﻿<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<!--RSS generated by Windows SharePoint Services V3 RSS Generator on 05/11/2026 1:27:38 SA-->
<?xml-stylesheet type="text/xsl" href="/trangtin/diachiDN/_layouts/RssXslt.aspx?List=4ec2c073-99ac-47d8-b9ae-2dbe43169359" version="1.0"?>
<rss version="2.0">
  <channel>
    <title>Địa chí Đồng Nai: Bài đăng</title>
    <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    <description>Liên kết nạp tin tự động RSS cho Bài đăng danh sách.</description>
    <lastBuildDate>Wed, 04 Nov 2026 18:27:38 GMT</lastBuildDate>
    <generator>Windows SharePoint Services V3 RSS Generator</generator>
    <ttl>60</ttl>
    <image>
      <title>Địa chí Đồng Nai: Bài đăng</title>
      <url>/trangtin/diachiDN/_layouts/images/homepage.gif</url>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    </image>
    <item>
      <title>VỊ TRÍ ĐỊA LÝ TỈNH ĐỒNG NAI:</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=179</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass762940BDFD24448DA66615BDCC7E1E37><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt"> Đồng Nai là tỉnh thuộc Miền Đông Nam Bộ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có diện tích 5.894,73 km<sup>2</sup>, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ. Dân số toàn tỉnh theo số liệu thống kê năm 2005 là 2.218.900 người, mật độ dân số: 365 người/km<sup>2</sup>. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của toàn tỉnh năm 2005 là 1,28%. Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: <a><span style="color:purple">Thành phố Biên Hòa</span></a> - là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của tỉnh; <a href="http://c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.202"><span style="color:#0879d5">Thị xã Long Khánh</span></a> và 9 huyện: <a href="http://c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.201"><span style="color:#0879d5">Long Thành</span></a>;<a href="http://www.thuviendongnai.gov.vn/c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.205"><span style="color:#0879d5">Nhơn Trạch</span></a>; <a href="http://www.thuviendongnai.gov.vn/c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.207"><span style="color:#0879d5">Trảng Bom</span></a>; <a href="http://c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.208"><span style="color:#0879d5">Thống Nhất</span></a>; <a href="http://www.thuviendongnai.gov.vn/c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.210"><span style="color:#0879d5">Cẩm Mỹ</span></a>; <a><span style="color:#0879d5">Vĩnh Cửu</span></a>; <a><span style="color:#0879d5">Xuân Lộc</span></a>; <a href="http://www.thuviendongnai.gov.vn/c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.200"><span style="color:#0879d5">Định Quán</span></a>; <a><span style="color:#0879d5">Tân Phú</span></a>.</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Là một tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam Đồng Nai tiếp giáp với các vùng sau: </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><ul><li><a><span style="color:#0879d5;font-family:Arial;font-size:10pt">Đông giáp tỉnh Bình Thuận.</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:9pt">
			</span></li><li><a><span style="color:#0879d5;font-family:Arial;font-size:10pt">Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng.</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:9pt">
			</span></li><li><a><span style="color:#0879d5;font-family:Arial;font-size:10pt">Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương</span></a><span style="font-family:Arial"><span style="color:#ff6600;font-size:10pt"> và <a><span style="color:#0879d5">tỉnh Bình Phước.</span></a></span><span style="font-size:9pt">
				</span></span></li><li><a><span style="color:#0879d5;font-family:Arial;font-size:10pt">Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:9pt">
			</span></li><li><a><span style="color:#0879d5;font-family:Arial;font-size:10pt">Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh.</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:9pt">
			</span></li></ul><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#006600;font-size:10pt">Là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên.</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p>
 </p><div style="text-align:center"><table style="border-collapse:collapse" border=0><colgroup><col style="width:624px"></colgroup><tbody valign=top><tr><td valign=middle style="border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>ĐỊA HÌNH</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Tỉnh Đồng Nai có địa hình vùng đồng bằng và bình nguyên với những núi sót rải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng bắc nam. Có thể phân biệt các dạng địa hình chính như sau:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#006600;font-size:10pt">F Địa hình đồng bằng gồm 2 dạng chính:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Các bậc thềm sông có độ cao từ 5 đến 10 m hoặc có nơi chỉ cao từ 2 đến 5 m dọc theo các sông và tạo thành từng dải hẹp có chiều rộng thay đổi từ vài chục mét đến vài km. Đất trên địa hình này chủ yếu là các aluvi hiện đại.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển: là những vùng đất trũng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai với độ cao dao động từ 0,3 đến 2 m, có chỗ thấp hơn mực nước biển, thường xuyên ngập triều, mạng lưới sông rạch chằng chịt, có rừng ngập mặn bao phủ. Vật liệu không đồng nhất, có nhiều sét và vật chất hữu cơ lắng đọng.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#006600;font-size:10pt">F Dạng địa đồi lượn sóng:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Độ cao từ 20 đến 200m. Bao gồm các đồi bazan, Bề mặt địa hình rất phẳng, thoải, độ dốc từ 30 đến 80. Loại địa hình này chiếm diện tích rất lớn so với các dạng địa hình khác bao trùm hầu hết các khối bazan, phù sa cổ. Đất phân bổ trên địa hình này gồm nhóm đất đỏ vàng và đất xám.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt"><span style="color:#006600">F Dạng địa hình núi thấp:</span>
								</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Bao gồm các núi sót rải rác và là phần cuối cùng của dãy Trường Sơn với độ cao thay đổi từ 200 – 800m. Địa hình này phân bố chủ yếu ở phía bắc của tỉnh thuộc ranh giới giữa huyện Tân Phú với tỉnh Lâm Đồng và một vài núi sót ở huyện Định Quán, Xuân Lộc. Tất cả các núi này đều có độ cao (20–300), đá mẹ lộ thiên thành cụm với các đá chủ yếu là granit, đá phiến sét.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Nhìn chung đất của Đồng Nai đều có địa hình tương đối bằng phẳng, có 82,09% đất có độ dốc &lt; 8<sup>o</sup>, 92% đất có độ dốc &lt;15<sup>o</sup>, các đất có độ dốc &gt;15<sup>o</sup> chiếm khoảng 8%. Trong đó: Đất phù sa, đất sét và đất cát có địa hình bằng phẳng , nhiều nơi trũng thấp ngập nước quanh năm. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Đất đen, nâu, xám hầu hết có độ dốc &lt; 8<sup>o</sup> , đất đỏ hầu hết &lt; 15<sup>o</sup>
								</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Riêng đất tầng mỏng và đá bọt có độ dốc cao.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>ĐẤT ĐAI</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Tỉnh Đồng Nai có quỹ đất phong phú và phì nhiêu. Có 10 nhóm đất chính. Tuy nhiên theo nguồn gốc và chất lượng đất có thể chia thành 3 nhóm chung sau: </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Các loại đất hình thành trên đá bazan: Gồm đất đá bọt, đất đen, đất đỏ có độ phì nhiêu cao, chiếm 39,1% diện tích tự nhiên (229.416 ha), phân bố ở phía bắc và đông bắc của tỉnh. Các loại đất này thích hợp cho các cây công nghiệp ngắn và dài ngày như: cao su, cà phê, tiêu…</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét như: đất xám, nâu xám, loang lổ chiếm 41,9% diện tích tự nhiên (246.380 ha), phân bố ở phí nam, đông nam của tỉnh (huyện Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Biên Hoà, Long Thành, Nhơn Trạch). Các loại đất này thường có độ phì nhiêu kém, thích hợp cho các loại cây ngắn ngày như đậu, đỗ…một số cây ăn trái và cây công nghiệp dài ngày như cây điều…</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Các loại đất hình thành trên phù sa mới như: đất phù sa, đất cát. Phân bố chủ yếu ven các sông như sông Đồng Nai, La Ngà. Chất lượng đất tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng như cây lương thực, hoa màu, rau quả…</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Theo quy định của luật đất đai, việc kiểm kê đất đai được tiến hành 5 năm một lần. Ngày 18/08/1999, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 24/1999/CT –TTg về tổng kiểm kê đất đai năm 2000. Công tác tổng kiểm kê đất đai năm 2000. Trung tâm Kỹ thuật Địa chính – Nhà đất là đơn vị được giao nhiệm vụ phối hợp với phòng Địa chính các huyện, thành phố Biên Hoà và cán bộ địa chính các xã, phường, thị trấn trong tỉnh để tổ chức thực hiện, số liệu tổng kiểm kê đất đai năm 2000 đã được kiểm tra nghiệm thu và sử dụng thống nhất trong toàn tỉnh, giai đoạn 2001 – 2005.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Tổng diện tích toàn tỉnh có: 589.473 ha. Bao gồm:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Diện tích đất nông nghiệp: 302.845 ha. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Diện tích đất lâm nghiệp: 179.807 ha.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Diện tích đất chuyên dùng: 68.018 ha.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Diện tích đất ở: 10.546 ha.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Diện tích đất chưa sử dụng và sông suối , núi đá: 28.255 ha</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đất của tỉnh Đồng Nai có 10 nhóm đất chính như:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Đất xám chiếm 40,05% diện tích tự nhiên (DTTN), thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và cho xây dựng.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Đất đen chiếm 22,44% DTTN, thích hợp trồng các loại cây hằng năm </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Đất đỏ chiếm 19,27% DTTN, rất thích hợp trồng các cây công nghiệp dài ngày </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Ngoài ra là các nhóm đất như đất phù sa (4,76%) có thể dùng cho trồng lúa, hoa mầu và các loại khác.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Lâm nghiệp: 292.611.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Lâm nghiệp: 174.762.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Chuyên dùng: 70.286.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Đất ở: 10.975.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Tình hình sử dụng đất của tỉnh những năm qua có biến động ít nhiều, nhưng đến nay, Đồng Nai vẫn là tỉnh có quy mô đất nông nghiệp lớn nhất Đông Nam Bộ.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>KHÍ HẬU</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đồng Nai nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với khí hậu ôn hòa, ít chịu ảnh hưởng của thiên tai, đất đai màu mỡ (phần lớn là đất đỏ bazan), có hai mùa tương phản nhau (mùa khô và mùa mưa). </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nhiệt độ cao quanh năm là điều kiện thích hợp cho phát triển cây trồng nhiệt đới, đặc biệt là các cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nhiệt độ bình quân năm 2005 là: 26,3<sup>o</sup>C chênh lệch nhiệt độ cao nhất giữa tháng nóng nhất và lạnh nhất là 4,2<sup>o</sup>C.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Số giờ nắng trung bình trong năm 2005 là: 2.243 giờ. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Lượng mưa tương đối lớn và phân bố theo vùng và theo vụ tương đối lớn khoảng 2.065,7mm phân bố theo vùng và theo vụ.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Vì thế Đồng Nai đã sớm hình thành những vùng chuyên canh cây công nghiệp ngắn và dài ngày, những vùng cây ăn quả nổi tiếng,... cùng với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch phát triển. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Độ ẩm trung bình năm 2005 là 80%.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Mực nước thấp nhất sông Đồng Nai năm 2005 là: 109,24m.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Mực nước cao nhất sông Đồng Nai năm 2005: 113,12.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>TÀI NGUYÊN</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đồng Nai có nhiều nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú gồm tài nguyên khoáng sản có vàng, thiếc, kẽm; nhiều mỏ đá, cao lanh, than bùn, đất sét, cát sông; tài nguyên rừng và nguồn nước... </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Ngoài ra Đồng Nai còn phát triển thuỷ sản dựa vào hệ thống hồ đập và sông ngòi. Trong đó, hồ Trị An diện tích 323km<sup>2</sup> và trên 60 sông, kênh rạch, rất thuận lợi cho việc phát triển một số thủy sản như: cá nuôi bè, tôm nuôi.... </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:green;font-size:10pt"><strong>TÀI NGUYÊN NƯỚC</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước mặt: Tỉnh Đồng Nai có mật độ sông suối khoảng 0,5 km/km<sup>2</sup>, song phân phối không đều. Phần lớn sông suối tập trung ở phía bắc và dọc theo sông Đồng Nai về hướng tây nam. Tổng lượng nuớc dồi dào 16,82 x 109 m<sup>3</sup>/năm, trong đó mùa mưa chiếm 80%, mùa khô 20%.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Sông Đồng Nai: Sông Đồng Nai chảy vào tỉnh Đồng Nai ở bậc địa hình thứ 3 và là vùng trung lưu của sông. Đoạn từ ranh giới Đồng Nai - Lâm Đồng đến cửa sông Bé Tân Uyên sông chảy theo hướng tây bắc – đông nam. Địa hình lưu vực đoạn trung lưu từ 100-300 m, đoạn từ Tà Lài đến Trị An có nhiều thác ghềnh. Đoạn sau Trị An sông chảy êm đềm, lòng sông mở rộng và sâu. Các phụ lưu lớn của sông Đồng Nai có sông La Ngà, Sông Bé.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Sông La Ngà: Đoạn sông La Ngà chảy trong tỉnh Đồng Nai dài 55 km, khúc khuỷu, nhiều ghềnh thác (ví dụ: thác Trời cao trên 5m). Đoạn này sông La Ngà hẹp, có nhiều nhánh đổ vào, điển hình là suối Gia Huynh và suối Tam Bung. Suối Gia Huynh có lưu vực 135 km<sup>2</sup>, mô đun dòng chảy 91/s km<sup>2</sup> vào mùa khô và 47,41/s km<sup>2</sup> vào mùa mưa, bắt nguồn từ vùng Quốc Lộ 1, ranh giới Đồng Nai - Bình Thuận. Suối Tam Bung có diện tích lưu vực 155 km<sup>2</sup>, bắt nguồn từ phía bắc cao nguyên Xuân Lộc, mô đun dòng chảy 101/s km<sup>2</sup> vào mùa khô và 651/s km<sup>2</sup> vào mùa mưa. Sông La Ngà đổ vào hồ Trị An một lượng nước khoảng 4,5x109 m<sup>3</sup>/năm, chiếm 1/3 tổng lượng nước hồ, mô đun dòng chảy năm 351/s km<sup>2</sup>.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Sông Lá Buông: Bắt nguồn từ phía tây cao nguyên Xuân Lộc, chảy theo hướng từ đông sang tây, độ dốc lưu vực đạt 0.0035. Độ dài sông tính theo nhánh dài nhất khoảng 40 km, sông có lượng nước dồi dào so với các sông nhỏ trong tỉnh với tổng lượng nước trung bình 0,23 x 109 m<sup>3</sup> /năm, mô đun dòng chảy năm 27,61/s km<sup>2</sup>.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Sông Ray: Lưu vực sông chiếm gần 1/3 diện tích phía Nam của tỉnh. Sông bắt nguồn từ phía nam, đông nam cao nguyên Xuân Lộc, đổ thẳng ra biển, chảy theo hướng bắc nam, độ dốc lưu vực khá lớn (0,004), do vậy nếu không có đập chặn giữ thì nước sông sẽ tập trung nhanh ra biển, trong mùa khô thường cạn kiệt nước. Tổng lượng nước sông khá lớn 0,634 x 109 m<sup>3</sup> /năm trong đó mùa mưa chiếm 79%. Sông Ray nếu được sử dụng hợp lý có thể giải quyết vấn đề khô cạn cho vùng đông nam của tỉnh.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Sông Xoài và sông Thị Vải: Đây là 2 sông thuộc vùng phía tây nam của tỉnh, bắt nguồn từ cao nguyên Xuân Lộc và đổ thẳng ra biển. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Sông Thị Vải ở phía thượng lưu gồm các suối nhỏ và dốc, phần hạ lưu (phía duới Quốc Lộ 51 đi Vũng Tau) là sông nước mặn, lòng sông mở rộng.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Sông Xoài có 2 nhánh chính là Châu Pha và Suối Dun, các suối ngắn và hẹp. Diện tích lưu vực 184 km<sup>2</sup>, tổng lượng nước trung bình 0,1015 x 109 m<sup>3</sup> /năm, mô đun dòng chảy năm 17,51/s km<sup>2</sup>, sông Xoài có ý nghĩa to lớn đối với vùng sản xuất nông nghiệp Châu Thành và cấp nước ngọt cho Vũng Tàu. Hạ lưu sông Xoài là vùng nước mặn, độ mặn có thể đạt tới độ mặn của nước biển..</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước ngầm:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Trữ lượng nước tĩnh của toàn tỉnh Đồng Nai là 793.379 m<sup>3</sup>/ngày. Trong đó trữ lượng dung tích (trữ lượng tĩnh trọng lực) là 789.689 m<sup>3</sup>/ngày và trữ lượng đàn hồi là 3691 m<sup>3</sup> /ngày.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Trữ lượng động khoảng 4.714.847 m<sup>3</sup> /ngày là toàn bộ dòng mặt vào mùa khô và là giới hạn dưới của trữ lượng nước dưới đất. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Như vậy tổng trữ lượng nước dưới đất của tỉnh Đồng Nai là khoảng 5.505.226 m<sup>3</sup> /ngày.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Tuy trữ lượng nước dưới đất tỉnh Đồng Nai phong phú, nhưng phân bố không đều, các tháng mùa khô không có mưa, nhu cầu khai thác lại lớn, vì vậy khai thác nước dưới đất phải theo qui hoạch khai thác hợp lý.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:green;font-size:10pt"><strong>TÀI NGUYÊN DU LỊCH</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đồng Nai có nhiều di tích lịch sử, văn hoá và các điểm du lịch có tiềm năng: Khu Văn miếu Trấn Biên, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, khu du lịch Bửu Long, khu du lịch ven sông Đồng Nai , Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, làng bưởi Tân Triều, Thác Mai - hồ nước nóng , Đảo Ó... </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đến Đồng Nai du khách sẽ có dịp tham gia những chuyến du lịch sinh thái trong các khu rừng hoặc vườn cây ăn quả, câu cá, du thuyền trên sông Đồng Nai, dã ngoại tại các thắng cảnh: hồ Long ẩn, khu văn hoá Suối Tre, thác Trị An, rừng Mã Đà,... hay tham quan các di tích lịch sử, văn hóa: chiến khu Đ, Văn miếu Trấn Biên, nghiên cứu các di chỉ khảo cổ: mộ cổ Hàng Gòn, đàn đá Bình Đa.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:green;font-size:10pt"><strong>TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Kim loại:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Vàng: Đến nay đã phát hiện 17 mỏ, điểm quặng và khoáng hoá. Tập trung chủ yếu ở phía bắc Tỉnh. Có 2 mỏ nhỏ ở Hiếu Liêm và Vĩnh An rất có triển vọng. Còn lại là các điểm quặng chưa được đánh giá đầy đủ ở: Suối Ty, Suối Nho, Tam Bung, Suối Sa Mách, lâm trường Vĩnh An, lâm trường La Ngà, lâm trường Hiếu Liêm.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Nhôm (Quặng bauxit): Mới phát hiện 2 mỏ ở DaTapok (lâm trường Mã Đà) và lâm trường La Ngà, diện tích khoảng 1.120ha, tuy nhiên đã thuộc vào vùng cấm (rừng Nam Cát Tiên) trên 2/3 diện tích. Trữ lượng ước đạt khoảng 450 triệu m<sup>3</sup>.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Thiếc: Chỉ gặp dưới dạng vành phân tán khoáng vật. Các vành này có diện rộng nhưng hàm lượng thấp không có ý nghĩa tìm kiếm. Tập trung ở núi Chứa Chan, Suối Rét, Suối Sao, và sông Gia Ray.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Chì kẽm đa kim: Được phát hiện ở núi Chứa Chan.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Không kim loại:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Kao lin: Đã phát hiện 10 mỏ, chủ yếu là các mỏ nhỏ và các điểm quặng. Tập trung chủ yếu ở Phước Thiền, Hang Nai, Phước Thọ, Tam Hòa, Tân Phong, Bình Ý, Thạnh Phú.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Sét màu: Đến nay đã phát hiện 9 điểm quặng ở khu vực Long Bình Tân, Xuân Khánh và Xuân Lộc. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đá vôi: Chỉ mới phát hiện 2 điểm ở Tân Phú và Suối Cát.. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Thạch anh mạch: Phân bố rải rác, chỉ mới phát hiện 1 điểm ở Xuân Tâm (huyện Xuân Lộc).</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Thạch anh mạch được sử dụng trong luyện kim.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đá xây dựng và ốp lát: Đá xây dựng. 24 mỏ đang khai thác, tập trung ở Biên Hòa, Thống Nhất, Trảng Bom, Long Thành, Vĩnh Củu, Định Quán, Nhơn Trạch, Xuân Lộc.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Cát xây dựng: Chủ yếu trên sông Đồng Nai từ ngã ba Tân Uyên đến ngã ba mũi đèn đỏ, đã được thăm dò đánh giá trữ lượng. Ngoài ra trong các sông suối nhỏ đều có cát ở khu vực Định Quán, Tân Phú đặc biệt là trong lòng hồ Trị An.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Cát san lấp: Phước An (Đồng Mu Rùa, Gò sim…), Sông Nhà Bè, Đồng Tranh.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Sét gạch ngói: Khá phong phú, phân bố chủ yếu Thiện Tân, Thạnh Phú (huyện Vĩnh Cửu), Long An, Long Phước (huyện Long Thành).</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Keramzit: Phân bố ở Đại An và Trị An với trữ lượng ước tính khoảng 8 triệu tấn.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Puzolan: Rất phong phú, tập trung ở Định Quán, Long Thành và 1 ít ở Cây Gáo, Gia Kiệm (Thống Nhất) và Vĩnh Tân (Vĩnh Cửu).</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Laterit: Khá phổ biến. Tập trung ở Vĩnh Cửu, Biên Hoà, Long Thành và nhơn Trạch.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Đá quý và báu quý: Quy mô nhỏ, không có triển vọng khai thác công nghiệp.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Ziricon: Gia Kiệm, Núi Lá, Tân Phong</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Saphia: Cầu La Ngà, phía nam Tân Phong, Gia Kiệm.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Pyrop-ziricon.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Opan-canxedoan: núi Chứa Chan.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Tecfic: bắc Tài Lài.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Nước khoáng, nước nóng và nước ngầm gồm: </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước khoáng - nước nóng: ở Phú Lộc và Kay</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước khoáng Magie – bicarbonat: ở suối Nho</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước khoáng siêu nhạt: ở Tam Phước và Nhơn Trạch</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước khoáng sắt: ở phía Nam Thành Tuy Hạ</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước mặn loại Clorua – Natri: ở Nam Tuy Hạ</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước ngầm: Biên Hoà, Long Thành, Nhơn Trạch trên thung lũng các sông Đồng Nai, La Ngà.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:green;font-size:10pt"><strong>TÀI NGUYÊN RỪNG</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động thực vật phong phú đa dạng, tiêu biểu là vườn Quốc gia Nam Cát Tiên. Năm 1976, tỷ lệ che phủ của rừng còn 47,8% DTTN, năm 1981 còn 21,5%. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Năm 2004 độ che phủ rừng là 26,05% tổng diện tích tự nhiên, có khu bảo tồn thiên nhiên vườn quốc gia Nam Cát Tiên, với nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Với việc triển khai thực hiện chương trình trồng rừng và quy hoạch này, có thể dự báo tỷ lệ che phủ (bao gồm cả cây công nghiệp dài ngày) sẽ tăng lên đạt 45-50% trong thời kỳ đến năm 2010.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="color:#cc0000;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Diện tích các loại rừng:</strong></span></p></td></tr></tbody></table></div><p> 
 </p><div style="text-align:center"><table style="border-collapse:collapse" border=0><colgroup><col style="width:143px"><col style="width:170px"><col style="width:172px"><col style="width:146px"></colgroup><tbody valign=top><tr><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Loại rừng</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tổng diện tích (ha)</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rừng tự nhiên (ha)</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rừng trồng (ha)</span></p></td></tr><tr><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rừng đặc dụng</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">82.795,5</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">80.520,4</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">2.275,1</span></p></td></tr><tr><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rừng phòng hộ</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">44.144,2</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">21.366,8</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">22.777,4</span></p></td></tr><tr><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rừng sản xuất</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">26.646,3</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">8.406,4</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">18.239,9</span></p></td></tr><tr><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tổng cộng</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">153.586,0</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">110.293,6</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">43.292,4</span></p></td></tr></tbody></table></div><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>GIAO THÔNG</strong></span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Đồng Nai đã có bước tiến nhanh trong đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông, nhất là giao thông đường bộ. Hệ thống quốc lộ với tổng chiều dài 244,5 km đã và đang được nâng cấp mở rộng thành tiêu chuẩn đường cấp I, II đồng bằng (QL1, QL51), cấp III đồng bằng như QL 20 (tuyến đi Đà Lạt, trên địa bàn tỉnh dài 75km đã được trải thảm lại mặt đường). Hệ thống đường bộ trong tỉnh có chiều dài 3.339 km, trong đó gần 700km đường nhựa. Ngoài ra, hệ thống đường phường xã quản lý, đường các nông lâm trường, KCN tạo nên 1 mạng lưới liên hoàn đến cơ sở, 100% xã phường đã có đường ô- tô đến trung tâm.</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Theo quy hoạch trong tương lai gần, hệ thống đường cao tốc đi Bà Rịa - Vũng Tàu và TP. Hồ chí Minh, hệ thống đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu, nâng cấp tỉnh lộ 769 nối quốc lộ 20, quốc lộ 1 với quốc lộ 51... sẽ tạo nên một mạng lưới giao thông hoàn chỉnh, phục vụ nhu cầu phát triển KTXH địa phương và khu vực..</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>HỆ THỐNG CẢNG ĐỒNG NAI</strong></span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Cảng Long Bình Tân trên sông Đồng Nai: cách quốc lộ 1, phía bên phải hướng từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Hà Nội 800 mét; công suất 460.000 T/năm với tàu 2000 GRT đã xây xong và đã đa vào khai thác một cầu cảng 60m, một bến xà lan; Tương lai, sau khi nạo vét luồng: 5.000 DWT. Văn phòng chính đặt tại Phường Long Bình Tân, Thành phố Biên Hòa. Điện thoại: 84.61.83225/ 831439 - Fax: 84.61.831259. </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Cảng Gò Dầu A trên sông Thị Vải: cách quốc lộ 51, phía bên phải hướng từ Biên Hòa đi Vũng Tàu 2 km. Hiện tại, cỡ tàu lớn nhất tiếp nhận được khoảng 2.000 GRT; tương lai sau khi nạo vét luồng là 10.000 DWT. Văn phòng phân cảng đặt tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Điện thoại: 84.61.827328 - Fax: 84.61.841252. </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Cảng Gò Dầu B trên sông Thị Vải: cách quốc lộ 51, phía bên phải hướng từ Biên Hòa đi Vũng Tàu 2,5 km; đã đưa vào khai thác và sẽ nâng cấp lên đạt công suất thiết kế 10 triệu tấn/năm, 2 bên có khả năng tiếp nhận tàu 15.000 DWT. Văn phòng phân cảng đặt tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Điện thoại: 84.61.841599 - Fax: 84.61.816790. </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Ngoài ra, đang tiến hành lập dự án các Cảng Phú Hữu, Cảng Phước An. Giám đốc Cảng Đồng Nai: Ông Nguyễn Mạnh Tiến. Mobile phone: 091.942.248.</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Các dịch vụ chính là đại lý hàng hải, bốc xếp, kho hàng, giao nhận vận tải. Sản lượng hàng hóa thông qua các cảng đã đạt 700.000 tấn/năm. Dự kiến nâng sản lượng hàng hóa thông qua cảng lên 25 - 30 triệu tấn/năm. </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>HỆ THỐNG ĐƯỜNG SẮT QUỐC GIA ĐI QUA TỈNH</strong></span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đồng Nai có hệ thống đường sắt quốc gia đi qua tỉnh vời tổng chiều dài là 87,5 km với 12 ga: Gia Huynh, Trảng Táo, Gia Ray, Bảo Chánh, Xuân Lộc, An Lộc, Dầu Giây, Bàu Cá, Trảng Bom, Long Lạc, Hố Nai và Biên Hoà. </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Tuyến đường sắt này là mạch máu giao thông quan trọng nối tỉnh Đồng Nai với miền Bắc và TP. Hồ Chí Minh.</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:gray;font-size:10pt"><strong><em>THKC biên tập theo số liệu từ Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai cung cấp</em></strong></span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Vị trí địa lý tỉnh Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 25/06/2010 2:28 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 18.205</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Vị trí địa lý tỉnh Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 19:28:10 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=179</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Hưởng ứng Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2007: Ô nhiễm từ những làng nghề</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=60</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass6CD56ED0698941EA9946CD27C8EF42ED>
<div class=ExternalClass50C172F74D5A4BC89F3F80FB6A9A6C5D>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#666666;font-size:10pt"><strong>Làng nghề là một &quot;khu công nghiệp&quot; thu nhỏ, nơi tập trung chủ yếu các nghề truyền thống với những hộ sản xuất thủ công, ít vốn. Giữ và phát triển kinh tế làng nghề cũng là giữ lại sản phẩm truyền thống, giữ được sự đa dạng thành phần của nền kinh tế, hạn chế tình trạng lao động nông thôn đổ về thành phố tìm việc. Song, cách sản xuất thủ công, lạc hậu theo kiểu &quot;gia đình&quot;, môi trường làng nghề đã và đang là mối nguy cho sự phát triển bền vững.</strong></span><span style="font-size:9pt"> </span></span></p>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">﻿ </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">* Công nghệ lạc hậu + ít vốn = ô nhiễm<img alt="" align=right src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0854_HngngChin1.png"></span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">              Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện có khoảng 20 làng nghề với 1.793 cơ sở  sản xuất, tập trung khoảng 18.000 lao động trực tiếp. Tuy nhiên, do việc phát triển của các làng nghề gần như thiếu quan tâm đến bảo vệ môi trường đã kéo theo tình trạng ô nhiễm ngày một tăng. Ở làng cá bè La Ngà (huyện Định Quán), mặc dù UBND tỉnh đã có quyết định di dời và hạn chế số bè cá nuôi trên sông, đồng thời cấm các hộ dân nuôi cá sinh sống trên bè, nhưng hiện nay vẫn còn hàng trăm bè cá đang được nuôi (cả được phép lẫn trái phép) trên sông. Tình trạng này đang làm nước sông La Ngà ô nhiễm nặng bởi thức ăn thừa của cá, dư lượng thuốc kháng sinh cho cá, dầu mỡ từ các phương tiện thuyền, ghe đi lại và chất thải sinh hoạt của các hộ nuôi bè. Hàng năm tình trạng cá ở những làng bè chết hàng loạt do nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề, một phần do chính hoạt động của nuôi thả gây ra.</span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Còn làng nghề sản xuất tinh bột từ củ mì ở Bình Minh (huyện Trảng Bom) cũng đang làm &quot;chết dần&quot; những con suối và giếng nước sinh hoạt của dân trong vùng. Nghề này có mặt hơn 50 năm qua và tạo sự ổn định cho nhiều hộ dân, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động tại chỗ. Nhưng bên cạnh sự phát triển về kinh tế làng xã, nơi đây đang phải đối mặt với sự ô nhiễm từ rác thải và nước thải. Theo khảo sát của Trung tâm nghiên cứu ứng dụng công nghệ và quản lý môi trường TP.Hồ Chí Minh (CENTEMA) về môi trường làng nghề ở Đồng Nai, mỗi ngày hoạt động sản xuất tinh bột ở đây thải trực tiếp ra môi trường khoảng 1.400m3 nước thải. Trong nước thải này có nhiều chất hữu cơ và men tinh bột thất thoát... tạo ra trong lòng suối, các dòng chảy nhỏ một thứ bùn rất hôi thối. Điều đáng nói, loại bùn này chính là điều kiện tốt cho tảo độc phát triển, gây ảnh hưởng không chỉ đến con người, mà còn đe dọa nhiều nhóm sinh vật hữu ích khác. Chưa kể mỗi ngày làng nghề này còn hàng vài chục tấn bã và vỏ mì không được thu gom kịp thời, bị phân hủy càng làm cho môi trường hôi thối  nhiều hơn. Cùng với sản xuất tinh bột mì, các làng nghề sản xuất miến, bún tươi, bánh phở, đường... có nguồn liệu chính là mía, mì, bắp, gạo như: làng nghề đường tán ở Tân Triều, Bình Lợi (huyện Vĩnh Cửu), miến dong, hủ tíu ở phường Tân Biên và Hố Nai (TP. Biên Hòa)... cũng thải ra môi trường khối lượng nước thải và rác thải không nhỏ. </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Ở làng nghề đúc gang, đồng xã Thạnh Phú (huyện Vĩnh Cửu), dù công cụ được cải tiến, lò nấu đã nâng cấp thay cho bễ thủ công, nhưng với mặt bằng nhỏ hẹp của sản xuất gia đình, môi trường xung quanh vẫn bị ảnh hưởng nặng nề bởi khí thải CO2, SO2 và kim loại nặng. Làng nghề dệt vải, thổ cẩm ở Tà Lài (huyện Tân Phú), dệt lưới mùng ở Tân Mai... chủ yếu vẫn dùng công nghệ dệt thủ công nên bụi vải phát tán nhiều, tiếng ồn từ máy dệt cũ gây ồn lớn. Trong quá trình tẩy, nhuộm thường sử dụng các chất bột tạp, xút, a-xit, hóa chất tẩy rửa... xả ra nước thải độc hại và hoàn toàn không được xử lý. Hay ở phố gò thùng phường Hố Nai, hoạt động không chỉ gây tiếng ồn lớn mà trong quá trình hàn chì và sơn, phủ hóa chất cũng tạo ra khí độc, bụi sơn ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của chính dân làm nghề và cộng đồng xung quanh.</span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Tại lớp tập huấn nâng cao nhận thức BVMT và phát triển bền vững ở khu vực HTX và làng nghề 6 tỉnh phía Nam tổ chức tại Đồng Nai ngày 6-9 vừa qua, ông Nguyễn Văn Thanh, Tổng giám đốc Trung tâm KHCN và MT (thuộc Liên minh các HTX và làng nghề Việt Nam) cho biết: &quot;Có thể nói ở làng nghề, công nghệ sản xuất lạc hậu là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường. Phần lớn các làng nghề hiện nay mang tính truyền thống, hệ thống thiết bị cũ kỹ và không đồng bộ, các hộ gia đình làm chủ, thuê lao động tại chỗ và ít vốn nên không đầu tư cho xử lý môi trường... Chính vì vậy, môi trường làng nghề trong cả nước đang rất báo động&quot;. Theo ông Thanh, hiện nay tốc độ cải tiến công nghệ ở các làng nghề còn rất chậm; một số chính sách khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ, qui hoạch sản xuất tập trung, áp dụng sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng... chưa tới được người dân. Hơn nữa, việc đầu tư cho công nghệ xử lý môi trường chưa được người dân quan tâm vì phải bỏ nhiều vốn đầu tư xây dựng, vận hành, trong khi họ cần vốn cho mở rộng sản xuất hơn; mặt khác, có những làng nghề mang đậm tính &quot;cha truyền con nối&quot;, rất khó khăn cho việc cải tiến, áp dụng công nghệ mới.</span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">* Hướng đi nào cho môi trường làng nghề? </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Chủ trương của Nhà nước vẫn khuyến khích phát triển các làng nghề truyền thống, tiếp tục duy trì kinh tế làng xã. Bởi đó không chỉ đem lại công ăn việc làm cho người lao động, tạo cơ hội làm giàu chính đáng cho nhiều hộ dân mà thời gian gần đây, nền kinh tế phát triển đã kéo theo quy mô sản xuất của các làng nghề phát triển và  được mở rộng, tạo ra một lượng lớn hàng hóa và sản phẩm đa dạng, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống của người dân vùng nông thôn, góp phần đáng kể vào công cuộc xóa đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn. Bên cạnh đó, nhiều làng nghề còn sử dụng các nguyên liệu thừa, phế phẩm từ những KCN tập trung thải ra, góp phần vừa giảm được lượng chất thải phải xử lý, vừa tiết kiệm được tài nguyên, tăng thêm nguồn nguyên liệu cho sản xuất. Song, để làng nghề vừa là nơi phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp, vừa bảo đảm được môi trường trong lành, cần phải có sự vận động trong nhận thức từ chính những hộ trực tiếp tham gia sản xuất với sự tăng cường trách nhiệm của ngành chức năng.</span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Theo nhận định của Sở Tài nguyên và môi trường (TN-MT), do làng nghề của Đồng Nai phân tán, nơi sinh sống cũng đồng thời là nơi sản xuất của những hộ ít vốn, cho nên việc di dời, quản lý và sắp xếp các làng nghề thành cụm, tiểu khu công nghiệp là rất khó. Mặc dù thời gian qua, Đồng Nai đã có nhiều chuyển biến đáng kể trong việc hạn chế ô nhiễm từ những làng nghề như di dời các lò gạch, trại chăn nuôi heo ra khỏi TP. Biên Hòa, hạn chế các hộ nuôi cá bè trên hồ Trị An và sông La Ngà hay cưỡng chế giải tỏa các hộ làng nghề hầm than ở xã Xuân Hiệp... nhưng đó mới chỉ là những biện pháp cơ học, còn thực tế các nguồn ô nhiễm phát sinh từ làng nghề vẫn đang tồn tại và chuyển từ địa bàn này sang địa bàn khác. </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Báo động về ô nhiễm môi trường từ những làng nghề không phải để &quot;xóa sổ&quot; nó, nhưng là tìm những biện pháp tốt nhất để làng nghề phát triển trong môi trường bền vững. Bởi lâu nay, đối với Đồng Nai, bên cạnh sự phát triển những khu công nghiệp lớn, làng nghề cũng giữ một vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế, ảnh hưởng đến đời sống văn hóa, xã hội của cộng đồng...</span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Hiện nay, vấn đề cải thiện chất lượng môi trường làng nghề khó khăn nhất vẫn là kinh phí. Bản thân các hộ sản xuất ở làng nghề là sản xuất nhỏ, ít vốn nên thật khó để kêu gọi những hộ dân này bỏ tiền đầu tư công nghệ mới, hiện đại hoặc xây dựng hệ thống xử lý khí thải, nước thải, mà việc quản lý tập trung theo kiểu cụm hoặc tiểu khu công nghiệp cũng không dễ vì các làng nghề, các hộ sản xuất ở phân tán, sử dụng nguồn liệu và lao động tại chỗ... không thể gom lại một nơi để tiện quản lý. Song, khó không có nghĩa là bỏ mặc. Một mặt, ngành chức năng tăng cường trách nhiệm kiểm tra, xử phạt những cơ sở gây ô nhiễm theo Luật BVMT; mặt khác, cần hướng dẫn những làng nghề, những cơ sở, doanh nghiệp vừa và nhỏ đến với sự hỗ trợ của Nhà nước về vốn vay lãi suất ưu đãi để chuyển đổi công nghệ, khắc phục ô nhiễm môi trường. </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">                                                                                   P.L</span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">                                                            Theo baodongnai.com.vn</span> </span></p></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/12/2007 11:20 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.485</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 18:24:01 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=60</guid>
    </item>
    <item>
      <title>ANH HÙNG NGUYỄN VĂN HUỀ</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=48</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass009DB6BB9B884A979FBE694B9F79235A>
<div class=ExternalClassFD2287F4E4624F218F6EB4D30E1E9FB3>
<div class=ExternalClassBB9DE0C634E44E8B8458396898957E14>
<div>
<table style="border-collapse:collapse" border=0>
<colgroup>
<col style="width:172px"></colgroup>
<tbody valign=top>
<tr>
<td valign=center>
<p style="text-align:center"> </p></td></tr></tbody></table></div><span style="font-family:Arial"><span style="color:#666666"><strong>
<p style="text-align:center"><img alt="" align=left src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0841_ANHHNGNGUYN1.jpg"></p>
<p style="margin-left:2pt"> </p><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><strong>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small">Anh hùng Nguyễn Văn Huề sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Khi hy sinh, đồng chí là chiến sĩ đặc công thuộc đại đội 250 đặc công chủ lực Miền. </span><span style="font-size:x-small"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial">﻿ </span></span></span></p></strong></span></span></strong><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial">
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial">Ngày 7 tháng 7 năm 1954, phân đội đặc nhiệm gồm 6 người, trong đó có Nguyễn Văn Huề, nhận nhiệm vụ đánh Mỹ đầu tiên tại Biên Hòa. Với sự yểm trợ của một số tổ tự vệ, các anh nghiên cứu tình hình địch, nhằm đúng ngày Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên ghế thủ tướng. Tổ chiến đấu cải trang như một toán lính tuần tiễu từ Gò Me đi thẳng vào cư xá, các chiến sĩ đặc công nhanh chóng áp sát cư xá đoàn cố vấn quân sự Mỹ (MAAG). Tổ của Nguyễn Văn Huề chia thành 3 nhóm; Huề và 1 đồng đội mang mìn theo lối cửa hông, đặt vào trong phòng. Đèn bật sách, sợ lộ, các anh phải hành động gấp. Không để địch kịp phản ứng, đối phó, Nguyễn Văn Huề đã dũng cảm chấp nhận hy sinh, lệnh cho bạn &quot;chập điện&quot;. Tiếng nổ mạnh làm rung chuyển khu vực cư xá, nhiều tên địch phải đền tội. Nguyễn Văn Huề hy sinh, 5 đồng đội của anh quét tiểu liên vào chỗ có tiếng kêu gào rên la của Mỹ, rồi rút an toàn. Phối hợp nhịp nhàng với tổ đánh cư xá, bên ngoài các đồng chí khác nổ súng kìm chân địch, bảo vệ các chiến sĩ đặc công. Trận đánh diễn ra không đầy 15 phút, làm địch không kịp trở tay. Tiếng súng diệt Mỹ nơi đây đã cổ vũ và thúc đẩy phong trào cách mạng miền Nam phát triển rộng khắp. Đồng thời, đây là đòn cảnh báo bọn can thiệp Mỹ nếu chúng lấn sâu can thiệp vào miền Nam Việt Nam. Người dân Biên Hòa vô cùng tiếc thương và cảm phục hành động quả cảm của người chiến sĩ đặc công Nguyễn Văn Huề. </span></span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial">Ngày 28 tháng 4 năm 2000, Nguyễn Văn Huề được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. </span></span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial">                                                                                                                                      T.P </span></span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial">                                                                                                                         dongnai-industry.gov.vn </span></span></span></p></span></span></span></span></div></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 23/06/2010 1:10 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.043</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 18:10:03 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=48</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Các di tích được trùng tu</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=25</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass7D8C80BCD5C447B3AC27FE676445597F>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt"><span style="color:#666666"><strong>Năm nay, ngành văn hóa - thể thao và du lịch có các dự án trùng tu, tôn tạo một số di tích gắn với lịch sử địa phương để thiết thực kỷ niệm 310 năm hình thành và phát triển vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai. </strong></span></span></p>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">﻿ </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt"><strong><em>* Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh </em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">Tọa lạc tại xã Hiệp Hòa, TP. Biên Hòa, đền thờ đã được Bộ Văn hóa - thông tin (VHTT) xếp hạng là di tích lịch sử năm 1991. Đền do nhân dân sở tại xây dựng vào giữa thế kỷ XVIII thờ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh - người có công lớn trong việc phụng lệnh Chúa Nguyễn vào vùng đất Nông Nại (nay là Biên Hòa - Đồng Nai) xây dựng, thiết lập bộ máy hành chính phương Nam và sáp nhập vùng đất mới này vào bản đồ Đại Việt năm Mậu Dần (1698). </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">     Theo thời gian, nhiều hạng mục xuống cấp và được trùng tu, sửa chữa nhiều lần. Hiện Ban quản lý di tích - danh thắng (BQLDTDT) tỉnh phối hợp với Phân viện Khoa học công nghệ miền Trung lập dự án trùng tu tôn tạo các hạng mục: sửa, chống dột mái ngói, sửa chữa hàng rào; phục chế lại toàn bộ hệ thống cửa ra vào, xử lý mối mọt, nấm mốc; sửa chữa, sơn phết lại ngôi mộ vọng của Nguyễn Hữu Cảnh ở khu đất phía sau đền... Tổng kinh phí đầu tư hơn 1 tỷ đồng bằng nguồn ngân sách của tỉnh. Dự án đang trình các cơ quan thẩm quyền phê duyệt, dự kiến sẽ được khởi công vào tháng 12-2008 và hoàn thành vào đầu năm 2009. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">     <strong><em>* Lăng mộ Trịnh Hoài Đức </em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">     Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825) là danh nhân văn hóa nổi tiếng xứ Đồng Nai - Gia Định. Ông là bậc công thần triều Nguyễn, tác giả của bộ sách quý &quot;Gia Định thành thông chí&quot;. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt"> Khu lăng mộ Trịnh Hoài Đức và chánh thất phu nhân cùng với hơn 10 ngôi mộ của dòng tộc họ Trịnh tọa lạc ở phường Trung Dũng (TP. Biên Hòa), đã được xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia năm 1990. Mộ Trịnh Hoài Đức được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX với lối kiến trúc kiểu voi phục, vật liệu xây dựng là ô dước (vôi, cát, mật đường, vỏ sò và vỏ nhựa cây ô dước). </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt"> Khu di tích đã được TP. Biên Hòa trùng tu vào năm 1998 nhưng do nguồn kinh phí hạn hẹp nên mới chỉ trùng tu, sửa chữa được mộ của Trịnh Hoài Đức và phu nhân, còn hơn 10 ngôi mộ khác của dòng tộc họ Trịnh nằm xen kẽ với nhà dân đang bị xuống cấp trầm trọng vẫn chưa được nâng cấp, sửa chữa. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt"> Năm 2007, UBND Biên Hòa tiếp tục cho triển khai lập dự án trùng tu tôn tạo khu lăng mộ Trịnh Hoài Đức và dòng tộc họ Trịnh với tổng kinh phí dự tính trên 20 tỷ đồng, gồm các hạng mục: giải tỏa đền bù, xây cổng Tam quan, nhà bia, đền thờ, sân lễ và trùng tu, tôn tạo các ngôi mộ bằng vật liệu ô dước, khôi phục các hoa văn, họa tiết và văn bia khắc trên mộ. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">     Dự án đang ở giai đoạn hoàn chỉnh hồ sơ trình các cấp thẩm quyền phê duyệt. Trước mắt, để kịp chào mừng kỷ niệm Biên Hòa - Đồng Nai 310 năm, BQLDTDT tỉnh sẽ tiến hành làm bia, biển giới thiệu, chỉnh trang khu mộ, dọn dẹp vệ sinh đường vào di tích để đón khách tham quan. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt"> <strong><em>* Di tích đình An Hòa </em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">     Tọa lạc tại xã An Hòa, huyện Long Thành. Đình được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVIII thờ Thần Thành hoàng bổn cảnh của làng. Đình An Hòa đã được xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 1989. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">     Năm 2007, UBND tỉnh cho chủ trương trùng tu tôn tạo di tích này. Theo đó, BQLDTDT đã phối hợp với đơn vị tư vấn thiết kế lập dự án trùng tu tôn tạo các hạng mục: sửa chữa, sơn phết, chống mối mọt, nấm mốc ở chánh điện, nhà võ ca, nhà khách, cổng tam quan, sân đường nội bộ, hệ thống thoát nước và chống sét... với tổng kinh phí dự tính hơn 4 tỷ đồng (trong đó 700 triệu đồng từ chương trình mục tiêu quốc gia, 500 triệu đồng từ nguồn xã hội hóa, còn lại là ngân sách của tỉnh). Hiện dự án đã hoàn thành thủ tục hồ sơ đưa ra đấu thầu, dự tính tháng 12-2008 sẽ khởi công và hoàn thành vào năm 2009. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">     <strong><em>* Di tích chùa Ông (miếu Quan Đế) </em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt"> <img alt="" align=left src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0709_Ccditch1.png">Tọa lạc tại xã Hiệp Hòa, TP. Biên Hòa, được Bộ VHTT xếp hạng là di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vào năm 2001. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">     Chùa Ông do cộng đồng người Hoa ở Biên Hòa - Đồng Nai xây dựng vào năm 1684, thờ Quan Công (còn gọi là Quan Vũ, Quan Vân Trường) và hệ thống phúc thần của người Hoa. Chùa được bố trí mặt bằng kiến trúc theo kiểu &quot;nội công ngoại quốc&quot;, không kể công trình Quan Âm Các được xây tách biệt ở phía sau chùa. Chùa Ông là một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc trưng của Trung Hoa với vì kèo kiểu &quot;chồng rường giá chiêng&quot;, đặc biệt là quần thể tiểu tượng sành cứng men màu của lò gốm Cây Mai - Gia Định trang trí trên nóc mái chùa. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">     Chùa Ông gắn với quá trình di dân của tập đoàn người Hoa Trần Thượng Xuyên sau thất bại của phong trào &quot;phản Thanh phục Minh&quot; đã vượt biển xin Chúa Nguyễn tỵ nạn ở nước ta vào năm 1679. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt"> Trải qua thời gian dài, ngôi chùa đã được trùng tu, sửa chữa nhiều lần. Lần gần đây nhất năm 2006, Ban trị sự Chùa Ông đã tiến hành trùng tu Quan Âm Các với tổng kinh phí gần 1,8 tỷ đồng bằng nguồn vốn xã hội hóa. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">     Năm 2008, chùa được tiếp tục trùng tu chánh điện và các hạng mục Đông lang, Tây lang, nhà khách, nhà bếp, cổng tam quan, sân đường nội bộ, hệ thống thoát nước, chống sét với tổng kinh phí ước tính trên 3 tỷ đồng cũng từ nguồn vốn xã hội hóa. Công trình đang được trùng tu, dự tính sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng trong tháng 12-2008. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt">Hiện toàn tỉnh có hơn 1.500 di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, kiến trúc nghệ thuật, mộ cổ và hơn 400 ngôi nhà ở truyền thống, trong đó có 24 di tích xếp hạng cấp quốc gia và 12 di tích cấp tỉnh. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:11pt"><strong>Thúy Nga </strong></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:38 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.948</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:38:19 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=25</guid>
    </item>
    <item>
      <title>ANH HÙNG NGUYỄN TRỌNG TÂM</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=59</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass6B50A19E036042C585E6BC57FEABF442>
<div class=ExternalClassAC197830E59D4F489A14C0A4C3A00E6C>
<div>
<table style="border-collapse:collapse" border=0>
<colgroup>
<col style="width:188px"></colgroup>
<tbody valign=top>
<tr>
<td valign=center>
<p style="text-align:center"> </p></td></tr></tbody></table></div><span style="font-family:Arial"><span style="color:#666666;font-size:10pt">
<p style="text-align:center"><img alt="" align=left src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0854_ANHHNGNGUYN1.jpg"></p>
<p style="margin-left:2pt">Anh hùng Nguyễn Trọng Tâm sinh năm 1927, dân tộc Kinh, quê ở xã Yên Quang, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ nghỉ hưu.</p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Trọng Tâm là Trưởng ban binh vận thành phố Nam Định. Năm 1954, đồng chí được điều vào Nam hoạt động hợp pháp, làm công tác binh vận. Tháng 10 năm 1955, Nguyễn Trọng Tâm bị địch bắt, chúng tra tấn rất dã man, nhưng Nguyễn Trọng Tâm vẫn giữ vững ý chí tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ nghỉ hưu. </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Trọng Tâm là Trưởng ban binh vận thành phố Nam Định. Năm 1954, đồng chí được điều vào Nam hoạt động hợp pháp, làm công tác binh vận. Tháng 10 năm 1955, Nguyễn Trọng Tâm bị địch bắt, chúng tra tấn rất dã man, nhưng Nguyễn Trọng Tâm vẫn giữ vững ý chí cách mạng. Trong tù, đồng chí đã móc nối với bên ngoài để hoạt động, đã tổ chức, chỉ huy anh em cướp súng, phá nhà tù Tân Hiệp – Biên Hòa giành thắng lợi, giải thoát được gần 500 cán bộ ta bị địch bắt. Nguyễn Trọng Tâm đã góp phần xây dựng lực lượng vũ trang đầu tiên của miền Đông Nam Bộ. Đồng chí đã chiến đấu và chỉ huy chiến đấu nhiều trận, diệt được nhiều địch, thu nhiều vũ khí đạn dược và phương tiện chiến tranh của chúng. Trận đánh đầu tiên của đơn vị tiêu diệt chi khu Hiếu Lâm đã diệt và làm bị thương hàng trăm tên địch, thu gần 100 súng, trên 20 máy bộ đàm và hơn 10 tấn đạn. Đồng chí còn xây dựng cơ sở đầu tiên cho phong trào binh vận miền Đông Nam Bộ và chỉ đạo thí điểm thành công phá ấp chiến lược bằng 3 mũi giáp công. Công tác binh vận đã phục vụ cho việc xây dựng cơ sở ém lực lượng vũ trang xuống vùng sâu hoạt động sau tết Mậu Thân (1968). Tháng 3 năm 1974, Nguyễn Trọng Tâm là Ủy viên kinh tài phụ trách thương nghiệp khu miền Đông. </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Trọng Tâm được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">                                                                                                                      Theo dongnai-industry.gov.vn </span></span></p></span></span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">﻿ </span></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 23/06/2010 1:20 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.728</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 18:23:10 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=59</guid>
    </item>
    <item>
      <title>ANH HÙNG NGUYỄN QUYẾT CHIẾN</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=61</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass455EAA9C189643C6B02D061703C26106>
<div class=ExternalClass6475AE421C1C434E952CC936193E8B94>
<div class=ExternalClass78F4E5B0FED34627B9D93F2DC0B9E8E2>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#666666;font-size:10pt">Anh hùng Nguyễn Quyết Chiến sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Phú Hữu, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, xã đội trưởng xã Phú Hữu. Năm 1965 Nguyễn Quyết Chiến vào du kích, đã đánh và chỉ huy du kích đánh trên 100 trận, diệt hàng trăm tên địch, thu trên 20 súng các loại. </span></span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">﻿ </span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:navy"> </span></span><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 5 tháng 6 năm 1967, Nguyễn Quyết Chiến bám sát theo dõi chặt chẽ hoạt động của 1 đại đội Mỹ càn vào xã, ban đêm anh bò vào đặt mìn giữa đội hình trú quân của địch, thấy địch sơ hở, anh lấy 8 khẩu súng chuyển ra ngoài xong quay lại điểm hỏa mìn, diệt 1 trung đội Mỹ. Ngày 18 tháng 12 năm 1967, Nguyễn Quyết Chiến bí mật đột nhập nơi địch đóng quân dã ngoại, sau khi lấy được 4 khẩu súng chuyển ra ngoài thì bỗng nhiên địch sục sạo xung quanh, anh bình tĩnh, táo bạo, mưu trí vào hẳn bên trong trà trộn nằm cạnh địch vờ ngủ, chờ yên tĩnh mới đánh mìn diệt 20 tên địch. Trận ngày 20 tháng 8 năm 1968, Nguyễn Quyết Chiến chỉ huy 1 tổ du kích tập kích địch đang trú quân trong xã. Sau khi bố trí mìn xong, thấy thời gian còn thuận lợi. Chiến xung phong vào lấy khẩu đại liên của địch, dặn lại nếu bị lộ thì anh em cứ điểm hỏa mìn, còn anh tìm cách đánh địch. Kết quả, vẫn lấy được khẩu đại liên, vẫn nổ mìn diệt 40 tên Mỹ, ta an toàn. Nguyễn Quyết Chiến luôn chăm lo xây dựng đội du kích lớn mạnh, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị, luôn chủ động, tích cực phục vụ cho các đơn vị chủ lực vào đánh các căn cứ quân sự của Mỹ ngụy, tạo địa bàn vững chắc cho bộ đội hoạt động ở phía đông thành phố Sài Gòn. </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đồng chí đã được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 1 hạng ba). Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Nguyễn Quyết Chiến được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Theo dongnai-industry.gov.vn </span></span></p></div></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 23/06/2010 1:20 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.037</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 18:24:27 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=61</guid>
    </item>
    <item>
      <title>ANH HÙNG LÊ VĂN LẬP</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=53</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass7E0B160A7EB44D4BB1BC25BAADCE119E>
<div class=ExternalClass42D2AED65CD64C81BEEED423DFEFA010>
<div class=ExternalClass1D9A14A1BB76465B9624F23986369F82>
<div> </div><span style="font-family:Arial"><span style="color:#666666;font-size:10pt"><strong>
<p style="text-align:center"><span style="font-size:x-small"><img alt="" align=left src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0847_ANHHNGLVN1.jpg"></span></p>
<p style="text-align:left;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"> <span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial">Để đạt được các &quot;danh hiệu&quot; này, vị anh hùng - cha của 5 cử nhân đại học, chủ của cơ sở may quần áo xuất khẩu và đang sở hữu 6 hécta đất vườn trồng cây lâu năm đã &quot;tốn&quot; gần 20 năm miệt mài lao động. Vào những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, với vai trò là chủ nhiệm hợp tác xã Long Nhơn (huyện Thống Nhất), ông Ba Lập đã dày công nghiên cứu sách vở, ngược xuôi khắp nơi để đem về cho hợp tác xã hàng trăm loại giống cây trồng, vật nuôi cho năng suất và giá trị cao. Ông cũng đã có nhiều sáng kiến giúp nông dân thâm canh, xen canh để &quot;bắt&quot; đất đẻ ra nhiều sản phẩm, đem lại cho xã viên nhiều tiền của hơn. Nhờ vậy, trong một thời gian dài, giữa lúc nhiều hợp tác xã lao đao, xã viên kiện cáo đòi ra khỏi hợp tác xã vì cung cách làm ăn quan liêu, bao cấp, thua lỗ triền miên, đời sống xã viên thiếu thốn thì hợap tác xã Long Nhơn vẫn phát triển mạnh, kinh tế gia đình của từng xã viên khá giả hơn. Ghi nhận công lao đó, năm 1986, Chủ tịch nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động cho ông Ba Lập. </span></span></span></p></strong></span></span></div></div>
<p style="text-align:left;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial">Nói về điều kiện của người nông dân hiện nay, anh hùng Lê Văn Lập tỏ ra  phấn khởi, Đảng, Nhà nước rất quan tâm, tạo điều kiện để nông dân tiếp cận với nhiều kiến thức và biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên đời sống của họ ngày càng được nâng lên. Ông nói: &quot;So với thời tôi, hiện nay có nhiều nông dân lao động sản xuất giỏi hơn. Tuy họ không được phong anh hùng nhưng những đóng góp của họ rất đáng trân trọng&quot;. Điều mà ông trăn trở nhất là một bộ phận thanh niên hiện nay đang có lối sống sai lầm mà pháp luật thì chưa có biện pháp đủ mạnh để ngăn chặn và nghiêm trị. Và theo ông, nạn tham nhũng cùng với một bộ phận thanh niên bị băng hoại về lối sống, đạo đức là thứ quốc nạn mà Đảng, Nhà nước và mọi người dân cần tập trung bài trừ. </span></span></span></p>
<p><span style="font-size:x-small">Anh hùng lao động Lê Văn Lập, được nhiều người gọi thân thiện là ông Ba Lập, năm nay 71 tuổi đã từng nổi tiếng một thời, với các biệt danh &quot;vua cao lương&quot;, &quot;vua khoai lang&quot;, &quot;vua năng suất cao&quot;, &quot;vua rau cải mùa mưa&quot;... <span style="font-family:Arial">﻿ </span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 23/06/2010 1:15 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.629</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 18:16:05 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=53</guid>
    </item>
    <item>
      <title>ANH HÙNG NGUYỄN THỊ NGỜI</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=57</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass33EF6951C0F14AAF9D8BD25F4623A139>
<div class=ExternalClass2203D714D5C84A93BFEE76F79BBA7746>
<div><span style="display:none" id=1277283132928S> </span> 
<table style="border-collapse:collapse" border=0>
<colgroup>
<col style="width:178px"></colgroup>
<tbody valign=top>
<tr>
<td valign=center>
<p style="text-align:center"> </p></td></tr></tbody></table></div><span style="font-family:Arial;font-size:12pt"><span style="color:#666666">
<p style="text-align:center"><span style="color:#000000"><img alt="" align=left src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0851_ANHHNGNGUYN1.jpg"></span></p>
<p style="margin-left:2pt"> </p><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#666666">
<p style="margin-left:2pt">Anh hùng Nguyễn Thị Ngời sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Tam Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là công nhân cạo mủ cao su, Nông trường Hàng Gòn, Công ty Cao su Đồng Nai.</p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">﻿ </span></span><span style="color:#000000"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">Nguyễn Thị Ngời là công nhân cạo mủ cao su từ năm 1952. Năm 1975, đồng chí và gia đình tình nguyện vào làm tại Nông trường Hàng Gòn mới thành lập. Cạo mủ cao su là công việc vất vả, suốt ngày ở ngoài trời, lao động hoàn toàn thủ công. Để cạo được mủ, đồng thời vẫn bảo đảm chất lượng sống của cây, hàng ngày Nguyễn Thị Ngời không chờ xe của nông trường đưa đón mà luôn có mặt tại vườn cây trước 5 giờ sáng vì đó là giờ cây cho mủ nhiều nhất. Mỗi ngày lao động đồng chí đều tính toán từng giờ một cách  chính xác, nhất nhất tuân theo quy trình cạo mủ, di chuyển giữa các hàng cây, trút mủ và vệ sinh dụng cụ… Nguyễn Thị Ngời có tới 7 người con, nhưng đồng chí liên tục là người có ngày công cao nhất nông trường và luôn vượt sản lượng và định mức của nông trường từ 15 đến 30% với chất lượng mủ tốt nhất. Nguyễn Thị Ngời không chỉ chăm lo đến sản lượng mủ mà còn chăm sóc cho cây tốt. Với tinh thần lao động cần cù, tự giác, có trách nhiệm cao, đồng chí được tập thể tin yêu và tín nhiệm. </span></span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">Đồng chí được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng ba, nhiều bằng khen các loại và nhiều năm liền là Chiến sĩ thi đua. Ngày 29 tháng 8 năm 1985, Nguyễn Thị Ngời được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lao động. </span></span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="color:#000000"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">Theo dongnai-industry.gov.vn </span></span></span></p></span></span></span></span></span></div>
<p> </p>
<p><span style="color:#000000"><span style="display:none" id=1277283132886E></span></span> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 23/06/2010 1:15 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.796</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 18:19:35 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=57</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Địa đạo Nhơn Trạch</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=96</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass9C42DF44AB964556BB4475ED103C2CB8>
<div><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><b><font color="#666666">Vùng Phước An vốn là rừng nguyên sinh lòng chảo, một thời được mệnh danh là &quot;Thủ đô của Long Thành kháng chiến chống Pháp&quot;. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, rừng lòng chảo là căn cứ hoạt động của Huyện ủy Nhơn Trạch với hệ thống địa đạo, giao thông hào, ô ụ chiến đấu cùng lán trại trên mặt đất. Lực lượng đào địa đạo khoảng 20 người thay phiên nhau, đào bằng dụng cụ thô sơ như: cuốc, xẻng đã khởi công vào đúng ngày 19-5-1963 nhân kỷ niệm 73 năm ngày sinh Bác Hồ.</font></b> </span></span></div>
<div><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">﻿ </span></span><font size=2>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Đến cuối năm 1964 đã đào được 1,5km đường địa đạo khép kín, liên hoàn trong lòng đất, nối từ căn cứ Huyện ủy về các xã Phú Hội, Phước An, Huyện đội... Đường địa đạo có kết cấu hình vòm nằm sâu dưới mặt đất từ 5 đến 7m, độ cao từ 1,8m đến 2m, rộng từ 1m đến 1,2m; có nhiều lỗ thông hơi, ngách rẽ sang hai bên, hầm bí mật, giếng nước, bếp Hoàng Cầm... đường địa đạo có thể chịu đựng sức công phá của bom 250kg, chứa được từ 300 đến 500 người.</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Xuất phát từ căn cứ này, Huyện ủy Nhơn Trạch đã lãnh đạo và chỉ đạo các lực lượng cách mạng trong huyện kết hợp đấu tranh vũ trang, chính trị, binh vận đánh bại chính sách ấp chiến lược, chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ - ngụy. </span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Sau ngày giải phóng miền Nam, hệ thống địa đạo dài 1,5km này không còn nguyên vẹn, chỉ còn giữ lại gần 200m. Mặc dù vậy, ý nghĩa lịch sử của căn cứ cách mạng này là rất lớn nên ngày 19-1-2001, Bộ VHTT đã xếp hạng địa đạo Nhơn Trạch là di tích lịch sử cấp Quốc gia (Quyết định số 04/2001/QĐ-BVHTT).</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:14.15pt"> </div><span style="font-family:Arial">
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:14.15pt"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Để bảo tồn và phát huy tác dụng di tích địa đạo Nhơn Trạch, hiện nay trên khu đất rộng 2,5 hecta đối diện với đền thờ liệt sĩ tọa lạc tại ấp 5, xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch, đang tiến hành tu bổ, phục hồi lại đoạn địa đạo dài 200m và nơi làm việc của Huyện ủy theo hồi cố của các nhân chứng lịch sử; xây một nhà truyền thống trưng bày các tài liệu, hình ảnh, hiện vật của căn cứ Huyện ủy xưa với tổng kinh phí hơn 9 tỷ đồng để khách có điều kiện thăm lại vết tích chiến trường xưa, ôn lại trang sử hào hùng một thời oanh liệt. Cũng tại khu đất này, huyện Nhơn Trạch sẽ xây một số công trình văn hóa gắn liền với di tích, du lịch sinh thái vườn trái cây Phú Hội và khu công nghiệp của thành phố trẻ Nhơn Trạch trong tương lai</span></span></div><span style="font-size:x-small">Theo Báo Đồng Nai</span></span></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:25 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.318</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:26:34 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=96</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chiến khu Đ – vùng đất huyền thoại lịch sử</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=14</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass8FA9E0DDBBFF46F8BE20067EFE71380E>
<div><b><font color="#666666" size=2>Mảnh đất “lam sơn trướng khí hội tụ anh hùng”</font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Qua hết con đường nhựa, xe chạy dọc con đường đất đỏ quanh co đưa chúng tôi đến với căn cứ Khu uỷ miền Đông (là một trong những căn cứ nằm trong căn cứ địa chiến khu Đ). Đọc cuốn tài liệu “Di tích lịch sử Căn cứ khu uỷ miền Đông Nam Bộ (chiến khu Đ)” mà chị Lan Hương, tổ trưởng tổ thuyết minh khu di tích đưa cho và nghe chị hướng dẫn, được xem những thước phim tư liệu của một thời hùng tráng nơi đây, chúng tôi cùng bồi hồi trong niềm tự hào xúc động hình dung về lịch sử cách đây 60 năm.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Từng là căn cứ đầu tiên của tỉnh Biên Hòa được xây dựng vào tháng 2-1946, sau Hội nghị cán bộ quân sự ở Lạc An, huyện Tân Uyên (nay là xã Lạc An, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) với địa thế hiểm trở của phần đất cuối cùng chuyển tiếp của dãy Trường Sơn xuống vùng đồng bằng, chiến khu Đ chính thức trở thành trung tâm lãnh đạo phong trào cách mạng miền Nam và được mở rộng bao trùm toàn bộ vùng rừng ngang đường 16, trải dọc lưu vực hữu ngạn sông Đồng Nai, đổ về thượng nguồn giáp giới Sông Bé. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp các cơ quan, đơn vị ta tại Chiến khu Đ đã vượt qua nhiều khó khăn: nào thiên tai (đặc biệt là cơn bão lụt khốc liệt năm Nhâm Thìn 1952), nào địch họa do càn quét, đánh phá bằng bom đạn, phá hoại kinh tế, gài do thám chỉ điểm, biệt kích... đã giữ vững căn cứ địa cách mạng, đóng vai trò hậu phương tại chỗ của miền Đông, là bàn đạp để lực lượng ta tiến công vào các cơ quan đầu não, căn cứ quân sự, kho tàng, đường giao thông chiến lược của địch, góp phần vào thắng lợi chung của quân dân cả nước, đưa đến việc ký Hiệp định Giơnevơ năm 1954.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại, vùng chiến khu Đ tiếp tục được mở rộng bao gồm toàn bộ cao nguyên miền Trung và biên giới Campuchia, được coi là vùng “tam giác sắt” nối liền từ chiến khu rừng Sác, Dầu Tiếng, Xuyên Mộc, Phước Cơ đến căn cứ Củ Tri, Bến Cát và được coi là thủ đô kháng chiến của dân tộc với nhiệm vụ chính của mình là trung tâm tâm lãnh đạo cách mạng miền Nam, là nơi xây dựng các binh đoàn chủ lực, đào tạo, huấn luyện cán bộ, chiến sĩ. Trong lòng chiến khu cách mạng ngày càng mở rộng, nhiều căn cứ được hình thành và phục vụ đắc lực cho phong trào cách mạng miền Đông Nam Bộ. Căn cứ khu uỷ miền Đông Nam Bộ, nơi chúng tôi đang đứng chân nơi đây được xây dựng vào năm 1962, thuộc địa phận phân trường 6, Lâm trường Hiếu Liêm, xã Trị An, huyện Vĩnh Cửu để đảm nhận nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng trên địa bàn khu. Căn cứ địa toạ lạc giữa đỉnh đồi đất sỏi khá bằng phẳng với diện tích hơn 28ha. Toàn bộ khu đồi được bao phủ bởi rừng cây dày đặc trong hệ thống rừng miền Đông với hệ thống giao thông hào, hệ thống địa đạo liên hoàn và hệ thống nơi làm việc, trú ẩn của lãnh đạo Khu uỷ và các cơ quan trực thuộc. Tại khu căn cứ này, Khu uỷ miền Đông đã đứng chân trong suốt thời gian dài lãnh đạo cách mạng (1962-1967), góp phần làm nên những chiến thắng Phước Thành, Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Sắn…chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"> Là nơi đào tạo, nuôi quân, là cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam, Chiến khu Đ cũng chính là một trong 3 mũi giáp công, là bàn đạp tấn công vào cửa ngõ Sài Gòn theo hướng Đông Bắc. Vì thế mà Mỹ - nguỵ đã ra sức tìm cách tàn phá nơi đây. Song mảnh đất chiến khu Đ vẫn anh dũng vượt qua bao khắc nghiệt của bom Napan, của chất độc hoá học, những trận càn quét khốc liệt của địch trở thành “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, xứng đáng là nơi hội ngộ của những anh hùng trên khắp mọi miền đất nước, những người vì cuộc kháng chiến của dân tộc mà đến và cũng từ đây mà ra đi, nơi tụ hội trí khí, niềm tin thiêng liêng của cả dân tộc, làm nên đại thắng mùa xuân 1975, hoàn thành cuộc trường chinh cứu nước vĩ đại.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><b><i>* Chiến khu Đ trong tương lai: Hành trình về nguồn</i></b></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Đoạn đường từ xã Phú Lý đến di tích Khu uỷ miền Đông - Chiến khu Đ hôm nay đã có nhiều đổi thay. Đi trên con  đường trải nhựa láng mướt, hoà mình trong không khí mát lành giữa cây rừng xanh bạt ngàn, chúng tôi mới càng thấm thía và cảm nhận hết được sức sống phi thường của thiên nhiên cũng như con người nơi đây khi phải oằn mình suốt mấy mươi năm trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ trường kỳ, gian khổ để cất vang khúc khải hoàn chiến thắng mùa xuân năm 1975 và để hôm nay mảnh đất, tình người chiến khu xưa lại giang rộng vòng tay đón chào các thể hệ cháu con trong những chuyến du lịch về nguồn…</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Nơi đây có một di tích và truyền thống lịch sử hào hùng, chính vì điều đó trong những năm qua đã có rất nhiều những cuộc du lịch tìm về nguồn giúp các thế hệ thanh niên tìm hiểu về mảnh đất và con người nơi chiến khu Đ, tìm hiểu về lịch sử nơi đã trở thành thành trì kiên cố bảo vệ an toàn cho cán bộ và nhân dân các tỉnh miền Đông Nam bộ suốt 2 cuộc kháng chiến và đồng thời cũng giáng cho quân thù những trận đòn chí tử. Trong vòng 3 năm trở lại đây đã có trên 70 ngàn lượt du khách đến thăm quan Căn cứ Khu uỷ miền Đông Nam bộ - chiến khu Đ. Hiện nay, di tích Căn cứ Khu ủy miền Đông đã được tôn tạo, trùng tu và được công nhận là Di tích lịch sử Quốc gia. Trong hướng quy hoạch chung, di tích Căn cứ Khu ủy miền Đông cùng với hệ thống di tích địa đạo Suối Linh, di tích Căn cứ Trung ương cục miền Nam, khu công viên lịch sử văn hoá miền Đông Nam bộ trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu sẽ trở thành một địa điểm sinh hoạt văn hóa truyền thống lý thú, du lịch sinh thái hấp dẫn. Theo như dự án Trung tâm sinh thái – văn hóa - lịch sử Chiến khu Đ, sẽ có đến 73% diện tích dành cho cây xanh và mặt hồ, với 7 hạng mục công trình: tượng đài trung tâm, di tích 9 tỉnh miền Đông, bảo tàng Chiến khu Đ, sân lễ hội, khu hành chính, cây xanh và hồ nước, bãi đậu xe. Mọi sự tôn tạo, trùng tu, xây mới sẽ được thực hiện trên nguyên tắc bảo vệ nguyên hiện trạng lịch sử, tôn trọng yếu tố tự nhiên và bảo vệ rừng sinh thái đầu nguồn thủy điện Trị An. Ngoài mục tiêu tôn vinh các dự tích lịch sử và giáo dục truyền thống lịch sử, truyền thống cách mạng cho lớp thế hệ con cháu, dự án còn nỗ lực tạo sức bật mới cho ngành du lịch Đồng Nai trong thời kỳ mới.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Ông Phạm Thanh Sơn – Phó Giam đốc Khu bảo tồn thiên nhiên và di tích huyện Vĩnh Cửu cho biết thêm: Trung tâm sinh thái – văn hóa - lịch sử Chiến khu Đ sẽ có điểm nhấn kết hợp với các quần thể di tích. Khi du khách đến tìm hiểu lịch sử, sẽ được thăm quan nhiều nơi khác như: tìm hiểu lễ hội và sinh hoạt văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Châu Ro, thăm quan Bãi đá dựng - Suối Linh, thác Bàng, Di chỉ khảo cổ Lò gốm cổ ở trạm 3 xã Hiếu Liêm có niên đại cách đây 2500 – 3000 năm, nhà máy thủy điện Trị An… Kết hợp với các địa điểm này, là các dịch vụ phục vụ ăn uống, vui chơi giải trí cho du khách gắn với văn hóa ẩm thực của chiến khu Đ: canh lá rừng, khoai mì, cá tào đồi, măng rừng… Bên cạnh đó, khi mà khu du lịch này được đầu tư quy mô, các nghề truyền thống của đồng bào dân tộc sẽ có điều kiện phát triển để phục vụ khách du lịch như: mây – tre đan, gùi , dệt thổ cẩm…</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Trở lại chiến khu Đ trong những chuyến du lịch về nguồn như vậy giúp chúng ta tìm hiểu lịch sử hào hùng và oanh liệt của vùng đất “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, từng là nỗi kinh hoàng của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Vùng đất chiến khu Đ ngày ấy và bây giờ sẽ mãi tỏa sáng ngọn lửa truyền thống, cháy rực “hào khí miền Đông” trên bước đường xây dựng tương lai…</div>
<div style="line-height:150%"><b><i>        Hương Sen – Lê Lan</i></b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:10 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.897</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:14:25 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=14</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Mộ và đền thờ Đoàn Văn Cự</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=93</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass44A0169BB21649EB8A61B3029BEA8265>
<div><b><font color="#666666" size=2>Đây là di tích lịch sử danh nhân có giá trị ở Đồng Nai, gồm hai phần: mộ và đền thờ. Phần mộ là nơi an táng Đoàn Văn Cự, thủ lĩnh hội kín Thiên Địa hội ở Biên Hoà và 16 nghĩa binh tử vong trong trận tấn công của Pháp vào bưng Kiệu năm 1905. Đây cũng là nơi mà lúc sinh tiền Đoàn Văn Cự xây dựng căn cứ kháng chiến. Mộ tọa lạc trên khu bình địa tổng kho Long Bình, phường Long Bình, cách trung tâm thành phố Biên Hoà 8km đường chim bay. Nguyên thủy chỉ là nấm mồ chôn cất đơn sơ, năm 1956 và 1990 được nhân dân trùng tu lại theo lối xây cất mới. Mộ hình chữ nhật, dài 16,5m; rộng 2m; cao 0,5-0,75m. Phía sau là ngôi miếu nhỏ thờ hương hồn Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh, bài trí đơn giản. Khu mộ được bảo vệ bởi hai vòng rào bằng gạch, có cổng ra vào. Gần như bao quanh khu mộ là dòng Linh Tuyền, tiếng nước róc rách suốt ngày đêm đưa hồn các tử sĩ vào cõi vĩnh hằng. </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div>Tại phường Tam Hiệp, trên Quốc lộ 15, một ngôi đình cũng được xây cất từ năm 1956 làm chỗ thờ Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh, cách phần mộ khoảng 1km về hướng đông bắc 64 độ. Đền tọa lạc trên khu đất bằng phẳng, rộng 3.000m<sup>2</sup>, kiến trúc theo kiểu chữ tam (三), gồm hai phần chính: nhà võ ca và chánh điện.</div>
<div>Nhà võ ca chiếm diện tích 303,75m<sup>2</sup>, đối diện với đền thờ chính. Bên trong có sân khấu nhỏ dùng để hát bội trong những dịp lễ đền. Mặt sân khấu đối diện với chánh điện.</div>
<div>Trước khi vào chánh điện phải qua nhà bái. Đây là nơi khách thập phương ra vào hành lễ, diện tích 75,465m<sup>2</sup>, mái lợp ngói móc, nền cao 0,5m xây bằng đá ong lót gạch bông, được chia làm ba gian, mỗi gian đều có bàn hương án. Trước đền có cặp lý ngư hoá long chầu mặt trời, biểu tượng cuốn thư cây giáo, hai bên là hai con rồng bằng gốm men xanh.</div>
<div>Nối tiếp nhà bái là chánh điện, diện tích 129,87m<sup>2</sup> gồm bốn mái lợp ngói móc, trên nóc có cặp rồng chầu pháp lam, chia thành ba gian bởi những hàng cột gỗ sao, trên cột đều có liễn đối. Gian chính giữa thờ thần, bàn hương án bằng gỗ khắc chạm rồng chầu mặt trời, chim muông... được sơn son thếp vàng, hai bên là hàng bát bửu. Hai gian bên thờ tả hữu ban liệt vị. Dọc mặt tường tả hữu thờ Tiền hiền, Bạch mã, Tiên sư, Thổ công.</div>
<div>Phía sau chánh điện là nhà khách và nhà bếp. Nơi đây dùng để tiếp khách và nấu ăn trong những ngày lễ trọng.</div>
<div>Đáo lệ hàng năm, đến ngày 8 tháng 4 âm lịch, nhân dân địa phương thiết lễ giỗ bằng một độ tế rất long trọng, tưởng nhớ hùng khí của Đoàn Văn Cự và 16 tử sĩ vì đại cuộc xả thân.</div>
<div>Đoàn Văn Cự lãnh đạo hội kín <i>Thiên Địa hội</i> ở Biên Hoà, một tổ chức yêu nước chống ách thống trị của thực dân Pháp. Ông đã quy tụ được đông đảo lực lượng nghĩa quân tiến hành cuộc kháng chiến thời kỳ trước khi Đảng Cộng Sản ra đời. Tuy bị thực dân Pháp nhanh chóng dập tắt nhưng hoạt động của ông đã có ảnh hưởng sâu rộng ở vùng miền Đông Nam bộ trong những thập niên đầu thế kỷ XX.</div>
<div><i>Thiên Địa hội</i> vốn là một tổ chức vừa có tính chất tương tế, vừa có tính chất chính trị của nông dân Trung Quốc, được hình thành từ sau khi nhà Minh bị nhà Thanh lật đổ, khẩu hiệu chính trị là “Bài Mãn phục Minh”.</div>
<div>Cuối thế kỷ XX, tổ chức <i>Thiên Địa hội</i> hoạt động khá mạnh ở thành thị và nông thôn Nam kỳ lục tỉnh, nhờ vào việc phát triển thương mại. Bấy giờ Nam kỳ có nhiều hội yêu nước của nhân dân rất bí mật, báo chí gọi là “hội kín”, về sau gọi là <i>Thiên Địa hội</i>. Thật ra, các hội đó không mang một tên thống nhất nào, mà có nhiều tên gọi khác nhau. Hội hoạt động riêng lẻ, liên lạc ngang với nhau, khi có điều kiện thì kết hợp thành hệ thống dọc như một lực lượng yêu nước mạnh mẽ. Mục đích là đánh đuổi ngoại bang, giành độc lập, thiết lập chế độ quân chủ, khẩu hiệu đấu tranh là “Bài Pháp phục Nam”. Hình thức đấu tranh là bạo động. Các tổ chức này còn chịu ảnh hưởng sâu của hệ tư tưởng và đạo đức phong kiến pha màu thần bí.</div>
<div>Vốn giàu lòng yêu nước, nhân dân Nam kỳ lục tỉnh đã nhanh chóng biến hội kín thành hình thức hoạt động khá phổ biến để đấu tranh quyết liệt với giặc vào cuối thế kỷ XIX đầu những thập niên thế kỷ XX.</div>
<div>Trong tình hình chung của phong trào Nam bộ lúc bấy giờ, nhân dân Biên Hoà hưởng ứng nhiệt thành phong trào chống Pháp của <i>Thiên Địa hội</i>, mở đầu là tổ chức hội kín của Đoàn Văn Cự tại vùng bưng Kiệu, thôn Vĩnh Cửu.</div>
<div>Đoàn Văn Cự sinh năm 1835 tại làng Bình An, huyện Bình An, tỉnh Biên Hoà (nay là quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) trong gia đình nho học yêu nước. Bị Pháp và bọn tay chân theo dõi, ông lánh giặc đến tá ngụ ở bưng Kiệu, thôn Vĩnh Cửu (nay là phường Long Bình, thành phố Biên Hoà) mưu đồ đại sự. Ngụy trang dưới nghề dạy học, cắt thuốc kiêm coi bói, ông ngấm ngầm tập hợp lực lượng, tích trữ vũ khí, lương thảo. Đội ngũ chống Pháp của ông rải khắp cả miền Đông Nam kỳ, đông nhất là Chợ Đồn, Chợ Chiếu (Cù Lao Phố), Bình Đa, Vĩnh Cửu đến núi Nứa (Bà Rịa). Lực lượng ngày càng hùng hậu, hoạt động của ông dần đến chỗ công khai nơi bưng rừng khuất tịch. Tất nhiên không tránh khỏi sự dòm ngó, theo dõi của chính quyền thực dân.</div>
<div>Để ngăn chặn ảnh hưởng và dập tắt phong trào ngay từ trong trứng nước, sáng ngày 12 - 4 -1905 (dương lịch), một tiểu đội lính mã tà do tên sen đầm chỉ huy kéo xuống bao vây căn cứ bưng Kiệu. Đoàn Văn Cự bố trí nghĩa quân do các tướng Hoàng Mè, Hoàng Giáp chỉ huy chuẩn bị đón đánh giặc. Phục binh cả ngày mà không thấy giặc động tĩnh, đến chiều tối, ông ra lệnh cho nghĩa quân về ăn cơm. Đúng lúc không còn quân canh phòng, giặc Pháp rầm rộ kéo đến, một toán quân khá đông bao vây nhà ông. Tên quan ba cùng tốp lính vượt suối Linh tiến vào. Đến ngưỡng cửa, chúng gặp ông trong bộ chiến phục oai nghi: đầu chít khăn lụa điều, mình buộc thắt lưng màu hồng, giắt đoản đao đầu hổ. Thấy địch, ông vung đao chém tên quan ba Pháp bị thương. Hắn rút súng bắn lại, Đoàn Văn Cự trúng đạn hy sinh trước bàn thờ Tổ. Lúc bấy giờ, đã bảy mươi tuổi mà tướng mạo ông hãy còn phương phi, nằm chết trên vũng máu với vẻ hiên ngang của một trang võ tướng.</div>
<div>Pháp xả súng vào căn cứ nghĩa quân, đốt phá lương thực. Thêm 16 người bị trúng đạn chết trong cơn tán loạn. Hôm sau, dân làng an táng 17 liệt sĩ vào ngôi mộ chung.</div>
<div>Mộ và đền thờ Đoàn Văn Cự đã được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 722/QĐ - BVHTT, ngày 25 - 4 - 1998.</div>
<div>Dẫu thời gian đã trôi qua, tấm gương can liệt của Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa sĩ vẫn sáng mãi với khí thiêng sông núi, góp phần làm rạng rỡ “hào khí Đồng Nai”. Họ mất đi mà anh linh vẫn còn phảng phất trong tâm trí của người dân Biên Hoà nặng lòng hoài cổ.</div>
<div align=right><b>Nguyễn Tuyết Hồng</b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:20 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.517</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:24:34 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=93</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Tên thương cảng sầm uất nhất ở vùng đất Biên Hoà thế kỷ 17, 18?</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=161</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass2A5A3B57B6EA4EC1964866A68C570DE4>
<div><span style="font-size:x-small"><b><font color="#666666" face=Arial>Cù Lao Phố</font></b> </span></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Hỏi đáp về Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 11:20 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.235</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Hỏi đáp về Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 16:22:26 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=161</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Mộ Cự thạch Hàng Gòn - Công trình kiến trúc mộ cổ huyền bí</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=102</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass60CDE7BC7C7F4A7885B64BD6E1306672>
<div><font color="#666666" size=2><strong>Sau nhiều năm nỗ lực của ngành khảo cổ học Việt Nam trong việc vén bức màn &quot;bí ần&quot; về di tích mộ cổ Cự thạch Hàng Gòn, các nhà khoa học đã phát hiện hết bí mật này đến bí mật khác. </strong></font></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Một nhà nghiên cứu khảo cổ học người nước ngoài đã phải thốt lên: &quot;Đây là di tích Cự thạch kỳ lạ trên vùng đất đỏ huyền vũ nham Xuân Lộc đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu đặc biệt của nhiều học giả trên thế giới&quot;.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><strong>Công trình kiến trúc mộ đá cổ độc đáo</strong></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Di tích Mộ Cự thạch Hàng Gòn, nay thuộc ấp Hàng Gòn (xã Hàng Gòn, thị xã Long Khánh,  Đồng Nai) đã được phát hiện và khai quật từ năm 1927.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%">Năm 1928, di tích đã được xếp hạng và ghi vào danh mục các di tích lịch sử &quot;Mộ Đông Dương - mộ Dolmen Hàng Gòn&quot; và đến năm 1984, Bộ Văn hóa đã xếp hạng Mộ Cự thạch Hàng Gòn là di tích quốc gia, 1 trong 10 di tích quan trọng ở Nam bộ.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Các nhà khoa học đánh giá, đây là một di tích độc đáo cả về nghệ thuật và kỹ thuật của các tộc người cổ Nam Á nói chung và người Việt cổ nói riêng.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Mộ Cự thạch Hàng Gòn là một dạng hầm mộ, được cấu tạo bởi những tấm đá hoa cương lớn và những trụ đá dài, nặng khoảng 30 - 40 tấn. Ngôi mộ có hình chữ nhật dài 4,2m, ngang 2,7 mét, cao 1,6 mét được ghép bới 6 tấm đá hoa cương được bào khá nhẵn ở mặt ngoài; 4 tấm đá thẳng đứng dùng làm vách, 2 tấm nằm ngang dùng làm mặt đáy và nắp đậy.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%">Liên kết giữa tấm đá hoa cương nhờ vào hệ thống rãnh dọc chắc chắn. Xung quanh mộ có nhiều trụ đá hoa cương cao 7,5 mét, tiết diện mặt cắt ngang hình chữ nhật dài 1,10m X 0,3m, phần lớn các đầu trụ được khoét lõm hình yên ngựa.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Những phát hiện đầu tiên về ngôi mộ do một kỹ sư người Pháp tên là Jean Bouchot khám phá vào năm 1927 trong khi đào ủi mặt bằng để thi công tuyến giao thông Long Khánh đi Bà Rịa - V ũng Tàu.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Sau đó có nhiều đoàn khảo cổ trong và ngoài nước đến nghiên cứu di chỉ khảo cổ học này. Tuy nhiên, cho đến khoảng tháng 3/2006, các chuyên gia của Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ và Ban quản lý di tích - danh thắng Đồng Nai phối hợp mở đợt điều tra nghiên cứu quy mô. Nhiều phát hiện mới đã được đoàn nghiên cứu làm rõ.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Trong quá trình đào thám sát, đã phát hiện dấu vết của những vệt đất cháy kéo dài thành hình vòng cung, phía trên có rất nhiều than tro và xỉ kim loại; các mảnh đồ gốm trên thân có hoa văn làm từ chất liệu đất sét pha cát và vỏ nhuyễn thể nghiền nhỏ; phát hiện 2 chiếc tù và bằng đồng và 2 chiếc bàn mài bằng đá có lỗ đeo.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Năm 2007, đoàn đã tiếp tục khai quật và giải mã những &quot;bí mật&quot; di tích Mộ Cự thạch Hàng Gòn. Nhiều hiện vật bằng gốm, bằng đá, các dụng cụ bàn mài, các cột đá và những vết đất cháy, than tro.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Đặc biệt trong xưởng chế tác đá đã tìm thấy trước đó, đoàn khảo sát cũng đã tìm thấy những tấm đá, cột đá, nhiều phế vật mảnh tước đá và nhiều công cụ lao động. Qua đó cho thấy người xưa đã vận chuyển những khối đá lớn về Hàng Gòn để gia công tạo ra những tấm đan, cột đá sử dụng cho kiến trúc mộ.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Qua so sánh phân tích, các nhà nghiên cứu đã đưa ra phán đoán cho rằng, chủ nhân của Mộ Cự thạch là một nhân vật quyền uy, là thủ lĩnh của một bộ lạc hay liên minh các bộ lạc hùng mạnh về kinh tế và quân sự; niên đại của di tích được xác định trong khoảng thời gian 150 trước Công nguyên đến 240 năm sau Công nguyên.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><strong>Như một &quot;thạch tự tháp&quot;</strong></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Bouchot - Người đầu tiên khám phá ra ngôi mộ - cho rằng sự &quot;huyền bí&quot; của hầm mộ Cự thạch Hàng Gòn là do các nhà xây dựng thời tiền sử quan tâm đến sự bảo mật giống như &quot;bí truyền&quot; thường thấy ở nhiều dân tộc sống ở khu vực Thái Bình Dương.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Ông cho rằng người Việt cổ đã biết tập hợp nhau lại tạo thành sức mạnh phi thường mới có thể vận chuyển được những cấu kiện bằng đá lớn như vậy, ngay cả đền Angkor (Campuchia) cũng không thấy những tảng đá nặng như thế.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Các nhà khảo cổ cho rằng, để xây dựng công trình trên, người Việt cổ phải huy động sức lao động của cả cộng đồng, tổ chức lao động một cách rất chặt chẽ. Đây là một công trình giống như &quot;thạch tự tháp&quot; của miền văn hóa sông Đồng Nai.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Ghi nhận của ngành Bảo tàng, Khảo cổ học Việt Nam cho thấy: Từ năm 1975 đến nay, có hàng trăm đoàn khảo cổ học từ các nước đến Hàng Gòn để tìm hiểu, nghiên cứu về quần thể di tích cự thạch độc đáo này.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Nhiều người cho rằng, đây là một ngôi mộ chôn dưới hình thức hỏa thiêu được xây dựng vào thời kỳ kim khí thuộc giai đoạn đồng phát triển (hậu kỳ thời đại đồ đồng) có khả năng chuyển sang thời kỳ đồ sắt; đồng thời khẳng định công trình này không chỉ có giá trị về kích thước (được xem là ngôi mộ đá lớn nhất Đông Nam Á đã phát hiện vào thời điểm hiện nay) mà còn chứa đựng giá trị lớn về trí sáng tạo của người tiền sử được ví như &quot; nền văn minh sông Đồng Nai&quot;.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Bí mật về quần thể di tích mộ Cự thạch Hàng Gòn hiện vẫn đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới khảo cổ học trong và ngoài nước. Một cuộc hội thảo cũng vừa được tổ chức tại tỉnh Đồng Nai để bàn biện pháp phục chế và bảo tồn di tích lịch sử độc đáo này.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%">Hiện Bộ văn hóa - Thể thao và Du lịch cùng với UBND tỉnh Đồng Nai đang đề nghị các nhà kiến trúc, nhà quản lý, các nhà khoa học cho ý kiến về phương án bảo tồn và tôn tạo di tích mộ cự thạch Hàng Gòn để sớm triển khai trùng tu.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in"><em><b>Theo báo Tiền Phong</b></em></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:30 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.314</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:34:21 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=102</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Danh xưng Đồng Nai qua ca dao</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=24</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassCB57147AC6914E7198E3752831D58F69>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt"><span style="color:#666666"><strong>Năm 1698 trở thành một mốc lịch sử quan trọng đối với vùng đất Nam bộ nói chung và Đồng Nai nói riêng. Đó là khởi điểm cho một vùng đất được chính thức hóa trong sự quản lý của một thể chế nhà nước thời các chúa Nguyễn. </strong></span></span></p>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">﻿ </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><img alt="" align=left src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0708_Danhxngng1.png"><span style="font-size:11pt">Sự có mặt của lưu dân Việt trước năm 1698 ở vùng đất Đồng Nai - Gia Định là cơ sở quan trọng cho việc các chúa Nguyễn thực hiện những kế hoạch của mình khi mở mang quốc gia về phía Nam. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Trong những lớp di dân đến khai khẩn, người Việt đến Đồng Nai khá sớm. Trong vốn văn hóa dân gian của người Việt, vùng đất Đồng Nai được nhắc đến trong nhiều ca dao. Tùy thuộc vào nội dung bài hay câu ca dao mà những thế hệ di dân thuở đầu phản ánh vùng đất Đồng Nai qua nhiều góc nhìn khác nhau, gắn liền với những sự kiện, chuyện tích liên quan... </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Có lẽ, câu ca dao quen thuộc nhất, được nhiều người hay nhắc đến là: </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Nhà Bè nước chảy chia hai </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Câu ca dao này nhắc đến địa danh Nhà Bè - chuyện tích cảm động về nhân vật Thủ Huồng xưa làm bè ở ngã ba sông để làm từ thiện, tích đức. Nơi ngã ba sông ấy chia đôi đường để đi đến Gia Định hay Đồng Nai. Đất Đồng Nai như mời gọi những ai muốn đến, muốn về.<span style="font-family:Times New Roman"> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Xứ sở Đồng Nai của một thời, muôn ngàn khó khăn đối với những người di dân thuở khai khẩn, được thể hiện trong câu ca: </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Đồng Nai xứ sở lạ lùng </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um.<span style="font-family:Times New Roman"> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Thế nhưng, vùng đất rộng người thưa ấy qua một thời được khai khẩn đã trở thành vùng đất mới đầy hứa hẹn. Người di dân đến đây tìm được nguồn lợi và mưu cầu về một cuộc sống tốt hơn. Không những thế, xứ sở này được họ khai phá trở thành một nơi danh tiếng: </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Ai về xin nhớ cho ai theo cùng. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">hay: </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Hết gạo thì có Đồng Nai </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Hết củi thì có Tân Sài chở vô. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">hoặc: </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Đồng Nai gạo trắng nước trong </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Ai đi đến đó thời không muốn về. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Vùng Đồng Nai trở nên danh tiếng khi trở thành vùng có nước ngon, gạo nhiều. Đồng Nai trở thành một nơi sản xuất lúa gạo lớn của cả vùng đất phương Nam, được nhắc đến trong câu: &quot;Cơm Nai Rịa, cá Rí Rang&quot;. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (năm 1820) có viết: &quot;Bà Rịa là đầu trấn Biên Hòa, là đất có danh tiếng, nên các phủ phía Bắc có câu ngạn rằng: cơm Nai Rịa, cá Rí Rang, ấy là xứ Đồng Nai và Bà Rịa đứng đầu...&quot;.<span style="font-family:Times New Roman"> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Đồng Nai có con sông lớn, nước ngọt, trong xanh. Phát tích từ cao nguyên Langbian, sông Đồng Nai vượt qua bao thác ghềnh, núi đồi để hòa biển Đông. Những nơi dòng sông đi qua để lại nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú từ Cát Tiên đến thác Trị An, làng Tân Triều... </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Đồng Nai nguồn mọi cao sang </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Chảy xuống hai hàng, hàng Đại, hàng Sâm. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Hàng Sâm là một địa danh của thác Trị An, ngọn thác cuối cùng trên dòng chảy sông Đồng Nai. Thác Trị An gắn liền với những truyền thuyết lý thú. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Danh xưng Đồng Nai còn được nhắc đến như một đối sánh với đất kinh kỳ &quot;Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai&quot;. Hình ảnh của sông Đồng Nai đi với chùa Thiên Mụ vang danh xứ Huế như một điều thề hứa vững chắc: </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Bao giờ cạn nước Đồng Nai </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Hơn ba trăm năm có lẻ, Biên Hòa xưa - Đồng Nai nay, trải qua bao biến thiên lịch sử đã ghi lại nhiều dấu ấn trong diễn trình hình thành và phát triển. Trên vùng đất này, nhiều địa danh, di tích, vùng đất, con sông, bến nước, làng quê, cù lao... với tên gọi, đặc điểm riêng được nhắc đến nhiều trong những bài ca dao thân thuộc. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">- Nước Đồng Nai sóng dồi lên xuống </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Cửa Đồng Môn mây cuốn cánh buồm xuôi. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">- Ngó lên Châu Thới có đám mây bạch </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Ngó xuống Rạch Cát thấy con cá trạch đỏ đuôi. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">- Trà Phú Hội, nước Mạch Bà </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Sầu riêng An Lợi, chuối già Long Tân </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Cá buôi sầu huyết Phước An </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-size:11pt">Gạo thơm Phước Khánh, tôm càng Tam An... </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt">Những bài ca dao ấy là một phần trong di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc sinh sống trên mảnh đất này giúp chúng ta hiểu biết thêm về Đồng Nai hiện nay. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:11pt"><strong>Theo Báo Đồng Nai </strong></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:11pt">  </span> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:36 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.249</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:36:33 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=24</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Sông Đồng Nai đang bị xâm hại nghiêm trọng</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=52</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassB52648B80F554CEABB597CCC5141E20A>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Nguyên nhân của sự suy thoái là do tốc độ đô thị hóa nhanh, thiếu quy hoạch tổng thể, sự quản lý yếu kém và nhận thức về môi trường của cán bộ và nhân dân trong vùng chưa cao. Hiện nay, nhà máy nước Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh lại đang trực tiếp sử dụng nguồn nước này để cung cấp cho phần lớn người dân thành phố. Theo khảo sát mới đây của các nhà chức năng, nguồn nước trên đoạn sông từ cầu Hòa An đến cầu Đồng Nai có chứa hàm lượng BOD (mức ôxy hóa) đã quá mức cho phép. Thời gian gần đây, việc hàng loạt các bè cá trên đoạn sông này xảy ra tình trạng chết hàng loạt làm cho nguồn nước đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Hiện, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai mới chỉ có một số khu công nghiệp – khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải. Còn lại, nước thải chưa qua xử lý của hàng ngàn cơ sở sản xuất, nhà máy khác vẫn trực tiếp xả ra sông Đồng Nai.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Tình trạng nuôi cá bè trên sông cũng là nguyên nhân dẫn đến nguồn nước sông Đồng Nai bị ô nhiễm nặng. Tại hồ Trị An đang có hàng ngàn hộ dân sinh sống và nuôi cá bè trong lòng hồ. Nguồn nước thải, chất thải sinh hoạt của gần 3000 nhân khẩu nơi đây cộng với lượng thức ăn cho cá thả xuống mặt hồ hàng ngày đang trực tiếp gây ô nhiễm cho nguồn nước nơi đây. Ngoài ra, sông Đồng Nai còn là tuyến giao thông quan trọng, với khoảng 500 lượt phương tiện/ngày. Hoạt động của các phương tiện này đều ít nhiều gây ảnh hưởng xấu đến môi trường nước. Đó là chưa kể đến những sự cố tàu, thuyền đã làm tràn dầu cũng gây ô nhiễm đến nguồn nước sông.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Bên cạnh vấn đề ô nhiễm nguồn nước, sông Đồng Nai hiện đang còn bị xâm hại từ nhiều phía. Nhiều hộ dân trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu, Tân Phú phản ánh nạn khai thác cát lậu vẫn diễn ra ồ ạt, hàng loạt những xáng cạp vẫn ngày đêm “móc ruột” dòng sông, do đó dòng sông bị sạt lở nghiêm trọng. Chưa hết, tình trạng lấn chiếm bờ sông để mở rộng diện tích đất ở và kinh doanh hiện đang diễn ra phổ biến ở Đồng Nai. Trên lưu vực sông thuộc địa bàn phường Quyết Thắng, Long Bình Tân và bên bờ sông thuộc thành phố Biên Hòa, nhiều hộ đã ngang nhiên lấn sông mở quán nhậu, quán cà phê... có hộ còn đổ đất san lấp hàng trăm mét vuông lấn chiếm bờ sông để phục vụ cho nhu cầu riêng của mình, khiến nhiều đọan sông đang bị “teo” lại...<br>Mặc dù thời gian qua, nhiều cơ quan chức năng đã tiến hành khảo sát, đánh giá mức độ nguy hại của dòng sông. Tuy nhiên, sông Đồng Nai vẫn đang ngày đêm phải hứng chịu sự ô nhiễm và xâm hại ồ ạt của con người.</span></p>
<p style="text-align:right"><span style="font-size:x-small">                                                                                                           Sỹ Tuyên</span></p>
<p style="text-align:right"><span style="font-size:x-small">                                                                                              Theo </span><a href="http://www.cema.gov.vn/"><span style="font-size:x-small">www.cema.gov.vn</span></a><span style="font-size:x-small"><br></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/12/2007 10:40 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Với hệ thống chằng chịt, lưu vực rộng lớn, chảy qua địa bàn của 9 tỉnh và thành phố thuộc khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho hàng chục triệu người sống trên các đại bàn; nhưng hiện nay sông Đồng Nai đang bị xâm hại, suy thoái nghiêm trọng.</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 788</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 18:15:02 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=52</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Biên Hùng Liệt Sử : Địa Lý Phong Thủy</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=21</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass65599D59F7004BD69FC0F5574D7FE7D0>
<div><b><font color="#666666" size=2 face=Arial>Việt Nam xưa đã từng gián tiếp chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc, dân tộc ta tin tưởng vào phong thủy địa lý, mà xét đoán sự thạnh suy của đời sống gia đình, của sinh hoạt xã hội trong cộng đồng quốc gia.</font></b></div>
<div><font size=2 face=Arial>﻿ 
<p style="line-height:150%;text-indent:0.5in" class=style26 align=justify><span style="line-height:150%;font-family:'Times New Roman';color:black;font-size:12pt;font-weight:normal">Miền Đồng Nai, Biên trấn được phước quả nằm trong một thế đất (thuộc khu vực ảnh hưởng của sao Dực và sao Chẩn, vị thứ sao Thuần vĩ, chiếu dương), là nơi tụ khí tàng phong, có khí hòa gió thuận).<br>Các nhà phong thủy thâm nho, các sử gia thường gọi xứ Biên Hùng là vùng đất linh; nhờ địa linh, mới sanh xuất nhiều bậc hiền tài, nhơn kiệt, được lưu danh trong quốc sử.<br>           Ngoài đất địa linh vì khí thế oai hùng, nay nghiên cứu lại địa thế Biên-Hòa theo sử sách góp nhặt và nhận xét cá nhân, đất thiêng Đồng Nai có phần lớn ẩn hình: Long, Lân, Qui, Phụng.<br>          Bốn thú nầy được thần thoại Trung Quốc liệt vào bộ Tứ Linh, vì có những siêu tính xuất chúng: Theo sử gia Lương Văn Lựu thì đệ nhứt linh là:<br></span><span style="line-height:150%;font-family:'Times New Roman';color:black;font-size:12pt">           <strong>Long :</strong></span><span style="line-height:150%;font-family:'Times New Roman';color:black;font-size:12pt;font-weight:normal"><br>          Tức là con sông lớn uốn khúc chảy từ bắc xuống nam, rưới nguồn tươi mát lên đất Biên hùng, giống hình con long ẩn thủy. Dưới thời các chúa Nguyễn, có danh xưng là Phước Long giang (về sau kinh lược sứ Nguyễn Hữu Cảnh di dân từ Quảng Bình vào lập cư, đặt là sông Đồng Nai). Đúng là con sông rồng đem phước quả vào lãnh địa Biên Hoà.<br>          Nơi bờ sông Long Sơn, Long Đại, Cù lao Cái Giắt (kinh châu Phước long thôn) xưa, có đền thờ Long Vương Tam Lang, rất linh ứng, được giới thương hồ tôn kính, khi thuyền qua, đều ghé cúng bái cầu an.<br>         Tác giả Bình Nguyên Lộc trong tác phẩm Câu Dầm có kể một ngư phủ ở Tân Uyên câu được con cá lạ là con của Long Vương, ngư ông đem thả nên sau được đền ơn mời xuống Long điện làm thượng khách của Long Vương.<br>         Hai ngọn núi Long Ẩn (lấy đá) và Bình Điện (có ngôi Bửu Phong cổ tự) tại xã Bửu Long (Đức Tu) kết hợp cùng các gò nổng uốn quanh, lồi lên lõm xuống, chạy qua các xã Tân Ba, An Thành, Tân Hiệp, Bình Trị, Hoá An, Võ Sa và ngọn núi Chiêu Thái (Châu Thới, có giả thuyết cho Châu Thới là trái châu?), vì có Long mạch nên thầy địa lý Tàu mới chôn Chú Hỏa tên thiệt là Hui Bon Hỏa. Ở đó, giốc Chú Hỏa xưa làm ngoại cảnh quay cuốn phim &quot;Con Ma Nhà Họ Hứa&quot;, có phải nhờ đó mà con cháu một người bán ve chai sau trở nên đại kỹ nghệ gia bên Pháp ? ) ; gân đất cấu thành các bộ phận một con rồng khổng lồ, nằm vắt ngang dưới lưu vực sông Phước Long (ấp Tân Lại xã Tân Thành). Núi Long Ẩn là đầu, chuỗi gò nổng nối dài kể trên là mình rồng lượn khúc, núi Châu Thới phía nam là đuôi vảnh lên cao. Núi Bình Điện là trái ngọc châu.<br>        Tư thế rồng nằm quay đầu về hướng bắc, ngậm trái châu Bình Điện.<br>        Rồng đây là rồng quý, phần đầu là một vị trí tôn nghiêm, được quí trọng xem như bảo vật, xưa được lấy làm hậu bình cho Văn miếu tại thôn Tân Lại, thờ đức Khổng Phu Tử và các Á thánh Văn thần, điạ danh Bửu Long xuất phát trong khung cảnh nầy.<br>       Biên Hoà xuất xứ từ cốt rồng nằm. Một số địa phương được mang tên với phụ danh &quot;Long&quot; như: Phước Long, Long Phước, Long Khánh, Long An, Long Tân, Bình Long, Long Hưng, Long Bình Tân, Long Bình (sau làm căn cứ quân đội Mỹ trấn đóng). Một tên lạ địa phương hay gọi là Cây Đào để chỉ Tân Uyên mà tôi chưa tìm ra xuất xứ.<br>       Vốn đất rồng và có người tin rồng lấy nước, nên Biên Hoà, cùng nhằm năm rồng giậy (Bính Thìn 1916 và Nhâm Thìn 1952) đã hai lần hứng chịu nạn lụt to, bão lớn.<br>       Rồng là thú của thần thoại, loại rắn khổng lồ, mình có 4 chân, lưng đuôi viền kỳ, miệng rộng, mũi to, râu cọng dài, đầu hai sừng, sống dưới nước, trong biển sâu.<br>       Rồng ở trên trời cao, lấy nước biển làm mưa cho thế nhân hưởng, ám chỉ nơi tôn nghiêm, tinh khiết, chỗ an vị của đức Văn Thù Bồ Tát, được gọi là Long Nhiểu. Việt tộc chúng ta rất hãnh diện dưới nguồn gốc con Rồng cháu Tiên.<br></span><span style="line-height:150%;font-family:'Times New Roman';color:black;font-size:12pt">     <strong>   Lân:</strong></span><span style="line-height:150%;font-family:'Times New Roman';color:black;font-size:12pt;font-weight:normal"><br>       Đệ nhị linh là lân, thú cùng loại sư tử, hình thù cổ quái bởi sừng đuôi trâu, chân ngựa, nhưng tính tình rất hiền, không ăn sinh vật, khi xuất hiện, báo điềm lành.<br>       Cuộc đất ấp Lân Thành thuộc xã Bình Trước (tỉnh lỵ) nhưng ở vào vị trí của đồng quê. Tương truyền địa danh Tân Thành do thế đất nên được mệnh danh Lân Thành, do lân mà thành.<br>       Để tìm hình thế, nhà địa lý nhận thấy con lân nằm mọp trong phần đất của ấp, đầu là Núi Đất, quay về hướng bắc, lưng trải ra làm trung tâm ấp, vùng ở dưới thấp là mình oằn xuống, Gò Me cạnh sông Sa Hà (Rạch Cát) là chóp đuôi vảnh lên ở hướng nam. Núi Đất ở sau câu lạc bộ hồ tắm Biên Hoà, nay đã bị san bằng, nhưng vẫn giữ được danh xưng. Núi Đất đặt cho một ấp hành chánh có đền thờ dũng tướng kháng Pháp Trương Công Định.<br>      Giữa thân con Lân, dựng đền thờ Thần hoàng bổn xứ và chùa Thiên Long, đặc biệt, có hai ngôi mộ của cố Hồ Văn Rạng là nội tổ và cố Trần Thị, là bà dì của Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu, vợ vua Minh Mạng.<br>     Cũng từ gốc Kỳ lân, thú lành, mà Biên trấn, đã phát xuất tục múa lân nhân dịp Tết Nguyên đán và Tết Nhi đồng Trung Thu, chủ xướng bởi nhóm quan binh Tàu di cư đến lập ấp, vào khoảng năm 1700.<br>     Về sau, hai nhóm lân vũ thành lập tại Bình Trị Hóa An và Bửu long, để hiện gìờ, được tiếp nối, do hội Tân Bình Đường và xóm đình Tân Lân và chùa Một Cột, Phật bốn tay (đền Tân Lân thờ đức Trần Thượng Xuyên gốc Hoa có công lớn di dân lập ấp, phát triển Biên Hoà, sinh tiền ông rất ghét màu đỏ nên xe đò Liên Hiệp muốn tránh tai họa phải sơn màu xanh).<br>      Lân nhi là quí tướng, nên có câu: &quot;Kỳ lân xuất hiện, thánh nhân ra đời&quot;, câu này ứng với đức Khổng Tử, khi bà Nhan Thị thấy con Kỳ lân hiện ra nhả tờ ngọc thơ có đề: Thủy tinh chi tử, kế suy Châu vị Tố vương, bà vội lấy dây lụa buộc vào sừng, Kỳ lân biến mất, bà mang thai, sau sanh Khổng Châu tự Trọng Ni, thành bậc thánh triết Á đông, được nhân dân ta suy tôn là &quot;Vạn thế sư biểu&quot;.</span><span style="line-height:150%;font-family:'Times New Roman';color:black;font-size:12pt"><br>     <strong>  Qui:</strong></span><span style="line-height:150%;font-family:'Times New Roman';color:black;font-size:12pt;font-weight:normal"><br>       Đệ tam linh là qui tức con rùa: là loài sinh vật có mai, bò sát, đầu đen, cổ rút, có thể nhịn ăn mà vẫn sống.<br>       Cù Lao Rùa tại xã Thạnh Hội còn gọi là cù lao Nhựt Thạnh, nơi mà tôi đã chạy giặc Pháp rồi giặc Nhật về đó hồi mới 4 tuổi, ngó qua Tân Triều là quê ngoại của tôi, và cũng là quê ngoại của Nam Phương Hoàng Hậu, hiện tại ngôi nhà thờ từ đường còn miếng đá có khắc tên gia đình ông ngoại của bà là ông Lê Phát Đạt. Biên Hoà nổi tiếng nhờ bưởi Tân Triều, Cù lao Rùa có lò che do trâu kéo (lò đường) mà nơi đó, tôi tập trận cờ lau, thưởng thức mía lùi và kẹo kéo từ đường mật ngay tại cây cột bóng lưởng của lò che. Ở phía Bồng Giang (Sông Cái) thuộc quận Tân Uyên, được chánh sử ghi là đảo Qui Dự, nguyên là một gò đất nổi, trên có huyền vũ gồm một rừng cổ thọ, mà ngọn cây họp thành hai chòm như hai cái vung úp, cái lớn cao, cái nhỏ thấp, gần nhau, ở xa trông rõ là hình con linh qui khổng lồ, có đủ mai và quay đầu về hướng tây bắc nằm trên sông Phước Long. Hiện giờ hai chòm cây hình rùa không còn, vì đã bị đốn mất vào khoảng năm 1948, khi quân đội Pháp đến đóng đồn.<br>        Phía bắc đảo Qui Dự (đối diện ấp Tân Llương xã Phước Thành) là gò Thạch hHa, có loại đá đen, khi nắng chiếu, bắn ra tia hỏa quang, lấp lánh như sao bay. Thêm nữa, dưới gò đất là bụng rùa, đồng bào Thạnh Hội đào được rất nhiều đá bén, và Cồn Gáo, đá hình lưỡi tầm sét có khả năng trị sốt và làm kinh, mà huyền thoại mê tín cho rằng thần qui giữ kho vũ khí của Lôi Thần.<br>       Một ngọn núi ở vào mạn bắc, trên ngọn Tiểu Giang (Sông Bé), dưới chân có hai tảng đá thật lớn, nằm khít nhau, trông giống hình rùa trong lòng sông.<br>       Vị thế nằm của đá, tùy mực nước lên xuống và phía đứng, mà trông thấy rùa nằm ngang hay xuôi. Tương truyền rùa di chuyển để cản nước hoặc cho xuôi dòng. Thổ dân và các nhà khai thác lâm sản xem hiện tượng đó mà chiêm nghiệm, dự đoán nạn nước tràn ngập dưới đồng bằng.<br>       Được sử ghi với danh xưng &quot;Thần qui sơn&quot; và &quot;Thọ sơn&quot; (rùa sống lâu). Người địa phương gọi là Núi Ba Ba.</span></p>
<p style="line-height:150%;text-indent:22.5pt" align=justify><span style="color:black">Linh<b> </b>vật thứ ba được phó cho đội kinh và đội bia trong các đền thờ.<br>       Rùa nghe kinh, tuổi rùa, hạc cưỡi rùa, mai rùa có bát quái đồ dược dùng để xủ quẻ, bói toán.<br>       Rùa linh thiêng nên mới có truyện Thần Kim Quy cho An Dương Vương nỏ thần dẹp giặc ngay trong lịch sử Việt nam. Ngày nay, chính phủ Cộng Sản không tin phong thủy nên cho khai thác cát bừa bãi nên Cù Lao Rùa gần bị sạt lở đứt gần cái cổ rùa. Với mục đích xóa bỏ tên làng Tân Tịch, chúng đã sát nhập vào làng Thượng Lảng gọi là làng Thượng Tân. <br>        <strong>Phụng:<br></strong>       Đệ tứ linh là phụng, loài chim quí (con mái gọi là Hoàng hoặc Loan), lông đuôi dài, khi xoè lên, ửng hoa sao ngũ sắc, là chúa của thượng cầm).<br>       Đất các xã ở Biên Hoà vùng Long Thạnh Mỹ (Thủ Đức), xưa thuộc huyện Long thành, có chất đá ong thích hợp loại thổ sản dưa, đậu được cấu thành bởi hình dáng con phụng xòe cánh. Nơi đó là một cửa quan hiểm yếu, sử gia đặt &quot;Khổng tước quan&quot; là cửa ải Điểu Công (cùng loại với Phụng). Người Biên-hòa gọi nôm na &quot;Khổng Tước Nguyên&quot; là Gò Công.<br>       Quanh vùng Gò Công có một con rạch mang tên Trau Trảu (cũng là loại điểu thú). <br>Trên quốc lộ 15, dẫn đi Vũng Tàu (tên xưa Thuyền Úc), nơi trụ số 46, ranh giới xả Tân Phước và Phước Tân, có một chiếc cầu, sử ghi là Phụng Kiều.<br>      Gò dốc 47, Núi Chùa (ngả vào ngọn Sông Buông) và núi đất đỏ (Hòn Máu), có tháp canh cạnh khúc đường cua, nơi đầu ấp Tân Mai II, họp thành giống hình thể một con phụng có đầu mình và đuôi.<br>      Miệt Võ Su, Võ Đắt nổi tiếng là ông Võ Văn Trạng và con gái chuyên săn cọp, nơi mà hồi còn trẻ, tôi, anh Trần Ngọc Ca (Năm Tân) và Đỗ Cao Phước thường đi săn con minh (trâu rừng).<br>      Dân quê địa phương đơn giản gọi là Cầu Vạc (loài chim ăn đêm xưa thường đến đậu). Cầu Vạc chính là địa điểm này, chớ không phải là xã Bùi Tiếng và lò gạch Tân Mai (Bình Trước).<br>      Miền đông bắc Tân Uyên, là nê địa, sình lầy, không cần cày trâu, mà chỉ cuốc tay để làm ruộng, được mang tục danh là &quot;Đất Cuốc&quot; (xã Tân hòa) và Sình (Tân Nhuận). Có làng đồng bào thượng tên Cát Tiên.<br>      Nơi mà đồng bào tản cư năm 1945, đã lưu nhiều kỷ niệm, người Pháp đặt là chiến khu Đ.<br>      Vùng đất thiêng nầy đã phát xuất nhiều huyền thoại. Tương truyền đây nguyên là một Phượng Trì (xã Chánh Hưng), vì vùng ao to rộng nầy, xưa có chim phượng tới tắm nước, rỉa lông (Phượng hoàng ẩm thủy). Do đó nhân dân địa phương đặt là Bàu Phụng (chớ không phải là bà Phụng).<br>      Năm Bính Dần 1806, vua Gia Long và Thuận Thiên Hoàng Hậu tuyển con gái các quan đại thần trong triều để nạp làm phi cho Thái tử Đảm, tức là vua Minh Mạng sau này. Con gái của Phúc Quốc Công Hồ Văn Bôi, quê ở làng Bình An, tỉnh Biên Hoà, sinh năm Tân Hợi 1791, cùng tuổi với Thái tử Đảm, tên húy là Hồ Thị Hoa trúng tuyển vào cung, sau chính là Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu, là người đoan trinh, hiền thục. Vua Gia Long cho là chữ &quot;Hoa&quot; như tên của bà chiết tự ra có nghĩa là &quot;một chút hương thơm&quot; thì e không tốt cho vận số, chi bằng đổi chữ &quot;Hoa&quot; thành chữ &quot;Thực&quot;, có nghĩa là &quot;quả&quot; hay &quot; quả phúc&quot; thì tốt hơn. Sau sanh Nguyễn Phúc Tuyền Minh Tông thành vua Thiệu Trị. Bởi cung cách và phẩm hạnh của bà, vua Gia Long cấm gọi phạm húy tên bà, nên người trong Nam mới gọi là &quot;bông&quot;, như bông sen thay vì hoa sen. <br>      Biên Hoà có sông, có núi, nước không cần sâu nhưng cần có rồng, thì hóa linh; núi không cần cao, nhưng có tiên, nên thành thiêng, hồn thiêng sông núi hun đúc nhiều nhân tài, chí sĩ yêu nước.<br>Đất Biên Hoà có Long mạch, nên phát sinh khí thế hồn thiêng. Một cuộc đất, nói theo phong thủy địa lý, có tiên thánh (núi Tiên Cước phía nam Long Thành) mà còn Long Lân Qui Phụng họp thành bộ &quot;Tứ Linh&quot;, nên được linh thiêng, danh bia thanh sử.<br><b>      Nguồn vnthuquan.net</b></span></p></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:25 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.785</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:27:05 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=21</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Thác Trị An xưa và nay</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=18</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass177E9AAC4FBB4A2F9E38B4B16BE5692B>
<div><b><font color="#666666" size=2>Một số tư liệu cho biết thác Trị An xưa ở đất Biên Hòa nổi tiếng với cảnh thác hùng vĩ. Đây là thác cuối cùng trong dòng chảy của sông Đồng Nai trước khi chảy vào vùng bình nguyên miệt hạ. </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><span style="color:black">Có dịp xem những bức ảnh chụp thác Trị An vào những năm đầu thế kỷ XX mới thấy được cảnh thác rộng, nước chảy cuồn cuộn. Có người từng ví von hình ảnh sống động của dòng sông Đồng Nai phía trên thác Trị An như một sơn nữ hồn nhiên, tràn đầy sức sống nhảy tung tăng qua bao ghềnh thác, thung lũng, núi đồi. Đến thác Trị An như một dấu ấn mà sông bỗng hóa thân làm người phụ nữ hiền hòa, êm dịu, lặng hòa đổ vào vùng bình nguyên mênh mông với dòng nước bao dung ôm lấy những cù lao, sông rạch nên thơ...</span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><span style="color:black">Thác Trị An gắn liền nhiều chuyện tích dân gian thật thú vị. Ở đó, có chàng dũng sĩ diệt thú dữ cứu dân làng, gắn với một người mở đất vùng lam sơn chướng khí, chuyện tình của đôi trai gái khác sắc tộc yêu nhau... Có lẽ, cảm động nhất là chuyện về tình yêu giữa cô gái ở thượng nguồn với chàng trai miệt hạ nguồn đầy thi vị sau những trắc trở của những luật tục ràng buộc. Chuyện kể: &quot;... Ngược dòng Đồng Nai, chàng trai miệt hạ đã lạc vào lãnh thổ của người sơn cước thượng nguồn. Chàng trai bị bắt nhưng nhờ dũng cảm và tài năng của mình đã được dân làng cho sinh sống, trú ngụ. Tại đây, tình cảm của chàng trai và con gái của vị già làng nẩy nở. Nhớ quê, chàng tìm cách đi về khi băng qua cây cầu độc đạo và đã phải ngã xuống bởi những loạt cung tên định mệnh của xứ sở người yêu. Trước tình cảnh đó, cô gái của dân làng sơn cước đã trầm mình dưới dòng nước dữ, hóa thân thành tượng đá ngày đêm khóc cho tình yêu mãnh liệt...&quot;. Nước mắt của sơn nữ như con nước ngày đêm réo rắt giữa đại ngàn. Chàng trai và cô gái đã chết nhưng tình yêu của họ bất tử. Đây là một trong những chuyện tích mang mô típ huyền thoại đẹp đẽ của tình yêu. Và ở đây cũng mang dấu ấn cho chuyện của một thời mở cõi với những cộng đồng tộc người khai khẩn vùng đất này.   </span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><span style="color:black">Dòng chảy Trị An trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu được chặn dòng bắt đầu hình thành nên hồ Trị An vào thập niên 80 của thế kỷ XX để có một nhà máy thủy điện Trị An lớn nhất miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Công trình thủy điện Trị An được khởi công ngày 22-2-1982. Đập hồ Trị An được xây dựng bằng đá hỗn hợp, có chiều dài 420m, chiều cao 40m, đỉnh đập rộng 10m. Phần đập tràn chịu lực bằng bê tông dài 150m, có 8 khoang tràn với mỗi khoang rộng 15m và 8 cửa van. Bên cạnh đó có đập Suối Rộp dài 2.750m, cao 45m và hệ thống đập đất phụ có chiều dài tổng cộng 6.263m.  </span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><span style="color:black">Tham gia xây dựng thủy điện Trị An có hàng triệu lượt người ở miền Nam được huy động, tham gia trên một công trình rộng lớn kéo dài nhiều năm. Công trình thủy điện Trị An mang tầm vóc quốc tế và thắm đượm tình hữu nghị Việt Nam - Liên Xô. Một đội ngũ các chuyên gia, kỹ sư luôn bám trụ, kiên trì và đem công sức, tài trí của mình cùng đội ngũ kỹ sư, lao động người Việt Nam hoàn thành công trình. Sau 7 năm 8 tháng 10 ngày, 4 tổ máy của của nhà máy này đã hòa vào điện lưới quốc gia ngày 31-10-1989. Công trình thủy điện Trị An vừa sản xuất điện năng cho miền Nam vừa thực hiện chức năng thủy nông cho vùng miền Đông Nam bộ.</span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><span style="color:black">Hồ Trị An được hình thành đã trở thành nguồn tài nguyên về nhiều mặt, được khai thác phục vụ cho đời sống của người dân miền Nam. Hiện nay, với diện tích mặt nước hồ 323km2, hồ Trị An có gần 40 đảo lớn nhỏ; trong đó có một số đảo có cảnh quan thiên nhiên như: Đảo Ó, đảo Đồng Trường... đang được khai thác du lịch. </span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><span style="color:black">Trong quy hoạch phát triển du lịch Đồng Nai, điểm đến hồ Trị An là một trong tuyến điểm hấp dẫn với cảnh quan sinh thái, di tích của vùng rừng núi Vĩnh Cửu thuộc Chiến khu Đ xưa.</span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in"><b><span style="color:black">Phan Đinh Huyền</span></b></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in"><b><span style="color:black">Theo Báo Đồng Nai</span></b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:20 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.850</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:23:08 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=18</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Thác Giang Ðiền</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=109</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassB4E28989E6084CAEB68775DD3436D726>
<p style="text-align:justify"> </p>
<p>
<table style="border-collapse:separate" border=0 cellspacing=0 cellpadding=0 width=40 align=right>
<tbody>
<tr>
<td><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><font color="#666666"><img alt="" align=right src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2010-6/thacgiangdien.jpg" width=150 height=99> </font></span></span></td></tr></tbody></table></p>
<div style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><b><font color="#666666">Nằm trong địa phận xã Giang Điền, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, thác Giang Điền hiện nay được xem là điểm dã ngoại sinh thái cuối tuần khá mới mẻ và hấp dẫn du khách (nhất là các bạn trẻ đi picnic) từ TP.Hồ Chí Minh và các vùng lân cận tìm đến. Để đến được thác Giang Điền, có thể xuất phát từ TP.Hồ Chí Minh đến ngã ba Vũng Tàu, rẽ trái quốc lộ 51, đến ngã ba Thái Lan, rẽ trái chừng 15km là đến thác.</font></b> </span></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">﻿ </span></span></div>
<div><span style="font-family:Arial"><font size=2>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"> </div></font></span><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"> </div></span></span><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="line-height:150%">Hoặc từ TP.Hồ Chí Minh theo quốc lộ 1A chạy thẳng đến huyện Thống Nhất, đến chợ Trà Cổ, có ngã ba rẽ phải theo đường đất đỏ, qua cầu Giang Điền gặp ngã ba tiếp tục rẽ trái chừng 1km là đến nơi.</span></div></span></span><span style="font-family:Arial"><font size=2>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"> </div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"> </div></font></span><span style="font-family:Arial"><font size=2>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Không kỳ vĩ như những dòng thác ở Tây Nguyên, nhưng do địa thế ở đây rộng, thoáng, con thác trải dài có rất nhiều tảng đá trên đỉnh tạo ra nhiều dòng chảy, tung bọt trắng xóa, rất đẹp. Hai bên bờ suối có rất nhiều hoa dại và bướm, cây cối xanh rì, trông rất thơ mộng.</span></span></div></font></span><span style="font-size:x-small">
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"> </div></span><span style="font-family:Arial"><font size=2>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"> </div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Có lẽ vì nằm giữa những ruộng lúa xanh ngắt nên có tên gọi là thác Giang Ðiền. Vào mùa nắng, dòng thác có màu trắng bạc, chảy yên ả hiền hòa. Nhưng vào những tháng giữa mùa mưa, dòng nước chuyển sang màu vàng đục, nươc chảy xiết, tiếng nước réo âm vang đến hàng cây số. Nước tung bọt và bốc lên thành tấm màn mờ mờ phủ trên ghềnh thác.</span></span></div></font></span><font size=2>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"> </div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Trước đây, có nhiều cây cổ thụ tán tròn nghiêng bóng xuống dòng thác, chúng ta có thể nằm gối tay trên những thân cây đong đưa trên thác để nghe tiếng thác reo dưới vòm lá mát rượi. Nhưng nay trên thác chỉ còn lại vài cây nhỏ, thay vào đó là những quán lá. Ven dòng và giữa dòng thác, có những tảng đá to, chỗ câu cá lý tưởng. Mặc dù nước chảy mạnh nhưng thác vẫn có rất nhiều cá, đặc biệt là cá lớn. Mùa nắng các bạn có thể đắm mình trong dòng nước trong veo mát lạnh.</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Dòng suối từ chân thác chảy ngoằn ngoèo dưới tán cây xanh tạo nên một khung cảnh khá ngoạn mục. Bên suối có nhiều nhà tranh nhỏ, tình hình an ninh ở khu vực tương đối bảo đảm. Các bạn có thể dạo chơi trên con đường dọc theo chân thác trong một đêm trăng để thưởng thức cảnh &quot;trăng mờ bên suối&quot;.</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Đến thác Giang Điền bạn tha hồ tắm, tha hồ đắm mình, vũng vẫy trong dòng nước trong vắt, mát lạnh. Có sẵn các nhà chòi dọc theo bờ suối rất mát mẻ, cho thuê với giá 50.000đ/ngày (có kèm theo 4 võng) với sức chứa 10 người. Khi đến thác, bạn nhớ mang theo đồ ăn, thức uống.</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Nguồn tin: Báo NLĐ </span></span></span></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Danh thắng Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 3:55 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.775</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Danh thắng Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 08:58:24 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=109</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Mẹ Nguyễn Thị Đởm (1906 - )</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=45</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass21D8EFF0EB6C4351AC91DEA95BEA36B2>
<p>
<table border=0 cellspacing=0 cellpadding=0 width="100%">
<tbody>
<tr>
<td valign=top width="70%">
<div id="layout-column_column-1">
<div id="p_p_id_56_INSTANCE_xq6E_">
<div>
<table border=0 cellspacing=0 cellpadding=0 width="100%">
<tbody>
<tr>
<td>
<div id="_56_INSTANCE_xq6E_content0">
<div><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"> <strong>       </strong>Chúng tôi đến trại nuôi dưỡng cha mẹ liệt sĩ ở xã Hiệp Hòa vào một buổi sáng tháng mười, bên bờ sông Đồng Nai quanh năm lặng lẽ bồi đắp phù sa. Gặp lại mẹ Nguyễn Thị Đởm trong niềm vui và xúc động. Mẹ đã ở vào tuổi 89 (1906), nhưng dáng người vẫn thẳng thắn như thời mẹ còn trẻ. Vẫn giọng nói sang sảng của những ngày mẹ làm công tác tuyên truyền, vận động anh em binh lính buông súng về với cách mạng, của những năm tháng kêu gọi đấu tranh chống áp bức, bóc lột, đòi tăng lương, đòi cải thiện đời sống công nhân cạo mủ ở đồn điến cao su Suối Tre, Bàu Hàm... Riêng đôi mắt mẹ đã bao lần ngóng trông người con trai của mẹ trở về... nhưng con mẹ đã không trở về, và đôi mắt thì mỗi ngày một mờ đi... </span></span></span>
<p style="text-align:justify;line-height:12pt"> </p></div>
<div style="text-align:justify;line-height:12pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">             Mẹ đón chúng tôi thân tình như con cháu lâu ngày gặp lại. Mẹ hồn nhiên, dẫn tay chúng tôi chỉ cho xem những tấm huy chương mà nhà nước đã phong tặng cho mẹ, cho chồng, con mẹ</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:12pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"> - &quot; Và cả vòng hoa này nữa, các con xem có đẹp không ?&quot; (Và khi chúng tôi chụp ảnh lưu niệm thì mẹ nhất định đòi đeo vòng hoa ấy cho kỳ được !)</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:12pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">Đang vui, chợt cái nhìn của mẹ thoáng xa xăm. Đôi mắt mờ dõi về một nơi như con mẹ vẫn đang hiện hữu...</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:12pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"> - Đấy ! Các con xem, anh Dần con có giống mẹ không ? Mẹ chỉ có mình anh con, thế mà mẹ cũng không giữ được nó ! Trong cảnh đất nước tang thương, nếu người mẹ nào cũng chỉ muốn giữ con ở nhà với mình, thì đất nước này sẽ về đâu ? ! Biết bao người mẹ đã hy sinh cái riêng để được cái chung ! Nào đâu phải chỉ mình mẹ. Mấy mươi năm rồi còn gì ? ! - Mẹ lấy khăn chậm nước mắt, giọt nước mắt hiếm muộn của tuổi già làm chúng tôi nao nao trong dạ. Rồi mẹ lặng im như đang lục tìm trong ký ức những dấu ấn của một thời đã qua.</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:12pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">             Quê mẹ ở Thụy Anh, Thái Bình. Năm 1926, mẹ theo những người mộ phu vào Nam và chọn Đồng Nai làm quê hương thứ hai. Là một công nhân cạo mủ, phải chịu bao cảnh áp bức, bóc lột của bọn cai, bọn tổng đồn điền, mẹ đã sớm được giác ngộ cách mạng và làm công tác tuyên truyền. Mẹ lấy ông Nguyễn Văn Biên ở Bầu Lâm - Xuyên Mộc - Bà Rịa. Những tưởng cuộc đời sẽ đổi khác, nhưng mẹ đã âm thầm xót xa với cảnh lẻ mọn, Năm 1935, anh Nguyễn Văn Dần ra đời, niềm vui chưa trọn vẹn, thoắt đã ly tan, chồng mẹ bị Pháp bắt và giết chết vì tội &quot;tham gia cách mạng&quot;, còn lại mình mẹ côi cút nuôi con. Năm 1950, anh Dần tham gia cách mạng và làm du kích ở xã An Lộc - Xuân Lộc - Đồng Nai, và khi đến tuổi 20 thì anh thoát ly hoạt động bí mật. Ngày chia tay, anh nói với mẹ : &quot;Con muốn ở nhà làm rẫy nuôi mẹ, nhưng giặc không để chúng ta yên ổn làm ăn... Mẹ hãy để con đi... Con còn phải trả thù cho cha nữa !&quot;</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:12pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">             Dứt ruột đưa tiễn con vào kháng chiến, những lần gặp mặt vội vã qua những lần tiếp tế cho con, còn lại mình mẹ, mẹ tiếp tục công tác hậu phương. Tảo tần với đủ mọi nghề, mọi việc, dành dụm được ít tiền, vàng, mẹ cũng bán đi để gửi cho con và cho anh em cách mạng.</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:12pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">             Trong những năm tháng làm công tác hậu phương, mẹ cũng đã từng ra khám vào tù (có năm mẹ bị tù tới bốn lần), bị đánh đập tra khảo, nhưng không moi được chứng cớ gì ở mẹ, chúng đành thả mẹ ra. Mẹ lại tiếp tục công việc của mình. Một đặc điểm nổi bật ở mẹ là sự nhanh trí và khéo léo, mẹ đã nhiều lần qua mặt được kẻ thù giúp cho những cuộc họp, những cuộc hành quân bí mật của anh em cách mạng được an toàn... Lắm khi nhớ lại, mẹ bật cười : &quot;Nghĩ hồi ấy, mình cũng gan !...&quot;</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:12pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">             Những tưởng mẹ con sẽ có một ngày gặp lại, nhưng anh Dần đã vĩnh viễn nằm lại ở ấp Núi Tung, xã An Lộc - Xuân Lộc - Đồng Nai ngày 2-9-1969 khi bám đánh địch ở núi Tung bị vướng mìn của địch gài, anh hy sinh tại chỗ. Chiến tranh qua đi, hòa bình lập lại, con của mẹ chỉ còn trở về với tấm di ảnh nơi đầu giường của mẹ. Vắng sự chăm sóc của con nhưng mẹ lại được sống trong sự yêu thương đùm bọc của các cấp, các ngành... dẫu cho đó là sự bù đắp rất nhỏ.</span></span></span></div>
<div><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">            Mẹ được nhà nước phong tặng danh hiệu : &quot;Bà mẹ Việt Nam anh hùng&quot; tháng 11 -1994.</span></span></span></div></div></td></tr></tbody></table></div></div></div></td>
<td width="1%">
<div><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"></span></span></span> </div></td></tr></tbody></table></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Những bà mẹ Việt Nam anh hùng</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 23/06/2010 12:35 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.053</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Những bà mẹ Việt Nam anh hùng</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 17:36:31 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=45</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Di tích mộ cự thạch Hàng Gòn : Di tích - danh thắng Đồng Nai</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=85</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass27BE18CEEB4C4CAA8510EA5CDE9C1985>
<div><b><font color="#666666" size=2 face=Arial>Mộ cổ Hàng Gòn không chỉ là di tích khảo cổ học duy nhất ở Đồng Nai được xếp hạng cấp quốc gia mà còn là loại hình mộ táng Domel độc đáo trong hệ thống di chỉ khảo cổ học ở Việt Nam. Di tích hiện nay nằm ngay mặt tiền tỉnh lộ 2 (nay là quốc lộ 56 nối Long Khánh với Bà Rịa- Vũng Tàu), thuộc xã Hàng Gòn, thị xã Long Khánh. </font></b></div>
<div><font size=2 face=Arial>﻿ 
<table style="border-bottom:#dfdfdf 1px dashed;border-top:#dfdfdf 1px solid" id=NewsContent cellspacing=0 cellpadding=0>
<tbody>
<tr>
<td valign=top>
<div align=justify><span class=FontContent>
<table border=0 cellspacing=0 cellpadding=0>
<tbody>
<tr>
<td valign=top><span id=lbDetail>
<p align=justify><font size=2 face=Arial>Mộ cổ Hàng Gòn được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1927,khi mở đường liên tỉnh lộ số 2, một kiến trúc sư người Pháp tên là J.Bouchot đã phát hiện một tảng đá nhô cao từ dưới gốc cây cổ thụ và ông đã tiến hành khai quật vào tháng 4-1927 với mục đích tìm vàng và báu vật vì thế đã làm sai lệch vị trí gốc cấu thành di tích. Ông đã công bố kết quả nhiều lần vào những năm 1927, 1929. Sau các kết quả công bố của J.Bouchot, mộ cự thạch Hàng Gòn đã thu hút được sự chú ý và quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới, trong đó có H.parmentier - chủ sự sở khảo cổ và các học giả Pháp như E.Grapardone; L. Malleret; SaurinEd; H. Pontain... Các nhà nghiên cứu từ Liên Xô (cũ), Đức, Bungari, Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc và giới khảo học Việt Nam sau năm 1975 đã tổ chức nhiều đợt điều tra kiểm chứng mộ cự Thạch Hàng Gòn. Trong đó đáng chú ý nhất là các đợt điều tra khảo sát phối hợp của Ban khảo cổ học - Viện khoa học TP.Hồ Chí Minh với Phòng bảo tồn bảo tàng năm 1982; với Nhà bảo tàng năm 1991; 1996. Đặc biệt là sự phối hợp điều tra đào thám sát của trung tâm khảo cổ học vùng Nam bộ với ban quản lý di tích, danh thắng tỉnh Đồng Nai để phục vụ cho việc lập hồ sơ thiết kế trùng tu, khôi phục, tôn tạo di tích mộ cự thạch Hàng Gòn vào tháng 6-2006. <br><br>Trong hướng qui hoạch chung để phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, di tích mộ cự thạch Hàng Gòn sẽ trở thành một trong những điểm nghiên cứu lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật các tộc người ở Đồng Nai của tiến trình lịch sử; một tour du lịch đầy hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước về hướng nam của thị xã Long Khánh.</font></p></span></td></tr></tbody></table></span></div></td></tr>
<tr>
<td>
<div class=FontTacGia align=right><span id=lbSource>Theo Báo Đồng Nai </span></div></td></tr></tbody></table></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:15 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.743</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:19:25 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=85</guid>
    </item>
    <item>
      <title>ANH HÙNG LÊ DUY CHÍN</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=63</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassA4CEFF2110854C41A27DDF8CD1F0E659>
<div class=ExternalClass877303376F6746448C26F819930C695E>
<div><span style="font-size:10pt">
<p style="text-align:center"><img alt="" align=left src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0902_ANHHNGLDUY1.jpg"></p>
<p style="margin-left:2pt">Anh hùng Lê Duy Chín sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Xuân Thành, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại úy, tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 76 công binh, bộ đội địa phương tỉnh Đồng Nai.</p></span></div>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">﻿ </span><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Từ năm 1964 đến Xuân 1975, Lê Duy Chín chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, anh đã qua các chức vụ: đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng công binh. Trong những năm 1969 và nửa năm 1970, tiểu đoàn do Lê Duy Chín chỉ huy đã diệt và làm bị thương hơn 2.000 tên địch (có 1.400 tên Mỹ và chư hầu), phá hủy, phá hỏng 720 xe quân sự (có hơn 200 xe tăng, xe bọc thép), 18 đồn bốt, 36 cầu, 9.000 mét đường sắt, 540 mét đường bộ, bắn rơi 2 máy bay… Tháng 8 năm 1968, Lê Duy Chín chỉ huy 1 đại đội phục kích 1 đoàn xe địch, đồng chí đã kiên trì chờ cho chúng lọt vào trận địa mới cho đơn vị đồng loạt nổ súng xung phong. Kết quả diệt 12 xe chở 60 lính Mỹ, phá sập 1 cầu, làm tắc giao thông của địch 2 ngày. Tháng 9 năm 1968, Lê Duy Chín chỉ huy đơn vị phá 1 chiếc cầu gần nơi đóng quân của 1 đơn vị lính Thái Lan. Anh khôn khéo nhử địch ra vừa phá sập cầu vừa diệt 6 xe tăng cùng một số lính địch trên xe, đơn vị an toàn. Tháng 8 năm 1972, Lê Duy Chín chỉ huy 1 liên đội công binh nằm trong đội hình trung đoàn 4 đánh 2 tiểu đoàn bảo an địch. Trận đánh này diễn ra ác liệt, anh bị thương nhưng vẫn tiếp tục chỉ huy đơn vị diệt 50 tên địch, bắt 7 tên, thu 15 súng, tạo điều kiện thuận lợi cho trung đoàn diệt gọn 2 tiểu đoàn địch. </span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 10 lần đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua. Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Lê Duy Chín được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. </span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;color:black;font-size:13pt">           Theo dongnai-industry.gov.vn </span></p></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 23/06/2010 1:30 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.826</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 18:30:29 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=63</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Nhà văn Lý Văn Sâm</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=80</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass43F3AE3064F84471BDE012D170F0EF27>
<div><b><font color="#666666" size=2>Tiểu sử: Tên thật: Lý Văn Sâm Sinh năm: 1921 Mất năm: 2000 Nơi sinh: Tân Uyên - Biên Hoà (Đồng Nai) Bút danh: Văn Sâm, Huyền Sâm, Ánh Minh, Mộc Tử Lang... Thể loại: truyện ngắn, báo </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div style="line-height:120%;text-indent:7.5pt;margin:7pt 2.85pt"><b><u><span style="color:#0033cc">Các tác phẩm:</span></u></b></div>
<div style="text-align:justify;line-height:120%;text-indent:-11.25pt;margin:3pt 2.85pt 3pt 72pt"><span style="color:navy">·</span><span style="color:navy">         </span><span style="color:navy">  Cây nhị trên sông Phố</span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:120%;text-indent:-11.25pt;margin:3pt 2.85pt 3pt 72pt"><span style="color:navy">·</span><span style="color:navy">         </span><span style="color:navy">  Chuông rung trên tháp đổ</span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:120%;text-indent:-11.25pt;margin:3pt 2.85pt 3pt 72pt"><span style="color:navy">·</span><span style="color:navy">         </span><span style="color:navy">  Kòn Trô</span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:120%;text-indent:-11.25pt;margin:3pt 2.85pt 3pt 72pt"><span style="color:navy">·</span><span style="color:navy">         </span><span style="color:navy">  Sương gió biên thuỳ</span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:120%;text-indent:-11.25pt;margin:3pt 2.85pt 3pt 72pt"><span style="color:navy">·</span><span style="color:navy">         </span><span style="color:navy">  Ngoài mưa lạnh</span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:120%;text-indent:-11.25pt;margin:3pt 2.85pt 3pt 72pt"><span style="color:navy">·</span><span style="color:navy">         </span><span style="color:navy">  Thù nhà nợ nước</span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:120%;text-indent:-11.25pt;margin:3pt 2.85pt 3pt 72pt"><span style="color:navy">·</span><span style="color:navy">         </span><span style="color:navy">  Mây trôi về Bắc</span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:120%;text-indent:-11.25pt;margin:3pt 2.85pt 3pt 72pt"><span style="color:navy">·</span><span style="color:navy">         </span><span style="color:navy">  Mười lăm năm hận sử</span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:120%;text-indent:-11.25pt;margin:3pt 2.85pt 3pt 72pt"><span style="color:navy">·</span><span style="color:navy">         </span><span style="color:navy">  Sau dãy Trường Sơn</span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:120%;text-indent:-11.25pt;margin:3pt 2.85pt 3pt 72pt"><span style="color:navy">·</span><span style="color:navy">         </span><span style="color:navy">  Xác Mu mi trên núi đá</span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:120%;text-indent:-11.25pt;margin:3pt 2.85pt 3pt 72pt"><span style="color:navy">·</span><span style="color:navy">         </span><span style="color:navy">  Răng Sa Mát</span></div>
<div style="line-height:120%;text-indent:7.5pt;margin:7pt 2.85pt"><b><u><span style="color:#0033cc">Giải thưởng văn chương:</span></u></b></div>
<div style="line-height:120%;text-indent:7.5pt;margin:3pt 2.85pt 14pt"><b><u><span style="color:#0033cc">Giới thiệu một tác phẩm:</span></u></b></div>
<div style="text-align:center;line-height:120%;margin:3pt 2.85pt" align=center><b><span style="color:navy">Chuyện người thổi sáo ở bến Xuân</span></b></div>
<div style="text-align:center;line-height:120%;margin:3pt 2.85pt" align=center> </div>
<div style="text-align:justify;line-height:120%;margin:3pt 2.85pt"><span style="color:navy">Khúc sông Đồng Nai dài bốn cây số chảy ngang qua thành phố Biên Hoà được người địa phương đặt tên là sông Phố. Khúc sông khởi đầu từ cái đuôi Cồn Gáo thoai thoải và chấm dứt ở cái mỏm Cù Lao Phố. Tới chỗ này, dòng sông tách mình ra làm hai nhánh, giống như hai cánh tay dài khuỳnh rộng ra. Làng Hiệp Hoà và làng An Hảo nằm gọn trong vòng tay ôm của dòng nước rẽ đôi. Hai nhánh sông nhập nhau ở chót vót bãi cát lầy, cuối làng An Hảo. Cái tên mỹ miều của khúc sông quê hương đầy kỷ niệm này đã trở thành cái tên in bằng chữ đỏ trên tờ Tuần tin tức của huyện Châu Thành.</span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:120%;margin:3pt 2.85pt"><span style="color:navy">Lúc bấy giờ tôi mới hai mươi tuổi, tóc còn mượt xanh, ngọn lửa hăm hở cháy đỏ trong lòng. Tôi được ban tuyên truyền huyện phân công giữ một chân biên tập trong tờ Tuần tin tức được gọi là tờ báo của huyện. Tôi chuyên làm thơ đả kích, thỉnh thoảng có viết một ít văn xuôi. Báo Sông Phố của huyện Châu Thành ra tới số 3 thì Nam bộ kháng chiến bùng nổ. Ban biên tập chỉ có sáu người vừa nam vừa nữ mà phải chia làm hai bộ phận. Bộ phận bốn người theo ban tuyên truyền huyện dời lên cù lao Rùa. Bộ phận hai người ở lại làm nhiệm vụ bám sát thị xã tiếp tục làm việc cho đến khi có lệnh mới.</span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:120%;margin:3pt 2.85pt"><span style="color:navy">Hai người ở lại là tôi và bé Xuân. Việc để tôi và bé Xuân ở lại cũng dễ hiểu thôi. Trong số những biên tập viên của tờ Sông Phố hồi đó, tôi là người được coi là quen công việc. Còn Xuân thì rất thông thạo địa hình, địa vật, nơi mà bộ phận xung kích chúng tôi chuyển về bám trụ tại đó. </span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:120%;margin:3pt 2.85pt"><span style="color:navy">Trước khi dời thị xã, tôi và Xuân đã &quot;thịt&quot; được hai tên phòng nhì của Pháp bằng lựu đạn ở đầu chợ Cá. Nỗi ấm ức lớn nhất của chúng tôi lúc bấy giờ là không còn lựu đạn để &quot;làm ăn&quot; thêm…</span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:120%;margin:3pt 2.85pt"> </div>
<div style="text-align:right;line-height:120%;margin:3pt 2.85pt" align=right><b>Nơi xuất bản: </b>Nhà xuất bản Hội nhà văn, 1999   </div>
<div align=center>http://www.cinet.gov.vn/vanhoa/Vanhoc/vh-vietnam/tacgia/20/van/S/lyvansam.htm </div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Tác gia tiêu biểu</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 23/06/2010 2:15 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.180</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Tác gia tiêu biểu</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 19:16:14 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=80</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chùa Đại Giác và những chuyện tích: 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai (1698-2008)</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=99</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassE4CD3F04103949ABB76B2DACF8634C65>
<div class=ExternalClassA2C9EE867AB94A0182607EFB3E48A75E>
<p style="text-align:center"> </p>
<div><span style="color:#666666"><strong>
<p style="text-align:center"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><img alt="" align=left src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062410_0325_ChaiGicv1.png"></span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"> </p><span style="font-family:Arial">
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small">Hiện nay, trên địa bàn Biên Hòa có nhiều ngôi chùa vốn được tạo dựng khá sớm, trong đó có chùa Đại Giác tọa lạc ở vùng Cù lao Phố (nay thuộc xã Hiệp Hòa). Đây là một trong những cơ sở tín ngưỡng được liệt hạng vào danh mục di tích lịch sử cấp quốc gia.</span></p></span></strong></span></div>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">﻿ </span></span><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="color:black"><strong><em>           </em></strong>Kiến trúc chính hiện tồn của di tích theo lối chữ nhị và đã trải qua nhiều lần trùng tu. Kiểu thức kiến trúc mặt tiền với lầu trống, lầu chuông nhô cao. Phần chánh điện có không gian thoáng rộng với sự bài trí của một tập hợp tượng thờ đa dạng. Đặc biệt, ở điện thờ chính có tượng Phật lớn so với các chùa trên địa bàn Đồng Nai. Nội thất kiến trúc có nhiều bức hoành phi, câu đối. Nhà sư Thành Đẳng phái Lâm Tê đời 34 được xem là người khai sơn ngôi chùa này.</span> </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="color:black">Trong lịch sử của vùng Biên Hòa, chùa Đại Giác gắn với những sự kiện được sử sách ghi chép: Vào năm 1779, trên đường trốn chạy sự truy đuổi của quân Tây Sơn, người con gái của Nguyễn Ánh (sau là vua Gia Long) đến nương náu và thoát nạn. Khi Nguyễn Ánh lập nên thanh thế, xưng vương đã nhớ đến và ban chỉ cho trùng tu chùa. Vua đã sai cho binh thợ đến giúp việc xây cất, cho tượng binh đến dặm nền vì thế chùa còn có tên là chùa Tượng. Trong dịp trùng tu, vua cúng chùa một pho tượng Phật bằng gỗ mít lớn nên chùa còn có tên là chùa Phật lớn. Đời vua Minh Mạng cũng quan tâm và tiếp tục cho tu sửa chùa. Một công chúa của nhà Nguyễn cúng chùa tấm biển &quot;Đại Giác tự&quot; sơn son thếp vàng, bên phải có khắc: &quot;Tiên triều Hoàng nữ đệ tam công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh&quot;. Tiếc thay, tấm biển này không còn nữa bởi những kẻ coi trọng sự tham lam hơn lòng thành chốn cửa thiền lấy mất. Ngày nay, một tấm biển với nội dung của công chúa tặng ngày trước treo ở di tích chỉ là &quot;bản sao&quot; như gợi nhớ về một người thuộc dòng Hoàng gia công đức cho chùa.</span> </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="color:black">Tương truyền, di tích chùa Đại Giác còn gắn với chuyện tình cảm đầy sắc thái của một phụ nữ xuất thân từ Hoàng gia nhà Nguyễn. Chuyện kể thì dài nhưng chung quy ở cái cách xử sự đầy cảm động của những người trong cuộc. Nhà sư Thiệt Thành là người tài đức từng được vua Gia Long triệu ra kinh đô làm Tăng cang chùa Thiên Mụ. Một phụ nữ hoàng gia cảm phục rồi đem lòng yêu mến nhà sư. Dù chính thân đã đạt được sự uyên thâm trong đạo pháp nhưng nhà sư vẫn lo tránh những sắc trần có thể làm day dứt tâm cang trước sợi dây luyến ái mà người phụ nữ đeo đuổi. Nhà sư từ biệt nơi kinh thành trở về Gia Định và sau đó là Biên Hòa, nhập thất tại chùa Đại Giác. Trong một lần vào Gia Định rồi đến Biên Hòa với chủ tâm gặp cho được nhà sư, Hoàng cô nhà Nguyễn đã quỳ gối, nài nỉ trước tịnh thất của chùa. Nhiều lần như thế với sự nài nỉ của Hoàng cô nhìn thấy bàn tay của nhà sư trước khi tạm biệt về kinh thành, nhà sư cảm động đã đưa bàn tay của mình qua ô cửa nhỏ cho Hoàng cô cầm lấy. Người phụ nữ ôm lấy bàn tay nhà sư một cách trìu mến. Đêm đó, giữa canh ba, trong khi mọi người đang an giấc, bỗng lửa cháy rực lên ở tịnh thất nơi nhà sư đang trú. Mọi người hoảng hốt cùng nhau dập lửa nhưng đã muộn. Tịnh thất cháy và xác thân của nhà sư cũng hóa theo. Sau này, người ta phát hiện một bài kệ của nhà sư trên vách chùa: &quot;Thiệt đức rèn kinh vẹn kiếp trần. Thành không vẩn đục vẫn trong ngần. Liễu tri mộng huyễn chơn như huyễn. Đạo mình mình vui đạo mấy lần&quot;. Hay tin nhà sư viên tịch, Hoàng cô cũng đã tự quyết định số phận của mình bằng một liều thuốc đắng.</span> </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="color:black">Câu chuyện nơi cửa Phật vẫn còn những đoạn kết khá kỳ thú xung quanh một số bài vị của nhà sư và Hoàng cô thờ tại chùa Sắc tứ Từ Ân. Sức mạnh của tình yêu con người, sức mạnh của niềm tin Phật pháp trong câu chuyện như vẫn còn nhắc nhở cho hậu thế những bài học đầy cảm động.</span> </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="color:black">Dấu tích kiến trúc xưa của chùa Đại Giác không còn được bảo lưu qua các lần trùng tu trước đây. Kiến trúc hiện tồn được xem như nét chấm phá làm đa dạng cho kiến trúc của chùa chiền Biên Hòa - Đồng Nai, phản ánh những bước phát triển nhiều mặt của xã hội. Với lịch sử khai sơn khá sớm, chùa Đại Giác là một trong những di tích lịch sử cho sự phát triển của vùng Biên Hòa - Đồng Nai.</span> </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="color:black"><strong>Phan Đình Dũng</strong></span> </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="color:black"><strong><em>        Theo Báo Đồng Nai</em> </strong></span></span></span></p></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:25 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.932</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:28:56 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=99</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Về sông Ray</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=108</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassC15D7635169F4C1FB89E3A35E67F9E87>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><b><font color="#666666">Mỗi con sông Việt Nam quê hương đều mang trong mình những kỳ tích hay những huyền thoại. Sông Ray cũng vậy, dòng sông này được mệnh danh “điểm cuối của đường mòn Hồ Chí Minh trên biển”…</font></b> </span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">﻿ </span></div>
<div><font size=2>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%;color:black"><b>Chuyện “dấu chấm đỏ” trên bản đồ</b></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%;color:black">    Nếu so với các dòng sông khác của miền Nam thì sông Ray không dài lắm. Nó chỉ khoảng chừng 150 km, bắt nguồn từ vùng núi Xuân Lộc (Ðồng Nai), chảy qua hai huyện Long Ðất và Xuyên Mộc (thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) rồi lặng lờ đổ ra đại dương bằng cửa biển Lộc An.</span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%;color:black">    Lộc An là hạ lưu và đồng thời cũng là cửa biển của sông Ray. Cửa Lộc An lại là ranh giới của hai huyện: Long Ðất (hữu ngạn), Xuyên Mộc (tả ngạn), đều thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bên phía Xuyên Mộc có biển Bến Cát - mũi Hồ Tràm, bên phía Long Ðất có biển Lộc An - Phước Hải. Vùng biển Bến Cát - Hồ Tràm - Lộc An - Phước Hải trải dài 15km. Ít vùng biển nào của Việt Nam có một địa thế và phong cảnh tuyệt đẹp như nơi này. Ở đây có những dải cát trắng vàng, nhiều đồi cát cao đến 7 mét, tạo nên những &quot;sa mạc&quot; chạy tít tắp. Thật khó hình dung nơi quá đỗi đẹp, thanh bình hôm nay, ngày xưa lại đã từng được “điểm” thành một “dấu chấm đỏ” trên bản đồ của quân địch. Vì sao vậy?</span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%;color:black">    Do cửa sông Lộc An rộng, độ sâu từ 20 - 30 mét là lợi thế lý tưởng cho tàu thuyền cập cảng. Hai bên bờ sông có cây cối mọc rậm, không dân cư sinh sống nên dễ vận chuyển, che giấu được vũ khí…Với vị trí chiến lược này mà từ thời Pháp, cửa biển Lộc An đã trở thành tuyến giao thông nối liền giữa miền Bắc và miền Ðông Nam bộ. Tháng 9 năm 1946, chiếc tàu chở khí tài đầu tiên của Trung ương từ miền Bắc vào miền Nam đã cập bến Lộc An an toàn. Ðến thời Mỹ, Trung ương Cục miền Nam đã quyết định chọn cửa Lộc An làm điểm đón những con tàu chở vũ khí từ hậu phương miền Bắc vào tiếp tế cho chiến trường miền Nam. Nhiều chuyến tàu trong thời gian này đã cập bến an toàn, cung cấp vũ khí cho lực lượng vũ trang ở miền Ðông Nam bộ, góp phần làm nên những chiến thắng oanh liệt như Ðồng Xoài, Dầu Tiếng, Bàu Bàng, Phước Long…</span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%;color:black"><b>Khám phá dòng sông</b><br>    Thật ra, sông Ray nằm cách khu du lịch chỉ một đồi cát chừng 500 mét. Vì ở đây chưa có dịch vụ thuyền du lịch, nên khi muốn tham quan thuê một chiếc thuyền của ngư dân đánh cá. Khám phá sông Ray có hai hướng, nếu ngược dòng, sẽ gặp khu rừng cấm - rừng nguyên sinh ngập mặn Phước Bửu - Xuyên Mộc. Nơi đây là một &quot;kho tàng&quot; về hệ động thực vật quý hiếm. Rừng có khoảng 200 loài thực vật với nhiều gỗ quý như cẩm lai, căm xe, bằng lăng…; động vật đến hơn 150 loài, nhiều nhất là khỉ, trăn, rắn, chồn, các loại chim rừng…</span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%;color:black">Hướng xuôi về hạ lưu sông Ray để câu, nướng cá và đặc biệt là phải tận mắt nhìn, chụp hình cửa biển Lộc An đầy huyền thoại. Co thể tổ chức câu cá và mua thêm hải sản của những tàu đánh bắt trên sông, nướng thưởng thức ngay trên khoang tàu, thật vui, đầy thú vị.</span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%;color:black">    Thuyền đến gần cửa biển, bên tay phải bỗng hiện ra một dải cát trắng rộng mênh mông, phẳng lì men theo mé sông rồi bất chợt đâm sầm ra biển như mũi một con tàu, người tài công cho biết, ngư dân ở đây gọi mũi này là &quot;mũi Bến Cát&quot;. Thuyền đã đến cửa biển. Lúc này trời nắng hơn, tạo cho mặt biển màu xanh thẳm đến &quot;nhức mắt&quot;. Ðứng ở vị trí này thấy đất trời bao la hơn. Sông, biển, rừng, đồi cát…tạo nên bức tranh thật nguyên sơ, thật đẹp mà mấy khi người thành phố được tận hưởng….</span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%;color:black">Nguồn tin: SGTT</span></span></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Danh thắng Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 3:55 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.637</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Danh thắng Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 08:56:41 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=108</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Di tích- danh thắng Đồng Nai: Di tích Bửu Hưng Tự</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=84</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass746706AF45104AE78CD086393DBDD50B>
<div class=ExternalClassCE33037499B7471B97E7648CEAAA4CA7>
<div class=ExternalClass270234AFB1A44754BC92468798C37538><span style="font-family:Arial"><strong><span style="color:#666666">
<p><span style="display:none" id=1277349163340S> </span><a href="http://www.baodongnai.com.vn/Modules/Photo_Download.aspx?PhotoID=17437"><span style="color:#000000"><img border=0 alt="" align=left src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062410_0311_Ditchdanht1.jpg"></span></a> </p></span></strong></span></div></div>
<p> </p>
<div><b><font color="#666666" size=2>Bửu Hưng Tự còn có tên gọi là chùa Cô Hồn nằm trên đường Phan Đình Phùng trong nội ô TP. Biên Hòa (ảnh) được UBND tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử cách mạng (Quyết định số 62/QĐ.UBT, ngày 16-2-1979). Chùa được xây dựng vào khoảng năm 1920, nơi đây ghi dấu nhiều sự kiện cách mạng quan trọng của Đảng bộ và nhân dân Biên Hòa, Đồng Nai trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div><font size=2>Năm 1861, Pháp đánh chiếm và xây dựng chính quyền thuộc địa tại Biên Hòa. Trước cảnh nước mất nhà tan, người dân Biên Hòa đã đứng dậy chống lại kẻ thù với nhiều hình thức khác nhau, trong đó phải kể đến tổ chức Hội kín yêu nước với tên gọi là Lâm Trung trại, được thành lập ở Biên Hòa vào đầu thế kỷ XX. Tháng 2-1916, Lâm Trung trại tổ chức tiến công vào các công sở của Pháp ở Biên Hòa nhưng do vũ khí thô sơ, lực lượng lại mỏng nên đã thất bại. Thực dân lùng sục và tìm mọi cách bắt giam các nghĩa sĩ chỉ huy, xử bắn và chôn xác 9 người chung một nấm mồ trước sự chứng kiến đau thương của người dân địa phương. Cảm động tấm lòng yêu nước của các nghĩa sĩ Lâm Trung trại, người dân địa phương đã xây dựng ngôi miếu nhỏ trên triền đồi nhằm tưởng nhớ và thờ cúng những linh hồn các sĩ tử. Đến năm 1920, nhân dân địa phương góp tiền của, công sức xây dựng ngôi miếu thành ngôi chùa có tên gọi Bửu Hưng tự.</font></div>
<div><font size=2> Tháng 6-1945, dưới sự chủ trì của đồng chí Hoàng Minh Châu, Hội nghị cán bộ Đảng Biên Hòa đã được triệu tập tại chùa. Hội nghị đã quyết định những vấn đề quan trọng về chủ trương chuẩn bị cho nhân dân Biên Hòa nổi dậy giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám. </font></div>
<div><font size=2>Những năm gần đây, cùng với các phật tử, Ban trụ trì nhà chùa đã không ngừng phát huy công tác xã hội hóa di tích, trùng tu và sửa chữa một số hạng mục quan trọng như: nhà thờ tổ, nhà giảng; một số cột gỗ, lót mới nền nhà, thay ngói... Đặc biệt, Bửu Hưng tự đã trở thành ngôi nhà quen thuộc của những mảnh đời bất hạnh nhưng tràn đầy tình nhân ái trong vòng tay yêu thương và che chở của những tấm lòng từ bi, nguyện hướng đến cái chân - thiện - mỹ trong cuộc sống thường nhật của con người. </font></div>
<blockquote style="margin-right:0px" dir=ltr>
<div><font size=2><strong>Trọng Tá</strong></font></div></blockquote></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:15 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.743</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:15:32 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=84</guid>
    </item>
  </channel>
</rss>