để phục vụ khách du lịch như: mây – tre đan, gùi , dệt thổ cẩm…</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Trở lại chiến khu Đ trong những chuyến du lịch về nguồn như vậy giúp chúng ta tìm hiểu lịch sử hào hùng và oanh liệt của vùng đất “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, từng là nỗi kinh hoàng của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Vùng đất chiến khu Đ ngày ấy và bây giờ sẽ mãi tỏa sáng ngọn lửa truyền thống, cháy rực “hào khí miền Đông” trên bước đường xây dựng tương lai…</div>
<div style="line-height:150%"><b><i>        Hương Sen – Lê Lan</i></b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:10 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.518</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:14:25 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=14</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Đồng Nai: Báo động về rác thải ở Biên Hòa</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=73</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass1FBE9AB562524CA59CF4B91D99E98BC2>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Lý giải về vấn đề này, một số cán bộ ngành chức năng nói: dân số đông, ý thức của người dân chưa cao, tốc độ đô thị hóa nhanh đôi khi phải chấp nhận ô nhiễm. Thực tế cho thấy, tại các phường như: Quyết Thắng, Thanh Bình, Hòa Bình... mật độ dân  số cao, dịch vụ phát triển mạnh, nhưng người dân chấp hành khá tốt vệ vệ sinh môi trường. Việc thu gom rác thải đã trở thành một thói quen của tất cả các gia đình. Kết quả này là do quản lý, giám sát vệ sinh chặt chẽ thường xuyên mang tính bắt buộc của các phường trung tâm - bộ mặt của thành phố. Rõ ràng, công tác quản lý tốt, duy trì lâu dài mới tạo thành thói quen cho người dân làm tốt vệ sinh môi trường. Nếu chỉ đổ lỗi cho ý thức và dân số đông là cơ bản thì hẳn chưa thực sự thuyết phục. </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Những nơi chưa thực hiện nghiêm túc việc thu gom rác thải, cố tình sai phạm trong công tác vệ sinh môi trường thường là nơi xa trung tâm, quy hoạch dân cư yếu kém, chính quyền cơ sở và ngành chức năng thiếu kiểm tra giám sát. Các chất thải sinh hoạt, chất thải sản xuất công nghiệp được mang đổ tại các bãi tạm, vùng đất trống, thưa vắng dân cư mà không qua xử lý đã đến lúc báo động. Điển hình là các phường Trảng Dài, Tân Phong, Hố Nai chưa làm tốt công tác vệ sinh môi trường. Tại ven các đường hẻm, khu đất trống được các cơ sở may gia công, sản xuất đồ gỗ, nhựa đổ các chất thải khó phân hủy tràn lan. Tình trạng ô nhiễm đã kéo dài nhiều năm, nhưng bà con bất lực vì không có quyền ngăn cản người sai phạm.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Hiện nay thành phố Biên Hòa có một số bãi rác nhưng hiệu quả xử lý và sử dụng chưa cao, trong tương lai gần sẽ quá tải. Bãi rác tại phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa mới đưa vào sử dụng khoảng 2 năm nhưng đang nằm trong &quot;danh sách đen&quot; về môi trường. Với quy mô và số lượng doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đang đà phát triển mạnh như hiện nay, sức chứa các chất thải của bãi rác này chỉ vài năm là quá tải. Bên cạnh đó, thành phố Biên Hòa là đô thị loại II, có trên 600 ngàn dân, lượng rác thải sinh hoạt hiện mới  thu gom và xử lý được khoảng 60%. Như vậy, nếu tính trung bình mỗi ngày một người dân thải 0,7 kg rác, thì số lượng rác tồn đọng là rất lớn.  Dư luận cũng cho rằng việc xây dựng bãi rác chôn lấp chất thải rắn, rác thải sinh hoạt phải vượt ra khỏi phạm vi thành phố để tránh gây ô nhiễm. Mặt khác việc đầu tư các hệ thống, nhà máy xử lý nước thải trung tâm cho các khu công nghiệp cần sự nghiên cứu tổng thể của các nhà khoa học, các nhà chuyên môn, sao cho thật hiệu quả và hợp lý. Một số nhà máy khu công nghiệp của huyện Nhơn Trạch thời gian qua đã từ chối việc đấu nối đường ống nước thải vào hệ thống xử lý nước thải trung tâm, cho thấy việc triển khai giữa các đơn vị thiếu tính đồng nhất, đồng bộ, là một bài học kinh nghiệm.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Trước những vấn đề bức xúc về nạn rác thải, thành phố Biên Hòa cần có cơ chế buộc mỗi đơn vị có trách nhiệm tự xử lý các loại chất thải theo mục tiêu thân thiện với môi trường; khuyến khích các doanh nghiệp tái tạo lại chất thải để sản xuất sản phẩm hữu ích. Cách làm này Nike và các nhà máy đối tác chuyên sản xuất giày và dụng cụ thể thao trên địa bàn tỉnh từng áp dụng thành công nên rất cần nhân rộng.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"> Nguyễn Trọng Lịch<br></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/12/2007 11:50 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Tình trạng đổ rác thải không đúng nơi quy định trên địa bàn thành phố Biên Hòa (Đồng Nai) đang diễn ra phổ biến. Mặc dù đã được các cơ quan báo chí và người dân phản ánh nhiều nhưng các ngành chức năng chưa có biện pháp kiên quyết giáo dục và răn đe. Công tác thu gom rác chưa được giải quyết triệt để, nên các loại chất thải đổ tràn lan gây mất mỹ quan, ô nhiễm môi trường. Trong những cơn mưa đầu mùa như hiện nay, người ta có thể bắt gặp ở rất nhiều kênh, mương tại Biên Hòa rác thải khó phân hủy đổ thành bè, theo dòng nước đổ ra sông Đồng Nai- nơi cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho hàng triệu người các tỉnh khu vực phía Nam.</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.723</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 19:00:45 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=73</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Vài kinh nghiệm về quản lý và xử lý nước thải trong các khu công nghiệp</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=72</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassFE75FB3330054213A70C26A7CDE59545>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Do có nhiều khó khăn khác nhau trong quá trình xây dựng và phát triển mà hiện nay công tác quản lý và xử lý nước thải tại các khu công nghiệp nước ta nói chung chưa được tốt. Theo thống kê chưa đầy đủ, trong 134 KCN, KCX trên cả nước thì chỉ có 33 khu có trạm xử lý nước thải tập trung. Trong số đó, có 30% không đáp ứng đủ công suất, một số khác chất lượng xử lý chưa đảm bảo.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Ở một số địa phương phát triển mạnh khu công nghiệp, ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm về nước thải đang ở trong tình trạng báo động và trước năm 2002, Khu công nghiệp Suối Dầu (Khánh Hòa) cũng không là trường hợp ngoại lệ. Mang đặc điểm chung của một tỉnh duyên hải, ngành sản xuất phổ biến trong KCN Suối Dầu là chế biến thuỷ sản và chất thải chủ yếu là nước thải công nghiệp.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Trong giai đọan đầu mới thành lập, do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau mà công tác quản lý nước thải trong KCN Suối Dầu còn kém nên đã có ảnh hưởng xấu đến môi trường dân cư lân cận. Nước thải theo mương, lạch chảy qua vùng dân cư đã ảnh hưởng xấu đến đời sống của nhân dân: bay mùi hôi làm ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước các giếng sát lạch, làm chết cá ở các hồ nuôi cá, đồng ruộng nơi nước thải chảy qua lúa xanh tốt nhưng lép hạt v.v…Lượng nước thải ra hàng ngày trong mùa vụ tại KCN Suối Dầu có thể lên tới 3.000 m3. Nước thải rất bẩn, có mùi hôi thối đậm đặc, thông thường khi chưa xử lý có các thông số như sau:                                 </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">pH: 6,5 - 8,0</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">SS : 200-400 mg/l</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">BOD 5 : 1000-1300 mg/l</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">COD : 1500 – 2000 mg/l</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Tổng N: 70 – 100 mg/l</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Tổng P: 30 – 50 mg/l </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Dầu mỡ: 25-30 mg/l </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Đặc biệt, các doanh nghiệp chế biến phế liệu thủy sản có nưóc thải rất bẩn , chỉ số COD có thể lên đến 15.000-18.000 mg/l .</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Tình trạng trên là do các nguyên nhân chủ yếu:</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Công tác quản lý môi trường của các cơ quan chức năng chưa theo kịp sự phát triển sản xuất nói chung và tại các khu công nghiệp nói riêng. Việc đăng ký đảm bảo môi trường của các doanh nghiệp được thực hiện cho đủ thủ tục để được cấp giấy phép đầu tư chứ chưa thực hiện đúng theo cam kết, cơ quan quản lý lại thiếu kiên quyết . Khi tiến hành đầu tư xây dựng KCN và các nhà máy trong KCN, chủ đầu tư chưa nhận thức đúng mức và trong điều kiện khó khăn về vốn nên chưa chú trọng đầu tư cho công tác quản lý và xử lý nước thải, khi xảy ra ô nhiễm thì không có khả năng ngăn chặn kịp thời trong khi phải tiếp tục sản xuất để tránh thiệt hại lớn về kinh tế. Thậm chí, để duy trì sản xuất nhiều lúc doanh nghiệp cố tình thải trộm nước bẩn vào môi trường bằng nhiều hình thức tinh vi, kín đáo, khó phát hiện .</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"> - Các doanh nghiệp đã sản xuất nhưng chưa có trạm xử lý nước thải nội bộ hoặc có nhưng không đủ công suất hoặc hiệu quả xử lý kém (theo quy định tại KCN Suối Dầu các cơ sở sản xuất phải xử lý nước thải đạt lọai B trước khi thải vào hệ thống nước thải chung KCN ). Bên cạnh đó, đội ngũ công nhân vận hành còn kém, cán bộ quản lý kỹ thuật mới tiếp xúc với công nghệ chưa có kinh nghiệm nên sự cố kỹ thuật trạm xử lý nước thải thường xuyên xảy ra, chất lượng nước thải sau xử lý không được bảo đảm . </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">- Giai đoạn thi công các nhà máy không có quy họach chi tiết, không tổ chức giám sát thi công chặt chẽ nên hệ thống thu gom nước thải và hệ thống thu gom nước mưa bố trí tùy tiện, dẫn đến không thu gom được hoặc hệ thống này thu gom lẫn lộn nước của hệ thống kia.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Từ năm 2002 đến nay công tác quản lý nước thải ở khu công nghiệp Suối Dầu (Khánh Hòa) đã thu được kết quả tốt. Chúng tôi đã tiến hành nhiều biện pháp để củng cố công tác bảo vệ môi trường và qua quá trình thực hiện, chúng tôi rút ra một số kinh nghiệm, xin được giới thiệu như sau:</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">1- Gấp rút xây dựng và đưa vào vận hành Trạm xử lý nước thải trung tâm để tiếp nhận và tiếp tục xử lý nước thải từ các nhà máy đạt lọai A ( TCVN 5945-1995) trước khi thải ra môi trường. Việc lựa chọn quy mô, công nghệ xử lý phải phù hợp với đặc điểm, sản lượng, tải lượng nước thải và năng lực tài chính .</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">- Nước thải tại KCN Suối Dầu đa phần là nước thải hải sản, cần áp dụng công nghệ xử lý chủ yếu là vi sinh hiếu khí, điều khiển bán tự động, chi phí đầu tư thấp mà vẫn đảm bảo năng lực xử lý ( 2,5 tỉ đồng/1000 m3 ).</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">- Năng lực xử lý 7.500 m3 /ngày, giai đoạn đầu chỉ xây dựng 5.000 m3 /ngày, chia thành 2 đơn nguyên, đầu vào là nước thải loại C. Tuy đã quy định các doanh nghiệp phải xử lý nội bộ đạt B mới thải vào hệ thống chung, nhưng trong thực tế việc này khó thực hiện vì vậy ngay từ ban đầu phải thiết kế năng lực xử lý nước thải đầu vào là loại C.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">- Chia làm 3 đơn nguyên đấu song song: Nhằm phân kỳ đầu tư, giảm kinh phí ban đầu phù hợp tiến độ lấp đầy KCN và phù hợp với sự biến động sản lượng nước thải theo mùa vụ sản xuất. Mặt khác, trong trường hợp cần thiết có thể đấu nối tiếp 2 đơn nguyên để tăng cường chất lượng sau xử lý.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"> - Có hồ điều hoà trước khi thải ra môi trường : Tại đây có nuôi các loại bèo và nuôi thuỷ sản. Nước thải tiếp tục được phân hủy tại hồ, chỉ số COD, BOD, SS giảm đáng kể .</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"> - Có trang bị một số thiết bị và dụng cụ thí nghiệm để có thể tự xác định các chỉ số cơ bản như COD, BOD, SS, PH giúp cho việc chủ động điều tiết quá trình vận hành hệ thống cũng như thực hiện các giao dịch với đối tác trong KCN.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">- Bố trí bãi phơi bùn để thu hồi bùn thải làm phân bón. Cân nhắc việc trang bị máy ép bùn để giảm chi phí đầu tư và chi phí vận hành. Thực tế đối với Trạm xử lý cấp II thì lượng bùn thải ra là rất ít.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">2- Tiến hành ký kết hợp đồng đấu nối và xử lý nước thải với các Doanh nghiệp với các điều khỏan ràng buộc chặt chẽ trách nhiệm của đôi bên, nhằm đảm bảo cho việc thu phí thuận lợi và chế tài được vi phạm của doanh nghiệp . </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">- Mỗi DN phải có hố ga để lấy mẫu nước thải và bố trí phải đảm bảo cho việc lấy mẫu được thuận tiện và chính xác, có van khống chế khi cần thiết có thể khoá đấu nối vào hệ thống chung KCN.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">- Việc xây dựng giá xử lý trên cơ sở tính đủ chi phí nhưng phải có tính khuyến khích như sau:</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">+ Tính đủ chi phí cho nước thải đầu vào hệ thống xử lý trung tâm (đầu ra của hệ thống xử lý nội bộ doanh nghiệp) đúng loại như cam kết, cụ thể là loại B (TCVN5945-1995 ) .</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">+ Tính cao hơn chi phí thực tế đối với nước đầu vào có tải lượng COD cao ( loại C và các mức trên C), nhằm kích thích doanh nghiệp tăng cường xử lý nội bộ đồng thời Trạm xử lý tập trung có điều kiện thu thêm kinh phí một cách thuận lợi.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">- Có các chế tài khi doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết về thanh toán, tải lượng đầu vào, vị trí đấu nối … đặc biệt các trường hợp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">3 - Kết hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng nhất là với Sở TN&amp;MT và Ban QL các KCN tỉnh thực hiện các quy định của nhà nước về công tác bảo vệ môi trường như : Luật Bảo vệ môi trường, Quy chế bảo vệ môi trường Khu Công nghiệp, Quy chế kiểm soát môi trường của tỉnh, quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, đồng thời ban hành nội quy về quản lý môi trường trong KCN Suối dầu. Kiên quyết yêu cầu các doanh nghiệp phải có trạm xử lý nước thải nội bộ có đủ năng lực để xử lý sơ bộ trước khi thải về hệ thống chung KCN.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">4- Tăng cường công tác kiểm tra định kỳ và đột xuất, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các cơ sở thải nước bẩn ra môi trường. Hướng dẫn cho doanh nghiệp các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa sự cố. </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">- Thực hiện nghiêm túc quy định về bảo vệ môi trường, kiên quyết xử lý các vi phạm. áp dụng các chế tài như không cho thải vào hệ thống chung, ngừng cung cấp nước sạch, kiến nghị phạt hành chính, thậm chí đình chỉ họat động.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">- Đối với cơ sở mới thành lập phải hướng dẫn,kiểm tra ngay từ khi bắt đầu xây dựng đối với hệ thống thu gom nước mưa, thu gom nước thải và trạm xử lý nước thải nội bộ. Phải có sơ đồ phục vụ cho công tác vận hành và kiểm soát.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">5- Quản lý chặt chẽ quá trình hoạt động trạm XLNT trung tâm , kiểm soát quy trình vận hành, duy trì tình trạng kỹ thuật của hệ thống (máy móc-thiết bị, hệ thống ống, các bể chứa, chất lượng vi sinh), kiểm soát thường xuyên các chỉ số tải lượng đầu vào đầu ra, phát hiện sớm và xử lý kịp thời các sự cố kỹ thuật; thường xuyên củng cố, nâng cao nghiệp vụ và ý thức cho công nhân vận hành.</span></p>
<p style="text-align:right"><span style="font-size:x-small">     Đức Dũng - KCN Suối Dầu</span></p>
<p style="text-align:right"><span style="font-size:x-small">Theo nguồn khucongnghiep.com.vn<br></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/12/2007 11:45 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất, các lọai chất thải công nghiệp được thải ra ngày càng nhiều, là một hiểm họa lớn đối với môi trường sống của con người. Chính vì vậy, công tác bảo vệ môi trường cần phải chú trọng hàng đầu khi tiến hành sản xuất, đặc biệt đối với công tác quản lý và xử lý nước thải tại các khu công nghiệp.</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.672</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 18:59:54 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=72</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Đền thờ Nguyễn Tri Phương</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=88</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassEC786BFD32EF4467B9854498FC88F1AB>
<div><b><font color="#666666" size=2>Đền thờ Nguyễn Tri Phương tọa lạc bên hữu ngạn sông Đồng Nai thuộc địa phận phường Bửu Hoà, thành phố Biên Hoà (nguyên trước kia là làng Mỹ Khánh, dinh Trấn Biên). Xung quanh ngôi đình là cảnh cây, sông nước hữu tình, phía trước có rừng dương liễu ngày đêm vờn gió vi vu, phía trên có đường thiên lý Bắc - Nam (Quốc lộ I cũ) vượt qua sông Đồng Nai bằng cầu Gành, bao bọc phía sau là cả vành đai khu dân cư với vườn cây trái sum suê. Đền thờ Nguyễn Tri Phương như sống giữa vòng tay ấm áp niềm tin yêu kính trọng của người dân Biên Hoà - Đồng Nai. </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div> </div>
<div>Hiện hữu trong một không gian thoáng rộng nên thơ, đồng hành với thời gian nhiều biến cố, đền thờ Nguyễn Tri Phương trở thành một ấn tích đẹp đẽ, một biểu tượng thiêng liêng của con người Đồng Nai vốn có truyền thống thủy chung với tổ tiên. Tại đây, có ngôi miếu nhỏ tên là Mỹ Khánh đình được nhân dân địa phương dựng nên để thờ thần Thành hoàng bổn cảnh cầu xin mưa gió thuận hoà, cuộc sống ấm no hạnh phúc. Đến khoảng đầu thế kỷ XIX (1803), ngôi miếu được nhân dân sở tại xây dựng thành ngôi đền. Từ đó đến nay, ngôi đền đã nhiều lần được trùng tu và trở nên khang trang như hiện nay.</div>
<div>Tương truyền, vào năm 1861, nhân dân địa phương có thờ cụ Tán lý Định Biên Nguyễn Duy – một tướng tài được triều đình Nguyễn cử vào lo việc chống quân Pháp xâm lược. Trong trận đánh giặc Pháp tấn công đồn Chí Hoà, Nguyễn Duy tử trận “thi hài tan nát không phân biệt được, có người nhận ra dấu áo và đai lưng của ông bèn đem về chôn tạm ngoài cửa Đông thành Biên Hoà”. Về sau, vua Tự Đức giao cho danh tướng Nguyễn Tri Phương (anh ruột của Nguyễn Duy) đích thân trông coi việc cải táng, đưa quan cữu của Nguyễn Duy về quê Đường Long an táng. Sau khi cải táng, nhân dân Biên Hoà đắp lại chỗ cũ một ngôi mộ để thờ.</div>
<div>Năm 1873, khi danh tướng Nguyễn Tri Phương mất, để tỏ lòng ngưỡng mộ và thương tiếc vị anh hùng đã có công trong việc di dân lập ấp, mở mang lãnh thổ Đàng Trong, cùng với Nguyễn Duy làm vẻ vang thêm trang sử Biên Hoà, nhân dân tạc tượng Nguyễn Tri Phương và thờ ông tại đình. Từ đó, Mỹ Khánh đình được gọi là đền thờ Nguyễn Tri Phương.</div>
<div>Đứng ở phía tây của cầu Gành vượt qua sông Đồng Nai, nhìn xuống phía hữu ngạn, ta sẽ thấy một bức tranh hoành tráng mỹ lệ lung linh giữa trời nước mênh mông. Ngôi đền toạ lạc trên một khu đất rộng (khoảng 2.500m<sup>2</sup>), khá bằng phẳng, in bóng xuống dòng sông Đồng Nai giữa những cây cổ thụ và khu dân cư đông đúc. Mặt trước của đền nhìn ra sông Đồng Nai, theo hướng đông bắc. Bờ bên kia, Cù Lao Phố sầm uất với những vườn cây trái xanh tươi. Trước đền có khoảng sân rộng tráng xi măng, hai bên có bàn thờ Thần Nông và Đài chiến sĩ. Đền thờ Nguyễn Tri Phương được xây dựng theo lối kiến trúc hình chữ công (工) gồm ba phần: tiền đình, chánh điện và nhà khách. Xung quanh đền có hàng rào bảo vệ xây bằng gạch khá vững chắc. Họ tộc Nguyễn Tri tại Thành phố Hồ Chí Minh đã dựng bia khắc ghi công trạng của Nguyễn Tri Phương dựng trước sân đình.</div>
<div>Đền có diện tích 500 m<sup>2</sup>, mái lợp ngói vảy cá. Mặt trước của đền được đắp nổi với dòng chữ: <i>Mỹ Khánh đình</i> bằng chữ Hán và hai bên là cặp lý ngư hóa long, nhật nguyệt. Trên đỉnh cao của chánh điện trang trí hình lưỡng long tranh châu, hai bên có cặp phụng nghinh bằng gốm men xanh. Từ ngoài nhìn vào ta thấy sự uy nghi bề thế của ngôi đền. Ở giữa là các tấm bao lam bằng gỗ được điêu khắc đề tài hoa điểu, tứ linh rất công phu. Các bức liễn và hoành phi khắc chữ Hán, sơn son thếp vàng treo khắp cột và xà ngang theo chiều dài khu chánh điện. Trên hương án thờ thần, sự hiện diện của bộ áo mão, tương truyền vua ban cho Nguyễn Tri Phương khi đi kinh lược cùng bộ bát bửu bằng đồng đặt thẳng hai bên hàng cột chính làm tăng thêm sự trang nghiêm nơi tôn thờ.</div>
<div>Chánh điện của đền ngày đêm nhang khói nghi ngút, hai bên thờ tả ban, hữu ban liệt vị... Bàn hương án có điểm khắc lưỡng long triều nhật, mô típ hoa văn dây, hoa, lá được cách điệu rất tinh tế. Bàn La liệt bằng đá. Trước bàn thờ có đặt ngai gỗ chạm khắc tả hình đầu rồng, long vân sơn son thếp vàng tinh xảo. Chánh điện có tượng Nguyễn Tri Phương được tạc khắc bằng gỗ. Tương truyền, một bô lão ở địa phương nằm mộng thấy Đức Ông Nguyễn Tri Phương hiện về với áo mão lẫm liệt, vũ khí trong tay oai hùng, bèn chặt cây mít trước nhà tự tay tạc như hình trong mộng. Đó là bức tượng chính của đền hiện nay, cũng cần nói rõ tác giả bức tượng không hề là nhà điêu khắc.</div>
<div>Đền thờ Nguyễn Tri Phương đã được Bộ Văn hoá - Thông tin và Thể thao xếp loại di tích lịch sử cấp quốc gia, theo Quyết định số 97/QĐ, ngày 21 - 1 - 1992.</div>
<div>Đền thờ Nguyễn Tri Phương luôn được nhân dân địa phương và Ban quí tế trông coi gìn giữ ngăn nắp, sạch sẽ. Vào các ngày lễ, hội bao thiện tâm tín hữu tụ họp về đền dâng hương cầu phúc. Hàng năm, đền tổ chức lễ Kỳ yên rất long trọng. Lễ được tiến hành vào ngày 16 và 17 tháng 10 âm lịch. Lễ Kỳ yên được chuẩn bị rất chu đáo. Trước khi hành lễ, các vị hương chức lớn nhỏ đều hội tại đền để yết kiến thần thánh. Đến tối lễ bắt đầu từ lúc trăng lên cũng là khi con nước bắt đầu lớn. Lễ kéo dài trong hai ngày với những nghi thức tiến thần, diễn hành lễ bộ, tống phong... rất độc đáo và đẹp mắt. Dân trong làng cùng các nơi xa gần cùng các ban quí tế đình, đền trong vùng đến dự.</div>
<div>Trước anh linh ông, những người đến với lễ Kỳ yên như thoát khỏi bề bộn lo âu của đời thường, lòng người hướng về sự thanh cao, thiêng liêng, tưởng nhớ công lao, đức trọng của Nguyễn Tri Phương, tôn thờ ông là vị phúc thần của làng xã.</div>
<div>Với danh nhân Nguyễn Tri Phương, tài năng đức độ, cuộc đời và khí tiết của ông vẫn mãi sống toàn vẹn trong niềm tin kính của con người Đồng Nai. Một phần cuộc đời Nguyễn Tri Phương gắn với mảnh đất Biên Hoà nhưng sự đóng góp của ông rất quan trọng. Trang sử vẻ vang chống thực dân Pháp xâm lược trên mảnh đất thiêng này vinh dự gắn liền với tên tuổi Nguyễn Tri Phương.</div>
<div>Tháng 2 -1861, khi Gia Định thất thủ, đại bộ phận quân ta rút về lập tuyến phòng ngự ở Biên Hoà. Nguyễn Tri Phương đã củng cố trận tuyến phòng thủ và cho quân trấn giữ các nơi xung yếu. Ông cho quân đắp lũy ở Tân Hoa, Trúc Giang, Sông Ký, củng cố lũy Đông Giang, Phước Tứ và Đồng Môn. Ở pháo đài Phước Thắng và cửa Cần Giờ, ông điều quân canh giữ mặt biển. Trên sông Đồng Nai, Nguyễn Tri Phương cho đắp cản bằng đá ong để ngăn chặn tàu thuyền địch. Chỗ đắp cản quan trọng nhất là khúc sông Long Đại, độ phân nửa đường sông Nhà Bè – Biên Hoà. Hễ dưới sông có “cản” thì trên bờ có đồn lũy, bố trí đại bác. Một trong những bức tường cản còn lưu lại tới ngày nay là “cản” ở khúc sông trước đền thờ Nguyễn Tri Phương bây giờ.</div>
<div>Tương truyền khi Nguyễn Tri Phương rút quân về Biên Hoà, công việc phòng thủ đang gấp rút tiến hành thì triều đình có lệnh triệu hồi ông. Nhân dân Biên Hoà thương kính, tin yêu đã cản đầu ngựa, khẩn cầu ông ở lại đánh giặc cho đến cùng.</div>
<div>Sau đó, Nguyễn Tri Phương được triều đình điều ra trấn giữ thành Hà Nội. Trong một trận quyết chiến với kẻ thù, Nguyễn Tri Phương bị thương, con trai ông là Nguyễn Lâm hy sinh, thành Hà Nội bị thất thủ. Hòng mua chuộc ông, giặc Pháp đã đưa ông đi điều trị vết thương nhưng Nguyễn Tri Phương cương quyết cự tuyệt, hất bỏ thuốc men, cơm cháo, nêu cao tinh thần bất khuất, khí phách của mình. Ngày 20 -12 -1873 (tức 1 -11 - Ất Dậu), Nguyễn Tri Phương mất tại dinh Tổng đốc thành Hà Nội để lại niềm thương tiếc vô hạn đối với triều đình, binh sĩ và nhân dân. Sống oai hùng, chết oanh liệt, người dân Biên Hoà đã tôn vinh ông như một phúc thần tại đình Mỹ Khánh với niềm tin son sắt rằng chính ông làm cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà đem lại thịnh vượng cho xứ sở.</div>
<div>Sông Đồng Nai với những con nước rì rào vỗ bờ, rừng dương liễu trước đền vi vu mãi hát khúc anh hùng ca về những tấm gương quyết tử cho tổ quốc quyết sinh.</div>
<div>Hơn một thế kỷ trôi qua, cùng với hồn thiêng sông núi, oai linh tướng quân Nguyễn Tri Phương như vẫn còn quanh đây trong suốt cuộc trường chinh đánh đuổi thực dân, đế quốc giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Khí phách anh hùng và tấm gương trung trinh của Nguyễn Tri Phương – cũng như nhiều thế hệ họ tộc của ông – đã làm chói loà đạo lý xả thân vì độc lập tự do cho Tổ quốc, mãi được lịch sử khắc ghi, là niềm kiêu hãnh của người dân Việt trong quá khứ, hiện tại và cho cả mai sau.</div>
<div align=right><b>Đỗ Bá Nghiệp - Phan Đình Dũng</b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:20 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.179</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:21:33 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=88</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Mộ và đền thờ Đoàn Văn Cự</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=93</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass44A0169BB21649EB8A61B3029BEA8265>
<div><b><font color="#666666" size=2>Đây là di tích lịch sử danh nhân có giá trị ở Đồng Nai, gồm hai phần: mộ và đền thờ. Phần mộ là nơi an táng Đoàn Văn Cự, thủ lĩnh hội kín Thiên Địa hội ở Biên Hoà và 16 nghĩa binh tử vong trong trận tấn công của Pháp vào bưng Kiệu năm 1905. Đây cũng là nơi mà lúc sinh tiền Đoàn Văn Cự xây dựng căn cứ kháng chiến. Mộ tọa lạc trên khu bình địa tổng kho Long Bình, phường Long Bình, cách trung tâm thành phố Biên Hoà 8km đường chim bay. Nguyên thủy chỉ là nấm mồ chôn cất đơn sơ, năm 1956 và 1990 được nhân dân trùng tu lại theo lối xây cất mới. Mộ hình chữ nhật, dài 16,5m; rộng 2m; cao 0,5-0,75m. Phía sau là ngôi miếu nhỏ thờ hương hồn Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh, bài trí đơn giản. Khu mộ được bảo vệ bởi hai vòng rào bằng gạch, có cổng ra vào. Gần như bao quanh khu mộ là dòng Linh Tuyền, tiếng nước róc rách suốt ngày đêm đưa hồn các tử sĩ vào cõi vĩnh hằng. </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div>Tại phường Tam Hiệp, trên Quốc lộ 15, một ngôi đình cũng được xây cất từ năm 1956 làm chỗ thờ Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh, cách phần mộ khoảng 1km về hướng đông bắc 64 độ. Đền tọa lạc trên khu đất bằng phẳng, rộng 3.000m<sup>2</sup>, kiến trúc theo kiểu chữ tam (三), gồm hai phần chính: nhà võ ca và chánh điện.</div>
<div>Nhà võ ca chiếm diện tích 303,75m<sup>2</sup>, đối diện với đền thờ chính. Bên trong có sân khấu nhỏ dùng để hát bội trong những dịp lễ đền. Mặt sân khấu đối diện với chánh điện.</div>
<div>Trước khi vào chánh điện phải qua nhà bái. Đây là nơi khách thập phương ra vào hành lễ, diện tích 75,465m<sup>2</sup>, mái lợp ngói móc, nền cao 0,5m xây bằng đá ong lót gạch bông, được chia làm ba gian, mỗi gian đều có bàn hương án. Trước đền có cặp lý ngư hoá long chầu mặt trời, biểu tượng cuốn thư cây giáo, hai bên là hai con rồng bằng gốm men xanh.</div>
<div>Nối tiếp nhà bái là chánh điện, diện tích 129,87m<sup>2</sup> gồm bốn mái lợp ngói móc, trên nóc có cặp rồng chầu pháp lam, chia thành ba gian bởi những hàng cột gỗ sao, trên cột đều có liễn đối. Gian chính giữa thờ thần, bàn hương án bằng gỗ khắc chạm rồng chầu mặt trời, chim muông... được sơn son thếp vàng, hai bên là hàng bát bửu. Hai gian bên thờ tả hữu ban liệt vị. Dọc mặt tường tả hữu thờ Tiền hiền, Bạch mã, Tiên sư, Thổ công.</div>
<div>Phía sau chánh điện là nhà khách và nhà bếp. Nơi đây dùng để tiếp khách và nấu ăn trong những ngày lễ trọng.</div>
<div>Đáo lệ hàng năm, đến ngày 8 tháng 4 âm lịch, nhân dân địa phương thiết lễ giỗ bằng một độ tế rất long trọng, tưởng nhớ hùng khí của Đoàn Văn Cự và 16 tử sĩ vì đại cuộc xả thân.</div>
<div>Đoàn Văn Cự lãnh đạo hội kín <i>Thiên Địa hội</i> ở Biên Hoà, một tổ chức yêu nước chống ách thống trị của thực dân Pháp. Ông đã quy tụ được đông đảo lực lượng nghĩa quân tiến hành cuộc kháng chiến thời kỳ trước khi Đảng Cộng Sản ra đời. Tuy bị thực dân Pháp nhanh chóng dập tắt nhưng hoạt động của ông đã có ảnh hưởng sâu rộng ở vùng miền Đông Nam bộ trong những thập niên đầu thế kỷ XX.</div>
<div><i>Thiên Địa hội</i> vốn là một tổ chức vừa có tính chất tương tế, vừa có tính chất chính trị của nông dân Trung Quốc, được hình thành từ sau khi nhà Minh bị nhà Thanh lật đổ, khẩu hiệu chính trị là “Bài Mãn phục Minh”.</div>
<div>Cuối thế kỷ XX, tổ chức <i>Thiên Địa hội</i> hoạt động khá mạnh ở thành thị và nông thôn Nam kỳ lục tỉnh, nhờ vào việc phát triển thương mại. Bấy giờ Nam kỳ có nhiều hội yêu nước của nhân dân rất bí mật, báo chí gọi là “hội kín”, về sau gọi là <i>Thiên Địa hội</i>. Thật ra, các hội đó không mang một tên thống nhất nào, mà có nhiều tên gọi khác nhau. Hội hoạt động riêng lẻ, liên lạc ngang với nhau, khi có điều kiện thì kết hợp thành hệ thống dọc như một lực lượng yêu nước mạnh mẽ. Mục đích là đánh đuổi ngoại bang, giành độc lập, thiết lập chế độ quân chủ, khẩu hiệu đấu tranh là “Bài Pháp phục Nam”. Hình thức đấu tranh là bạo động. Các tổ chức này còn chịu ảnh hưởng sâu của hệ tư tưởng và đạo đức phong kiến pha màu thần bí.</div>
<div>Vốn giàu lòng yêu nước, nhân dân Nam kỳ lục tỉnh đã nhanh chóng biến hội kín thành hình thức hoạt động khá phổ biến để đấu tranh quyết liệt với giặc vào cuối thế kỷ XIX đầu những thập niên thế kỷ XX.</div>
<div>Trong tình hình chung của phong trào Nam bộ lúc bấy giờ, nhân dân Biên Hoà hưởng ứng nhiệt thành phong trào chống Pháp của <i>Thiên Địa hội</i>, mở đầu là tổ chức hội kín của Đoàn Văn Cự tại vùng bưng Kiệu, thôn Vĩnh Cửu.</div>
<div>Đoàn Văn Cự sinh năm 1835 tại làng Bình An, huyện Bình An, tỉnh Biên Hoà (nay là quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) trong gia đình nho học yêu nước. Bị Pháp và bọn tay chân theo dõi, ông lánh giặc đến tá ngụ ở bưng Kiệu, thôn Vĩnh Cửu (nay là phường Long Bình, thành phố Biên Hoà) mưu đồ đại sự. Ngụy trang dưới nghề dạy học, cắt thuốc kiêm coi bói, ông ngấm ngầm tập hợp lực lượng, tích trữ vũ khí, lương thảo. Đội ngũ chống Pháp của ông rải khắp cả miền Đông Nam kỳ, đông nhất là Chợ Đồn, Chợ Chiếu (Cù Lao Phố), Bình Đa, Vĩnh Cửu đến núi Nứa (Bà Rịa). Lực lượng ngày càng hùng hậu, hoạt động của ông dần đến chỗ công khai nơi bưng rừng khuất tịch. Tất nhiên không tránh khỏi sự dòm ngó, theo dõi của chính quyền thực dân.</div>
<div>Để ngăn chặn ảnh hưởng và dập tắt phong trào ngay từ trong trứng nước, sáng ngày 12 - 4 -1905 (dương lịch), một tiểu đội lính mã tà do tên sen đầm chỉ huy kéo xuống bao vây căn cứ bưng Kiệu. Đoàn Văn Cự bố trí nghĩa quân do các tướng Hoàng Mè, Hoàng Giáp chỉ huy chuẩn bị đón đánh giặc. Phục binh cả ngày mà không thấy giặc động tĩnh, đến chiều tối, ông ra lệnh cho nghĩa quân về ăn cơm. Đúng lúc không còn quân canh phòng, giặc Pháp rầm rộ kéo đến, một toán quân khá đông bao vây nhà ông. Tên quan ba cùng tốp lính vượt suối Linh tiến vào. Đến ngưỡng cửa, chúng gặp ông trong bộ chiến phục oai nghi: đầu chít khăn lụa điều, mình buộc thắt lưng màu hồng, giắt đoản đao đầu hổ. Thấy địch, ông vung đao chém tên quan ba Pháp bị thương. Hắn rút súng bắn lại, Đoàn Văn Cự trúng đạn hy sinh trước bàn thờ Tổ. Lúc bấy giờ, đã bảy mươi tuổi mà tướng mạo ông hãy còn phương phi, nằm chết trên vũng máu với vẻ hiên ngang của một trang võ tướng.</div>
<div>Pháp xả súng vào căn cứ nghĩa quân, đốt phá lương thực. Thêm 16 người bị trúng đạn chết trong cơn tán loạn. Hôm sau, dân làng an táng 17 liệt sĩ vào ngôi mộ chung.</div>
<div>Mộ và đền thờ Đoàn Văn Cự đã được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 722/QĐ - BVHTT, ngày 25 - 4 - 1998.</div>
<div>Dẫu thời gian đã trôi qua, tấm gương can liệt của Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa sĩ vẫn sáng mãi với khí thiêng sông núi, góp phần làm rạng rỡ “hào khí Đồng Nai”. Họ mất đi mà anh linh vẫn còn phảng phất trong tâm trí của người dân Biên Hoà nặng lòng hoài cổ.</div>
<div align=right><b>Nguyễn Tuyết Hồng</b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:20 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.365</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:24:34 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=93</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Thác Trị An xưa và nay</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=18</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass177E9AAC4FBB4A2F9E38B4B16BE5692B>
<div><b><font color="#666666" size=2>Một số tư liệu cho biết thác Trị An xưa ở đất Biên Hòa nổi tiếng với cảnh thác hùng vĩ. Đây là thác cuối cùng trong dòng chảy của sông Đồng Nai trước khi chảy vào vùng bình nguyên miệt hạ. </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><span style="color:black">Có dịp xem những bức ảnh chụp thác Trị An vào những năm đầu thế kỷ XX mới thấy được cảnh thác rộng, nước chảy cuồn cuộn. Có người từng ví von hình ảnh sống động của dòng sông Đồng Nai phía trên thác Trị An như một sơn nữ hồn nhiên, tràn đầy sức sống nhảy tung tăng qua bao ghềnh thác, thung lũng, núi đồi. Đến thác Trị An như một dấu ấn mà sông bỗng hóa thân làm người phụ nữ hiền hòa, êm dịu, lặng hòa đổ vào vùng bình nguyên mênh mông với dòng nước bao dung ôm lấy những cù lao, sông rạch nên thơ...</span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><span style="color:black">Thác Trị An gắn liền nhiều chuyện tích dân gian thật thú vị. Ở đó, có chàng dũng sĩ diệt thú dữ cứu dân làng, gắn với một người mở đất vùng lam sơn chướng khí, chuyện tình của đôi trai gái khác sắc tộc yêu nhau... Có lẽ, cảm động nhất là chuyện về tình yêu giữa cô gái ở thượng nguồn với chàng trai miệt hạ nguồn đầy thi vị sau những trắc trở của những luật tục ràng buộc. Chuyện kể: &quot;... Ngược dòng Đồng Nai, chàng trai miệt hạ đã lạc vào lãnh thổ của người sơn cước thượng nguồn. Chàng trai bị bắt nhưng nhờ dũng cảm và tài năng của mình đã được dân làng cho sinh sống, trú ngụ. Tại đây, tình cảm của chàng trai và con gái của vị già làng nẩy nở. Nhớ quê, chàng tìm cách đi về khi băng qua cây cầu độc đạo và đã phải ngã xuống bởi những loạt cung tên định mệnh của xứ sở người yêu. Trước tình cảnh đó, cô gái của dân làng sơn cước đã trầm mình dưới dòng nước dữ, hóa thân thành tượng đá ngày đêm khóc cho tình yêu mãnh liệt...&quot;. Nước mắt của sơn nữ như con nước ngày đêm réo rắt giữa đại ngàn. Chàng trai và cô gái đã chết nhưng tình yêu của họ bất tử. Đây là một trong những chuyện tích mang mô típ huyền thoại đẹp đẽ của tình yêu. Và ở đây cũng mang dấu ấn cho chuyện của một thời mở cõi với những cộng đồng tộc người khai khẩn vùng đất này.   </span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><span style="color:black">Dòng chảy Trị An trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu được chặn dòng bắt đầu hình thành nên hồ Trị An vào thập niên 80 của thế kỷ XX để có một nhà máy thủy điện Trị An lớn nhất miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Công trình thủy điện Trị An được khởi công ngày 22-2-1982. Đập hồ Trị An được xây dựng bằng đá hỗn hợp, có chiều dài 420m, chiều cao 40m, đỉnh đập rộng 10m. Phần đập tràn chịu lực bằng bê tông dài 150m, có 8 khoang tràn với mỗi khoang rộng 15m và 8 cửa van. Bên cạnh đó có đập Suối Rộp dài 2.750m, cao 45m và hệ thống đập đất phụ có chiều dài tổng cộng 6.263m.  </span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><span style="color:black">Tham gia xây dựng thủy điện Trị An có hàng triệu lượt người ở miền Nam được huy động, tham gia trên một công trình rộng lớn kéo dài nhiều năm. Công trình thủy điện Trị An mang tầm vóc quốc tế và thắm đượm tình hữu nghị Việt Nam - Liên Xô. Một đội ngũ các chuyên gia, kỹ sư luôn bám trụ, kiên trì và đem công sức, tài trí của mình cùng đội ngũ kỹ sư, lao động người Việt Nam hoàn thành công trình. Sau 7 năm 8 tháng 10 ngày, 4 tổ máy của của nhà máy này đã hòa vào điện lưới quốc gia ngày 31-10-1989. Công trình thủy điện Trị An vừa sản xuất điện năng cho miền Nam vừa thực hiện chức năng thủy nông cho vùng miền Đông Nam bộ.</span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><span style="color:black">Hồ Trị An được hình thành đã trở thành nguồn tài nguyên về nhiều mặt, được khai thác phục vụ cho đời sống của người dân miền Nam. Hiện nay, với diện tích mặt nước hồ 323km2, hồ Trị An có gần 40 đảo lớn nhỏ; trong đó có một số đảo có cảnh quan thiên nhiên như: Đảo Ó, đảo Đồng Trường... đang được khai thác du lịch. </span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><span style="color:black">Trong quy hoạch phát triển du lịch Đồng Nai, điểm đến hồ Trị An là một trong tuyến điểm hấp dẫn với cảnh quan sinh thái, di tích của vùng rừng núi Vĩnh Cửu thuộc Chiến khu Đ xưa.</span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in"><b><span style="color:black">Phan Đinh Huyền</span></b></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in"><b><span style="color:black">Theo Báo Đồng Nai</span></b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:20 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.736</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:23:08 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=18</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Đồng Nai: Nước thải ở các khu công nghiệp Nhơn Trạch chưa được xử lý</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=66</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassC8084DD763594933846D177B3685EBAF>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><br>        Việc quy hoạch hạ tầng kỹ thuật và xử lý môi trường ở các KCN Nhơn Trạch chưa theo kịp tốc độ phát triển, dẫn đến không ít bất cập, trong đó đáng kể là vấn đề thoát nước thải công nghiệp ở các KCN và cho cả trung tâm TP.Nhơn Trạch tương lai. Giữa các KCN của Nhơn Trạch ngay từ đầu không có một quy hoạch chung về hệ thống thoát nước, hầu như mỗi đơn vị kinh doanh hạ tầng khi được giao đất xây dựng KCN đều đi theo hướng thoát nước riêng. Sau thời gian dài các KCN hoạt động, nhiều khu vực dân cư, sông suối bị ô nhiễm và ngập úng cục bộ, trong đó sông Thị Vải -  nguồn tiếp nhận nước thải của hầu hết các KCN - đến nay gần như trở thành dòng sông bị ô nhiễm nghiêm trọng nhất ở Đồng Nai cũng như khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam. </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">        Theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường, mỗi nhà máy khi đầu tư vào KCN tập trung đều phải có hệ thống xử lý nước thải cục bộ các công ty kinh doanh hạ tầng KCN trước khi kêu gọi đầu tư phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung khi lấp đầy 30% diện tích, hệ thống xử lý nước thải tập trung phải đi vào hoạt động. Tuy nhiên, theo Sở Tài nguyên - Môi trường Đồng Nai, trong số 6 KCN đang hoạt động trên địa bàn, mới chỉ có KCN Nhơn Trạch 1 có hệ thống xử lý nước thải tập trung công suất 4.000 m3/ ngày đã đi vào hoạt động nhưng qua kiểm tra, nước thải của KCN này vẫn còn những thông số ô nhiễm vượt cao so với tiêu chuẩn quy định. Còn KCN Nhơn Trạch 2, Nhơn Trạch 3 (giai đoạn 2) đang trong quá trình xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung. </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">        Để giải quyết vấn đề thoát nước thải, Nhơn Trạch đang triển khai 4 dự án, đó là dự án tuyến thoát nước dải cây xanh ở KCN Nhơn Trạch 1, dự án thoát nước đường 25C, dự án nạo vét tạm kênh thoát nước cuối đường số 2 và dự án tuyến thoát nước đường số 2 thuộc KCN Nhơn Trạch 3 từ trung tâm huyện đến hương lộ 19. Nhưng đến nay, việc triển khai các dự án này đang gặp khó khăn do tình trạng nước thải của một số KCN có hệ thống đấu nối với đường thoát nước ra tới rạch Bà Ký (hiện vẫn đang chảy tự do do chưa có đường ống đấu nối tiếp ra nguồn tiếp nhận) gây ô nhiễm môi trường nặng nề cho khu vực này. Còn đường thoát nước đường 25C lại đang quá tải. Nước thải  khu vực KCN Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 2 thoát ra cống Lò Rèn, nhưng từ đây lại chưa có hệ thống đấu nối ra nguồn tiếp nhận là sông Thị Vải, nên ở đây vẫn tồn tại có 2-3 miệng cống xả chung. Nước thải khu vực KCN Dệt may Nhơn Trạch (Vinatex - Tân Tạo) dự định sẽ đấu nối với đường ống đổ ra Long Thọ, nhưng địa hình bên tiếp nhận lại cao hơn bên nguồn thải, nên cũng đang gặp bế tắc. </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">        Ban quản lý Dự án thoát nước thuộc Sở Xây dựng Đồng Nai kiến nghị UBND tỉnh: Để giải quyết đấu nối thoát nước và xử lý nước thải cho đô thị mới Nhơn Trạch, cần bổ sung thêm dự án thu gom và xử lý nước thải (giai đoạn 1) thành phố Nhơn Trạch với công suất 16.000m3/ngày đêm theo nguồn vốn ODA dự án thoát nước từ khu dân cư Long Thọ - Phước An đến suối Bà Dẹp tiếp tục đấu nối từ KCN Nhơn Trạch 1 ra tới rạch Bà Ký và dự án thoát nước từ cống Lò Rèn ra nguồn tiếp nhận... UBND tỉnh Đồng Nai chỉ đạo: Từ nay đến cuối năm, tất cả các công ty kinh doanh hạ tầng phải xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung các KCN mới thành lập phải đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung trước khi triển khai các dự án sản xuất, kinh doanh trong KCN. Tỉnh yêu cầu các đơn vị kinh doanh hạ tầng KCN cần lắp đặt thiết bị đo lưu lượng và quan trắc tự động để kiểm soát chất lượng nguồn nước, trong đó việc thoát nước thải từ các KCN ra nguồn tiếp nhận cần gắn với quy hoạch của địa phương, bảo đảm tiêu thoát nước, không gây ngập úng trong khu vực... Những quy hoạch nào không phù hợp với thực tiễn, cần điều chỉnh ngay để công tác xây dựng hệ thống thoát nước cho đô thị Nhơn Trạch sớm hoàn thiện. Song đến nay, nhiều đề án xử lý nước thải công nghiệp vẫn chưa khởi động.</span></p>
<p style="text-align:right"><span style="font-size:x-small">                                                                        Theo Bộ Tài nguyên &amp; Môi trường<br></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/12/2007 11:25 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai hiện có 6 khu công nghiệp (KCN) thu hút khoảng 150 dự án, trong đó chủ yếu là các dự án đầu tư nước ngoài đang hoạt động với tổng lượng nước thải khoảng hơn 18.200 m3/ngày đêm, trong đó mới có 20% lượng nước thải được xử lý qua hệ thống xử lý nước thải tập trung, 60% lượng nước mới qua xử lý cục bộ, 50 nhà máy không có hệ thống xử lý nước thải cục bộ với khoảng 4.000m3 nước thải chưa qua xử lý thải thẳng ra môi trường với nhiệt độ, độ pH, độ màu, các chất rắn lơ lửng, dầu mỡ khoáng... ở mức rất cao đang đe dọa nghiêm trọng môi trường và đời sống của cư dân.</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.392</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 18:40:33 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=66</guid>
    </item>
    <item>
      <title>ANH HÙNG NGUYỄN VĂN HUỀ</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=48</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass009DB6BB9B884A979FBE694B9F79235A>
<div class=ExternalClassFD2287F4E4624F218F6EB4D30E1E9FB3>
<div class=ExternalClassBB9DE0C634E44E8B8458396898957E14>
<div>
<table style="border-collapse:collapse" border=0>
<colgroup>
<col style="width:172px"></colgroup>
<tbody valign=top>
<tr>
<td valign=center>
<p style="text-align:center"> </p></td></tr></tbody></table></div><span style="font-family:Arial"><span style="color:#666666"><strong>
<p style="text-align:center"><img alt="" align=left src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0841_ANHHNGNGUYN1.jpg"></p>
<p style="margin-left:2pt"> </p><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><strong>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small">Anh hùng Nguyễn Văn Huề sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Khi hy sinh, đồng chí là chiến sĩ đặc công thuộc đại đội 250 đặc công chủ lực Miền. </span><span style="font-size:x-small"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial">﻿ </span></span></span></p></strong></span></span></strong><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial">
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial">Ngày 7 tháng 7 năm 1954, phân đội đặc nhiệm gồm 6 người, trong đó có Nguyễn Văn Huề, nhận nhiệm vụ đánh Mỹ đầu tiên tại Biên Hòa. Với sự yểm trợ của một số tổ tự vệ, các anh nghiên cứu tình hình địch, nhằm đúng ngày Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên ghế thủ tướng. Tổ chiến đấu cải trang như một toán lính tuần tiễu từ Gò Me đi thẳng vào cư xá, các chiến sĩ đặc công nhanh chóng áp sát cư xá đoàn cố vấn quân sự Mỹ (MAAG). Tổ của Nguyễn Văn Huề chia thành 3 nhóm; Huề và 1 đồng đội mang mìn theo lối cửa hông, đặt vào trong phòng. Đèn bật sách, sợ lộ, các anh phải hành động gấp. Không để địch kịp phản ứng, đối phó, Nguyễn Văn Huề đã dũng cảm chấp nhận hy sinh, lệnh cho bạn &quot;chập điện&quot;. Tiếng nổ mạnh làm rung chuyển khu vực cư xá, nhiều tên địch phải đền tội. Nguyễn Văn Huề hy sinh, 5 đồng đội của anh quét tiểu liên vào chỗ có tiếng kêu gào rên la của Mỹ, rồi rút an toàn. Phối hợp nhịp nhàng với tổ đánh cư xá, bên ngoài các đồng chí khác nổ súng kìm chân địch, bảo vệ các chiến sĩ đặc công. Trận đánh diễn ra không đầy 15 phút, làm địch không kịp trở tay. Tiếng súng diệt Mỹ nơi đây đã cổ vũ và thúc đẩy phong trào cách mạng miền Nam phát triển rộng khắp. Đồng thời, đây là đòn cảnh báo bọn can thiệp Mỹ nếu chúng lấn sâu can thiệp vào miền Nam Việt Nam. Người dân Biên Hòa vô cùng tiếc thương và cảm phục hành động quả cảm của người chiến sĩ đặc công Nguyễn Văn Huề. </span></span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial">Ngày 28 tháng 4 năm 2000, Nguyễn Văn Huề được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. </span></span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial">                                                                                                                                      T.P </span></span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial">                                                                                                                         dongnai-industry.gov.vn </span></span></span></p></span></span></span></span></div></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 23/06/2010 1:10 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.905</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 18:10:03 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=48</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Đình Tân Lân</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=89</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassD66258E5BA684CCD9272A3CF487BD537>
<div><b><font color="#666666" size=2>Đình Tân Lân, xưa kia thuộc thôn Tân Lân, huyện Phước Chánh, dinh Trấn Biên, nay là phường Hoà Bình, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Đình toạ lạc giữa vùng dân cư trên đường Nguyễn Văn Trị, mặt tiền hướng ra dòng sông Đồng Nai lộng gió, cách trụ sở Uỷ ban nhân dân tỉnh 500m về hướng tây bắc. </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div>Từ khi xây dựng, nhân dân đã lấy tên gọi của thôn là Tân Lân (Xóm Mới) để đặt cho đình. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, tên địa phương nhiều lần thay đổi nhưng tên đình vẫn tồn tại cùng tháng năm. Tương truyền, nguyên thủy đình Tân Lân là ngôi miếu nhỏ ở thành Kèn do dân làng dựng lên từ thời Minh Mạng (1820 -1840) để tỏ lòng ngưỡng vọng Trấn Biên Đô đốc tướng quân Trần Thượng Xuyên, người có công lớn trong việc khai phá đất đai và mở mang thương mại vùng Đồng Nai - Gia Định. Sau hai lần dời chuyển (vào năm 1861 và 1906), ngôi đình ở vị trí hiện nay.</div>
<div>Toạ lạc trên khuôn viên đất rộng khoảng 3.000m<sup>2</sup>, đình Tân Lân bề thế, uy nghiêm với lối kiến trúc mang đậm dấu ấn của văn hoá Trung Hoa. Khách đến tham quan sẽ nhận thấy sự trang nghiêm, đầy hưng thịnh của ngôi đình.</div>
<div>Mặt đình hướng về phía tây nam, được kiến trúc theo kiểu chữ tam (三) gồm ba gian: tiền đình, chánh điện và hậu cung nối tiếp nhau. Hai bên tả hữu là miếu thờ Bà và thờ Ông. Mái đình lợp ngói âm dương. Nền cao 60cm bằng đá xanh, lót gạch bông (20cm X 20cm). Bên trong đình, mỗi gian được bài trí điện thờ, hoành phi, câu đối, bao lam bằng gỗ do các nghệ nhân dân gian chạm trổ tinh vi, sắc sảo mang tính nghệ thuật cao. Các đề tài đều tượng trưng cho hạnh phúc, phồn vinh, tước lộc, công hầu... theo thông tục của người phương Đông.</div>
<div>Phần tiền đình có diện tích 75,5m<sup>2</sup>, bộ khung vì bằng gỗ, trên các xà ngang chạm khắc đề tài dơi, đào, hoa, lá... biểu tượng cho sự phước thọ, trường tồn. Trên nóc trang trí đề tài “Lưỡng long tranh châu nhật”, “Lý ngư hoá long”... biểu tượng cho sự thịnh vượng, như ý. Mặt tiền mái đình là cả một công trình nghệ thuật đặc sắc tô điểm cho nền trời xanh thoáng đãng. Hằng trăm tượng người, vật bằng gốm sứ men xanh thể hiện các đề tài cổ điển phương Đông một cách sinh động, tài hoa. Khó có ai ngờ rằng, gần một trăm năm qua, những “Bát tiên quá hải”, “Quan Công phò nhị tẩu”, những chuyện tích thời chiến quốc, nhật nguyệt, lân phụng... sống động trên mái ngói, thi gan với nắng mưa mà vẫn nguyên vẹn sắc màu và đường nét.</div>
<div>Phần chánh điện chiếm diện tích 487,5m<sup>2</sup>. Tôn nghiêm nhất là gian giữa với những hàng cột gỗ lim to dị thường, với tượng thần uy nghiêm ngự trên ngai sơn son thếp vàng, với những cặp chim trĩ, loan, phượng... bằng đồng đứng chầu trong tư thế duyên dáng và trang nghiêm. Trước bàn thờ thần là bàn La liệt, tiếp đến là bàn hội đồng nội. Song song với bàn La liệt và bàn hội đồng nội là hai bộ bát bửu bằng đồng. Hai gian bên thờ tả và hữu ban. Dọc tường tả hữu có các bệ thờ Thái Giám, Hậu Hiền, Bạch Mã và Tiền Hiền. Toàn bộ khung vì được làm bằng gỗ tốt, có cột chống ở giữa kiểu bình nước, được lắp ghép với kỹ thuật mộng chốt và gắn dầu rái đảm bảo độ bền vững cao.</div>
<div>Hậu cung có diện tích 120m<sup>2</sup> được chia thành ba gian, chính giữa thờ Tiên sư, hai bên thờ Tiền thứ Việt Nam và Tiền thứ Trung Hoa, được đặt trên bệ thờ bằng xi măng lót gạch men xanh.</div>
<div>Ngoài ra, sau đình còn có khu nhà bếp nối liền với hậu cung, kiến trúc đơn giản, là nơi nấu ăn của đình.</div>
<div>Những ai quan tâm đến mỹ thuật không thể không khâm phục bàn tay tài hoa của các nghệ nhân sáng tạo ngôi đình qua các tác phẩm điêu khắc đá, chạm khắc gỗ, phù điêu ghép sành, cẩn xà cừ, tượng sành kiểu Hoa Nam... trong đó ẩn chứa những triết lý nhân sinh sâu sắc. Toàn bộ những mảng trang trí trên là sự kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn giữa hai yếu tố kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn với yếu tố kiến trúc nghệ thuật đặc trưng vùng Hoa Nam (Trung Quốc). Đây cũng là sản phẩm gần như cuối cùng của lớp nghệ nhân tài hoa bản địa.</div>
<div>Đình Tân Lân đã thể hiện được sự tôn nghiêm mà trữ tình, hoành tráng mà tinh xảo, xứng đáng với lòng ngưỡng mộ của nhân dân đối với “Đức Ông” Trần Thượng Xuyên.</div>
<div>Trần Thượng Xuyên tự Trần Thắng Tài, sinh vào năm nào không rõ và mất khoảng năm 1720 (ngày 23 - 10 Âm lịch)<sup>(<a title="" href="http://127.0.0.1:63395/help/topic/vn.dongnai.sdt.dongnaiditich/html/dnditich.html#_ftn3" name="_ftnref3"><span><span><span style="line-height:110%;font-size:14pt">[3]</span></span></span></a>)</sup> người tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), nguyên là Tổng binh ba châu Cao-Lôi-Liêm dưới triều Minh.</div>
<div>Năm 1649, vương triều Minh sụp đổ. Năm 1679, sau khi phất cờ “Bài Mãn phục Minh” thất bại, ông đem hơn 3.000 quân thân tín cùng gia quyến trên 50 thuyền đến Đại Việt xin thuần phục. Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) chấp thuận cho vào khai khẩn xứ Đông Phố đang còn hoang sơ.</div>
<div>Ông đưa lực lượng của mình đến định cư tại vùng Nông Nại đại phố (địa phận Bàn Lân). Cùng nhóm lưu dân người Việt đến trước, ông và lực lượng của mình tiến hành khai khẩn quy mô lớn vùng đất màu mỡ phương Nam. Mặt khác, ông chiêu tập thương nhân người Hoa kiến thiết phố xá, tạo lập các cơ sở thương mại. Với biệt tài tổ chức, chẳng bao lâu Trần Thượng Xuyên đã biến vùng đất hoang sơ thành thị tứ buôn bán sầm uất, kinh tế phát triển nhanh chóng. Nông Nại đại phố (còn gọi là Cù Lao Phố) trở thành thương cảng phồn thịnh, là trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế vào bậc nhất phương Nam lúc bấy giờ.</div>
<div>Ông được lịch sử xác định như người có công lớn trong việc khai phá và xây dựng vùng đất Đồng Nai - Gia Định. Công đức to lớn của ông được nhân dân ghi tạc, tôn thờ, xem như vị thần đã khai sáng vùng đất này.</div>
<div>Về hoạt động quân sự, Trần Thượng Xuyên là một dũng tướng thao lược của chúa Nguyễn. Ông đã nhiều lần cầm binh đánh dẹp Cao Miên, giữ an bờ cõi, mở rộng biên cương nước Việt.</div>
<div>Khoảng đầu những năm 1690, ông cùng Mai Vạn Long đánh bắt được Nặc Ông Thu, chiếm ba lũy Cầu Nam, Nam Vang, Gò Bích. Năm 1700, ông cùng Nguyễn Hữu Cảnh tiến đánh vua Chân Lạp lần hai. Sau trận tiến công này, vùng đất Biên Trấn, Phiên Trấn, Định Tường, Long Hồ, An Giang đã được sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong. Năm 1715, ông lại cùng với Nguyễn Cửu Phú đi đánh dẹp bọn Nặc Ông Thâm, hạ được thành La Bích.</div>
<div>Trần Thượng Xuyên mất ngày 23 tháng 10 âm lịch khoảng năm Canh Tý (1720) an táng tại mạn bắc dinh Trấn Biên (nay thuộc xã Mỹ Lộc, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).</div>
<div>Ghi nhớ công đức của Trần Thượng Xuyên, chúa Nguyễn đã ban danh hiệu cao quý “Nguyễn vi vương, Trần vi tướng, đại đại công thần bất tuyệt”. Các vua Minh Mạng, Thiệu Trị đều phong ông làm “Thượng đẳng thần”. Để tỏ lòng ngưỡng mộ và đền đáp công ơn người đã có công tổ chức khai phá, mở mang vùng đất Đồng Nai - Gia Định, nhân dân hai nơi này đều lập đền thờ ông, khói hương không dứt.</div>
<div>Đình Tân Lân đã được Bộ Văn hoá - Thông tin - Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 457/QĐ, ngày 25 - 3 - 1991.</div>
<div>Hàng năm, nhân dân lấy ngày ông mất làm ngày giỗ trọng. Ngày ấy, đình Tân Lân nghi ngút khói hương, dập dìu khách thập phương trong nghi lễ cổ truyền.</div>
<div align=right><b>Nguyễn Tuyết Hồng</b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:20 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.963</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:22:15 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=89</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Đình An Hoà</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=90</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassDA95E4E09B1D44AF845D6BC7B0862F7C>
<div><b><font color="#666666" size=2>Từ ngã ba Vũng Tàu, theo Quốc lộ 51 đi Bà Rịa - Vũng Tàu đến km số 2, rẽ phải vào xã An Hoà, đi tiếp khoảng 1 km du khách sẽ gặp đình An Hoà, tọa lạc giữa nơi dân cư đông đúc. Đến thăm đình thuận tiện cả đường bộ (đi bộ, xe đạp, xe máy, xe đò) và đường thủy sông Đồng Nai (ghe, tàu...). </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div>Đình An Hoà xưa kia thuộc làng Bến Gỗ, nay thuộc xã An Hoà, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, cách trung tâm thành phố Biên Hoà khoảng 6 km về hướng đông - nam. Tại xã An Hoà (làng Bến Gỗ) các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều hiện vật: gạch cổ, mảnh tượng người bằng đá, gốm cổ, dao đồng... nằm trong các địa tầng văn hoá có niên đại cách nay nhiều thế kỷ, đã minh chứng sự phát triển kinh tế, xã hội vùng ven sông Đồng Nai từ đầu công nguyên và đặc biệt từ đầu thế kỷ XVII-XVIII đến nay.</div>
<div>Đình An Hoà được xây dựng năm nào, hiện nay chưa tìm thấy một văn tự nào đáng tin cậy giúp ta tìm hiểu chính xác về sự ra đời của nó. Theo lời kể của các cụ già trong làng và căn cứ vào hàng chữ mực tàu viết trên xà kèo nhà võ ca: “Dựng miếu 1792”, cho thấy đình An Hoà nguyên thủy là ngôi miếu được xây dựng năm 1792, sau đó được nâng cấp chuyển đổi tính năng từ miếu thành đình như hiện tại.</div>
<div>Đình An Hoà đã trải qua 3 lần trùng tu lớn:</div>
<div>Lần thứ nhất vào năm 1944: các cột chính trong đình được nối dài thêm 1 mét để nâng cao chánh điện và mái đình. Nền nâng cao thêm 0,3 mét để tránh ngập lụt khi mùa mưa đến.</div>
<div>Lần thứ hai vào năm 1953: quân Pháp chiếm đình làm đồn, khi trả lại cho dân, chúng phải xuất tiền đền bù để các bô lão và nhân dân trong làng sửa chữa lại một số hạng mục như: thay đòn tay, lót gạch bông ở tam cấp, tô lại đầu rùa bên phải mái đình. Cũng dịp này, nhân dân sở tại đã đóng góp công của xây dựng thêm nhà võ ca ở phía trước chánh điện.</div>
<div>Lần thứ ba vào năm 1994: sau khi đình An Hoà được Nhà nước xếp hạng là di tích quốc gia, cũng là thời kỳ ngôi đình bị xuống cấp nghiêm trọng. Bộ Văn hoá - Thông tin, Cục Bảo tồn Bảo tàng đã cấp 400 triệu đồng cùng với nguồn kinh phí hỗ trợ của địa phương, Nhà Bảo tàng đã trùng tu lại ngôi đình khang trang, bề thế như hiện tại.</div>
<div>Đình An Hoà thờ Thành hoàng bổn cảnh, vị thần bảo trợ làng và những vị tiền hiền, hậu hiền... có công khai phá, mở mang làng, xã. Nhân dân sở tại hàng năm đến đình cúng bái cầu cho mưa thuận gió hoà, quốc thái dân an, cuộc sống bình an, thịnh vượng, ấm no, hạnh phúc.</div>
<div>Trước năm 1945, đình An Hoà là trụ sở hành chánh của xã, thôn, nơi hội họp của Hội đồng kỳ mục để bổ bán binh dịch, phân chia công điền, công thổ, đặt khoán ước và giải quyết các vụ tranh chấp, kiện cáo, thu sưu, thu thuế, phạt vạ, ăn khao và là nơi thi văn, thi thơ, thi chữ... của các nho sĩ trong làng. Sau ngày miền Nam hoàn toàn được giải phóng (30 - 4 -1975), đình được trả lại cho dân làng trông coi, hội họp. Trong những ngày cúng Thành hoàng, đình trở thành trung tâm văn hoá của làng (xã). Các tuồng tích xưa giàu tính nhân văn tích lũy từ đời này qua đời khác được trình diễn tại đình trong vài đêm cho dân làng coi.</div>
<div>Đình An Hoà xây dựng theo hướng đông - nam, ban đầu kiểu chữ nhị ( ) gồm một chánh điện và tiền bái. Sau này hai bộ phận trên được nối với nhau bằng một nhà cầunên trở thành kiểu chữ công (工) như hiện tại. Đây là một trong năm kiểu kiến trúc tiêu biểu của đình làng ở Việt Nam.</div>
<div>Ngày nay, khách đến tham quan sẽ nhận thấy vẻ bề thế, thoáng rộng của ngôi đình. Đình An Hoà tọa lạc trên một khu đất cao ráo hình chữ nhật, phía trước là khoảng sân rộng có hàng cây cổ thụ, có đủ chỗ cho đông đảo dân làng trong ngày cúng thần Thành hoàng hoặc các ngày lễ hội vui chơi, giải trí của làng. Đối với nơi thờ chính, chỉ trừ chánh điện được xây tường ở ba mặt còn lại toàn bộ mặt tiền gồm nhà võ ca, nhà bái đều không xây tường làm nổi bật những hàng cột gỗ tròn 400 được kê trên bệ đá xanh đỡ hệ thống khung vì của mái.</div>
<div>Mái đình lợp ngói âm dương, đỉnh chánh điện có gắn cặp rồng chầu pháp lam bằng gốm men màu. Nền lót gạch tàu, chia làm ba gian rõ rệt. Từ nhà võ ca nhìn vào chánh điện sẽ thấy ở gian giữa là những cặp liễn, hoành phi chữ Hán, xung quanh chạm khắc hoa văn tinh xảo, sơn son thếp vàng nổi bật trên hai hàng cột và xà ngang chạy suốt chiều dài 47 mét của khu chánh điện làm cho ngôi đình trở nên trang nghiêm và huyền bí.</div>
<div><b>Chánh điện:</b> là loại nhà 3 gian 2 chái truyền thống ở Nam bộ. Chái phía sau bàn thờ thần (dãy hàng hiên sau) là hậu trường, đây là nơi phục vụ việc tế lễ. Gian giữa thờ thần, hương án bằng gỗ sơn son thếp vàng, chạm khắc hoa lá, rồng uốn lượn. Khám thờ mang hàng chữ “Vạn cổ anh linh”. Bên trong là một đại tự: chữ “thần” viết bằng mực đen trên nền đỏ. Phía dưới là chiếc hộp sắt, sơn đỏ trong đựng sắc thần, nội dung như sau:</div>
<div><i>“Sắc An Hoà Thành hoàng chi thần, nguyên tặng Bảo An, Chính Trực, Hữu Thiện, Đôn Ngưng, Chi Thần</i></div>
<div><i>Nhưng chuẩn Long Thành huyện, An Hoà thôn, y cựu phụng sự thần, kỳ trương bảo ngã lê dân</i></div>
<div><i>Khâm sai”.</i></div>
<div>Ấn có chữ: <i>Sắc mệnh chi bảo</i></div>
<div><i>Tự Đức ngũ niên, thập nhất nguyệt, nhị thập cửu nhật.</i></div>
<div><b><i>Tạm dịch:</i></b></div>
<div><i>“Sắc phong thần Thành hoàng An Hoà, trước (đã) tặng là thần: Bảo An, Chính Trực, Hữu Thiện, giữ nước, giúp dân, linh ứng tính đã lâu.</i></div>
<div><i>Ta (nay) ít đức, lãnh mệnh (tư dân), luôn nghĩ đến thần nên tặng thêm là thần: Bảo An, Chính Trực, Hữu Thiện, Đôn Ngưng.</i></div>
<div><i>Nhưng cho thôn An Hoà, huyện Long Thành thờ phụng thần như cũ, để thần bảo vệ (lê) dân của ta</i></div>
<div><i>Kính vậy thay”</i></div>
<div><i>Ngày 29 tháng 11 năm Tự Đức thứ năm (29 -1 -1852).</i></div>
<div>Nét đặc sắc nhất của ngôi đình là nghệ thuật chạm khắc, trang trí hoa văn ở khu chánh điện. Các khối gỗ to, nặng nề, thô kệch như mềm đi khi được đôi bàn tay tài hoa của các nghệ nhân đục đẽo, chạm trổ, bố cục và thể hiện hài hoà các đề tài truyền thống trong nghệ thuật điêu khắc Việt Nam. Toàn bộ các đầu dư, trụ đỡ, xà ngang, bức cốn... của đình đều được tạc hình đầu rồng và lưỡng long chầu nhật, cúc liên chi, mây sóng nước, dơi ngự lâm môn... biểu tượng ước mơ thịnh vượng, tốt lành ngàn đời của nhân dân Việt Nam. Các đường nét chạm khắc rất uyển chuyển tinh tế, sống động như được vẽ trên giấy mang đậm đà màu sắc dân gian. Đáng chú ý nhất là hình ảnh lưỡng long chầu nhật ở xà ngang nơi gian giữa trước chánh điện đã được cách điệu hoá: đầu rồng, thân là xương cá đao nối thành hai khúc, đối xứng với bông cúc viền quanh và mây sóng nước, hoa lá... Toàn bộ mảng trang trí này được chạm khắc rất tinh xảo nói lên nghề chài lưới của nhân dân địa phương xưa kia.</div>
<div><b>Nhà cầu:</b> là nơi hành lễ. Nhà cầu là cầu nối giữa chánh điện và nhà bái. Nhà cầu ngoài chức năng là nơi hành lễ còn thờ Tiên sư và Thổ công.</div>
<div><b>Nhà bái: </b>còn gọi là tiền bái hay tiền đường. Nhà bái và nhà cầu được thông liền với nhau nhưng được phân định bởi một hàng đá chẻ. Phía trước là ba cánh cửa bằng gỗ đơn sơ, đây cũng là cửa vào đình. Nhà bái được tạo dựng bởi hai hàng cột gỗ tròn  400 ở gian giữa và hai hàng cột gỗ vuông (25cm x 25cm) ở hai gian bên. Trên xà ngang ở gian giữa treo bức hoành phi đề 4 chữ Hán: Bảo An Chính Trực, đây là 4 chữ đầu tiên thần Thành hoàng của làng được tặng với hàm ý: giúp nước, giúp dân, giữ gìn sự yên ổn, khuôn phép ngay thẳng. Bức hoành phi này không có niên hiệu, vì vậy có lẽ trước thời Tự Đức tức triều Minh Mạng mới được phong thêm hai chữ Hữu Thiện, đến năm Tự Đức thứ 5 (1852) mới được phong thêm hai chữ Đôn Ngưng.</div>
<div><b>Nhà võ ca:</b> được xây riêng biệt ở sân đình, mặt tiền đối diện với chánh điện. Nhà võ ca xây dựng đơn giản không có tường bao quanh, chỉ có một sân khấu để diễn hát bội và nghi lễ cúng thần. Đối với các ngôi đình ở Bắc bộ, khi diễn hát bội thường ở trong cửa đình, trước chánh điện, người xem đối mặt với thần Thành hoàng. Nhưng ở Nam bộ, đa số nhà võ ca đều đối diện với chánh điện, nên khi diễn hát bội, hoặc diễn trò người trình diễn đối mặt với thần, còn thần Thành hoàng cũng chỉ là một khán giả cùng ngồi xem với dân. Cách bố trí này, đối với người miền Bắc có thể xem là hành động bất kính đối với Thành hoàng, nhưng ở các đình miền Nam nói chung và đình An Hoà nói riêng thì thần Thành hoàng tuy quan trọng nhưng không hề tách biệt với nhân dân mà còn gần gũi, thân thiện với dân như người trong nhà vậy.</div>
<div>Về mặt tạo hình, đình An Hoà được xem là gương mặt của nghệ thuật kiến trúc cổ ở Đồng Nai và tiêu biểu cho kiểu dáng đình ở một vùng Nam bộ. Đình An Hoà là nơi bảo tồn khá nguyên vẹn những đặc điểm của nền kiến trúc dân tộc, không chịu ảnh hưởng của kiến trúc Trung Hoa như một số ngôi đình khác. Được chứng kiến tận mắt lối kiến trúc và nghệ thuật chạm khắc ở đình An Hoà, ta mới cảm nhận hết cái đẹp, cái tài hoa của các nghệ nhân bản địa đã làm cho các phiến gỗ nặng nề trở thành những mảng trang trí nhẹ nhàng, thanh thoát, tăng thêm giá trị thẩm mỹ cho ngôi đình.</div>
<div>Đình An Hoà đã được Bộ Văn hoá xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật theo Quyết định số 100/VH - QĐ, ngày 21 - 1 - 1989.</div>
<div>Hàng năm, vào rằm tháng Tám (âm lịch), đình An Hoà tổ chức lễ rước thần theo nghi thức truyền thống. Đây là dịp để nhân dân trong làng (xã) và những người xa xứ tụ họp, chuyện trò, trao đổi kinh nghiệm làm ăn, học tập và những buồn vui của cuộc sống. Gái trai trong làng được dịp làm quen tìm hiểu nhau qua những trò chơi dân gian, để rồi khi hội tan, dắt nhau quì trước bàn thờ mong thần phù hộ, nguyện thề trăm năm kết tóc xe duyên.</div>
<div align=right><b>Lương Thuý Nga</b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:20 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.765</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:22:53 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=90</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Người Đồng Nai - Một góc nhìn: 310 năm Biên Hòa – Đồng Nai (1968 - 2008)</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=16</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass61BA4E9948324AC0A9B206C7709AE0F6>
<div class=ExternalClass0E131695441D4E7D9ABE1E185E83B952>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#666666"><strong>Đồng Nai tự hào khi được định danh là một trong những trung tâm văn hóa cổ phát triển của Việt Nam trước Công nguyên: Văn hóa Đông Sơn (miền Bắc), văn hóa Sa Huỳnh (miền Trung), Văn hóa Đồng Nai (miền Nam). Tên gọi Đồng Nai cũng vinh danh trong lịch sử với hào khí oai hùng, hiển hách.</strong></span> </span></span></p>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">﻿ </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black"><strong><em>Trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thường nghe nhắc đến Hào khí Đông A thời nhà Trần và Hào khí Đồng Nai. Chắc chắn bắt nguồn từ nhiều yếu tố để làm nên một trung tâm văn hóa phát triển, một hào khí được nhắc đến với niềm tự hào.</em> </strong></span></span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black"><strong>                                            <img alt="" src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0650_NgingNai1.png"></strong></span> </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:blue"><strong>                                           Quảng cảnh lễ hội 300 năm Biên Hòa - Đồng Nai (1998)</strong></span><span style="color:black"><br> </span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Tính cách của người Đồng Nai như thế nào? Phải chăng tính cách người Đồng Nai nằm trong tính cách chung của người Nam Bộ. Một số nhà nghiên cứu đã viết, giới thiệu về những con người Đồng Nai cụ thể trong một số tác phẩm, công trình mà ở đó, những con người được nhắc đến đáp ứng những tiêu chí về sự đóng góp, công sức, thành tích của họ đối với vùng đất này. Đồng Nai là vùng đất mới, đất mở. Những thế hệ đến đây sinh sống, chắc chắn mang theo tính cách của vùng miền cố hương và từng bước thích ứng với môi trường, cộng đồng và dần dà góp phần tạo nên tính cách trên quê mới trở thành thân thuộc &quot;nhau rún&quot;.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Một số nhân vật được nhắc đến sau đây cho thấy tính cách được khắc họa trên vùng đất Đồng Nai xưa. Người đọc qua những tư liệu này, ắt hẳn phần nào hình dung được tính cách của Người Đồng Nai.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#ff0033"><strong>* Con người của khí phách</strong></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Đặng Đại Độ người huyện Phong Đăng, tỉnh Quảng Bình. Trong thời gian Đặng Đại Độ làm Ký lục Trấn Biên (đất Biên Hòa – Đồng Nai) có hai viên Cai đội hầu cận chúa Nguyễn từ kinh đô Phú Xuân đến Biên Hòa bắt ca nhi (con hát), cậy thế, khinh người, làm nhiều điều bậy bạ đối với dân lành. Đặng Đại Độ sai bắt, căng ra đánh chết rồi treo ở cửa chợ. Xử xong, ông mặc áo ngắn, đeo gông nhỏ rồi đi bộ về kinh chịu tội, dắt một người cháu đi theo. Người cháu xin ông đừng đi bộ để giữ gìn sức khỏe, ông trả lời: <em>&quot;Lại có hạng tội nhân tìm cách cho đỡ khổ à?&quot;.</em> Sau hơn một tháng đi bộ, Đặng Đại Độ tới kinh thành, vào Bộ Hình dâng đơn xin tới nhà ngục chờ xét xử. Bộ Hình đem việc Đặng Đại Độ tâu lên, chúa Nguyễn cho triều kiến. Khi thấy ông không có triều phục, chúa Nguyễn sai người cấp cho.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Khi gặp chúa Nguyễn, Đặng Đại Đội nói rõ sự tình và xin chịu tội. Chúa Nguyễn an ủi, dụ rằng<em>:&quot;Khanh có tội gì đâu mà phải đọa đày mình khổ sở đến như vậy. Chỉ vì trẫm buồn phiền mệt nhọc nên mới bảo chúng nó tìm đôi đứa con hát về kinh giúp trẫm tiêu khiển, không dè chúng cậy thế hiếp người, giở thói làm càn, khanh giết đi là phải&quot;</em>.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Cảm khái trước hành động công minh, thương dân của bề tôi, chúa Nguyễn Phúc Khoát không những trách hành động của Đặng Đại Độ mà còn thăng chức cho ông làm Tuần phủ Gia Định, lại chuẩn cho đi tuần khắp năm phủ (Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận), được quyền thăng giáng các quan lại nơi ấy khi cần thiết. Hành động cương trực, an dân của Đặng Đại Độ được xem là dũng khí của bậc đại thần, nhân dân ngưỡng mộ và lưu truyền trong lịch sử.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#ff0033"><strong>* Nhân cách thanh liêm cao trọng</strong></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Trịnh Hoài Đức sinh năm 1765, còn có tên là An, tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai. Gốc người Hoa nhưng mang trong mình dòng máu Việt của mẹ quê gốc Bình Trước, Biên Hòa. Ông làm quan với chức vị lớn trải ba triều vua nhà Nguyễn.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Trên bước đường công danh, Trịnh Hoài Đức đã lên gần như tuyệt đỉnh trong triều đình. Về phương diện văn hóa, ông là một nhà thơ, nhà nghiên cứu lỗi lạc hàng đầu thời bấy giờ. Ông cùng với Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh cùng thời được vinh danh là &quot;Gia Định Tam gia thi&quot;… Mùa xuân năm 1825, Trịnh Hoài Đức mất, vua Minh Mạng thương tiếc sai nghỉ triều ba ngày và truy tặng ông nhiều danh hiệu cao quý. Đồng thời sai hoàng thân Miên Hoằng thân hành tế lễ và di linh cữu của Trịnh Hoài Đức về Nam theo nguyện vọng lúc còn sống. Khi linh cữu đến Phiên Trấn, đích thân Tổng trấn Lê Văn Duyệt phúng viếng rồi hộ về chôn nơi quê mẹ của Trịnh Hoài Đức ở làng Bình Trước, Biên Hòa (di tích hiện ở địa phận phường Trung Dũng, thành phố Biên Hòa). Dù ở chức quan cực phẩm nhưng ông vẫn sống giản dị, thanh liêm. Chính vua Minh Mạng lúc Trịnh Hoài Đức dưỡng trọng bệnh mới ngỡ rằng quan triều to lớn như ông mà không có nhà riêng.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#ff0033"><strong>* Danh tướng của lòng dân </strong></span></span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black"><strong>Gương phụ nữ &quot;liệt phụ khả gia&quot;.</strong></span><span style="color:red"> </span><span style="color:black">Đó là bà Nguyễn Thị Tồn. Còn có tên là Diệu. Người làng Mỹ Khánh, tổng Chánh Mỹ Thượng (nay thuộc phường Bửu Hoà, thành phố Biên Hòa). Bà là trưởng nữ của Hộ trưởng Nguyễn Văn Lý và là chánh thất của Bùi Hữu Nghĩa. </span></span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Khi Bùi Hữu Nghĩa làm quan tri huyện Trà Vang (Trà Vinh), vì cương trực bị quan trên ghen ghét, ghép tội giải ông về Gia Định chờ xử tử. Bà Tồn thấy chồng bị oan ức liền quá giang ghe bầu ra đến kinh thành Huế đánh trống gặp vua kêu oan cho chồng. Nhờ vậy, chồng bà thoát tội chết. Trước hành động dũng cảm của bà Tồn, vua Tự Đức ban Võng điều có có bốn lọng, nơi đầu võng có gông nhỏ sơn son, ngầm ý khen bà là người trung trinh, gan dạ song cũng thầm trách bà đã làm kinh động đế đô. Cảm kích trước một người phụ nữ dân dã từ xứ Đồng Nai không từ nan vạn dặm lặn lội đến chốn kinh thành minh oan cho chồng, Hoàng thái hậu Từ Dũ khen bà là gương tiết nghĩa, đáng mặt nữ lưu. Khi bà Tồn về đến quê thì chồng là Bùi Hữu Nghĩa khâm mệnh đi trấn đồn Vĩnh Thông (thuộc Châu Đốc – An Giang). Tại Biên Hòa, Bà Tồn lâm trọng bệnh qua đời. Bùi Hữu Nghĩa vì xa xôi cách trở không về lo đám tang được cho người vợ. Ông đã làm một bài thơ vô cùng sâu sắc, cảm động để nhớ và ca ngợi người vợ của mình; trong đó có nhắc đến việc bà Tồn minh oan cho chồng: &quot;…<em>Nơi kinh quốc ba hồi trống gióng, biện bạch này oan nọ ức, đấng hiền lương mắt thấy thảy đau lòng. Chốn tỉnh đường một tiếng thét vang, hẳn hòi lẽ chánh lời nghiêm, lũ băng đăng tai nghe điều khiếp vía</em>&quot;.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#ff0033"><strong>* Những con người sống chết vì đại nghĩa</strong></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Thời kỳ chống Pháp đầu thế kỷ XX, tại Biên Hòa có các tổ chức hoạt động theo hình thức Hội kín. Trong đó tiêu biểu là tổ chức Đoàn Văn Cự và Trại Lâm Trung.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Đoàn Văn Cự sinh năm 1835, quê tại làng Bình An, Thủ Đức (vùng này trước đây thuộc tỉnh Biên Hòa). Lực lượng của Hội kín do Đoàn Văn Cự lãnh đạo khá đông đảo và có mặt tên địa bàn rộng lớn của tỉnh Biên Hòa thời bấy giờ. Để chuẩn bị cho đại cuộc đánh Pháp, ông cho tích lũy lương thực, mua sắm khí giới, lập lò rèn vũ khí, luyện tập cho nghĩa quân… và chọn vùng rừng Bưng Kiệu làm căn cứ. Ngày 11-5-1905, chính quyền thực dân cho một tiểu đội lính đên bao vây căn cứ. Thủ lãnh Đoàn Văn Cự triệu tập nghĩa quân mai phục đánh địch. Thế nhưng, phục cả ngày không thấy giặc đến, Đoàn Văn Cự cho nghĩa quân rút về căn cứ. Nhân lúc này, giặc Pháp tấn công, xông thẳng đến nơi Đoàn Văn Cự đang ở. Khi thấy viên sĩ quan Pháp dẫn lính vào, Đoàn Văn Cự quác mắt nhìn và vung đảo đao chém thẳng vào chúng. Viên sĩ quan Pháp bị thương nhưng kịp rút súng băn thẳng vào Đoàn Văn Cự. Giặc bắn trả làm cho vị thủ lãnh nghĩa quân hy sinh ngay trước bàn thờ Tổ. Đoàn Văn Cự được người dân thờ tại đình Tam Hiệp (Biên Hòa).</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Hội kín Lâm Trung trại với những trại viên chủ chốt như Ba Hầu, Năm Hy, Hai Lựu, Lào Lọt, Hai Sở, Ba Vạn, Bảy Phát, Hai Danh, Hai Hổ, Mười Sóc, Mười Tiết… đóng tại núi Gò Mọi, vùng Thiện Tân, Vĩnh Cửu. Tháng 1-1916, nghĩa quân trại Lâm Trung chia làm nhiều toán tấn công vào các nhà hội (trụ sở hội tề) ở Tân Trạch, Tân Khánh, Tân Lương… và Khám đường Biên Hòa, chợ Tân Uyên (lúc bấy giờ thuộc tỉnh Biên Hòa). Cuộc tấn công làm cho quân Pháp và chính quyền tay sai ở Biên Hòa bất ngờ. Thế nhưng, sau đó, quân Pháp tập trung lực lượng đàn áp, lùng bắt các trại viên. Nhờ có tay sai chỉ điểm, vào tháng 3 năm 1916, giặc Pháp bắt được các trại viên chủ chốt trại Lâm Trung. Tháng 6 năm 1916, thực dân Pháp lập tòa án xử các trại viên Lâm Trung và tuyên án tử hình chín người tại Dốc Sỏi (xóm Bình Thành). Trước khi bị xử bắn, một số trại viên đã tỏ rõ khí tiết hiên ngang, dõng dạc tuyên bố trước họng súng quân thù &quot;<em>Ta sinh làm tướng, chết làm thần, chúc bà con ở lại mạnh giỏi&quot;, &quot;Cứ bắn ta đi, ta xem cái chết như quy tân gia</em>&quot;. Những con người xem nhẹ cái chết vì đại nghĩa, họ được dân lập miếu thờ tại Dốc Sỏi (gọi là miếu Cô Hồn/ nay là chùa Cô Hồn – tên chữ Bửu Hưng tự nay thuộc phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa).</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#ff0033"><strong>* Thi sĩ tay súng, tay gươm</strong></span><span style="color:black"> </span></span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Đó là</span><span style="color:red"> </span><span style="color:black">Huỳnh Văn Nghệ sinh ngày 2-2-1914 tại làng Tân Tịch, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc tỉnh Bình Dương). Ông nổi tiếng là một nhà lãnh đạo quân sự tài ba trong thời kỳ kháng Pháp ở vùng rừng núi miền Đông Nam Bộ.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Trong cuộc đời tham gia cách mạng, ông kinh qua nhiều chức vụ lãnh đạo quan trọng của tỉnh Biên Hòa, của Khu 7. Ông là một trong những người thành lập và lãnh đạo lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên ở Biên Hòa. Tên tuổi của ông gắn liền với Chi đội 10 – người Biên Hòa gọi là bộ đội &quot;Tám Nghệ&quot;. Dưới sự lãnh đạo của Huỳnh Văn Nghệ, lực lượng vũ trang Biên Hòa, miền Đông, Khu 7 đã thực hiện nhiều trận tấn công, làm nên những chiến thắng vẻ vang như: Trận tấn công tỉnh lỵ Biên Hòa, Bàu Cá, Trảng Bom, La Ngà, Bến Sắn… Cấp quân hàm cao nhất của là thượng tá nhưng nhân dân ngưỡng mộ gọi ông là tướng.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Ngoài tài năng thiên bẩm về quân sự, Huỳnh Văn Nghệ được biết đến với tư cách là một nhà thơ. Khi nhắc đến Huỳnh Văn Nghệ, hình ảnh được nhiều người khắc họa đẹp về ông là một chiến sĩ, nhà thơ, tay gươm, tay bút xông xáo trên mọi chiến trường. Ông mất năm 1977 tại thành phố Hồ Chí Minh. Hai câu thơ trong bài &quot;Nhớ Bắc&quot; của Huỳnh Văn Nghệ như một &quot;tuyên ngôn&quot; của đất và người Nam Bộ hướng về cội nguồn Tổ quốc:</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black"><em>Từ độ mang gươm đi mở cõi</em></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black"><em>Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.</em></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#ff0033"><strong>* Những bà mẹ anh hùng chân chất</strong></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Trên địa bàn Đồng Nai, nhiều bà mẹ được phong tặng danh hiệu anh hùng. Sự đóng góp của họ rất lớn trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ đất nước qua hai thời kỳ kháng chiến chống ngoại xâm. Không chỉ những người con, chồng của họ tham gia chiến đấu và hy sinh, có nhiều bà mẹ cũng trực tiếp đánh thù, tham gia nhiều hoạt động cách mạng. Những năm tháng kháng chiến với chất chồng gian khổ, các bà mẹ vẫn cắn răng chịu đựng và tin vào một ngày mai chiến thắng, độc lập. Mỗi khi tin người thân hy sinh báo về là mỗi lần nén nỗi đau đến tột cùng. Khi nhà nước thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, vinh danh sự đóng góp, nhiều bà mẹ cảm thấy lòng chợt như ấm lên với bao nghĩa tình. </span></span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Thế nhưng, khi làm hồ sơ để công nhận phong tặng, không ít người thực hiện máy móc đã làm các mẹ phật ý, vất vả để tìm cho được những minh chứng cụ thể. Nhiều mẹ bảo: <em>ngày trước động viên chồng rồi đến con, lần lượt từng người đi đánh giặc chỉ mong đánh thắng giặc rồi về, chứ đâu có mong hy sinh rồi có người làm chứng như vậy đâu. </em>Đúng là các mẹ giận nhưng thật là chân chất làm sao. Những nỗi đau, những hy sinh không thể đếm được mà họ trải qua cũng đủ làm cho họ anh hùng. Đó cũng là một tính cách.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">                                            <img alt="" src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0650_NgingNai2.png">      </span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">                                     </span><span style="color:blue"><strong>Văn miếu Trấn Biên - nơi thờ các bậc tiền hiền xứ Đồng Nai</strong></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Trên đất Biên Hòa – Đồng Nai, vẫn còn có biết bao người trong từng thời kỳ lịch sử đã có những đóng góp cho vùng đất này trên nhiều phương diện. Tính cách con người Đồng Nai chắc chắn từng bước được định hình trong một chuỗi dài của lịch sử kể từ khi khai khẩn, tạo dựng và phát triển cho đến hôm nay mà những nhân vật trên chỉ là một phần trong mạch nguồn tạo nên đất và người Đồng Nai. Thước đo chính xác nhất để con người sống mãi là lòng dân, đó là cách khắc ghi mãi trường tồn so với thời gian bể dâu. </span></span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Hiện nay, đất Đồng Nai cũng tiếp tục là vùng đất mở để phát triển. Trên vùng đất này, hầu như có mặt đông đảo các thành phân dân tộc của Việt Nam sinh sống và nhiều người nước ngoài từ khắp các châu lục. Đó là một thực tế của diễn trình phát triển trong nhiều thời kỳ lịch sử cho đến nay. Mong sao, từ những tính cách tốt đẹp của những con người cụ thể là những tấm gương cho những ai đã từng sinh ra và lớn lên, cho những ai đến sinh sống và làm việc ở Biên Hòa – Đồng Nai được biết đến, suy gẫm và cùng góp phần để cống hiến cho vùng đất này như bao thế hệ của tiền nhân, để mạch nguồn được mãi khai thông.</span> </span></span></p>
<div style="text-align:center">
<table style="border-collapse:collapse;background:#ccffcc" border=0>
<colgroup>
<col style="width:391px"></colgroup>
<tbody valign=top>
<tr style="height:20px">
<td style="border-bottom:0.75pt outset;border-left:0.75pt outset;border-top:0.75pt outset;border-right:0.75pt outset" valign=center>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black"><strong><em>Vùng đất miền Đông Nam bộ nói chung, vùng đất Đồng Nai nói riêng vào cuối thế kỷ XVI, về cơ bản vẫn còn là một vùng đất hoang dã, chưa được khai phá.</em></strong></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black"><strong><em>trước năm 1958, vùng đất miền Đông Nam bộ trong đó có Đồng Nai, trên danh nghĩa, thuộc Chân Lạp, nhưng &quot;thuộc&quot; một cách lỏng lẻo. Các dân tộc vẫn sống tự trị và một số sóc Khơme lẻ tẻ chưa hợp thành đơn vị hành chính thuộc triều đình La Bích (Chân Lạp).</em></strong></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black"><strong><em>Cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, vùng đất Đồng Nai trở nên sôi động với sự xuất hiện của lớp cư dân Việt từ miền Thuận Quảng di cư vào.</em></strong></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black"><em><strong>Vào năm 1698, Chúa Nguyễn tổ chức xứ Đồng Nai - Gia Định: &quot;Mùa Xuân năm Mậu Dần (1098), đời vua Hiển Tông Hiếu Minh hoàng đế, sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Kính (Cảnh) vào kinh lược vùng đất Đồng Nai (nay là Nam bộ), đặt vùng đất mới thành phủ Gia Định gồm 2 huyện: huyện Phước Long dựng dinh Trấn Biên, huyện Tân Bình dựng dinh Phiên Trấn. Mỗi dinh đặt chức Lưu thủ, Cai bạ và Ký lục để quản trị; nha thuộc có hai ty Xá, Lại để làm việc; quân binh thì có cơ, độ, thuyền, thủy bộ tinh binh và thuộc binh để hộ vệ. Đất đai mở rộng 1.000 dặm, dân số hơn 4 vạn hộ...&quot;</strong> (Trịnh Hoài Đức, Gia Định Thành thông chí).</em></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial;color:black">(Theo Địa chí Đồng Nai)</span></span></p></td></tr></tbody></table></div>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">Theo nguồn Báo Đồng Nai  </span></span></p></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:15 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.844</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:18:27 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=16</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Ngày 1/3/1948 quân và dân miền Đông đã đánh trận phục kích giao thông nổi tiếng. Hãy cho biết đó là trận đánh giao thông nào?</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=163</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass4AB25EDFE0FE41F59B2EC5E290B582BC>
<div><span style="font-size:x-small"><b><font color="#666666" face=Arial>Trận La Ngà</font></b> </span></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Hỏi đáp về Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 11:20 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.193</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Hỏi đáp về Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 16:23:40 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=163</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Lăng mộ Trịnh Hoài Đức</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=92</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass1749A48413A2437A8057450D732D9A88>
<div><b><font color="#666666" size=2>Lăng mộ Trịnh Hoài Đức nằm ở địa phận phường Trung Dũng, thành phố Biên Hoà. Người dân địa phương quen gọi là “lăng Ông”. Từ bùng binh Biên Hùng của trung tâm thành phố Biên Hoà, theo Quốc lộ I, hướng đông bắc khoảng 300 mét, rẽ vào hẻm 39 (còn gọi là hẻm Đường Rầy –trước đây, một nhánh của tuyến đường từ ga thẳng đến sân bay Biên Hoà) ta sẽ đến được di tích. Nằm trong khu vực của khu phố 3, phường Trung Dũng có rất nhiều ngôi mộ cổ, được xây bằng đá ong tô hợp chất, xung quanh lăng Ông, nhiều người cho rằng, trước kia đây là khu mộ của họ tộc Trịnh Hoài Đức. Dưới thời Nguyễn, mộ Trịnh Hoài Đức thuộc thôn Bình Trúc, dinh Trấn Biên. Thời Pháp thuộc, địa danh Bình Trúc được đổi thành Bình Trước, thuộc quận Châu Thành, tỉnh Biên Hoà. Trường Viễn Đông Bác cổ đã xếp mộ Trịnh Hoài Đức là di tích vào năm 1938 </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ Nhiều ngôi mộ của họ tộc Trịnh Hoài Đức nằm rải rác trên khu đất khoảng 3 héc ta, xen lẫn với nhà dân, các con đường mòn nhỏ. Các ngôi mộ đều xây theo lối hình voi phục, mặt bằng dạng khối hình chữ nhật; các bia đá khắc chữ Hán hướng về phía tây nam, tường phủ rêu xanh. Trong toàn khu mộ họ Trịnh, mộ Trịnh Hoài Đức nổi bật lên bởi quy mô của kiến trúc, có lẽ đây là chủ ý của những người dựng mộ trong phép tắc của người xưa về dòng họ. 
<div> Trước khi được trùng tu, tôn tạo năm 1998 (nhân dịp kỷ niệm vùng đất Biên Hoà - Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển), mộ Trịnh Hoài Đức nằm khuất trong khu đông dân cư. Trước năm 1975, đáo lệ hằng năm vào lễ Thanh minh, con cháu Trịnh Hoài Đức từ các địa phương khác đến cúng viếng với nghi lễ rất trang trọng. Về sau, có lẽ do một số con cháu trong thân tộc họ Trịnh đã lớn tuổi hay lưu lạc mà các lễ viếng không còn duy trì như trước.</div>
<div> Hiện nay, mộ Trịnh Hoài Đức tọa lạc trên chu vi đất rộng với cảnh quan được tôn tạo mới, khang trang hơn trước rất nhiều. Những ngôi nhà dân trong phạm vi của di tích được giải toả, di tích được bảo vệ bởi hàng rào, tường bao chu đáo. Kiến trúc mộ ban đầu được bảo tồn. Nguyên thủy, mộ xây bằng đá ong tô hợp chất, xung quanh có vòng thành kiên cố. Phía sau mộ có bức tường nhô cao, nối vòng thành dạng hình bầu dục lượn sóng. Trên bức tường có khắc các dòng chữ Hán tựa như bài thơ ca ngợi tài đức của Trịnh Hoài Đức nhưng lâu ngày bị mờ, không còn đọc được, hai bên trang trí hình hai đầu rồng cách điệu. Hiện nay, trên bức tường rộng này được trang trí hình long ẩn vân. Phía trước cửa vào mộ có tấm bình phong lớn, ghi khắc tiểu sử và sự nghiệp của Trịnh Hoài Đức. Trên những cột vuông nối các góc bờ vòng thành trước mộ có khắc những câu đối chữ Hán, nội dung chủ yếu nói về sự học, một cách chủ ý đề cập đến sự uyên bác trên bình diện nghiên cứu của Trịnh Hoài Đức. Trong vòng thành là thành tố chính của kiến trúc, gồm hai phần mộ: một của Trịnh Hoài Đức và một của chánh thất phu nhân, người họ Lê. Cấu kết mộ giống nhau, hình voi phục, xung quanh có gờ hình móng ngựa. Phía trước mỗi phần mộ đều có bia đá, khắc chữ Hán; chung quanh trang trí bởi các đường hồi văn, biểu tượng âm dương, phía dưới đắp nổi dạng chân quỳ. Nội dung các bia ở hai phần mộ Trịnh Hoài Đức nêu vắn tắt các danh, chức, phẩm hàm mà Trịnh Hoài Đức được ban tặng, cùng người vợ của ông; đồng thời có ghi cụ thể thời gian là tháng 11 năm Ất Dậu, con cái là Trịnh Thiên Lễ Nhiên, Trịnh Thiên Nhiên Bảo, Trịnh Thiên Bảo cùng lập bia.</div>
<div>Trịnh Hoài Đức sinh năm 1765 (Ất Dậu). Ông còn có tên là An, tự Chỉ Sơn, hiệu là Cấn Trai. Tổ tiên ông là người Phúc Kiến, Trung Hoa, nối đời làm quan. Đến đời ông nội Trịnh Hoài Đức, nhà Mãn Thanh nổi lên thay nhà Minh, vì bất hợp tác với tân triều, gia đình ông sang cư ngụ ở Việt Nam. Thân sinh Trịnh Hoài Đức là Trịnh Khánh. Ông nổi tiếng ham học, giỏi về thư pháp và có tiếng là cao cờ. Trịnh Khánh kết duyên với cô gái Việt. Trịnh Hoài Đức mồ côi cha từ khi 10 tuổi. Để tránh loạn lạc, mẹ ông từ Qui Nhơn dời nhà đến vùng Phiên Trấn lập nghiệp. Tại đây, Trịnh Hoài Đức được mẹ cho đến thụ giáo thầy Võ Tường Toản, một nhà nho thuần hậu, đạo cao đức trọng nổi tiếng thời bấy giờ. Trịnh Hoài Đức chăm học, kết bạn với Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tĩnh. Cả ba người sau này trở thành những vì sao lấp lánh trời Nam, được mệnh danh là Gia Định Tam gia. Năm 1788, Nguyễn Ánh mở khoa thi ở Gia Định, cả ba ông ra ứng thí và đỗ đạt.</div>
<div> Trịnh Hoài Đức được bổ nhiệm và lần lượt giữ chức Hàn Lâm viện Chế cáo, Điền Tuấn sứ huyện Tân Bình. Năm 1793, ông được sung chức Thị giảng Đông cung (Hoàng tử Cảnh) và dần được thăng lên Tham tri Hộ bộ, coi việc quân lương. Vào năm 1802, Trịnh Hoài Đức được thăng Thượng thư Hộ bộ cùng Ngô Nhơn Tĩnh, Huỳnh Ngọc Uẩn đi sứ Trung Hoa. Năm 1805, Trịnh Hoài Đức nhậm chức Hiệp lưu trấn Gia Định rồi Hiệp tổng trấn vào năm 1808. Tháng 12 năm 1813, Trịnh Hoài Đức từ cương vị Thượng thư Lễ bộ được thăng làm Thượng thư Lại bộ. Năm 1816, Trịnh Hoài Đức lại được giữ chức Hiệp tổng trấn Gia Định. Khi Nguyễn Ánh mất, Minh Mạng lên thay vào năm 1820, Trịnh Hoài Đức được vua triệu về kinh phong làm Phó Tổng tài ở Quốc sử quán, rồi thăng Hiệp biện Đại học sĩ, trật Tòng nhất phẩm, lãnh Thượng thư Lại bộ, kiêm lãnh Thượng thư Binh bộ. Trịnh Hoài Đức với kiến thức sâu rộng, đức độ khiến kẻ sĩ ngưỡng mộ được cử làm chủ khảo nhiều kỳ thi do triều đình mở.</div>
<div> Trịnh Hoài Đức sau 40 năm làm quan được xem như bậc khai quốc công thần, tước lộc đứng đầu triều đình nhưng quen cảnh sống thanh bạch, kiệm ước, gần cuối đời cũng không có ngôi nhà riêng. Đến năm 1823, Trịnh Hoài Đức vì tuổi già, lâm bệnh, dâng biểu xin nghỉ việc. Vua Minh Mạng lệnh cho trích kho 2000 quan tiền và gỗ, gạch, ngói làm nhà, đồng thời ban sâm quế cho Trịnh Hoài Đức để nghỉ ngơi, điều trị bệnh. Mùa thu năm 1824, Trịnh Hoài Đức được vua Minh Mạng sung chức Tổng tài biên sửa Nguyễn Triều Ngọc Điệp và Tôn Phả, rồi kiêm lãnh công việc nhà Thương bạc.</div>
<div><b> </b>Con đường thăng tiến của Trịnh Hoài Đức một mặt thể hiện sự sủng ái của vua, tín nhiệm của triều đình đồng thời nói lên tài năng và nhân cách của ông trong thời bấy giờ.</div>
<div> Mùa xuân năm 1825, sau một thời gian lâm bệnh, Trịnh Hoài Đức mất, thọ 61 tuổi. Vua Minh Mạng thương tiếc, sai nghỉ triều ba ngày, truy tặng ông chức Thiếu bảo, Cần Chánh điện Đại học sĩ, ban tên thụy là Văn Khác; phái hoàng thân Miên Hoằng thân hành tế lễ và đưa linh cữu Trịnh Hoài Đức về Nam theo nguyện vọng của ông. Linh cữu của Trịnh Hoài Đức về đến Phiên Trấn, Tổng trấn Lê Văn Duyệt thân hành phúng viếng rồi hộ linh cữu ôngvề chôn cất nơi quê mẹ là làng Bình Trước, Biên Hoà.</div>
<div> Năm 1852, bài vị Trịnh Hoài Đức được đưa vào thờ ở Trung hưng công thần miếu và đưa vào thờ ở đền Hiền lương năm 1858.</div>
<div> Trên bước đường công danh, Trịnh Hoài Đức đã lên gần tuyệt đỉnh. Ông là một con người tài đức vẹn toàn, được vua tin yêu, quần thần ngưỡng vọng. Dù ở chức quan cao cực phẩm nhưng Trịnh Hoài Đức vẫn sống giản dị, thanh cao, chỉ biết quên mình lo việc ích nước, lợi dân. Về phương diện văn hoá, Trịnh Hoài Đức là nhà thơ, nhà viết sử lỗi lạc hàng đầu của thời Nguyễn Trung hưng. Trịnh Hoài Đức để lại cho hậu thế một kho tàng trước tác đồ sộ gồm thơ văn và các công trình nghiên cứu như: <i>Gia định thành thông chí, Cấn Trai thi tập...</i> Công trình khảo cứu <i>Gia Định thành thông chí </i>là bộ địa lý học – lịch sử giá trị trong kho tàng thư tịch cổ của nước ta. Bộ sách này ghi lại đầy đủ nhất, toàn diện nhất diện mạo xứ Đồng Nai – Gia Định trong thời kỳ khai phá, lập nghiệp của cư dân Việt.</div>
<div>Lăng mộ Trịnh Hoài Đức đã được Bộ Văn hoá - Thông tin - Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử theo Quyết định số 1539/QĐ, ngày 27 - 12 -1990.</div>
<div>Những thế hệ con dân xứ Biên Hoà - Đồng Nai luôn biết ơn và tự hào về Trịnh Hoài Đức, một tài năng lớn, một nhân cách lớn đã góp phần đặt nền móng cho một vùng hào khí Đồng Nai – văn hóa Đồng Nai.</div>
<div align=right><b>Đỗ Bá Nghiệp - Phan Đình Dũng</b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:20 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.040</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:23:59 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=92</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Mẹ Nguyễn Thị Đởm (1906 - )</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=45</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass21D8EFF0EB6C4351AC91DEA95BEA36B2>
<p>
<table border=0 cellspacing=0 cellpadding=0 width="100%">
<tbody>
<tr>
<td valign=top width="70%">
<div id="layout-column_column-1">
<div id="p_p_id_56_INSTANCE_xq6E_">
<div>
<table border=0 cellspacing=0 cellpadding=0 width="100%">
<tbody>
<tr>
<td>
<div id="_56_INSTANCE_xq6E_content0">
<div><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"> <strong>       </strong>Chúng tôi đến trại nuôi dưỡng cha mẹ liệt sĩ ở xã Hiệp Hòa vào một buổi sáng tháng mười, bên bờ sông Đồng Nai quanh năm lặng lẽ bồi đắp phù sa. Gặp lại mẹ Nguyễn Thị Đởm trong niềm vui và xúc động. Mẹ đã ở vào tuổi 89 (1906), nhưng dáng người vẫn thẳng thắn như thời mẹ còn trẻ. Vẫn giọng nói sang sảng của những ngày mẹ làm công tác tuyên truyền, vận động anh em binh lính buông súng về với cách mạng, của những năm tháng kêu gọi đấu tranh chống áp bức, bóc lột, đòi tăng lương, đòi cải thiện đời sống công nhân cạo mủ ở đồn điến cao su Suối Tre, Bàu Hàm... Riêng đôi mắt mẹ đã bao lần ngóng trông người con trai của mẹ trở về... nhưng con mẹ đã không trở về, và đôi mắt thì mỗi ngày một mờ đi... </span></span></span>
<p style="text-align:justify;line-height:12pt"> </p></div>
<div style="text-align:justify;line-height:12pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">             Mẹ đón chúng tôi thân tình như con cháu lâu ngày gặp lại. Mẹ hồn nhiên, dẫn tay chúng tôi chỉ cho xem những tấm huy chương mà nhà nước đã phong tặng cho mẹ, cho chồng, con mẹ</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:12pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"> - &quot; Và cả vòng hoa này nữa, các con xem có đẹp không ?&quot; (Và khi chúng tôi chụp ảnh lưu niệm thì mẹ nhất định đòi đeo vòng hoa ấy cho kỳ được !)</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:12pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">Đang vui, chợt cái nhìn của mẹ thoáng xa xăm. Đôi mắt mờ dõi về một nơi như con mẹ vẫn đang hiện hữu...</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:12pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"> - Đấy ! Các con xem, anh Dần con có giống mẹ không ? Mẹ chỉ có mình anh con, thế mà mẹ cũng không giữ được nó ! Trong cảnh đất nước tang thương, nếu người mẹ nào cũng chỉ muốn giữ con ở nhà với mình, thì đất nước này sẽ về đâu ? ! Biết bao người mẹ đã hy sinh cái riêng để được cái chung ! Nào đâu phải chỉ mình mẹ. Mấy mươi năm rồi còn gì ? ! - Mẹ lấy khăn chậm nước mắt, giọt nước mắt hiếm muộn của tuổi già làm chúng tôi nao nao trong dạ. Rồi mẹ lặng im như đang lục tìm trong ký ức những dấu ấn của một thời đã qua.</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:12pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">             Quê mẹ ở Thụy Anh, Thái Bình. Năm 1926, mẹ theo những người mộ phu vào Nam và chọn Đồng Nai làm quê hương thứ hai. Là một công nhân cạo mủ, phải chịu bao cảnh áp bức, bóc lột của bọn cai, bọn tổng đồn điền, mẹ đã sớm được giác ngộ cách mạng và làm công tác tuyên truyền. Mẹ lấy ông Nguyễn Văn Biên ở Bầu Lâm - Xuyên Mộc - Bà Rịa. Những tưởng cuộc đời sẽ đổi khác, nhưng mẹ đã âm thầm xót xa với cảnh lẻ mọn, Năm 1935, anh Nguyễn Văn Dần ra đời, niềm vui chưa trọn vẹn, thoắt đã ly tan, chồng mẹ bị Pháp bắt và giết chết vì tội &quot;tham gia cách mạng&quot;, còn lại mình mẹ côi cút nuôi con. Năm 1950, anh Dần tham gia cách mạng và làm du kích ở xã An Lộc - Xuân Lộc - Đồng Nai, và khi đến tuổi 20 thì anh thoát ly hoạt động bí mật. Ngày chia tay, anh nói với mẹ : &quot;Con muốn ở nhà làm rẫy nuôi mẹ, nhưng giặc không để chúng ta yên ổn làm ăn... Mẹ hãy để con đi... Con còn phải trả thù cho cha nữa !&quot;</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:12pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">             Dứt ruột đưa tiễn con vào kháng chiến, những lần gặp mặt vội vã qua những lần tiếp tế cho con, còn lại mình mẹ, mẹ tiếp tục công tác hậu phương. Tảo tần với đủ mọi nghề, mọi việc, dành dụm được ít tiền, vàng, mẹ cũng bán đi để gửi cho con và cho anh em cách mạng.</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:12pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">             Trong những năm tháng làm công tác hậu phương, mẹ cũng đã từng ra khám vào tù (có năm mẹ bị tù tới bốn lần), bị đánh đập tra khảo, nhưng không moi được chứng cớ gì ở mẹ, chúng đành thả mẹ ra. Mẹ lại tiếp tục công việc của mình. Một đặc điểm nổi bật ở mẹ là sự nhanh trí và khéo léo, mẹ đã nhiều lần qua mặt được kẻ thù giúp cho những cuộc họp, những cuộc hành quân bí mật của anh em cách mạng được an toàn... Lắm khi nhớ lại, mẹ bật cười : &quot;Nghĩ hồi ấy, mình cũng gan !...&quot;</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:12pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">             Những tưởng mẹ con sẽ có một ngày gặp lại, nhưng anh Dần đã vĩnh viễn nằm lại ở ấp Núi Tung, xã An Lộc - Xuân Lộc - Đồng Nai ngày 2-9-1969 khi bám đánh địch ở núi Tung bị vướng mìn của địch gài, anh hy sinh tại chỗ. Chiến tranh qua đi, hòa bình lập lại, con của mẹ chỉ còn trở về với tấm di ảnh nơi đầu giường của mẹ. Vắng sự chăm sóc của con nhưng mẹ lại được sống trong sự yêu thương đùm bọc của các cấp, các ngành... dẫu cho đó là sự bù đắp rất nhỏ.</span></span></span></div>
<div><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">            Mẹ được nhà nước phong tặng danh hiệu : &quot;Bà mẹ Việt Nam anh hùng&quot; tháng 11 -1994.</span></span></span></div></div></td></tr></tbody></table></div></div></div></td>
<td width="1%">
<div><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"></span></span></span> </div></td></tr></tbody></table></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Những bà mẹ Việt Nam anh hùng</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 23/06/2010 12:35 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.005</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Những bà mẹ Việt Nam anh hùng</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 17:36:31 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=45</guid>
    </item>
    <item>
      <title>105 năm trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai: Đào tạo nhiều thế hệ có trình độ tay nghề cao</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=10</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass684AA90F0A114B0EA9B63AF3F04EF96C>
<div><b><font color="#666666" size=2>Trải qua 105 năm hình thành và phát triển, Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai ngày nay thuộc Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch được tuyển sinh cả nước, hàng năm cho ra trường nhiều thế hệ sinh viên, học sinh có tay nghề cao. </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai là trường có bề dày lịch sử, gắn liền với 310 năm hình thành và phát triển vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai. Năm 1903, khi mới thành lập, Trường dạy nghề Biên Hòa (tên gọi lúc ban đầu) đã có 6 ban nghề, gồm: đan lát, gốm, đúc đồng, tiện, chạm khắc, vẽ. Đến năm 1931, đây vẫn là một trường mạnh trong số 5 trường dạy nghề của xứ Nam kỳ, nhưng số ban đào tạo và sĩ số học trò giảm (ban đúc: 14 học trò, ban gốm: 9 và ban mộc: 4). Từ 1964, trường được đổi tên thành Trường kỹ thuật Biên Hòa, cũng chỉ có 3 ban nghề.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">            Từ sau ngày miền </span><span style="line-height:150%;font-size:10pt">Nam</span><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> hoàn toàn giải phóng, trường được đổi tên thành Trường phổ thông công nghiệp Đồng Nai, thuộc Ty Giáo dục Đồng Nai. Là một trường đào tạo học sinh có năng khiếu mỹ thuật nên từ tháng 1-1978, trường được đổi tên thành Trường trung học mỹ thuật trang trí Đồng Nai và từ năm 1998 nâng cấp thành trường cao đẳng.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">Kể từ khi được nâng cấp hệ cao đẳng, quy mô đào tạo của trường đã ngày càng mở rộng. Hàng năm tuyển sinh, có khoảng 2.000 thí sinh từ khắp mọi miền đất nước về dự tuyển, nhưng chỉ tiêu tuyển sinh có hạn, do nhà trường chú trọng tuyển sinh đầu vào phải có năng khiếu hội họa. </span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">            Hiện nay, Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai có 8 khoa đào tạo, gồm 51 lớp với 1.210 sinh viên. Các khoa được duy trì đào tạo gồm: gốm mỹ nghệ, trang trí nội thất, điêu khắc, đồ họa. Những khoa mới có từ khi lên hệ cao đẳng gồm: đồ họa đa truyền thông, thiết kế thời trang, nhiếp ảnh quảng cáo, vừa học vừa làm.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">            Trước yêu cầu rất lớn về lực lượng lao động là họa sĩ thiết kế mẫu mã, sản phẩm phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa trong nước và xuất khẩu, Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai luôn đổi mới phương pháp, chỉnh lý chương trình giảng dạy cho phù hợp với thực tế trong nước, hòa nhập với trình độ các nước trong khu vực và quốc tế. Ban giám hiệu thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo chuyên đề, trao đổi thực tiễn với các công ty, doanh nghiệp, nhằm thống nhất chi tiết cho các môn chuyên ngành lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng, tạo mối quan hệ để sinh viên thực tập tại các đơn vị, doanh nghiệp. Do đó, khi ra trường, hầu hết sinh viên đều có việc làm và đáp ứng nhiệm vụ được giao.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">Trong 5 năm gần đây, đa phần các giảng viên đứng lớp đã sử dụng phương tiện nghe nhìn, nâng cao chất lượng giảng dạy và khả năng tiếp thu của sinh viên. Là trường chuyên ngành mỹ thuật trang trí, nhà trường luôn quan tâm nâng cao chất lượng về hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Đứng chân trên địa bàn Đồng Nai, trường đã thực hiện nhiều công trình, sản phẩm văn hóa có giá trị cho tỉnh, như: tượng đài chiến thắng sân bay Biên Hòa; cổng chào Văn miếu Trấn Biên bằng chất liệu gốm; công trình phục dựng Văn miếu Trấn Biên với các đầu hồi, rồng, phụng chất liệu gốm; 5 bức phù điêu gốm đất nung tại trụ sở UBND tỉnh... Hàng năm, nhiều sinh viên của trường tham gia giải thiết kế thời trang toàn quốc, được vào vòng chung kết và đoạt giải. Nhiều thế hệ sinh viên ra trường đã có đóng góp thiết thực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">            Kỷ niệm 105 năm hình thành và phát triển Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai (1903 - 2008) hòa chung không khí kỷ niệm 310 năm Biên Hòa - Đồng Nai, tập thể nhà trường đã được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng ba.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> <b>1903 - 1913: Trường dạy nghề Biên Hòa (còn gọi là Trường bá nghệ Biên Hòa).</b></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> 1913 - 1944: Trường mỹ nghệ bản xứ Biên Hòa.</span></b></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> 1944 - 1964: Trường mỹ nghệ thực hành Biên Hòa.</span></b></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> 1964 - 1976: Trường kỹ thuật Biên Hòa.</span></b></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> 1977: Trường phổ thông công nghiệp Đồng Nai (thuộc Ty Giáo dục Đồng Nai).</span></b></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> 1977 - 1998: Trường trung học mỹ thuật trang trí Đồng Nai (Bộ Văn hóa - thông tin).</span></b></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> 1998 đến nay: Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai (Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch).</span></b></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt">Đỗ Hiếu (Theo báo Đồng Nai)</span></b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:10 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.607</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:10:41 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=10</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Di sản chữ Hán ở Biên Hòa</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=29</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass328E620838254705B946AB4C2DDA796C>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#666666;font-size:10pt"><strong>Công trình Di sản chữ Hán ở Biên Hòa do GS. Huỳnh Minh Đức (Đại học sư phạm TP.Hồ Chí Minh) chủ trì, thực hiện theo yêu cầu của UBND TP.Biên Hòa chuẩn bị được xuất bản để giới thiệu đến với bạn đọc. </strong></span><span style="font-size:9pt"></span></span></p>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">﻿ </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Công trình Di sản chữ Hán được GS.Huỳnh Minh Đức và các cộng sự thực hiện từ năm 1997 - 1998 (trong dịp 300 năm Biên Hòa - Đồng Nai). Hầu hết những di sản chữ Hán nơi các đình, chùa, miếu ở Biên Hòa đều đã được nhóm tác giả thực hiện hết sức công phu: sưu tầm, phiên âm, dịch nghĩa... gần như đầy đủ. Bản dịch cũng đã được GS.Lý Việt Dũng, nhà nghiên cứu Hán Nôm góp ý chỉnh sửa. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">                                                   <img alt="" src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0715_DisnchHn1.png">                            </span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">                                                          Khảo sát chữ Hán ở đình Bình Thiền   </span><span style="font-family:Times New Roman;color:black;font-size:12pt"> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt">   </p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">                                                              <img alt="" src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0715_DisnchHn2.png"></span><span style="font-family:Times New Roman;color:black;font-size:12pt"> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">                                                                  Chữ Hán ở chùa Đại Giác</span><span style="font-family:Times New Roman;color:black;font-size:12pt"> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt">   </p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Để công trình xuất bản được hoàn chỉnh, tránh những hạn chế nhất định, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã chỉ đạo Bảo tàng Đồng Nai phối hợp với Phòng Văn hóa - thể thao Biên Hòa khảo sát, chỉnh lý, sưu tầm bổ sung di sản chữ Hán trong các đình, đền, chùa, miếu, nhà cổ, lăng mộ cổ ở TP.Biên Hòa. Nhiệm vụ của đoàn khảo sát lần này là: khảo sát, vẽ sơ đồ vị trí các chữ Hán (tiền điện, chánh điện, hậu điện, các cơ sở tín ngưỡng kèm theo...); đối chiếu kiểm chứng những chữ Hán sai sót về thứ tự và chữ nghĩa; bổ sung các chữ Hán mới; bổ sung thông tin cơ bản về lịch sử, quá trình xây dựng, trùng tu, kiến trúc, những giá trị văn hóa nghệ thuật tiêu biểu của di tích... </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Qua một thời gian thực hiện, nhóm khảo sát bước đầu nhận thấy, ngoại trừ một số di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh, còn lại đa phần những di tích khác, di sản chữ Hán vẫn chưa được khai thác hết do tiêu chí được đặt ra ban đầu là chỉ sưu tầm những chữ Hán tương đối cũ, mang tính lịch sử, còn những chữ Hán mới được thực hiện sau này thì không sưu tầm. Do vậy, công việc của nhóm khảo sát, chỉnh lý lần này gần như sưu tầm bổ sung phần còn lại rất lớn còn khiếm khuyết mà lần trước chưa thực hiện. Mặt khác, những công trình chữ Hán mới được sưu tầm lần này là do 10 năm trước chưa có (một số do các cơ sở tín ngưỡng tôn giáo cho tu sửa, gia cố, bổ sung các hạng mục trong toàn bộ hệ thống công trình, kèm theo việc bổ sung những chữ Hán chưa có ở các hạng mục mới xây dựng). </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Qua đối chiếu chỉnh lý chữ Hán đã thực hiện trước đây, đoàn khảo sát cũng nhận thấy còn có những nhầm lẫn về chữ nghĩa hoặc chưa đúng về thứ tự của chữ Hán làm cho việc phiên âm và dịch nghĩa thay đổi nhất định. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">UBND TP.Biên Hòa đã lựa chọn khảo sát khoảng gần 80 đình, đền, chùa, miếu trong tổng số hàng trăm cơ sở tín ngưỡng tôn giáo trên địa bàn Biên Hòa. Công trình còn mở rộng ra đối với một vài cơ sở tín ngưỡng ở vùng ven Biên Hòa là các huyện Long Thành và Vĩnh Cửu. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Chữ Hán là một trong những di sản văn hóa của cha ông ta để lại. Trải qua 310 năm hình thành và phát triển, Biên Hòa - Đồng Nai có một vị trí đáng tự hào về lịch sử hào hùng của cha ông ta trong quá khứ và tiềm năng phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập. Việc sưu tầm và bảo tồn di sản chữ Hán trong các đình, chùa, miếu ở Biên Hòa là góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa phi vật thể, là tinh hoa trí tuệ của dân tộc; thể hiện được tư tưởng, khát vọng, đề cao đạo đức, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo... của quần chúng nhân dân. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Công việc của nhóm khảo sát vẫn còn nhiều khó khăn, cần phải có nhiều thời gian, công sức và tâm huyết để thận trọng hơn trong việc khảo sát vị trí, đối chiếu công trình đã có và sưu tầm, bổ sung những chữ Hán còn khiếm khuyết. Đối tượng của nhóm khảo sát cũng không dừng lại ở đình, đền, chùa, miếu mà còn mở rộng ra đối với những di sản chữ Hán ở nhà cổ, lăng mộ cổ... Do vậy, công việc của đoàn sẽ còn cần rất nhiều thời gian và công sức hơn nữa để hoàn thành công việc này. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"><strong>Nguyễn Thị Nguyệt (Theo baodongnai.com.vn) </strong></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:43 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.270</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:43:37 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=29</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Một thời, thương cảng Cù lao Phố</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=11</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassE85828D035C54B74A74368589029E82B>
<div><b><font color="#666666" size=2>Tên gọi Cù lao Phố dân dã là một danh xưng dễ quên, dễ nhớ về một địa điểm được mệnh danh &quot;chốn đô hội&quot; của xứ Biên Hòa. </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">Nhóm người Hoa của Trần Thượng Xuyên tạo dựng đã có công lớn trong việc tạo dựng thương cảng ở cù lao Phố. Theo sử liệu, năm 1679, được sự chấp thuận của chúa Nguyễn, nhóm người Hoa do Trần Thượng Xuyên đến sinh sống ở xứ Bàn Lân (Biên Hòa ngày nay). Trần Thượng Xuyên thấy địa hình này có ưu thế cho việc phát triển nông nghiệp, lại thuận tiện giao thông thủy, bộ; có lợi cho việc buôn bán nên đã xây dựng nơi đây thành một thương cảng. Đường xá ở Cù lao Phố được mở mang, phố xá được tạo dựng, chợ búa được thành lập, hàng hóa dồi dào, thường xuyên có nhiều tàu nước ngoài đến buôn bán. </span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">            Cảnh phồn vinh, sầm uất của cảng thị cù lao Phố được sử sách ghi chép: &quot;Nông Nại đại phố ở đầu phía Tây Cù lao Đại phố được kiến thiết phố xá, mái ngói tường vôi, lầu cao quán rộng, dọc theo bờ sông liền lạc tới năm dặm. Chia vạch làm ba đường phố: đường phố lớn lót đá trắng, đường phố ngang lót đá ong, phố nhỏ lót đá xanh, đường rộng bằng phẳng&quot; hay &quot;phố chợ thương mại, giao thông với người Tàu, người Nhật Bản, Tây Dương, Đồ Bà (Java). Kẻ buôn tụ tập, ghe thuyền lớn ở biển và ở sông đều neo liên tiếp nhau, ấy là một chỗ đại đô hội...&quot;.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">Cù lao Phố trở thành một trung tâm thương mại và giao dịch vào loại nhất của </span><span style="line-height:150%;font-size:10pt">Nam</span><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> bộ thời bấy giờ nhờ có ưu thế của một cảng sông sâu trong nội địa, đầu mối tập trung nhiều loại hàng hóa. Vùng cù lao Phố cũng là nơi hình thành sớm các ngành nghề thủ công: dệt chiếu, làm tơ lụa, làm gốm, mộc, đúc đồng, làm pháo hay chăn nuôi tằm, trồng mía, nấu đường... Ngoài nguồn hàng cung cấp tại chỗ, thương cảng cù lao Phố còn tiếp nhận các nguồn hàng hóa từ nơi khác trên vùng Đồng Nai lúc bấy giờ như Phước Thiền, Bến Gỗ, Bến Cá... </span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">            Thế nhưng, kiến trúc phong quang của Cù lao Phố bị ảnh hưởng và tàn phá nặng nề qua cuộc bạo loạn của thương nhân người Phước Kiến là Lý Văn Quang vào năm 1747; trong cuộc tranh chấp giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Đặc biệt, vào năm 1776, cù lao Phố bị tàn phá &quot;... từ đấy chỗ nầy biến thành gò hoang, sau khi trung hưng, người ta tuy có trở về, nhưng dân số không được một phần trăm lúc trước&quot;. Hầu hết đền, chùa, đình, miếu và phố xá ở cù lao Phố thời còn là &quot;xứ đô hội&quot; đã bị thời gian, chiến tranh chôn vùi vào quá khứ.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">            Với vị thế của một thương cảng, sầm uất, Cù lao Phố còn là nơi được xây dựng những kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng đồ sộ lúc bấy giờ. Chắc chắn, những công trình kiến trúc được xây dựng trong thời kỳ lịch sử bấy giờ không chỉ đáp ứng cho nhu cầu tâm linh của cư dân tại chỗ mà còn cho các khách của vùng lân cận, vùng xa đến chiêm ngưỡng hay trong dịp mua bán hàng hóa. Hiếm có vùng đất nào với đơn vị hành chánh cấp xã ở </span><span style="line-height:150%;font-size:10pt">Nam</span><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> bộ lại có mật độ nhiều cơ sở tín ngưỡng như trên vùng đất này. Cù lao Phố có đến 5 ngôi chùa, 3 tịnh xá và 11 ngôi đình, 1 biểu tòa Cao Đài, nhiều ngôi miếu... Trong đó, có 4 di tích được nhà nước xếp hạng. Gắn liền với các thiết chế tín ngưỡng này là những di sản văn hóa phi vật thể vô cùng phong phú của những thế hệ tiền nhân thuở đầu khai phá vẫn còn được bảo lưu cho đến ngày nay.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">            Những câu chuyện tích liên quan đến những danh lam cổ kính, mái đình rêu phong, miếu thờ... là những bài học đối nhân xử thế nơi vùng đất mới. Chắc hẳn, một thời náo nhiệt của chốn đô thị, vùng đất này phát triển mạnh về kinh tế. Có lẽ để giữ cho cuộc sống hài hòa, cái tâm của con người luôn hướng thiện, mà vùng đất cù lao Phố này xuất hiện nhiều câu chuyện mang ý nghĩa sâu sắc về đạo làm người. Nội dung nhiều chuyện tích gắn với những nhân vật đời thường hay chi tiết hoang đường thì nó cũng gắn với từng di tích cụ thể mà mỗi khi nhắc đến cũng khiến cho con người suy nghĩ. Chùa Đại Giác lưu truyền câu chuyện tình nơi cửa Phật đầy bi cảm giữa một hoàng cô với nhà sư. Sức mạnh của tình yêu con người, sức mạnh của niềm tin Phật pháp khiến con người hướng thiện. Chùa Thủ Huồng gắn với nhân vật Võ Thủ Hoằng vốn gian tham, làm bao điều ác, nhưng cuối đời nhận ra lẽ phải, tích đức xóa được án tội, trở thành một vị vua trong kiếp luân hồi. Chùa Hoàng Ân gắn với tích nhà sư cưu mang đôi vợ chồng trẻ mang bệnh nan y. Đối nhân xử thế nghĩa tình không chỉ giúp cho con người đời sau, mà còn tạo niềm tin cho con người trong cuộc sống đời thường. Miếu Quan Đế tương truyền sự linh ứng nhắc cho con người theo nghĩa khí chính trực của một bậc quân thần được tôn thờ. Vàm nước trước đình Bình Kính với huyền tích đôi cá thần đêm đêm quẫy nước nhớ ơn người có công với làng xã huống chi con người lại không biết tri ân... Bao câu chuyện với những chi tiết dẫu có hoang đường cũng đều gợi cho con người biết sống với nhau sao cho vẹn nghĩa trọn tình. Đó có lẽ cũng là điều mà bao thế hệ tiền nhân trên vùng Cù lao Phố này như gởi đến cho những người tiếp tục sinh sống trên mảnh đất này. </span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt">Phan Duyên Tâm (Báo Đồng Nai)</span></b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:10 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.740</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:11:17 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=11</guid>
    </item>
    <item>
      <title>HĐND tỉnh giám sát môi trường tại huyện Trảng Bom: Các khu công nghiệp đều chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=100</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass064153DF06DE4141AAAF10D8BEADCFCE>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><img alt="" align=right src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2010-6/ViewImage5.bmp">Được biết, hiện nay các KCN trên đều chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung; nhiều doanh nghiệp trong các KCN này chưa có hệ thống xử lý nước thải cục bộ. Điển hình như ở KCN Hố Nai có 104 doanh nghiệp đã đi vào hoạt động sản xuất, nhưng mới chỉ có 14 doanh nghiệp có hệ thống xử lý nước thải cục bộ và phân nửa trong số này xử lý không đạt tiêu chuẩn. Nhiều doanh nghiệp không đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại; không thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường theo cam kết trong đánh giá tác động môi trường nhưng vẫn đi vào hoạt động, thậm chí mở rộng hoạt động... </span></p>
<p style="text-align:right"><span style="font-size:x-small">Phương Liễu <br></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 04/08/2008 9:25 SA</div>
<div><b>ItemImg:</b> <a href="http://www.thuviendongnai.gov.vn/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2010-6/ViewImage5.bmp">http://phamngocthach/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2010-6/ViewImage5.bmp</a></div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Ngày 16-7, đoàn giám sát HĐND tỉnh do ông Huỳnh Chí Thắng, Phó chủ tịch HĐND tỉnh làm trưởng đoàn, cùng các ông Ao Văn Thinh, Phó chủ tịch UBND tỉnh; ông Lê Viết Hưng, Giám đốc Sở TN-MT và một số thành viên thuộc các sở, ban, ngành khác đã có buổi làm việc với Ban quản lý 3 khu công nghiệp (KCN): Hố Nai, Sông Mây và Bàu Xéo (huyện Trảng Bom) về các vấn đề xử lý môi trường, trong đó tập trung giám sát hoạt động xử lý nước thải công nghiệp.</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.767</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:30:01 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=100</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Văn miếu Trấn Biên ở Đồng Nai - Sức sống của một vùng đất</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=111</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass2FDBAADCCD7D46C59D9BB09EB447DA4F>
<p style="text-align:justify"> </p>
<p>
<table style="border-collapse:separate" border=0 cellspacing=0 cellpadding=0 width=40 align=right>
<tbody>
<tr>
<td><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><font color="#666666"> <img alt="" align=right src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2010-6/vanmieutranbien.jpg" width=96 height=60></font></span></span></td></tr></tbody></table></p>
<div style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><b><font color="#666666">Trải qua thời gian, những giá trị văn hóa cũng như tinh thần hiếu học của người Việt Nam chẳng những không bị mai một đi mà ngày càng phát triển và theo chân những người đi mở đất để đến với tất cả mọi người. Năm 1698 khi Chưởng cơ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam mở đất thì vùng Đồng Nai bấy giờ đã khá trù phú với một thương cảng sầm uất ở phía nam. </font></b></span></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">﻿ </span></span></div>
<div><font size=2>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Nhằm từng bước nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài cho vùng đất mới, 17 năm sau, năm 1715, chúa Nguyễn Phúc Chu sai trấn thủ Nguyễn Phan Long và ký lục Phạm Khánh Đức xây dựng Văn miếu Trấn Biên, có vai trò như một trung tâm văn hóa giáo dục ở vùng đất Đồng Nai. Sách Đại Nam nhất thống chí ghi: “Phía nam trông ra sông Phước Giang, phía bắc dựa vào núi Long Sơn, là một nơi cảnh đẹp thanh tú, cỏ cây tươi tốt...”. Đây là văn miếu đầu tiên được xây dựng ở phương nam. Người Đồng Nai kính trọng gọi đó là Văn Thánh miếu, nơi không chỉ thờ Khổng Tử mà còn thờ phụng các bậc vĩ nhân, danh nhân văn hóa, giáo dục của đất nước. Văn miếu Trấn Biên ở Đồng Nai là sự tiếp nối truyền thống của Văn miếu Thăng Long, là biểu trưng của tinh thần hiếu học và những giá trị văn hóa. Năm 1861, thực dân Pháp xâm lược đã tàn phá Văn miếu Trấn Biên nhằm mục đích tiêu diệt nguyên khí quốc gia, triệt tiêu sĩ phu yêu nước, dập tắt tinh thần yêu nước của người dân vùng Đồng Nai. Trải qua biết bao biến cố, thăng trầm của lịch sử, nhất là các cuộc chiến tranh xâm lược của giặc ngoại xâm, trong tâm thức của người Đồng Nai, Văn miếu Trấn Biên luôn luôn tồn tại. Ngày 9 tháng 12 năm 1998 văn miếu được khởi công khôi phục lại tại phường Bửu Long, TP.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, diện tích 2 ha. Ngày 14 tháng 2 năm 2002, văn miếu chính thức mở cửa đón khách tham quan. Rùa đội hạc, trống hội Thăng Long... như nhắc nhở chúng ta về cội nguồn Thăng Long ngàn năm văn hiến. Bia tiến sĩ được khắc bằng đá với dòng chữ đầu tiên “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Bia văn miếu được đặt trong nhà trung tâm đã ghi lại vị trí của Văn miếu Trấn Biên trước đây, sau khi bị tàn phá không còn dấu tích gì.</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><i><span style="line-height:150%">Văn miếu đầu tiên của đất nước ta được xây dựng năm 1070, đó là văn miếu ở Thăng Longxây dựng đời vua Lý Thánh Tông. Văn miếu là nơi thờ phụng các bậc vĩ nhân, danh nhân tiêu biểu của đất nước và là nơi hội tụ, biểu trưng của văn hóa dân tộc.</span></i></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Nguồn tin: Báo CAHCM.</span></span></span></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Danh thắng Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 4:00 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.729</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Danh thắng Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 09:01:32 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=111</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Các di tích được trùng tu</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=25</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass7D8C80BCD5C447B3AC27FE676445597F>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt"><span style="color:#666666"><strong>Năm nay, ngành văn hóa - thể thao và du lịch có các dự án trùng tu, tôn tạo một số di tích gắn với lịch sử địa phương để thiết thực kỷ niệm 310 năm hình thành và phát triển vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai. </strong></span></span></p>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">﻿ </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt"><strong><em>* Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh </em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">Tọa lạc tại xã Hiệp Hòa, TP. Biên Hòa, đền thờ đã được Bộ Văn hóa - thông tin (VHTT) xếp hạng là di tích lịch sử năm 1991. Đền do nhân dân sở tại xây dựng vào giữa thế kỷ XVIII thờ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh - người có công lớn trong việc phụng lệnh Chúa Nguyễn vào vùng đất Nông Nại (nay là Biên Hòa - Đồng Nai) xây dựng, thiết lập bộ máy hành chính phương Nam và sáp nhập vùng đất mới này vào bản đồ Đại Việt năm Mậu Dần (1698). </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">     Theo thời gian, nhiều hạng mục xuống cấp và được trùng tu, sửa chữa nhiều lần. Hiện Ban quản lý di tích - danh thắng (BQLDTDT) tỉnh phối hợp với Phân viện Khoa học công nghệ miền Trung lập dự án trùng tu tôn tạo các hạng mục: sửa, chống dột mái ngói, sửa chữa hàng rào; phục chế lại toàn bộ hệ thống cửa ra vào, xử lý mối mọt, nấm mốc; sửa chữa, sơn phết lại ngôi mộ vọng của Nguyễn Hữu Cảnh ở khu đất phía sau đền... Tổng kinh phí đầu tư hơn 1 tỷ đồng bằng nguồn ngân sách của tỉnh. Dự án đang trình các cơ quan thẩm quyền phê duyệt, dự kiến sẽ được khởi công vào tháng 12-2008 và hoàn thành vào đầu năm 2009. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">     <strong><em>* Lăng mộ Trịnh Hoài Đức </em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">     Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825) là danh nhân văn hóa nổi tiếng xứ Đồng Nai - Gia Định. Ông là bậc công thần triều Nguyễn, tác giả của bộ sách quý &quot;Gia Định thành thông chí&quot;. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt"> Khu lăng mộ Trịnh Hoài Đức và chánh thất phu nhân cùng với hơn 10 ngôi mộ của dòng tộc họ Trịnh tọa lạc ở phường Trung Dũng (TP. Biên Hòa), đã được xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia năm 1990. Mộ Trịnh Hoài Đức được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX với lối kiến trúc kiểu voi phục, vật liệu xây dựng là ô dước (vôi, cát, mật đường, vỏ sò và vỏ nhựa cây ô dước). </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt"> Khu di tích đã được TP. Biên Hòa trùng tu vào năm 1998 nhưng do nguồn kinh phí hạn hẹp nên mới chỉ trùng tu, sửa chữa được mộ của Trịnh Hoài Đức và phu nhân, còn hơn 10 ngôi mộ khác của dòng tộc họ Trịnh nằm xen kẽ với nhà dân đang bị xuống cấp trầm trọng vẫn chưa được nâng cấp, sửa chữa. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt"> Năm 2007, UBND Biên Hòa tiếp tục cho triển khai lập dự án trùng tu tôn tạo khu lăng mộ Trịnh Hoài Đức và dòng tộc họ Trịnh với tổng kinh phí dự tính trên 20 tỷ đồng, gồm các hạng mục: giải tỏa đền bù, xây cổng Tam quan, nhà bia, đền thờ, sân lễ và trùng tu, tôn tạo các ngôi mộ bằng vật liệu ô dước, khôi phục các hoa văn, họa tiết và văn bia khắc trên mộ. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">     Dự án đang ở giai đoạn hoàn chỉnh hồ sơ trình các cấp thẩm quyền phê duyệt. Trước mắt, để kịp chào mừng kỷ niệm Biên Hòa - Đồng Nai 310 năm, BQLDTDT tỉnh sẽ tiến hành làm bia, biển giới thiệu, chỉnh trang khu mộ, dọn dẹp vệ sinh đường vào di tích để đón khách tham quan. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt"> <strong><em>* Di tích đình An Hòa </em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">     Tọa lạc tại xã An Hòa, huyện Long Thành. Đình được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVIII thờ Thần Thành hoàng bổn cảnh của làng. Đình An Hòa đã được xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 1989. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">     Năm 2007, UBND tỉnh cho chủ trương trùng tu tôn tạo di tích này. Theo đó, BQLDTDT đã phối hợp với đơn vị tư vấn thiết kế lập dự án trùng tu tôn tạo các hạng mục: sửa chữa, sơn phết, chống mối mọt, nấm mốc ở chánh điện, nhà võ ca, nhà khách, cổng tam quan, sân đường nội bộ, hệ thống thoát nước và chống sét... với tổng kinh phí dự tính hơn 4 tỷ đồng (trong đó 700 triệu đồng từ chương trình mục tiêu quốc gia, 500 triệu đồng từ nguồn xã hội hóa, còn lại là ngân sách của tỉnh). Hiện dự án đã hoàn thành thủ tục hồ sơ đưa ra đấu thầu, dự tính tháng 12-2008 sẽ khởi công và hoàn thành vào năm 2009. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">     <strong><em>* Di tích chùa Ông (miếu Quan Đế) </em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt"> <img alt="" align=left src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0709_Ccditch1.png">Tọa lạc tại xã Hiệp Hòa, TP. Biên Hòa, được Bộ VHTT xếp hạng là di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vào năm 2001. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">     Chùa Ông do cộng đồng người Hoa ở Biên Hòa - Đồng Nai xây dựng vào năm 1684, thờ Quan Công (còn gọi là Quan Vũ, Quan Vân Trường) và hệ thống phúc thần của người Hoa. Chùa được bố trí mặt bằng kiến trúc theo kiểu &quot;nội công ngoại quốc&quot;, không kể công trình Quan Âm Các được xây tách biệt ở phía sau chùa. Chùa Ông là một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc trưng của Trung Hoa với vì kèo kiểu &quot;chồng rường giá chiêng&quot;, đặc biệt là quần thể tiểu tượng sành cứng men màu của lò gốm Cây Mai - Gia Định trang trí trên nóc mái chùa. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">     Chùa Ông gắn với quá trình di dân của tập đoàn người Hoa Trần Thượng Xuyên sau thất bại của phong trào &quot;phản Thanh phục Minh&quot; đã vượt biển xin Chúa Nguyễn tỵ nạn ở nước ta vào năm 1679. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt"> Trải qua thời gian dài, ngôi chùa đã được trùng tu, sửa chữa nhiều lần. Lần gần đây nhất năm 2006, Ban trị sự Chùa Ông đã tiến hành trùng tu Quan Âm Các với tổng kinh phí gần 1,8 tỷ đồng bằng nguồn vốn xã hội hóa. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">     Năm 2008, chùa được tiếp tục trùng tu chánh điện và các hạng mục Đông lang, Tây lang, nhà khách, nhà bếp, cổng tam quan, sân đường nội bộ, hệ thống thoát nước, chống sét với tổng kinh phí ước tính trên 3 tỷ đồng cũng từ nguồn vốn xã hội hóa. Công trình đang được trùng tu, dự tính sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng trong tháng 12-2008. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">Hiện toàn tỉnh có hơn 1.500 di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, kiến trúc nghệ thuật, mộ cổ và hơn 400 ngôi nhà ở truyền thống, trong đó có 24 di tích xếp hạng cấp quốc gia và 12 di tích cấp tỉnh. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt"><strong>Thúy Nga </strong></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:38 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.904</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:38:19 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=25</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Trung đoàn pháo binh miền Đông với chiến thắng sân bay Biên Hoà đã được Bộ chỉ huy Miền Tặng thưởng huân chương, danh hiệu gì?</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=172</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassE3F15075A11547E884DD04486EEDA05F>
<div><span style="font-size:x-small"><b><font color="#666666" face=Arial>Đáp: Huân chương Quân công giải phóng hạng I và danh hiệu “Đoàn pháo binh Biên Hoà” </font></b></span></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Hỏi đáp về Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 11:25 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.344</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Hỏi đáp về Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 16:29:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=172</guid>
    </item>
    <item>
      <title>105 năm trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai: Đào tạo nhiều thế hệ có trình độ tay nghề cao</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=26</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassC2855376F9BD42BEAC11995D8C0CFBF0>
<div><b><font color="#666666" size=2>Trải qua 105 năm hình thành và phát triển, Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai ngày nay thuộc Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch được tuyển sinh cả nước, hàng năm cho ra trường nhiều thế hệ sinh viên, học sinh có tay nghề cao. </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai là trường có bề dày lịch sử, gắn liền với 310 năm hình thành và phát triển vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai. Năm 1903, khi mới thành lập, Trường dạy nghề Biên Hòa (tên gọi lúc ban đầu) đã có 6 ban nghề, gồm: đan lát, gốm, đúc đồng, tiện, chạm khắc, vẽ. Đến năm 1931, đây vẫn là một trường mạnh trong số 5 trường dạy nghề của xứ Nam kỳ, nhưng số ban đào tạo và sĩ số học trò giảm (ban đúc: 14 học trò, ban gốm: 9 và ban mộc: 4). Từ 1964, trường được đổi tên thành Trường kỹ thuật Biên Hòa, cũng chỉ có 3 ban nghề.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">            Từ sau ngày miền </span><span style="line-height:150%;font-size:10pt">Nam</span><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> hoàn toàn giải phóng, trường được đổi tên thành Trường phổ thông công nghiệp Đồng Nai, thuộc Ty Giáo dục Đồng Nai. Là một trường đào tạo học sinh có năng khiếu mỹ thuật nên từ tháng 1-1978, trường được đổi tên thành Trường trung học mỹ thuật trang trí Đồng Nai và từ năm 1998 nâng cấp thành trường cao đẳng.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">Kể từ khi được nâng cấp hệ cao đẳng, quy mô đào tạo của trường đã ngày càng mở rộng. Hàng năm tuyển sinh, có khoảng 2.000 thí sinh từ khắp mọi miền đất nước về dự tuyển, nhưng chỉ tiêu tuyển sinh có hạn, do nhà trường chú trọng tuyển sinh đầu vào phải có năng khiếu hội họa. </span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">            Hiện nay, Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai có 8 khoa đào tạo, gồm 51 lớp với 1.210 sinh viên. Các khoa được duy trì đào tạo gồm: gốm mỹ nghệ, trang trí nội thất, điêu khắc, đồ họa. Những khoa mới có từ khi lên hệ cao đẳng gồm: đồ họa đa truyền thông, thiết kế thời trang, nhiếp ảnh quảng cáo, vừa học vừa làm.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">            Trước yêu cầu rất lớn về lực lượng lao động là họa sĩ thiết kế mẫu mã, sản phẩm phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa trong nước và xuất khẩu, Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai luôn đổi mới phương pháp, chỉnh lý chương trình giảng dạy cho phù hợp với thực tế trong nước, hòa nhập với trình độ các nước trong khu vực và quốc tế. Ban giám hiệu thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo chuyên đề, trao đổi thực tiễn với các công ty, doanh nghiệp, nhằm thống nhất chi tiết cho các môn chuyên ngành lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng, tạo mối quan hệ để sinh viên thực tập tại các đơn vị, doanh nghiệp. Do đó, khi ra trường, hầu hết sinh viên đều có việc làm và đáp ứng nhiệm vụ được giao.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">Trong 5 năm gần đây, đa phần các giảng viên đứng lớp đã sử dụng phương tiện nghe nhìn, nâng cao chất lượng giảng dạy và khả năng tiếp thu của sinh viên. Là trường chuyên ngành mỹ thuật trang trí, nhà trường luôn quan tâm nâng cao chất lượng về hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Đứng chân trên địa bàn Đồng Nai, trường đã thực hiện nhiều công trình, sản phẩm văn hóa có giá trị cho tỉnh, như: tượng đài chiến thắng sân bay Biên Hòa; cổng chào Văn miếu Trấn Biên bằng chất liệu gốm; công trình phục dựng Văn miếu Trấn Biên với các đầu hồi, rồng, phụng chất liệu gốm; 5 bức phù điêu gốm đất nung tại trụ sở UBND tỉnh... Hàng năm, nhiều sinh viên của trường tham gia giải thiết kế thời trang toàn quốc, được vào vòng chung kết và đoạt giải. Nhiều thế hệ sinh viên ra trường đã có đóng góp thiết thực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%"><span style="line-height:150%;font-size:10pt">            Kỷ niệm 105 năm hình thành và phát triển Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai (1903 - 2008) hòa chung không khí kỷ niệm 310 năm Biên Hòa - Đồng Nai, tập thể nhà trường đã được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng ba.</span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> <b>1903 - 1913: Trường dạy nghề Biên Hòa (còn gọi là Trường bá nghệ Biên Hòa).</b></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> 1913 - 1944: Trường mỹ nghệ bản xứ Biên Hòa.</span></b></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> 1944 - 1964: Trường mỹ nghệ thực hành Biên Hòa.</span></b></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> 1964 - 1976: Trường kỹ thuật Biên Hòa.</span></b></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> 1977: Trường phổ thông công nghiệp Đồng Nai (thuộc Ty Giáo dục Đồng Nai).</span></b></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> 1977 - 1998: Trường trung học mỹ thuật trang trí Đồng Nai (Bộ Văn hóa - thông tin).</span></b></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt"> 1998 đến nay: Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai (Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch).</span></b></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><b><span style="line-height:150%;font-size:10pt">Đỗ Hiếu (Theo báo Đồng Nai)</span></b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:35 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.290</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:39:18 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=26</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nét kiến trúc đình ở Biên Hòa</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=13</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassF0EA487F1A6E4E5189EE78C30CDDF567>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:12pt"><span style="color:#666666"><strong>Người Việt đã đến vùng đất Biên Hòa từ rất sớm để khai khẩn lập nghiệp - có thể vào khoảng thế kỷ XVI. Trong quá trình khẩn hoang lập nghiệp trên vùng đất mới, họ từng bước khẳng định sự tồn tại của cộng đồng bằng việc ra sức xây dựng cuộc sống ổn định. Trong đời sống tinh thần, người Việt hình thành những cơ sở tín ngưỡng sinh hoạt cộng đồng để gắn kết cộng đồng, thỏa mãn nhu cầu tâm linh. </strong></span></span></p>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:12pt">﻿ </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:12pt">Từ thuở ban đầu, đình làng được dựng lên với quy mô nhỏ, bằng những vật liệu vốn có tại chỗ như tre, lá, cây gỗ. Thường thì nhóm cộng đồng dân cư tại một vùng chung sức nhau để dựng lên. Về sau, trong quá trình phát triển, những cơ sở tín ngưỡng được nâng cấp lên cả về quy mô lẫn hình thức do sự lớn mạnh của chính cộng đồng dân cư cư trú tại chỗ. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:12pt"><span style="font-family:Arial;color:black">Có thể nói, đình làng là một dấu ấn xác định sự hình thành của cộng đồng người Việt trên vùng đất Biên Hòa. Trải qua bao thời kỳ, qua bao thay đổi về địa lý hành chính hay tác động của xã hội thì ngôi đình vẫn tồn tại và ẩn chứa những giá trị đa dạng. Thông thường, mỗi làng người Việt đều có một ngôi đình. Người xưa chọn đất dựng đình thờ thần cho nhu cầu tâm linh làng xã nhưng cũng chính là ước vọng sự sung túc, thịnh vượng của cả cộng đồng. Ngôi đình được xây dựng trên những &quot;cuộc đất&quot; có long mạch quý, phong cảnh minh quang tỏa xuất các hướng theo quan niệm phong thủy xưa.</span><span style="font-family:Times New Roman"> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">                                    <img alt="" src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0645_Ntkintrc1.png"></span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:12pt"><span style="color:blue">                           Đình Bình Kính (đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh)</span><span style="color:black"> </span></span></p>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"> </p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:12pt">Những ngôi đình ở Biên Hòa thường bắt nguồn từ các miếu, đền. Từ lúc ban đầu, do những điều kiện, có thể một số làng lân cận cùng chung dựng một ngôi đình. Sau này, về mặt phân chia hành chính, những làng rộng lớn trước kia đông dân cư, phát triển thì được chia ra nhiều làng, thôn khác. Bên cạnh yếu tố này cùng một số yếu tố khác mà các thôn làng lập dựng những ngôi đình mới cho cộng đồng theo cộng đồng dân cư mới. Số lượng các ngôi đình ở vùng đất Biên Hòa ngày càng tăng lên theo sự phát triển của cộng đồng dân cư. Đặc điểm này có tính quy luật cho sự phát triển trong xã hội. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:12pt">Tên gọi của các ngôi đình gắn liền với tên gọi của làng. Đó là những tên gọi của làng khi mới thành lập hay khi làng mới có tên - so với ngày nay là làng xưa. Người dân quen gọi là đình của làng. Cụm từ này chỉ rõ yếu tố ban đầu là đình của làng - một đơn vị cư trú truyền thống của người Việt. Chẳng hạn: đình Tân Lân, đình Bình Kính, đình Phước Lư, đình Mỹ Khánh, đình Tân Giám... Đây là một dữ liệu cho việc nghiên cứu về làng xã trên vùng đất Biên Hòa. Mặc dù cho đến nay, nhiều địa bàn có sự thay đổi về tên gọi, vùng nông thôn xưa giờ lên phố thị nhưng thường các ngôi đình vẫn giữ nguyên tên gọi dân gian. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:12pt">Một số đình thờ những nhân thần thì gắn liền với tên gọi của đối tượng được thờ. Ví dụ như đình Bình Kính thờ Nguyễn Hữu Cảnh thì gắn với một tên gọi song song là đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, đình Mỹ Khánh thờ Nguyễn Tri Phương thì gọi là đền thờ Nguyễn Tri Phương, đình Tân Lân thờ Trần Thượng Xuyên thì gọi là đền thờ Trần Thượng Xuyên, đình Tam Hiệp thờ Đoàn Văn Cự còn được gọi là đền thờ Đoàn Văn Cự... Như vậy, đình, đền là hai cách gọi nhưng cùng chỉ một cơ sở tín ngưỡng của làng xã đó là đình. Chắc chắn, tên gọi là đền thờ gắn liền với đối tượng được thờ xuất hiện về sau này, khi những đối tượng đó đã mất, hoặc cũng có thể muộn hơn nữa, trong những đợt cải tạo đình những năm vừa giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (thập niên 70, 80 của thế kỷ XX), ngành văn hóa đã gắn việc thờ tự ở đình với một số nhân vật lịch sử được chính quyền cách mạng lúc bấy giờ công nhận. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:12pt">Phần lớn những ngôi đình ở Biên Hòa được xây dựng theo kiểu thức kiến trúc nhà tứ trụ. Đây là kiểu thức nhà rường nhưng gian trung tâm gồm 4 cột cái bố trí cách đều. Từ bốn cột cái, các kèo đấm, kèo quyết đưa ra bốn hướng tạo không gian vuông vức. Đây chính là không gian thiêng, trung tâm cho việc thờ tự chính trong đình. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:12pt">Ngoài chánh điện, tùy nơi mà ngôi đình có nhà võ (võ ca), nhà hội, nhà trù (bếp). Theo truyền thống, trên cuộc đất rộng thì ngôi đình bố trí theo thứ tự như: cổng đình, bình phong, nhà võ, chánh điện, nhà hội, nhà trù. Nhưng việc bố trí cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố nên nhiều ngôi đình ở Biên Hòa không theo thứ tự này hoặc không có những nếp nhà ngoài khu chánh điện. Tùy nơi mà quy mô và các nếp nhà, vật liệu xây dựng, tôn tạo khác nhau nhưng cơ bản chánh điện những ngôi đình vẫn giữ được dạng kiến trúc truyền thống này. Hiện nay, trên địa bàn Biên Hòa có nhiều ngôi đình được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa. Những ngôi đình với những giá trị ẩn chứa trong nó đã làm phong phú thêm những sắc thái văn hóa, đáp ứng được nhu cầu tinh thần của người dân Biên Hòa... </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:12pt"><strong><span style="font-family:Arial;color:black">            Phan Đình Dũng</span><span style="font-family:Times New Roman"> </span></strong></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:13 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.713</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:13:44 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=13</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Rừng Quốc Gia Nam Cát Tiên</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=114</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass86850EEC06AD48ADBC0851A73A4909D8>
<p style="text-align:justify"> </p>
<p>
<table style="border-collapse:separate" border=0 cellspacing=0 cellpadding=0 width=40 align=right>
<tbody>
<tr>
<td><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><font color="#666666"> <img alt="" align=right src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2010-6/namcattien.jpg" width=120 height=89></font></span></span></td></tr></tbody></table></p>
<div style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><b><font color="#666666">Nam Cát Tiên là tên gọi một vùng đất nằm gọn trong đoạn uốn khúc của sông Ðồng Nai, toạ lạc ngay trên ranh giới của cả 3 tỉnh Ðồng Nai, Bình Phước và Lâm Ðồng. Còn khu rừng cấm Nam Cát Tiên là phần chót và cao nhất của huyện Tân Phú (Ðồng Nai) có diện tích 36.000 ha, đại diện cho cả hệ thực vật và động vật Nam Bộ.</font></b> </span></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">﻿ </span></span></div>
<div><font size=2>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Khu rừng có cảnh thiên nhiên đa dạng: vừa có đồi, vừa có bãi ven sông, vừa có các trảng rộng lớn bằng phẳng, lại có các dòng chảy dốc. Vào mùa mưa các dòng suối hiền lành trở thành các dòng thác, nước đổ trắng xoá trên các triền đá lớn. Nhiều đoạn thác quanh co, lượn khúc tạo ra những bãi cát vàng rộng như các bãi tắm tự nhiên. Tục truyền, nơi đây có nàng tiên thường xuống hạ giới để vui đùa và tận hưởng dòng nước trong mát, nên được gọi là &quot;Nam Cát Tiên&quot;.</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">    Giữa dòng sông rộng lớn nổi lên các hòn đảo chạy dài theo con nước. Trên đảo, cây cổ thụ mọc xen với đám cỏ rộng có thể làm nơi cắm trại, đốt lửa đêm lý tưởng. Dọc ven sông, theo lộ chính về phía tay trái là toàn bộ các kiểu rừng già, hỗn giao của các loại cây gỗ quý: gõ, giáng hương, trắc, cẩm lai, gụ... Bên phải của con đường rừng là thác trời, một ghềnh thác kỳ thú nhất của Nam Cát Tiên. Tiếp tục băng rừng, qua các thung lũng sâu sẽ đến Bàu Sấu, nơi chứa nước rộng nhất, nằm ở khu trung tâm của rừng cấm Nam Cát Tiên. Lòng bàu chứa nhiều loại cá, đặc biệt có cả cá sấu nước ngọt. Ven bàu là nơi tập hợp của nhiều đàn chim lớn như công, trĩ, gà lôi, sến, giang, mòng két, le le, cù đen...</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">    Nam Cát Tiên không những có cảnh quan ngoạn mục, lại nằm trong khu vực chuyển tiếp của khí hậu miền núi và đồng bằng nên Nam Cát Tiên có một dạng khí hậu độc đáo. Cùng với địa hình có sông suối bao bọc làm cho khu rừng già vừa được giữ nguyên vẹn, vừa trở thành nơi qui tụ hầu hết các kiểu rừng đồng bằng Nam Bộ. Ðây là khu rừng nguyên sinh tiêu biểu cho hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới vùng thấp. Rừng có nhiều cây cổ thụ như bằng lăng, gỗ đỏ; hơn 600 loài thực vật, hơn 100 loài cây gỗ quý, hàng trăm loại cây dược liệu, hơn 60 loài hoa phong lan...</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">    Về động vật có 240 loài chim, có những loài chim quý hiếm như trĩ lông đỏ, cò quắm xanh, tê giác một sừng, voi...</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">    Các nhà khảo cổ học mới phát hiện một đền thờ vật linh thuộc nền văn hoá Phù Nam trên đỉnh ngọn đồi A1 (xã Quảng Ngãi, huyện Cát Tiên, Lâm Ðồng) tại khu vực đầu nguồn sông Ðồng Nai. Ðó là khu đền thờ được xây bằng gạch thô, bệ, khung diềm cửa, cột trụ bằng đá xanh granit chạm trổ hoa văn, các Linga bằng vàng hoặc bằng vàng bịt bạc, một Linga - Yoni cao 2,1m, đường kính 0,7 m bằng đá xanh mài bóng, lớn nhất Ðông Nam á cùng hơn một trăm miếng vàng có khắc hoạ hình ảnh sinh hoạt thời đó: các vũ nữ, chiến binh, voi, bò, hoa sen... Ðây là công trình khảo cổ có giá trị văn hoá, lịch sử và tín ngưỡng lớn để có thể xác định được sự tồn tại, nguồn gốc của một vương quốc đã bị lãng quên hơn 1.300 năm. </span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">    Rừng Nam Cát Tiên cách Tp. Hồ Chí Minh 160 km sẽ là một tuyến điểm du lịch sinh thái và văn hoá hấp dẫn của vùng miền Ðông Nam Bộ.</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Nguồn dulichachau.com</span></span></span></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Danh thắng Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 4:05 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.308</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Danh thắng Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 09:05:48 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=114</guid>
    </item>
  </channel>
</rss>