﻿<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<!--RSS generated by Windows SharePoint Services V3 RSS Generator on 18/06/2026 9:10:49 SA-->
<?xml-stylesheet type="text/xsl" href="/trangtin/diachiDN/_layouts/RssXslt.aspx?List=4ec2c073-99ac-47d8-b9ae-2dbe43169359" version="1.0"?>
<rss version="2.0">
  <channel>
    <title>Địa chí Đồng Nai: Bài đăng</title>
    <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    <description>Liên kết nạp tin tự động RSS cho Bài đăng danh sách.</description>
    <lastBuildDate>Thu, 18 Jun 2026 02:10:49 GMT</lastBuildDate>
    <generator>Windows SharePoint Services V3 RSS Generator</generator>
    <ttl>60</ttl>
    <image>
      <title>Địa chí Đồng Nai: Bài đăng</title>
      <url>/trangtin/diachiDN/_layouts/images/homepage.gif</url>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    </image>
    <item>
      <title>Tên thương cảng sầm uất nhất ở vùng đất Biên Hoà thế kỷ 17, 18?</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=161</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass2A5A3B57B6EA4EC1964866A68C570DE4>
<div><span style="font-size:x-small"><b><font color="#666666" face=Arial>Cù Lao Phố</font></b> </span></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Hỏi đáp về Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 11:20 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.103</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Hỏi đáp về Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 16:22:26 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=161</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Ngày tháng năm diễn ra chiến dịch Xuân Lộc giải phóng thị xã Long Khánh. Ý nghĩa lịch sử của chiến dịch này?</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=178</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass7742A9E570154E96A4487B42869A9B31>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><b><font color="#666666" face=Arial>Trả lời: Ngày 9 – 21/4/1975 diễn ra chiến dịch Xuân Lộc giải phóng thị xã Long Khánh. Ý nghĩa của chiến dịch là đập tan được cánh cửa thép để mở dường tiến vào Sài Gòn góp phần làm nên đại thắng năm 1975.</font></b> </span></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Hỏi đáp về Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 11:30 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.649</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Hỏi đáp về Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 16:32:34 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=178</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Văn miếu Trấn Biên ở Đồng Nai - Sức sống của một vùng đất</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=111</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass2FDBAADCCD7D46C59D9BB09EB447DA4F>
<p style="text-align:justify"> </p>
<p>
<table style="border-collapse:separate" border=0 cellspacing=0 cellpadding=0 width=40 align=right>
<tbody>
<tr>
<td><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><font color="#666666"> <img alt="" align=right src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2010-6/vanmieutranbien.jpg" width=96 height=60></font></span></span></td></tr></tbody></table></p>
<div style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><b><font color="#666666">Trải qua thời gian, những giá trị văn hóa cũng như tinh thần hiếu học của người Việt Nam chẳng những không bị mai một đi mà ngày càng phát triển và theo chân những người đi mở đất để đến với tất cả mọi người. Năm 1698 khi Chưởng cơ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam mở đất thì vùng Đồng Nai bấy giờ đã khá trù phú với một thương cảng sầm uất ở phía nam. </font></b></span></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">﻿ </span></span></div>
<div><font size=2>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Nhằm từng bước nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài cho vùng đất mới, 17 năm sau, năm 1715, chúa Nguyễn Phúc Chu sai trấn thủ Nguyễn Phan Long và ký lục Phạm Khánh Đức xây dựng Văn miếu Trấn Biên, có vai trò như một trung tâm văn hóa giáo dục ở vùng đất Đồng Nai. Sách Đại Nam nhất thống chí ghi: “Phía nam trông ra sông Phước Giang, phía bắc dựa vào núi Long Sơn, là một nơi cảnh đẹp thanh tú, cỏ cây tươi tốt...”. Đây là văn miếu đầu tiên được xây dựng ở phương nam. Người Đồng Nai kính trọng gọi đó là Văn Thánh miếu, nơi không chỉ thờ Khổng Tử mà còn thờ phụng các bậc vĩ nhân, danh nhân văn hóa, giáo dục của đất nước. Văn miếu Trấn Biên ở Đồng Nai là sự tiếp nối truyền thống của Văn miếu Thăng Long, là biểu trưng của tinh thần hiếu học và những giá trị văn hóa. Năm 1861, thực dân Pháp xâm lược đã tàn phá Văn miếu Trấn Biên nhằm mục đích tiêu diệt nguyên khí quốc gia, triệt tiêu sĩ phu yêu nước, dập tắt tinh thần yêu nước của người dân vùng Đồng Nai. Trải qua biết bao biến cố, thăng trầm của lịch sử, nhất là các cuộc chiến tranh xâm lược của giặc ngoại xâm, trong tâm thức của người Đồng Nai, Văn miếu Trấn Biên luôn luôn tồn tại. Ngày 9 tháng 12 năm 1998 văn miếu được khởi công khôi phục lại tại phường Bửu Long, TP.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, diện tích 2 ha. Ngày 14 tháng 2 năm 2002, văn miếu chính thức mở cửa đón khách tham quan. Rùa đội hạc, trống hội Thăng Long... như nhắc nhở chúng ta về cội nguồn Thăng Long ngàn năm văn hiến. Bia tiến sĩ được khắc bằng đá với dòng chữ đầu tiên “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Bia văn miếu được đặt trong nhà trung tâm đã ghi lại vị trí của Văn miếu Trấn Biên trước đây, sau khi bị tàn phá không còn dấu tích gì.</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><i><span style="line-height:150%">Văn miếu đầu tiên của đất nước ta được xây dựng năm 1070, đó là văn miếu ở Thăng Longxây dựng đời vua Lý Thánh Tông. Văn miếu là nơi thờ phụng các bậc vĩ nhân, danh nhân tiêu biểu của đất nước và là nơi hội tụ, biểu trưng của văn hóa dân tộc.</span></i></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Nguồn tin: Báo CAHCM.</span></span></span></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Danh thắng Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 4:00 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.695</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Danh thắng Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 09:01:32 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=111</guid>
    </item>
    <item>
      <title>ANH HÙNG NGUYỄN VĂN HUỀ</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=48</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass009DB6BB9B884A979FBE694B9F79235A>
<div class=ExternalClassFD2287F4E4624F218F6EB4D30E1E9FB3>
<div class=ExternalClassBB9DE0C634E44E8B8458396898957E14>
<div>
<table style="border-collapse:collapse" border=0>
<colgroup>
<col style="width:172px"></colgroup>
<tbody valign=top>
<tr>
<td valign=center>
<p style="text-align:center"> </p></td></tr></tbody></table></div><span style="font-family:Arial"><span style="color:#666666"><strong>
<p style="text-align:center"><img alt="" align=left src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0841_ANHHNGNGUYN1.jpg"></p>
<p style="margin-left:2pt"> </p><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial"><strong>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small">Anh hùng Nguyễn Văn Huề sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Khi hy sinh, đồng chí là chiến sĩ đặc công thuộc đại đội 250 đặc công chủ lực Miền. </span><span style="font-size:x-small"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial">﻿ </span></span></span></p></strong></span></span></strong><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial">
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial">Ngày 7 tháng 7 năm 1954, phân đội đặc nhiệm gồm 6 người, trong đó có Nguyễn Văn Huề, nhận nhiệm vụ đánh Mỹ đầu tiên tại Biên Hòa. Với sự yểm trợ của một số tổ tự vệ, các anh nghiên cứu tình hình địch, nhằm đúng ngày Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên ghế thủ tướng. Tổ chiến đấu cải trang như một toán lính tuần tiễu từ Gò Me đi thẳng vào cư xá, các chiến sĩ đặc công nhanh chóng áp sát cư xá đoàn cố vấn quân sự Mỹ (MAAG). Tổ của Nguyễn Văn Huề chia thành 3 nhóm; Huề và 1 đồng đội mang mìn theo lối cửa hông, đặt vào trong phòng. Đèn bật sách, sợ lộ, các anh phải hành động gấp. Không để địch kịp phản ứng, đối phó, Nguyễn Văn Huề đã dũng cảm chấp nhận hy sinh, lệnh cho bạn &quot;chập điện&quot;. Tiếng nổ mạnh làm rung chuyển khu vực cư xá, nhiều tên địch phải đền tội. Nguyễn Văn Huề hy sinh, 5 đồng đội của anh quét tiểu liên vào chỗ có tiếng kêu gào rên la của Mỹ, rồi rút an toàn. Phối hợp nhịp nhàng với tổ đánh cư xá, bên ngoài các đồng chí khác nổ súng kìm chân địch, bảo vệ các chiến sĩ đặc công. Trận đánh diễn ra không đầy 15 phút, làm địch không kịp trở tay. Tiếng súng diệt Mỹ nơi đây đã cổ vũ và thúc đẩy phong trào cách mạng miền Nam phát triển rộng khắp. Đồng thời, đây là đòn cảnh báo bọn can thiệp Mỹ nếu chúng lấn sâu can thiệp vào miền Nam Việt Nam. Người dân Biên Hòa vô cùng tiếc thương và cảm phục hành động quả cảm của người chiến sĩ đặc công Nguyễn Văn Huề. </span></span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial">Ngày 28 tháng 4 năm 2000, Nguyễn Văn Huề được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. </span></span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial">                                                                                                                                      T.P </span></span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial">                                                                                                                         dongnai-industry.gov.vn </span></span></span></p></span></span></span></span></div></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 23/06/2010 1:10 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.785</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 18:10:03 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=48</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Họ tên người chỉ huy lực lượng vũ trang Biên Hoà và miền Đông trong kháng chiến chống Pháp, đồng thời là tác giả bài thơ “Nhớ Bắc”.</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=176</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass7D0EA62E15174B65ADB48BA69AE5A707>
<div style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><font color="#666666"><strong>Hãy viết lại 4 câu thơ mà bạn tâm đắc nhất trong bài thơ này?</strong></font> </span></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">﻿ </span></span></div>
<div><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;margin-left:18pt"> Trả lời:</div></span></span><span style="font-size:x-small">
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;margin-left:18pt"> </div></span><span style="font-family:Arial"><font size=2>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;margin-left:18pt"> </div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;margin-left:18pt"><span style="font-size:x-small">    Người chỉ huy lực lượng chiến đấu ở Biên Hoà - miền Đông trong kháng chiến chống Pháp, đồng thời là tác giả của bài thơ “Nhớ Bắc”đó là Huỳnh Văn Nghệ. Huỳnh Văn Nghệ (1914-1976) quê ở Tân Lịch, huyện Tân Uyên (là Biên Hoà cũ). </span></div></font></span><font size=2>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;margin-left:18pt"> </div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">    Trong bài thơ “Nhớ Bắc” 4 câu thơ được coi là tâm đắc nhất là: </span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">            “Ai về Bắc ta theo với</span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">            Thăm lại non sông giống Lạc Hồng</span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">            Từ thưở mang gươm đi mở cõi</span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">            Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”.</span></span></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Hỏi đáp về Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 11:30 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.479</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Hỏi đáp về Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 16:31:20 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=176</guid>
    </item>
    <item>
      <title>VỊ TRÍ ĐỊA LÝ TỈNH ĐỒNG NAI:</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=179</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass762940BDFD24448DA66615BDCC7E1E37><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt"> Đồng Nai là tỉnh thuộc Miền Đông Nam Bộ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có diện tích 5.894,73 km<sup>2</sup>, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ. Dân số toàn tỉnh theo số liệu thống kê năm 2005 là 2.218.900 người, mật độ dân số: 365 người/km<sup>2</sup>. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của toàn tỉnh năm 2005 là 1,28%. Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: <a><span style="color:purple">Thành phố Biên Hòa</span></a> - là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của tỉnh; <a href="http://c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.202"><span style="color:#0879d5">Thị xã Long Khánh</span></a> và 9 huyện: <a href="http://c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.201"><span style="color:#0879d5">Long Thành</span></a>;<a href="http://www.thuviendongnai.gov.vn/c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.205"><span style="color:#0879d5">Nhơn Trạch</span></a>; <a href="http://www.thuviendongnai.gov.vn/c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.207"><span style="color:#0879d5">Trảng Bom</span></a>; <a href="http://c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.208"><span style="color:#0879d5">Thống Nhất</span></a>; <a href="http://www.thuviendongnai.gov.vn/c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.210"><span style="color:#0879d5">Cẩm Mỹ</span></a>; <a><span style="color:#0879d5">Vĩnh Cửu</span></a>; <a><span style="color:#0879d5">Xuân Lộc</span></a>; <a href="http://www.thuviendongnai.gov.vn/c/portal/layout?p_l_id=PUB.1.200"><span style="color:#0879d5">Định Quán</span></a>; <a><span style="color:#0879d5">Tân Phú</span></a>.</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Là một tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam Đồng Nai tiếp giáp với các vùng sau: </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><ul><li><a><span style="color:#0879d5;font-family:Arial;font-size:10pt">Đông giáp tỉnh Bình Thuận.</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:9pt">
			</span></li><li><a><span style="color:#0879d5;font-family:Arial;font-size:10pt">Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng.</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:9pt">
			</span></li><li><a><span style="color:#0879d5;font-family:Arial;font-size:10pt">Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương</span></a><span style="font-family:Arial"><span style="color:#ff6600;font-size:10pt"> và <a><span style="color:#0879d5">tỉnh Bình Phước.</span></a></span><span style="font-size:9pt">
				</span></span></li><li><a><span style="color:#0879d5;font-family:Arial;font-size:10pt">Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:9pt">
			</span></li><li><a><span style="color:#0879d5;font-family:Arial;font-size:10pt">Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh.</span></a><span style="font-family:Arial;font-size:9pt">
			</span></li></ul><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#006600;font-size:10pt">Là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên.</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p>
 </p><div style="text-align:center"><table style="border-collapse:collapse" border=0><colgroup><col style="width:624px"></colgroup><tbody valign=top><tr><td valign=middle style="border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>ĐỊA HÌNH</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Tỉnh Đồng Nai có địa hình vùng đồng bằng và bình nguyên với những núi sót rải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng bắc nam. Có thể phân biệt các dạng địa hình chính như sau:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#006600;font-size:10pt">F Địa hình đồng bằng gồm 2 dạng chính:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Các bậc thềm sông có độ cao từ 5 đến 10 m hoặc có nơi chỉ cao từ 2 đến 5 m dọc theo các sông và tạo thành từng dải hẹp có chiều rộng thay đổi từ vài chục mét đến vài km. Đất trên địa hình này chủ yếu là các aluvi hiện đại.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển: là những vùng đất trũng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai với độ cao dao động từ 0,3 đến 2 m, có chỗ thấp hơn mực nước biển, thường xuyên ngập triều, mạng lưới sông rạch chằng chịt, có rừng ngập mặn bao phủ. Vật liệu không đồng nhất, có nhiều sét và vật chất hữu cơ lắng đọng.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#006600;font-size:10pt">F Dạng địa đồi lượn sóng:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Độ cao từ 20 đến 200m. Bao gồm các đồi bazan, Bề mặt địa hình rất phẳng, thoải, độ dốc từ 30 đến 80. Loại địa hình này chiếm diện tích rất lớn so với các dạng địa hình khác bao trùm hầu hết các khối bazan, phù sa cổ. Đất phân bổ trên địa hình này gồm nhóm đất đỏ vàng và đất xám.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt"><span style="color:#006600">F Dạng địa hình núi thấp:</span>
								</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Bao gồm các núi sót rải rác và là phần cuối cùng của dãy Trường Sơn với độ cao thay đổi từ 200 – 800m. Địa hình này phân bố chủ yếu ở phía bắc của tỉnh thuộc ranh giới giữa huyện Tân Phú với tỉnh Lâm Đồng và một vài núi sót ở huyện Định Quán, Xuân Lộc. Tất cả các núi này đều có độ cao (20–300), đá mẹ lộ thiên thành cụm với các đá chủ yếu là granit, đá phiến sét.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Nhìn chung đất của Đồng Nai đều có địa hình tương đối bằng phẳng, có 82,09% đất có độ dốc &lt; 8<sup>o</sup>, 92% đất có độ dốc &lt;15<sup>o</sup>, các đất có độ dốc &gt;15<sup>o</sup> chiếm khoảng 8%. Trong đó: Đất phù sa, đất sét và đất cát có địa hình bằng phẳng , nhiều nơi trũng thấp ngập nước quanh năm. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Đất đen, nâu, xám hầu hết có độ dốc &lt; 8<sup>o</sup> , đất đỏ hầu hết &lt; 15<sup>o</sup>
								</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Riêng đất tầng mỏng và đá bọt có độ dốc cao.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>ĐẤT ĐAI</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Tỉnh Đồng Nai có quỹ đất phong phú và phì nhiêu. Có 10 nhóm đất chính. Tuy nhiên theo nguồn gốc và chất lượng đất có thể chia thành 3 nhóm chung sau: </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Các loại đất hình thành trên đá bazan: Gồm đất đá bọt, đất đen, đất đỏ có độ phì nhiêu cao, chiếm 39,1% diện tích tự nhiên (229.416 ha), phân bố ở phía bắc và đông bắc của tỉnh. Các loại đất này thích hợp cho các cây công nghiệp ngắn và dài ngày như: cao su, cà phê, tiêu…</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét như: đất xám, nâu xám, loang lổ chiếm 41,9% diện tích tự nhiên (246.380 ha), phân bố ở phí nam, đông nam của tỉnh (huyện Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Biên Hoà, Long Thành, Nhơn Trạch). Các loại đất này thường có độ phì nhiêu kém, thích hợp cho các loại cây ngắn ngày như đậu, đỗ…một số cây ăn trái và cây công nghiệp dài ngày như cây điều…</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Các loại đất hình thành trên phù sa mới như: đất phù sa, đất cát. Phân bố chủ yếu ven các sông như sông Đồng Nai, La Ngà. Chất lượng đất tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng như cây lương thực, hoa màu, rau quả…</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Theo quy định của luật đất đai, việc kiểm kê đất đai được tiến hành 5 năm một lần. Ngày 18/08/1999, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 24/1999/CT –TTg về tổng kiểm kê đất đai năm 2000. Công tác tổng kiểm kê đất đai năm 2000. Trung tâm Kỹ thuật Địa chính – Nhà đất là đơn vị được giao nhiệm vụ phối hợp với phòng Địa chính các huyện, thành phố Biên Hoà và cán bộ địa chính các xã, phường, thị trấn trong tỉnh để tổ chức thực hiện, số liệu tổng kiểm kê đất đai năm 2000 đã được kiểm tra nghiệm thu và sử dụng thống nhất trong toàn tỉnh, giai đoạn 2001 – 2005.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Tổng diện tích toàn tỉnh có: 589.473 ha. Bao gồm:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Diện tích đất nông nghiệp: 302.845 ha. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Diện tích đất lâm nghiệp: 179.807 ha.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Diện tích đất chuyên dùng: 68.018 ha.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Diện tích đất ở: 10.546 ha.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Diện tích đất chưa sử dụng và sông suối , núi đá: 28.255 ha</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đất của tỉnh Đồng Nai có 10 nhóm đất chính như:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Đất xám chiếm 40,05% diện tích tự nhiên (DTTN), thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và cho xây dựng.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Đất đen chiếm 22,44% DTTN, thích hợp trồng các loại cây hằng năm </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Đất đỏ chiếm 19,27% DTTN, rất thích hợp trồng các cây công nghiệp dài ngày </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Ngoài ra là các nhóm đất như đất phù sa (4,76%) có thể dùng cho trồng lúa, hoa mầu và các loại khác.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Lâm nghiệp: 292.611.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Lâm nghiệp: 174.762.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Chuyên dùng: 70.286.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Đất ở: 10.975.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Tình hình sử dụng đất của tỉnh những năm qua có biến động ít nhiều, nhưng đến nay, Đồng Nai vẫn là tỉnh có quy mô đất nông nghiệp lớn nhất Đông Nam Bộ.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>KHÍ HẬU</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đồng Nai nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với khí hậu ôn hòa, ít chịu ảnh hưởng của thiên tai, đất đai màu mỡ (phần lớn là đất đỏ bazan), có hai mùa tương phản nhau (mùa khô và mùa mưa). </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nhiệt độ cao quanh năm là điều kiện thích hợp cho phát triển cây trồng nhiệt đới, đặc biệt là các cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nhiệt độ bình quân năm 2005 là: 26,3<sup>o</sup>C chênh lệch nhiệt độ cao nhất giữa tháng nóng nhất và lạnh nhất là 4,2<sup>o</sup>C.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Số giờ nắng trung bình trong năm 2005 là: 2.243 giờ. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Lượng mưa tương đối lớn và phân bố theo vùng và theo vụ tương đối lớn khoảng 2.065,7mm phân bố theo vùng và theo vụ.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Vì thế Đồng Nai đã sớm hình thành những vùng chuyên canh cây công nghiệp ngắn và dài ngày, những vùng cây ăn quả nổi tiếng,... cùng với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch phát triển. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Độ ẩm trung bình năm 2005 là 80%.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Mực nước thấp nhất sông Đồng Nai năm 2005 là: 109,24m.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Mực nước cao nhất sông Đồng Nai năm 2005: 113,12.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>TÀI NGUYÊN</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đồng Nai có nhiều nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú gồm tài nguyên khoáng sản có vàng, thiếc, kẽm; nhiều mỏ đá, cao lanh, than bùn, đất sét, cát sông; tài nguyên rừng và nguồn nước... </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Ngoài ra Đồng Nai còn phát triển thuỷ sản dựa vào hệ thống hồ đập và sông ngòi. Trong đó, hồ Trị An diện tích 323km<sup>2</sup> và trên 60 sông, kênh rạch, rất thuận lợi cho việc phát triển một số thủy sản như: cá nuôi bè, tôm nuôi.... </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:green;font-size:10pt"><strong>TÀI NGUYÊN NƯỚC</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước mặt: Tỉnh Đồng Nai có mật độ sông suối khoảng 0,5 km/km<sup>2</sup>, song phân phối không đều. Phần lớn sông suối tập trung ở phía bắc và dọc theo sông Đồng Nai về hướng tây nam. Tổng lượng nuớc dồi dào 16,82 x 109 m<sup>3</sup>/năm, trong đó mùa mưa chiếm 80%, mùa khô 20%.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Sông Đồng Nai: Sông Đồng Nai chảy vào tỉnh Đồng Nai ở bậc địa hình thứ 3 và là vùng trung lưu của sông. Đoạn từ ranh giới Đồng Nai - Lâm Đồng đến cửa sông Bé Tân Uyên sông chảy theo hướng tây bắc – đông nam. Địa hình lưu vực đoạn trung lưu từ 100-300 m, đoạn từ Tà Lài đến Trị An có nhiều thác ghềnh. Đoạn sau Trị An sông chảy êm đềm, lòng sông mở rộng và sâu. Các phụ lưu lớn của sông Đồng Nai có sông La Ngà, Sông Bé.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Sông La Ngà: Đoạn sông La Ngà chảy trong tỉnh Đồng Nai dài 55 km, khúc khuỷu, nhiều ghềnh thác (ví dụ: thác Trời cao trên 5m). Đoạn này sông La Ngà hẹp, có nhiều nhánh đổ vào, điển hình là suối Gia Huynh và suối Tam Bung. Suối Gia Huynh có lưu vực 135 km<sup>2</sup>, mô đun dòng chảy 91/s km<sup>2</sup> vào mùa khô và 47,41/s km<sup>2</sup> vào mùa mưa, bắt nguồn từ vùng Quốc Lộ 1, ranh giới Đồng Nai - Bình Thuận. Suối Tam Bung có diện tích lưu vực 155 km<sup>2</sup>, bắt nguồn từ phía bắc cao nguyên Xuân Lộc, mô đun dòng chảy 101/s km<sup>2</sup> vào mùa khô và 651/s km<sup>2</sup> vào mùa mưa. Sông La Ngà đổ vào hồ Trị An một lượng nước khoảng 4,5x109 m<sup>3</sup>/năm, chiếm 1/3 tổng lượng nước hồ, mô đun dòng chảy năm 351/s km<sup>2</sup>.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Sông Lá Buông: Bắt nguồn từ phía tây cao nguyên Xuân Lộc, chảy theo hướng từ đông sang tây, độ dốc lưu vực đạt 0.0035. Độ dài sông tính theo nhánh dài nhất khoảng 40 km, sông có lượng nước dồi dào so với các sông nhỏ trong tỉnh với tổng lượng nước trung bình 0,23 x 109 m<sup>3</sup> /năm, mô đun dòng chảy năm 27,61/s km<sup>2</sup>.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Sông Ray: Lưu vực sông chiếm gần 1/3 diện tích phía Nam của tỉnh. Sông bắt nguồn từ phía nam, đông nam cao nguyên Xuân Lộc, đổ thẳng ra biển, chảy theo hướng bắc nam, độ dốc lưu vực khá lớn (0,004), do vậy nếu không có đập chặn giữ thì nước sông sẽ tập trung nhanh ra biển, trong mùa khô thường cạn kiệt nước. Tổng lượng nước sông khá lớn 0,634 x 109 m<sup>3</sup> /năm trong đó mùa mưa chiếm 79%. Sông Ray nếu được sử dụng hợp lý có thể giải quyết vấn đề khô cạn cho vùng đông nam của tỉnh.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">+ Sông Xoài và sông Thị Vải: Đây là 2 sông thuộc vùng phía tây nam của tỉnh, bắt nguồn từ cao nguyên Xuân Lộc và đổ thẳng ra biển. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Sông Thị Vải ở phía thượng lưu gồm các suối nhỏ và dốc, phần hạ lưu (phía duới Quốc Lộ 51 đi Vũng Tau) là sông nước mặn, lòng sông mở rộng.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Sông Xoài có 2 nhánh chính là Châu Pha và Suối Dun, các suối ngắn và hẹp. Diện tích lưu vực 184 km<sup>2</sup>, tổng lượng nước trung bình 0,1015 x 109 m<sup>3</sup> /năm, mô đun dòng chảy năm 17,51/s km<sup>2</sup>, sông Xoài có ý nghĩa to lớn đối với vùng sản xuất nông nghiệp Châu Thành và cấp nước ngọt cho Vũng Tàu. Hạ lưu sông Xoài là vùng nước mặn, độ mặn có thể đạt tới độ mặn của nước biển..</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước ngầm:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Trữ lượng nước tĩnh của toàn tỉnh Đồng Nai là 793.379 m<sup>3</sup>/ngày. Trong đó trữ lượng dung tích (trữ lượng tĩnh trọng lực) là 789.689 m<sup>3</sup>/ngày và trữ lượng đàn hồi là 3691 m<sup>3</sup> /ngày.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Trữ lượng động khoảng 4.714.847 m<sup>3</sup> /ngày là toàn bộ dòng mặt vào mùa khô và là giới hạn dưới của trữ lượng nước dưới đất. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Như vậy tổng trữ lượng nước dưới đất của tỉnh Đồng Nai là khoảng 5.505.226 m<sup>3</sup> /ngày.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Tuy trữ lượng nước dưới đất tỉnh Đồng Nai phong phú, nhưng phân bố không đều, các tháng mùa khô không có mưa, nhu cầu khai thác lại lớn, vì vậy khai thác nước dưới đất phải theo qui hoạch khai thác hợp lý.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:green;font-size:10pt"><strong>TÀI NGUYÊN DU LỊCH</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đồng Nai có nhiều di tích lịch sử, văn hoá và các điểm du lịch có tiềm năng: Khu Văn miếu Trấn Biên, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, khu du lịch Bửu Long, khu du lịch ven sông Đồng Nai , Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, làng bưởi Tân Triều, Thác Mai - hồ nước nóng , Đảo Ó... </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đến Đồng Nai du khách sẽ có dịp tham gia những chuyến du lịch sinh thái trong các khu rừng hoặc vườn cây ăn quả, câu cá, du thuyền trên sông Đồng Nai, dã ngoại tại các thắng cảnh: hồ Long ẩn, khu văn hoá Suối Tre, thác Trị An, rừng Mã Đà,... hay tham quan các di tích lịch sử, văn hóa: chiến khu Đ, Văn miếu Trấn Biên, nghiên cứu các di chỉ khảo cổ: mộ cổ Hàng Gòn, đàn đá Bình Đa.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:green;font-size:10pt"><strong>TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Kim loại:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Vàng: Đến nay đã phát hiện 17 mỏ, điểm quặng và khoáng hoá. Tập trung chủ yếu ở phía bắc Tỉnh. Có 2 mỏ nhỏ ở Hiếu Liêm và Vĩnh An rất có triển vọng. Còn lại là các điểm quặng chưa được đánh giá đầy đủ ở: Suối Ty, Suối Nho, Tam Bung, Suối Sa Mách, lâm trường Vĩnh An, lâm trường La Ngà, lâm trường Hiếu Liêm.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Nhôm (Quặng bauxit): Mới phát hiện 2 mỏ ở DaTapok (lâm trường Mã Đà) và lâm trường La Ngà, diện tích khoảng 1.120ha, tuy nhiên đã thuộc vào vùng cấm (rừng Nam Cát Tiên) trên 2/3 diện tích. Trữ lượng ước đạt khoảng 450 triệu m<sup>3</sup>.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Thiếc: Chỉ gặp dưới dạng vành phân tán khoáng vật. Các vành này có diện rộng nhưng hàm lượng thấp không có ý nghĩa tìm kiếm. Tập trung ở núi Chứa Chan, Suối Rét, Suối Sao, và sông Gia Ray.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Chì kẽm đa kim: Được phát hiện ở núi Chứa Chan.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Không kim loại:</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Kao lin: Đã phát hiện 10 mỏ, chủ yếu là các mỏ nhỏ và các điểm quặng. Tập trung chủ yếu ở Phước Thiền, Hang Nai, Phước Thọ, Tam Hòa, Tân Phong, Bình Ý, Thạnh Phú.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Sét màu: Đến nay đã phát hiện 9 điểm quặng ở khu vực Long Bình Tân, Xuân Khánh và Xuân Lộc. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đá vôi: Chỉ mới phát hiện 2 điểm ở Tân Phú và Suối Cát.. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Thạch anh mạch: Phân bố rải rác, chỉ mới phát hiện 1 điểm ở Xuân Tâm (huyện Xuân Lộc).</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Thạch anh mạch được sử dụng trong luyện kim.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đá xây dựng và ốp lát: Đá xây dựng. 24 mỏ đang khai thác, tập trung ở Biên Hòa, Thống Nhất, Trảng Bom, Long Thành, Vĩnh Củu, Định Quán, Nhơn Trạch, Xuân Lộc.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Cát xây dựng: Chủ yếu trên sông Đồng Nai từ ngã ba Tân Uyên đến ngã ba mũi đèn đỏ, đã được thăm dò đánh giá trữ lượng. Ngoài ra trong các sông suối nhỏ đều có cát ở khu vực Định Quán, Tân Phú đặc biệt là trong lòng hồ Trị An.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Cát san lấp: Phước An (Đồng Mu Rùa, Gò sim…), Sông Nhà Bè, Đồng Tranh.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Sét gạch ngói: Khá phong phú, phân bố chủ yếu Thiện Tân, Thạnh Phú (huyện Vĩnh Cửu), Long An, Long Phước (huyện Long Thành).</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Keramzit: Phân bố ở Đại An và Trị An với trữ lượng ước tính khoảng 8 triệu tấn.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Puzolan: Rất phong phú, tập trung ở Định Quán, Long Thành và 1 ít ở Cây Gáo, Gia Kiệm (Thống Nhất) và Vĩnh Tân (Vĩnh Cửu).</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Laterit: Khá phổ biến. Tập trung ở Vĩnh Cửu, Biên Hoà, Long Thành và nhơn Trạch.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Đá quý và báu quý: Quy mô nhỏ, không có triển vọng khai thác công nghiệp.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Ziricon: Gia Kiệm, Núi Lá, Tân Phong</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Saphia: Cầu La Ngà, phía nam Tân Phong, Gia Kiệm.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Pyrop-ziricon.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Opan-canxedoan: núi Chứa Chan.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Tecfic: bắc Tài Lài.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Nước khoáng, nước nóng và nước ngầm gồm: </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước khoáng - nước nóng: ở Phú Lộc và Kay</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước khoáng Magie – bicarbonat: ở suối Nho</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước khoáng siêu nhạt: ở Tam Phước và Nhơn Trạch</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước khoáng sắt: ở phía Nam Thành Tuy Hạ</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước mặn loại Clorua – Natri: ở Nam Tuy Hạ</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Nước ngầm: Biên Hoà, Long Thành, Nhơn Trạch trên thung lũng các sông Đồng Nai, La Ngà.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:green;font-size:10pt"><strong>TÀI NGUYÊN RỪNG</strong></span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động thực vật phong phú đa dạng, tiêu biểu là vườn Quốc gia Nam Cát Tiên. Năm 1976, tỷ lệ che phủ của rừng còn 47,8% DTTN, năm 1981 còn 21,5%. </span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Năm 2004 độ che phủ rừng là 26,05% tổng diện tích tự nhiên, có khu bảo tồn thiên nhiên vườn quốc gia Nam Cát Tiên, với nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Với việc triển khai thực hiện chương trình trồng rừng và quy hoạch này, có thể dự báo tỷ lệ che phủ (bao gồm cả cây công nghiệp dài ngày) sẽ tăng lên đạt 45-50% trong thời kỳ đến năm 2010.</span><span style="font-size:9pt">
								</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="color:#cc0000;font-family:Arial;font-size:10pt"><strong>Diện tích các loại rừng:</strong></span></p></td></tr></tbody></table></div><p> 
 </p><div style="text-align:center"><table style="border-collapse:collapse" border=0><colgroup><col style="width:143px"><col style="width:170px"><col style="width:172px"><col style="width:146px"></colgroup><tbody valign=top><tr><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Loại rừng</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tổng diện tích (ha)</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rừng tự nhiên (ha)</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rừng trồng (ha)</span></p></td></tr><tr><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rừng đặc dụng</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">82.795,5</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">80.520,4</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">2.275,1</span></p></td></tr><tr><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rừng phòng hộ</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">44.144,2</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">21.366,8</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">22.777,4</span></p></td></tr><tr><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Rừng sản xuất</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">26.646,3</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">8.406,4</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">18.239,9</span></p></td></tr><tr><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Tổng cộng</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">153.586,0</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">110.293,6</span></p></td><td valign=middle style="padding-top:1px;padding-left:1px;padding-bottom:1px;padding-right:1px;border-top:none;border-left:none;border-bottom:none;border-right:none"><p><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">43.292,4</span></p></td></tr></tbody></table></div><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>GIAO THÔNG</strong></span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Đồng Nai đã có bước tiến nhanh trong đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông, nhất là giao thông đường bộ. Hệ thống quốc lộ với tổng chiều dài 244,5 km đã và đang được nâng cấp mở rộng thành tiêu chuẩn đường cấp I, II đồng bằng (QL1, QL51), cấp III đồng bằng như QL 20 (tuyến đi Đà Lạt, trên địa bàn tỉnh dài 75km đã được trải thảm lại mặt đường). Hệ thống đường bộ trong tỉnh có chiều dài 3.339 km, trong đó gần 700km đường nhựa. Ngoài ra, hệ thống đường phường xã quản lý, đường các nông lâm trường, KCN tạo nên 1 mạng lưới liên hoàn đến cơ sở, 100% xã phường đã có đường ô- tô đến trung tâm.</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Theo quy hoạch trong tương lai gần, hệ thống đường cao tốc đi Bà Rịa - Vũng Tàu và TP. Hồ chí Minh, hệ thống đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu, nâng cấp tỉnh lộ 769 nối quốc lộ 20, quốc lộ 1 với quốc lộ 51... sẽ tạo nên một mạng lưới giao thông hoàn chỉnh, phục vụ nhu cầu phát triển KTXH địa phương và khu vực..</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>HỆ THỐNG CẢNG ĐỒNG NAI</strong></span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Cảng Long Bình Tân trên sông Đồng Nai: cách quốc lộ 1, phía bên phải hướng từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Hà Nội 800 mét; công suất 460.000 T/năm với tàu 2000 GRT đã xây xong và đã đa vào khai thác một cầu cảng 60m, một bến xà lan; Tương lai, sau khi nạo vét luồng: 5.000 DWT. Văn phòng chính đặt tại Phường Long Bình Tân, Thành phố Biên Hòa. Điện thoại: 84.61.83225/ 831439 - Fax: 84.61.831259. </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Cảng Gò Dầu A trên sông Thị Vải: cách quốc lộ 51, phía bên phải hướng từ Biên Hòa đi Vũng Tàu 2 km. Hiện tại, cỡ tàu lớn nhất tiếp nhận được khoảng 2.000 GRT; tương lai sau khi nạo vét luồng là 10.000 DWT. Văn phòng phân cảng đặt tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Điện thoại: 84.61.827328 - Fax: 84.61.841252. </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">* Cảng Gò Dầu B trên sông Thị Vải: cách quốc lộ 51, phía bên phải hướng từ Biên Hòa đi Vũng Tàu 2,5 km; đã đưa vào khai thác và sẽ nâng cấp lên đạt công suất thiết kế 10 triệu tấn/năm, 2 bên có khả năng tiếp nhận tàu 15.000 DWT. Văn phòng phân cảng đặt tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Điện thoại: 84.61.841599 - Fax: 84.61.816790. </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Ngoài ra, đang tiến hành lập dự án các Cảng Phú Hữu, Cảng Phước An. Giám đốc Cảng Đồng Nai: Ông Nguyễn Mạnh Tiến. Mobile phone: 091.942.248.</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">Các dịch vụ chính là đại lý hàng hải, bốc xếp, kho hàng, giao nhận vận tải. Sản lượng hàng hóa thông qua các cảng đã đạt 700.000 tấn/năm. Dự kiến nâng sản lượng hàng hóa thông qua cảng lên 25 - 30 triệu tấn/năm. </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:#3333ff;font-size:10pt"><strong>HỆ THỐNG ĐƯỜNG SẮT QUỐC GIA ĐI QUA TỈNH</strong></span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Đồng Nai có hệ thống đường sắt quốc gia đi qua tỉnh vời tổng chiều dài là 87,5 km với 12 ga: Gia Huynh, Trảng Táo, Gia Ray, Bảo Chánh, Xuân Lộc, An Lộc, Dầu Giây, Bàu Cá, Trảng Bom, Long Lạc, Hố Nai và Biên Hoà. </span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:10pt">- Tuyến đường sắt này là mạch máu giao thông quan trọng nối tỉnh Đồng Nai với miền Bắc và TP. Hồ Chí Minh.</span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p><p> 
 </p><p><span style="font-family:Arial"><span style="color:gray;font-size:10pt"><strong><em>THKC biên tập theo số liệu từ Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai cung cấp</em></strong></span><span style="font-size:9pt">
			</span></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Vị trí địa lý tỉnh Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 25/06/2010 2:28 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 11.676</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Vị trí địa lý tỉnh Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 19:28:10 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=179</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Mộ Cự thạch Hàng Gòn - Công trình kiến trúc mộ cổ huyền bí</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=102</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass60CDE7BC7C7F4A7885B64BD6E1306672>
<div><font color="#666666" size=2><strong>Sau nhiều năm nỗ lực của ngành khảo cổ học Việt Nam trong việc vén bức màn &quot;bí ần&quot; về di tích mộ cổ Cự thạch Hàng Gòn, các nhà khoa học đã phát hiện hết bí mật này đến bí mật khác. </strong></font></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Một nhà nghiên cứu khảo cổ học người nước ngoài đã phải thốt lên: &quot;Đây là di tích Cự thạch kỳ lạ trên vùng đất đỏ huyền vũ nham Xuân Lộc đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu đặc biệt của nhiều học giả trên thế giới&quot;.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><strong>Công trình kiến trúc mộ đá cổ độc đáo</strong></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Di tích Mộ Cự thạch Hàng Gòn, nay thuộc ấp Hàng Gòn (xã Hàng Gòn, thị xã Long Khánh,  Đồng Nai) đã được phát hiện và khai quật từ năm 1927.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%">Năm 1928, di tích đã được xếp hạng và ghi vào danh mục các di tích lịch sử &quot;Mộ Đông Dương - mộ Dolmen Hàng Gòn&quot; và đến năm 1984, Bộ Văn hóa đã xếp hạng Mộ Cự thạch Hàng Gòn là di tích quốc gia, 1 trong 10 di tích quan trọng ở Nam bộ.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Các nhà khoa học đánh giá, đây là một di tích độc đáo cả về nghệ thuật và kỹ thuật của các tộc người cổ Nam Á nói chung và người Việt cổ nói riêng.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Mộ Cự thạch Hàng Gòn là một dạng hầm mộ, được cấu tạo bởi những tấm đá hoa cương lớn và những trụ đá dài, nặng khoảng 30 - 40 tấn. Ngôi mộ có hình chữ nhật dài 4,2m, ngang 2,7 mét, cao 1,6 mét được ghép bới 6 tấm đá hoa cương được bào khá nhẵn ở mặt ngoài; 4 tấm đá thẳng đứng dùng làm vách, 2 tấm nằm ngang dùng làm mặt đáy và nắp đậy.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%">Liên kết giữa tấm đá hoa cương nhờ vào hệ thống rãnh dọc chắc chắn. Xung quanh mộ có nhiều trụ đá hoa cương cao 7,5 mét, tiết diện mặt cắt ngang hình chữ nhật dài 1,10m X 0,3m, phần lớn các đầu trụ được khoét lõm hình yên ngựa.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Những phát hiện đầu tiên về ngôi mộ do một kỹ sư người Pháp tên là Jean Bouchot khám phá vào năm 1927 trong khi đào ủi mặt bằng để thi công tuyến giao thông Long Khánh đi Bà Rịa - V ũng Tàu.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Sau đó có nhiều đoàn khảo cổ trong và ngoài nước đến nghiên cứu di chỉ khảo cổ học này. Tuy nhiên, cho đến khoảng tháng 3/2006, các chuyên gia của Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ và Ban quản lý di tích - danh thắng Đồng Nai phối hợp mở đợt điều tra nghiên cứu quy mô. Nhiều phát hiện mới đã được đoàn nghiên cứu làm rõ.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Trong quá trình đào thám sát, đã phát hiện dấu vết của những vệt đất cháy kéo dài thành hình vòng cung, phía trên có rất nhiều than tro và xỉ kim loại; các mảnh đồ gốm trên thân có hoa văn làm từ chất liệu đất sét pha cát và vỏ nhuyễn thể nghiền nhỏ; phát hiện 2 chiếc tù và bằng đồng và 2 chiếc bàn mài bằng đá có lỗ đeo.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Năm 2007, đoàn đã tiếp tục khai quật và giải mã những &quot;bí mật&quot; di tích Mộ Cự thạch Hàng Gòn. Nhiều hiện vật bằng gốm, bằng đá, các dụng cụ bàn mài, các cột đá và những vết đất cháy, than tro.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Đặc biệt trong xưởng chế tác đá đã tìm thấy trước đó, đoàn khảo sát cũng đã tìm thấy những tấm đá, cột đá, nhiều phế vật mảnh tước đá và nhiều công cụ lao động. Qua đó cho thấy người xưa đã vận chuyển những khối đá lớn về Hàng Gòn để gia công tạo ra những tấm đan, cột đá sử dụng cho kiến trúc mộ.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Qua so sánh phân tích, các nhà nghiên cứu đã đưa ra phán đoán cho rằng, chủ nhân của Mộ Cự thạch là một nhân vật quyền uy, là thủ lĩnh của một bộ lạc hay liên minh các bộ lạc hùng mạnh về kinh tế và quân sự; niên đại của di tích được xác định trong khoảng thời gian 150 trước Công nguyên đến 240 năm sau Công nguyên.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><strong>Như một &quot;thạch tự tháp&quot;</strong></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Bouchot - Người đầu tiên khám phá ra ngôi mộ - cho rằng sự &quot;huyền bí&quot; của hầm mộ Cự thạch Hàng Gòn là do các nhà xây dựng thời tiền sử quan tâm đến sự bảo mật giống như &quot;bí truyền&quot; thường thấy ở nhiều dân tộc sống ở khu vực Thái Bình Dương.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Ông cho rằng người Việt cổ đã biết tập hợp nhau lại tạo thành sức mạnh phi thường mới có thể vận chuyển được những cấu kiện bằng đá lớn như vậy, ngay cả đền Angkor (Campuchia) cũng không thấy những tảng đá nặng như thế.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Các nhà khảo cổ cho rằng, để xây dựng công trình trên, người Việt cổ phải huy động sức lao động của cả cộng đồng, tổ chức lao động một cách rất chặt chẽ. Đây là một công trình giống như &quot;thạch tự tháp&quot; của miền văn hóa sông Đồng Nai.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Ghi nhận của ngành Bảo tàng, Khảo cổ học Việt Nam cho thấy: Từ năm 1975 đến nay, có hàng trăm đoàn khảo cổ học từ các nước đến Hàng Gòn để tìm hiểu, nghiên cứu về quần thể di tích cự thạch độc đáo này.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Nhiều người cho rằng, đây là một ngôi mộ chôn dưới hình thức hỏa thiêu được xây dựng vào thời kỳ kim khí thuộc giai đoạn đồng phát triển (hậu kỳ thời đại đồ đồng) có khả năng chuyển sang thời kỳ đồ sắt; đồng thời khẳng định công trình này không chỉ có giá trị về kích thước (được xem là ngôi mộ đá lớn nhất Đông Nam Á đã phát hiện vào thời điểm hiện nay) mà còn chứa đựng giá trị lớn về trí sáng tạo của người tiền sử được ví như &quot; nền văn minh sông Đồng Nai&quot;.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in">Bí mật về quần thể di tích mộ Cự thạch Hàng Gòn hiện vẫn đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới khảo cổ học trong và ngoài nước. Một cuộc hội thảo cũng vừa được tổ chức tại tỉnh Đồng Nai để bàn biện pháp phục chế và bảo tồn di tích lịch sử độc đáo này.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%">Hiện Bộ văn hóa - Thể thao và Du lịch cùng với UBND tỉnh Đồng Nai đang đề nghị các nhà kiến trúc, nhà quản lý, các nhà khoa học cho ý kiến về phương án bảo tồn và tôn tạo di tích mộ cự thạch Hàng Gòn để sớm triển khai trùng tu.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in"><em><b>Theo báo Tiền Phong</b></em></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:30 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.818</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:34:21 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=102</guid>
    </item>
    <item>
      <title>ANH HÙNG NGUYỄN THANH TÙNG</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=67</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassE3E5E7C26E5C4C7AB627019A5F4E8375>
<div class=ExternalClass9D8B0E92705A4FE290CA4F3B68972B7C>
<div class=ExternalClassC2D2B5053CA24D5E900D242762109467>
<div><span style="color:#666666">
<p style="text-align:center"><img alt="" align=left src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0915_ANHHNGNGUYN1.jpg"></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="display:none" id=1277284571347S> </span><span style="display:none" id=1277284631160S> </span>Anh hùng Nguyễn Thanh Tùng sinh năm 1933, dân tộc Kinh, quê ở xã Hảo Đước, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung tá, chỉ huy phó Đoàn đặc công 429, Quân khu 7. </p></span></div>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Từ năm 1961 đến tháng 4 năm 1975, Nguyễn Thanh Tùng liên tục chiến đấu ở chiến trờng Nam Bộ. Đồng chí đã chỉ huy đơn vị diệt hàng ngàn tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh khác. Đặc biệt, đêm 15 tháng 5 năm 1969, Nguyễn Thanh Tùng trực tiếp chỉ huy 1 tiểu đoàn đặc công tiến công mãnh liệt căn cứ Tếch-ních, diệt và làm bị thương 800 tên Mỹ, 2 sở chỉ huy lữ đoàn, phá hủy, phá hỏng 22 khẩu pháo, 96 xe quân sự (có 43 xe tăng), 8 kho vũ khí, quân trang, quân dụng. Chưa đầy một tháng sau đó, Nguyễn Thanh Tùng lại chỉ huy đơn vị đánh căn cứ Tếch-ních lần thứ hai, diệt và làm bị thương 500 tên Mỹ, phá hủy 10 máy bay, 6 khẩu pháo, 41 xe quân sự (có 21 xe tăng), 35 lô cốt, 92 nhà lính, hơn 100 hầm ngầm, 3 kho đạn. Tháng 11 năm 1971, đồng chí chỉ huy 2 tiểu đoàn đặc công đánh thiệt hại nặng căn cứ Trảng Lớn do 1 trung đoàn địch đóng giữ. Năm 1972, Nguyễn Thanh Tùng chỉ huy đơn vị đánh 3 trận xuất sắc, thu nhiều hiệu quả: diệt 240 tên địch, phá hủy 6 khu thông tin tại trận đánh căn cứ Bà Dơn; trận đánh tổng kho Long Bình, đốt cháy và phá hủy 15.000 tấn bom, đạn; trận đánh sân bay Biên Hòa, phá hủy 90 máy bay. Trong Tổng tiến công, nổi dậy mùa Xuân 1975, Nguyễn Thanh Tùng chỉ huy đơn vị đánh chiếm căn cứ ra-đa Phú Lâm và chi khu Tân Trào hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. </span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:10pt"><span style="font-family:Arial">Đồng chí được tặng thưởng 5 Huân chương Chiến công giải phóng, 3 lần là Dũng sĩ. Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Nguyễn Thanh Tùng được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.</span><span style="font-family:Times New Roman"> </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:10pt">       Theo dongnai-industry.gov.vn </span><span style="display:none" id=1277284571630E> </span><span style="display:none" id=1277284631768E> </span></p></div></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 23/06/2010 1:40 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.795</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 18:43:37 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=67</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp: vấn đề cần được quan tâm</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=74</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass52ED767D75F04BA8BE7DF754060935DF>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><img alt="" align=right src="/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2010-6/ViewImage1.jpg">Hầu hết các KCN Đồng Nai là những KCN đa ngành, với những ngành nghề thu hút đầu tư như: sản xuất linh kiện điện tử, cơ khí, chế tạo máy, lắp ráp ô tô, may mặc, vải, sợi, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến thực phẩm, hóa mỹ phẩm, nhựa, hóa chất, phân bón, vật liệu xây dựng, sản xuất giấy, chế biến gỗ… Có hàng trăm nhà máy như vậy, hàng ngày dù ít dù nhiều đều thải ra một lượng bụi, khí thải, chất lỏng và chất rắn gây suy thoái và ô nhiễm môi trường.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Theo số liệu thống kê của Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai, hiện nay lưu lượng xả thải trung bình tại các KCN Đồng Nai ước tính trên 60.000 m3/ngày. Trong số 19 KCN đi vào hoạt động, hiện chỉ có 9 KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Trong số đó, có 7 hệ thống xử lý nước thải tập trung đang hoạt động xử lý nước thải cho 8 KCN và 2 hệ thống đang trong quá trình lắp đặt máy móc, vận hành thử. Các KCN còn lại đều chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, các doanh nghiệp trong những KCN này phải tự xử lý nước thải phát sinh đạt tiêu chuẩn quy định trước khi thải vào nguồn tiếp nhận. Qua thống kê kết quả kiểm tra chất lượng của Sở Tài nguyên Môi trường tại các KCN cho thấy: chất lượng nước thải của các KCN vượt tiêu chuẩn cho phép phổ biến ở các chỉ tiêu là: Coliform, COD, BOD5, chất rắn lơ lửng (SS), phenol, độ màu và các dạng ô nhiễm khác: pH, Phospho tổng, Amoni, Fe tổng, Ni, Xianua… Tại các KCN có nhà máy xử lý nước thải tập trung: Amata, Loteco, Nhơn Trạch I, Tam Phước, Long Thành chất lượng nước thải sau xử lý tuy có nhiều cải thiện nhưng chưa ổn định. Tại các KCN chưa có nhà máy xử lý nước thải tập trung như KCN Hố Nai, Sông Mây, Nhơn Trạch II, Nhơn Trạch III phần lớn các doanh nghiệp đều xử lý nước thải không đạt tiêu chuẩn quy định. Đối với các KCN Nhơn Trạch, Hố Nai việc tách riêng tuyến thoát nước mưa và nước thải tại các doanh nghiệp tuy có thực hiện nhưng chưa triệt để. Nhìn chung vấn đề ô nhiễm nước thải công nghiệp từ các KCN đang diễn ra rất phức tạp, đa số các KCN mặc dù đã đi vào hoạt động nhưng vẫn chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, nước thải chảy ra nguồn tiếp nhận hầu hết không đạt tiêu chuẩn cho phép làm ảnh hưởng đến môi trường khu vực.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Bên cạnh nguồn nước xả thải, tại các KCN khối lượng chất thải rắn phát sinh cũng khá nhiều, chất thải rắn công nghiệp không nguy hại khoảng 140.000 tấn/năm, chất thải rắn công nghiệp nguy hại khoảng 20.000 tấn/năm. Với việc xử lý chất thải rắn công nghiệp không nguy hại, phần lớn được Công ty dịch vụ môi trường đô thị Biên Hòa thu gom, vận chuyển và xử lý tại bãi rác Trảng Dài. Chất thải rắn công nghiệp không nguy hại có khả năng tái sinh giao cho các đơn vị tư nhân, có khoảng 56 doanh nghiệp kinh doanh phế liệu trong và ngoài tỉnh. Đối với việc xử lý chất thải rắn nguy hại rất đa dạng và phức tạp. Việc thu gom xử lý loại chất thải này tại các KCN của tỉnh mới chỉ có 2 cơ sở có chức năng là Công ty dịch vụ môi trường Sonadezi trực thuộc Công ty Phát triển KCN Biên Hòa (Sonadezi) và Doanh nghiệp tư nhân Tân Phát Tài. Bên cạnh đó, một số doanh nghiêp có phát thải chất thải nguy hại tự đầu tư xây dựng hệ thống xử lý, biện pháp xử lý chủ yếu tại các doanh nghiệp này là đốt trong lò đốt nhiệt cao.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Tính đến 6 tháng đầu năm 2007, tổng số hồ sơ đăng ký chất thải nguy hại (CTNH) khoảng 500 hồ sơ, trong đó đã cấp Sổ đăng ký CTNH cho 262 doanh nghiệp. Ý thức của doanh nghiệp KCN đối với việc xử lý chất thải rắn công nghiệp, đặc biệt là CTNH ngày càng tăng cao. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số doanh nghiệp chưa có ý thức trong hoạt động bảo vệ môi trường, chưa thu gom, xử lý nước thải công nghiệp, khí thải đạt tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường cho phép trước khi thải vào nguồn tiếp nhận. Qua điều tra, khảo sát trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có khoảng 15 cơ sở sản xuất hóa chất gây ô nhiễm môi trường hoặc vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường tập trung chủ yếu tại địa bàn huyện Long Thành, Nhơn trạch. Hầu hết các cơ sở sản xuất hóa chất nêu trên chưa thực hiện việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý khí thải, nước thải công nghiệp hoặc đã đầu tư nhưng hiệu quả các công trình xử lý chưa đảm bảo dẫn đến chất lượng khí thải, nước thải chưa đạt tiêu chuẩn Việt Nam cho phép, còn hạn chế về nhân lực lẫn thiết bị.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Đồng Nai là một tỉnh công nghiệp, thu hút ngày càng nhiều các dự án đầu tư nước ngoài đi vào hoạt động, bởi vậy số lượng chất thải nguy hại phát sinh sẽ gia tăng theo số lượng dự án. Điều này đặt ra trách nhiệm đối với các doanh nghiệp khi đầu tư dự án phải xem xét đến yếu tố môi trường và trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải xem xét các tác động môi trường của dự án, cần có chiến lược phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ và phát triển môi trường bền vững, hiệu quả.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Lê Lan</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Theo nguồn dongnai.gov.vn<br></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/12/2007 12:00 CH</div>
<div><b>ItemImg:</b> <a href="http://www.thuviendongnai.gov.vn/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2010-6/ViewImage1.jpg">http://phamngocthach/_layouts/LacVietBIO/fckUpload/2010-6/ViewImage1.jpg</a></div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Theo quy hoạch đến năm 2010, tỉnh Đồng Nai có 34 khu công nghiệp (KCN) với tổng diện tích 10.704 ha. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 24 KCN với diện tích 6.496 ha, thu hút 927 dự án đầu tư của 30 quốc gia. Trong đó, có 19 KCN và 686 dự án đi vào hoạt động, thu hút khoảng 290 ngàn lao động. Tốc độ hình thành các KCN và thu hút vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh phát triển nhanh, nhưng kéo theo đó là những tác động xấu ảnh hưởng tới môi trường.</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.698</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 19:06:39 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=74</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Thác Ba Giọt</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=104</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass2D370902190F4DD0A19F494280A9D255>
<div style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><font color="#666666"><strong>Thác Ba Giọt thuộc địa phận xã Phú Hòa, huyện Ðinh Quán, tỉnh Ðồng Nai, cách TPHCM khoảng 130 km. Theo Quốc lộ 20 TPHCM - Ðà Lạt, vừa qua cầu La Ngà đến km 107, các bạn sẽ gặp một đường lớn bên trái. Ðường này dẫn đến một bến phà nhỏ. Qua phà, quẹo phải, hỏi thăm đường vào thác sẽ được chỉ dẫn đến tận nơi. Ðường &quot;du lịch&quot; đến thác khá khó đi, khách phải gởi xe, rồi vượt một đoạn đường bộ lau sậy um tùm, lội qua một dòng suối nước ngập tới đầu gối, rồi vượt qua vài con dốc.</strong></font> </span></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small">﻿ </span></span></div>
<div><font size=2>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Khi vừa thấm mệt và có ý muốn quay về thì thác sẽ đột ngột hiện ra bất ngờ, như một phép lạ làm tan biến mọi nỗi mệt nhọc. Thác có tên là Thác Ba Giọt, vì đổ xuống theo ba dòng nước. Nhìn từ xa ba dòng chảy quả có dáng dấp của ba giọt nước. Ðây là một thác lớn có thể so sánh tầm cỡ với những thác ở Ðà Lạt. Nhưng thác không làm du khách có cảm giác mình đang ở Ðà Lạt mà lại làm du khách liên tưởng tới... Vũng Tàu. Với bờ cát thoai thoải, nhìn những con sóng bạc đầu xô vào bờ từ dòng nước chảy mạnh, có lúc chúng tôi nghĩ là nước thác sẽ... mặn! </span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Quanh thác và đặc biệt ngay giữa dòng nước có nhiều khóm hoa cao quá đầu người. Hoa đủ màu lung linh trên mặt nước bạc. Thác không có nhà dân, chỉ có vài túp lều của người đánh cá. Các bạn có thể mượn lưới và học cách đánh cá của những thanh niên chất phác ở đây. Người dân địa phương cũng có nói với chúng tôi rằng đi ngược dòng chảy không quá xa sẽ còn nhiều con thác nữa...</span></span></span></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%"><span style="font-family:Arial"><span style="font-size:x-small"><span style="line-height:150%">Nguồn tin: Báo NLĐ</span></span></span></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Danh thắng Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 3:45 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.486</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Danh thắng Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 08:50:06 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=104</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Mộ và đền thờ Đoàn Văn Cự</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=93</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass44A0169BB21649EB8A61B3029BEA8265>
<div><b><font color="#666666" size=2>Đây là di tích lịch sử danh nhân có giá trị ở Đồng Nai, gồm hai phần: mộ và đền thờ. Phần mộ là nơi an táng Đoàn Văn Cự, thủ lĩnh hội kín Thiên Địa hội ở Biên Hoà và 16 nghĩa binh tử vong trong trận tấn công của Pháp vào bưng Kiệu năm 1905. Đây cũng là nơi mà lúc sinh tiền Đoàn Văn Cự xây dựng căn cứ kháng chiến. Mộ tọa lạc trên khu bình địa tổng kho Long Bình, phường Long Bình, cách trung tâm thành phố Biên Hoà 8km đường chim bay. Nguyên thủy chỉ là nấm mồ chôn cất đơn sơ, năm 1956 và 1990 được nhân dân trùng tu lại theo lối xây cất mới. Mộ hình chữ nhật, dài 16,5m; rộng 2m; cao 0,5-0,75m. Phía sau là ngôi miếu nhỏ thờ hương hồn Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh, bài trí đơn giản. Khu mộ được bảo vệ bởi hai vòng rào bằng gạch, có cổng ra vào. Gần như bao quanh khu mộ là dòng Linh Tuyền, tiếng nước róc rách suốt ngày đêm đưa hồn các tử sĩ vào cõi vĩnh hằng. </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div>Tại phường Tam Hiệp, trên Quốc lộ 15, một ngôi đình cũng được xây cất từ năm 1956 làm chỗ thờ Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh, cách phần mộ khoảng 1km về hướng đông bắc 64 độ. Đền tọa lạc trên khu đất bằng phẳng, rộng 3.000m<sup>2</sup>, kiến trúc theo kiểu chữ tam (三), gồm hai phần chính: nhà võ ca và chánh điện.</div>
<div>Nhà võ ca chiếm diện tích 303,75m<sup>2</sup>, đối diện với đền thờ chính. Bên trong có sân khấu nhỏ dùng để hát bội trong những dịp lễ đền. Mặt sân khấu đối diện với chánh điện.</div>
<div>Trước khi vào chánh điện phải qua nhà bái. Đây là nơi khách thập phương ra vào hành lễ, diện tích 75,465m<sup>2</sup>, mái lợp ngói móc, nền cao 0,5m xây bằng đá ong lót gạch bông, được chia làm ba gian, mỗi gian đều có bàn hương án. Trước đền có cặp lý ngư hoá long chầu mặt trời, biểu tượng cuốn thư cây giáo, hai bên là hai con rồng bằng gốm men xanh.</div>
<div>Nối tiếp nhà bái là chánh điện, diện tích 129,87m<sup>2</sup> gồm bốn mái lợp ngói móc, trên nóc có cặp rồng chầu pháp lam, chia thành ba gian bởi những hàng cột gỗ sao, trên cột đều có liễn đối. Gian chính giữa thờ thần, bàn hương án bằng gỗ khắc chạm rồng chầu mặt trời, chim muông... được sơn son thếp vàng, hai bên là hàng bát bửu. Hai gian bên thờ tả hữu ban liệt vị. Dọc mặt tường tả hữu thờ Tiền hiền, Bạch mã, Tiên sư, Thổ công.</div>
<div>Phía sau chánh điện là nhà khách và nhà bếp. Nơi đây dùng để tiếp khách và nấu ăn trong những ngày lễ trọng.</div>
<div>Đáo lệ hàng năm, đến ngày 8 tháng 4 âm lịch, nhân dân địa phương thiết lễ giỗ bằng một độ tế rất long trọng, tưởng nhớ hùng khí của Đoàn Văn Cự và 16 tử sĩ vì đại cuộc xả thân.</div>
<div>Đoàn Văn Cự lãnh đạo hội kín <i>Thiên Địa hội</i> ở Biên Hoà, một tổ chức yêu nước chống ách thống trị của thực dân Pháp. Ông đã quy tụ được đông đảo lực lượng nghĩa quân tiến hành cuộc kháng chiến thời kỳ trước khi Đảng Cộng Sản ra đời. Tuy bị thực dân Pháp nhanh chóng dập tắt nhưng hoạt động của ông đã có ảnh hưởng sâu rộng ở vùng miền Đông Nam bộ trong những thập niên đầu thế kỷ XX.</div>
<div><i>Thiên Địa hội</i> vốn là một tổ chức vừa có tính chất tương tế, vừa có tính chất chính trị của nông dân Trung Quốc, được hình thành từ sau khi nhà Minh bị nhà Thanh lật đổ, khẩu hiệu chính trị là “Bài Mãn phục Minh”.</div>
<div>Cuối thế kỷ XX, tổ chức <i>Thiên Địa hội</i> hoạt động khá mạnh ở thành thị và nông thôn Nam kỳ lục tỉnh, nhờ vào việc phát triển thương mại. Bấy giờ Nam kỳ có nhiều hội yêu nước của nhân dân rất bí mật, báo chí gọi là “hội kín”, về sau gọi là <i>Thiên Địa hội</i>. Thật ra, các hội đó không mang một tên thống nhất nào, mà có nhiều tên gọi khác nhau. Hội hoạt động riêng lẻ, liên lạc ngang với nhau, khi có điều kiện thì kết hợp thành hệ thống dọc như một lực lượng yêu nước mạnh mẽ. Mục đích là đánh đuổi ngoại bang, giành độc lập, thiết lập chế độ quân chủ, khẩu hiệu đấu tranh là “Bài Pháp phục Nam”. Hình thức đấu tranh là bạo động. Các tổ chức này còn chịu ảnh hưởng sâu của hệ tư tưởng và đạo đức phong kiến pha màu thần bí.</div>
<div>Vốn giàu lòng yêu nước, nhân dân Nam kỳ lục tỉnh đã nhanh chóng biến hội kín thành hình thức hoạt động khá phổ biến để đấu tranh quyết liệt với giặc vào cuối thế kỷ XIX đầu những thập niên thế kỷ XX.</div>
<div>Trong tình hình chung của phong trào Nam bộ lúc bấy giờ, nhân dân Biên Hoà hưởng ứng nhiệt thành phong trào chống Pháp của <i>Thiên Địa hội</i>, mở đầu là tổ chức hội kín của Đoàn Văn Cự tại vùng bưng Kiệu, thôn Vĩnh Cửu.</div>
<div>Đoàn Văn Cự sinh năm 1835 tại làng Bình An, huyện Bình An, tỉnh Biên Hoà (nay là quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) trong gia đình nho học yêu nước. Bị Pháp và bọn tay chân theo dõi, ông lánh giặc đến tá ngụ ở bưng Kiệu, thôn Vĩnh Cửu (nay là phường Long Bình, thành phố Biên Hoà) mưu đồ đại sự. Ngụy trang dưới nghề dạy học, cắt thuốc kiêm coi bói, ông ngấm ngầm tập hợp lực lượng, tích trữ vũ khí, lương thảo. Đội ngũ chống Pháp của ông rải khắp cả miền Đông Nam kỳ, đông nhất là Chợ Đồn, Chợ Chiếu (Cù Lao Phố), Bình Đa, Vĩnh Cửu đến núi Nứa (Bà Rịa). Lực lượng ngày càng hùng hậu, hoạt động của ông dần đến chỗ công khai nơi bưng rừng khuất tịch. Tất nhiên không tránh khỏi sự dòm ngó, theo dõi của chính quyền thực dân.</div>
<div>Để ngăn chặn ảnh hưởng và dập tắt phong trào ngay từ trong trứng nước, sáng ngày 12 - 4 -1905 (dương lịch), một tiểu đội lính mã tà do tên sen đầm chỉ huy kéo xuống bao vây căn cứ bưng Kiệu. Đoàn Văn Cự bố trí nghĩa quân do các tướng Hoàng Mè, Hoàng Giáp chỉ huy chuẩn bị đón đánh giặc. Phục binh cả ngày mà không thấy giặc động tĩnh, đến chiều tối, ông ra lệnh cho nghĩa quân về ăn cơm. Đúng lúc không còn quân canh phòng, giặc Pháp rầm rộ kéo đến, một toán quân khá đông bao vây nhà ông. Tên quan ba cùng tốp lính vượt suối Linh tiến vào. Đến ngưỡng cửa, chúng gặp ông trong bộ chiến phục oai nghi: đầu chít khăn lụa điều, mình buộc thắt lưng màu hồng, giắt đoản đao đầu hổ. Thấy địch, ông vung đao chém tên quan ba Pháp bị thương. Hắn rút súng bắn lại, Đoàn Văn Cự trúng đạn hy sinh trước bàn thờ Tổ. Lúc bấy giờ, đã bảy mươi tuổi mà tướng mạo ông hãy còn phương phi, nằm chết trên vũng máu với vẻ hiên ngang của một trang võ tướng.</div>
<div>Pháp xả súng vào căn cứ nghĩa quân, đốt phá lương thực. Thêm 16 người bị trúng đạn chết trong cơn tán loạn. Hôm sau, dân làng an táng 17 liệt sĩ vào ngôi mộ chung.</div>
<div>Mộ và đền thờ Đoàn Văn Cự đã được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 722/QĐ - BVHTT, ngày 25 - 4 - 1998.</div>
<div>Dẫu thời gian đã trôi qua, tấm gương can liệt của Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa sĩ vẫn sáng mãi với khí thiêng sông núi, góp phần làm rạng rỡ “hào khí Đồng Nai”. Họ mất đi mà anh linh vẫn còn phảng phất trong tâm trí của người dân Biên Hoà nặng lòng hoài cổ.</div>
<div align=right><b>Nguyễn Tuyết Hồng</b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:20 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.233</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:24:34 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=93</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Hưởng ứng Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2007: Ô nhiễm từ những làng nghề</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=60</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass6CD56ED0698941EA9946CD27C8EF42ED>
<div class=ExternalClass50C172F74D5A4BC89F3F80FB6A9A6C5D>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#666666;font-size:10pt"><strong>Làng nghề là một &quot;khu công nghiệp&quot; thu nhỏ, nơi tập trung chủ yếu các nghề truyền thống với những hộ sản xuất thủ công, ít vốn. Giữ và phát triển kinh tế làng nghề cũng là giữ lại sản phẩm truyền thống, giữ được sự đa dạng thành phần của nền kinh tế, hạn chế tình trạng lao động nông thôn đổ về thành phố tìm việc. Song, cách sản xuất thủ công, lạc hậu theo kiểu &quot;gia đình&quot;, môi trường làng nghề đã và đang là mối nguy cho sự phát triển bền vững.</strong></span><span style="font-size:9pt"> </span></span></p>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">﻿ </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">* Công nghệ lạc hậu + ít vốn = ô nhiễm<img alt="" align=right src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0854_HngngChin1.png"></span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">              Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện có khoảng 20 làng nghề với 1.793 cơ sở  sản xuất, tập trung khoảng 18.000 lao động trực tiếp. Tuy nhiên, do việc phát triển của các làng nghề gần như thiếu quan tâm đến bảo vệ môi trường đã kéo theo tình trạng ô nhiễm ngày một tăng. Ở làng cá bè La Ngà (huyện Định Quán), mặc dù UBND tỉnh đã có quyết định di dời và hạn chế số bè cá nuôi trên sông, đồng thời cấm các hộ dân nuôi cá sinh sống trên bè, nhưng hiện nay vẫn còn hàng trăm bè cá đang được nuôi (cả được phép lẫn trái phép) trên sông. Tình trạng này đang làm nước sông La Ngà ô nhiễm nặng bởi thức ăn thừa của cá, dư lượng thuốc kháng sinh cho cá, dầu mỡ từ các phương tiện thuyền, ghe đi lại và chất thải sinh hoạt của các hộ nuôi bè. Hàng năm tình trạng cá ở những làng bè chết hàng loạt do nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề, một phần do chính hoạt động của nuôi thả gây ra.</span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Còn làng nghề sản xuất tinh bột từ củ mì ở Bình Minh (huyện Trảng Bom) cũng đang làm &quot;chết dần&quot; những con suối và giếng nước sinh hoạt của dân trong vùng. Nghề này có mặt hơn 50 năm qua và tạo sự ổn định cho nhiều hộ dân, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động tại chỗ. Nhưng bên cạnh sự phát triển về kinh tế làng xã, nơi đây đang phải đối mặt với sự ô nhiễm từ rác thải và nước thải. Theo khảo sát của Trung tâm nghiên cứu ứng dụng công nghệ và quản lý môi trường TP.Hồ Chí Minh (CENTEMA) về môi trường làng nghề ở Đồng Nai, mỗi ngày hoạt động sản xuất tinh bột ở đây thải trực tiếp ra môi trường khoảng 1.400m3 nước thải. Trong nước thải này có nhiều chất hữu cơ và men tinh bột thất thoát... tạo ra trong lòng suối, các dòng chảy nhỏ một thứ bùn rất hôi thối. Điều đáng nói, loại bùn này chính là điều kiện tốt cho tảo độc phát triển, gây ảnh hưởng không chỉ đến con người, mà còn đe dọa nhiều nhóm sinh vật hữu ích khác. Chưa kể mỗi ngày làng nghề này còn hàng vài chục tấn bã và vỏ mì không được thu gom kịp thời, bị phân hủy càng làm cho môi trường hôi thối  nhiều hơn. Cùng với sản xuất tinh bột mì, các làng nghề sản xuất miến, bún tươi, bánh phở, đường... có nguồn liệu chính là mía, mì, bắp, gạo như: làng nghề đường tán ở Tân Triều, Bình Lợi (huyện Vĩnh Cửu), miến dong, hủ tíu ở phường Tân Biên và Hố Nai (TP. Biên Hòa)... cũng thải ra môi trường khối lượng nước thải và rác thải không nhỏ. </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Ở làng nghề đúc gang, đồng xã Thạnh Phú (huyện Vĩnh Cửu), dù công cụ được cải tiến, lò nấu đã nâng cấp thay cho bễ thủ công, nhưng với mặt bằng nhỏ hẹp của sản xuất gia đình, môi trường xung quanh vẫn bị ảnh hưởng nặng nề bởi khí thải CO2, SO2 và kim loại nặng. Làng nghề dệt vải, thổ cẩm ở Tà Lài (huyện Tân Phú), dệt lưới mùng ở Tân Mai... chủ yếu vẫn dùng công nghệ dệt thủ công nên bụi vải phát tán nhiều, tiếng ồn từ máy dệt cũ gây ồn lớn. Trong quá trình tẩy, nhuộm thường sử dụng các chất bột tạp, xút, a-xit, hóa chất tẩy rửa... xả ra nước thải độc hại và hoàn toàn không được xử lý. Hay ở phố gò thùng phường Hố Nai, hoạt động không chỉ gây tiếng ồn lớn mà trong quá trình hàn chì và sơn, phủ hóa chất cũng tạo ra khí độc, bụi sơn ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của chính dân làm nghề và cộng đồng xung quanh.</span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Tại lớp tập huấn nâng cao nhận thức BVMT và phát triển bền vững ở khu vực HTX và làng nghề 6 tỉnh phía Nam tổ chức tại Đồng Nai ngày 6-9 vừa qua, ông Nguyễn Văn Thanh, Tổng giám đốc Trung tâm KHCN và MT (thuộc Liên minh các HTX và làng nghề Việt Nam) cho biết: &quot;Có thể nói ở làng nghề, công nghệ sản xuất lạc hậu là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường. Phần lớn các làng nghề hiện nay mang tính truyền thống, hệ thống thiết bị cũ kỹ và không đồng bộ, các hộ gia đình làm chủ, thuê lao động tại chỗ và ít vốn nên không đầu tư cho xử lý môi trường... Chính vì vậy, môi trường làng nghề trong cả nước đang rất báo động&quot;. Theo ông Thanh, hiện nay tốc độ cải tiến công nghệ ở các làng nghề còn rất chậm; một số chính sách khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ, qui hoạch sản xuất tập trung, áp dụng sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng... chưa tới được người dân. Hơn nữa, việc đầu tư cho công nghệ xử lý môi trường chưa được người dân quan tâm vì phải bỏ nhiều vốn đầu tư xây dựng, vận hành, trong khi họ cần vốn cho mở rộng sản xuất hơn; mặt khác, có những làng nghề mang đậm tính &quot;cha truyền con nối&quot;, rất khó khăn cho việc cải tiến, áp dụng công nghệ mới.</span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">* Hướng đi nào cho môi trường làng nghề? </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Chủ trương của Nhà nước vẫn khuyến khích phát triển các làng nghề truyền thống, tiếp tục duy trì kinh tế làng xã. Bởi đó không chỉ đem lại công ăn việc làm cho người lao động, tạo cơ hội làm giàu chính đáng cho nhiều hộ dân mà thời gian gần đây, nền kinh tế phát triển đã kéo theo quy mô sản xuất của các làng nghề phát triển và  được mở rộng, tạo ra một lượng lớn hàng hóa và sản phẩm đa dạng, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống của người dân vùng nông thôn, góp phần đáng kể vào công cuộc xóa đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn. Bên cạnh đó, nhiều làng nghề còn sử dụng các nguyên liệu thừa, phế phẩm từ những KCN tập trung thải ra, góp phần vừa giảm được lượng chất thải phải xử lý, vừa tiết kiệm được tài nguyên, tăng thêm nguồn nguyên liệu cho sản xuất. Song, để làng nghề vừa là nơi phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp, vừa bảo đảm được môi trường trong lành, cần phải có sự vận động trong nhận thức từ chính những hộ trực tiếp tham gia sản xuất với sự tăng cường trách nhiệm của ngành chức năng.</span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Theo nhận định của Sở Tài nguyên và môi trường (TN-MT), do làng nghề của Đồng Nai phân tán, nơi sinh sống cũng đồng thời là nơi sản xuất của những hộ ít vốn, cho nên việc di dời, quản lý và sắp xếp các làng nghề thành cụm, tiểu khu công nghiệp là rất khó. Mặc dù thời gian qua, Đồng Nai đã có nhiều chuyển biến đáng kể trong việc hạn chế ô nhiễm từ những làng nghề như di dời các lò gạch, trại chăn nuôi heo ra khỏi TP. Biên Hòa, hạn chế các hộ nuôi cá bè trên hồ Trị An và sông La Ngà hay cưỡng chế giải tỏa các hộ làng nghề hầm than ở xã Xuân Hiệp... nhưng đó mới chỉ là những biện pháp cơ học, còn thực tế các nguồn ô nhiễm phát sinh từ làng nghề vẫn đang tồn tại và chuyển từ địa bàn này sang địa bàn khác. </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Báo động về ô nhiễm môi trường từ những làng nghề không phải để &quot;xóa sổ&quot; nó, nhưng là tìm những biện pháp tốt nhất để làng nghề phát triển trong môi trường bền vững. Bởi lâu nay, đối với Đồng Nai, bên cạnh sự phát triển những khu công nghiệp lớn, làng nghề cũng giữ một vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế, ảnh hưởng đến đời sống văn hóa, xã hội của cộng đồng...</span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">Hiện nay, vấn đề cải thiện chất lượng môi trường làng nghề khó khăn nhất vẫn là kinh phí. Bản thân các hộ sản xuất ở làng nghề là sản xuất nhỏ, ít vốn nên thật khó để kêu gọi những hộ dân này bỏ tiền đầu tư công nghệ mới, hiện đại hoặc xây dựng hệ thống xử lý khí thải, nước thải, mà việc quản lý tập trung theo kiểu cụm hoặc tiểu khu công nghiệp cũng không dễ vì các làng nghề, các hộ sản xuất ở phân tán, sử dụng nguồn liệu và lao động tại chỗ... không thể gom lại một nơi để tiện quản lý. Song, khó không có nghĩa là bỏ mặc. Một mặt, ngành chức năng tăng cường trách nhiệm kiểm tra, xử phạt những cơ sở gây ô nhiễm theo Luật BVMT; mặt khác, cần hướng dẫn những làng nghề, những cơ sở, doanh nghiệp vừa và nhỏ đến với sự hỗ trợ của Nhà nước về vốn vay lãi suất ưu đãi để chuyển đổi công nghệ, khắc phục ô nhiễm môi trường. </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">                                                                                   P.L</span> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:38pt"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"><span style="color:black">                                                            Theo baodongnai.com.vn</span> </span></p></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/12/2007 11:20 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.417</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 18:24:01 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=60</guid>
    </item>
    <item>
      <title>ANH HÙNG NGUYỄN QUYẾT CHIẾN</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=61</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass455EAA9C189643C6B02D061703C26106>
<div class=ExternalClass6475AE421C1C434E952CC936193E8B94>
<div class=ExternalClass78F4E5B0FED34627B9D93F2DC0B9E8E2>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#666666;font-size:10pt">Anh hùng Nguyễn Quyết Chiến sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Phú Hữu, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, xã đội trưởng xã Phú Hữu. Năm 1965 Nguyễn Quyết Chiến vào du kích, đã đánh và chỉ huy du kích đánh trên 100 trận, diệt hàng trăm tên địch, thu trên 20 súng các loại. </span></span><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">﻿ </span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:navy"> </span></span><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Ngày 5 tháng 6 năm 1967, Nguyễn Quyết Chiến bám sát theo dõi chặt chẽ hoạt động của 1 đại đội Mỹ càn vào xã, ban đêm anh bò vào đặt mìn giữa đội hình trú quân của địch, thấy địch sơ hở, anh lấy 8 khẩu súng chuyển ra ngoài xong quay lại điểm hỏa mìn, diệt 1 trung đội Mỹ. Ngày 18 tháng 12 năm 1967, Nguyễn Quyết Chiến bí mật đột nhập nơi địch đóng quân dã ngoại, sau khi lấy được 4 khẩu súng chuyển ra ngoài thì bỗng nhiên địch sục sạo xung quanh, anh bình tĩnh, táo bạo, mưu trí vào hẳn bên trong trà trộn nằm cạnh địch vờ ngủ, chờ yên tĩnh mới đánh mìn diệt 20 tên địch. Trận ngày 20 tháng 8 năm 1968, Nguyễn Quyết Chiến chỉ huy 1 tổ du kích tập kích địch đang trú quân trong xã. Sau khi bố trí mìn xong, thấy thời gian còn thuận lợi. Chiến xung phong vào lấy khẩu đại liên của địch, dặn lại nếu bị lộ thì anh em cứ điểm hỏa mìn, còn anh tìm cách đánh địch. Kết quả, vẫn lấy được khẩu đại liên, vẫn nổ mìn diệt 40 tên Mỹ, ta an toàn. Nguyễn Quyết Chiến luôn chăm lo xây dựng đội du kích lớn mạnh, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị, luôn chủ động, tích cực phục vụ cho các đơn vị chủ lực vào đánh các căn cứ quân sự của Mỹ ngụy, tạo địa bàn vững chắc cho bộ đội hoạt động ở phía đông thành phố Sài Gòn. </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Đồng chí đã được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 1 hạng ba). Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Nguyễn Quyết Chiến được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="color:#000000"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">Theo dongnai-industry.gov.vn </span></span></p></div></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 23/06/2010 1:20 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.864</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 18:24:27 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=61</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Chiến khu Đ – vùng đất huyền thoại lịch sử</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=14</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass8FA9E0DDBBFF46F8BE20067EFE71380E>
<div><b><font color="#666666" size=2>Mảnh đất “lam sơn trướng khí hội tụ anh hùng”</font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Qua hết con đường nhựa, xe chạy dọc con đường đất đỏ quanh co đưa chúng tôi đến với căn cứ Khu uỷ miền Đông (là một trong những căn cứ nằm trong căn cứ địa chiến khu Đ). Đọc cuốn tài liệu “Di tích lịch sử Căn cứ khu uỷ miền Đông Nam Bộ (chiến khu Đ)” mà chị Lan Hương, tổ trưởng tổ thuyết minh khu di tích đưa cho và nghe chị hướng dẫn, được xem những thước phim tư liệu của một thời hùng tráng nơi đây, chúng tôi cùng bồi hồi trong niềm tự hào xúc động hình dung về lịch sử cách đây 60 năm.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Từng là căn cứ đầu tiên của tỉnh Biên Hòa được xây dựng vào tháng 2-1946, sau Hội nghị cán bộ quân sự ở Lạc An, huyện Tân Uyên (nay là xã Lạc An, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) với địa thế hiểm trở của phần đất cuối cùng chuyển tiếp của dãy Trường Sơn xuống vùng đồng bằng, chiến khu Đ chính thức trở thành trung tâm lãnh đạo phong trào cách mạng miền Nam và được mở rộng bao trùm toàn bộ vùng rừng ngang đường 16, trải dọc lưu vực hữu ngạn sông Đồng Nai, đổ về thượng nguồn giáp giới Sông Bé. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp các cơ quan, đơn vị ta tại Chiến khu Đ đã vượt qua nhiều khó khăn: nào thiên tai (đặc biệt là cơn bão lụt khốc liệt năm Nhâm Thìn 1952), nào địch họa do càn quét, đánh phá bằng bom đạn, phá hoại kinh tế, gài do thám chỉ điểm, biệt kích... đã giữ vững căn cứ địa cách mạng, đóng vai trò hậu phương tại chỗ của miền Đông, là bàn đạp để lực lượng ta tiến công vào các cơ quan đầu não, căn cứ quân sự, kho tàng, đường giao thông chiến lược của địch, góp phần vào thắng lợi chung của quân dân cả nước, đưa đến việc ký Hiệp định Giơnevơ năm 1954.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại, vùng chiến khu Đ tiếp tục được mở rộng bao gồm toàn bộ cao nguyên miền Trung và biên giới Campuchia, được coi là vùng “tam giác sắt” nối liền từ chiến khu rừng Sác, Dầu Tiếng, Xuyên Mộc, Phước Cơ đến căn cứ Củ Tri, Bến Cát và được coi là thủ đô kháng chiến của dân tộc với nhiệm vụ chính của mình là trung tâm tâm lãnh đạo cách mạng miền Nam, là nơi xây dựng các binh đoàn chủ lực, đào tạo, huấn luyện cán bộ, chiến sĩ. Trong lòng chiến khu cách mạng ngày càng mở rộng, nhiều căn cứ được hình thành và phục vụ đắc lực cho phong trào cách mạng miền Đông Nam Bộ. Căn cứ khu uỷ miền Đông Nam Bộ, nơi chúng tôi đang đứng chân nơi đây được xây dựng vào năm 1962, thuộc địa phận phân trường 6, Lâm trường Hiếu Liêm, xã Trị An, huyện Vĩnh Cửu để đảm nhận nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng trên địa bàn khu. Căn cứ địa toạ lạc giữa đỉnh đồi đất sỏi khá bằng phẳng với diện tích hơn 28ha. Toàn bộ khu đồi được bao phủ bởi rừng cây dày đặc trong hệ thống rừng miền Đông với hệ thống giao thông hào, hệ thống địa đạo liên hoàn và hệ thống nơi làm việc, trú ẩn của lãnh đạo Khu uỷ và các cơ quan trực thuộc. Tại khu căn cứ này, Khu uỷ miền Đông đã đứng chân trong suốt thời gian dài lãnh đạo cách mạng (1962-1967), góp phần làm nên những chiến thắng Phước Thành, Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Sắn…chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"> Là nơi đào tạo, nuôi quân, là cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam, Chiến khu Đ cũng chính là một trong 3 mũi giáp công, là bàn đạp tấn công vào cửa ngõ Sài Gòn theo hướng Đông Bắc. Vì thế mà Mỹ - nguỵ đã ra sức tìm cách tàn phá nơi đây. Song mảnh đất chiến khu Đ vẫn anh dũng vượt qua bao khắc nghiệt của bom Napan, của chất độc hoá học, những trận càn quét khốc liệt của địch trở thành “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, xứng đáng là nơi hội ngộ của những anh hùng trên khắp mọi miền đất nước, những người vì cuộc kháng chiến của dân tộc mà đến và cũng từ đây mà ra đi, nơi tụ hội trí khí, niềm tin thiêng liêng của cả dân tộc, làm nên đại thắng mùa xuân 1975, hoàn thành cuộc trường chinh cứu nước vĩ đại.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt"><b><i>* Chiến khu Đ trong tương lai: Hành trình về nguồn</i></b></div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Đoạn đường từ xã Phú Lý đến di tích Khu uỷ miền Đông - Chiến khu Đ hôm nay đã có nhiều đổi thay. Đi trên con  đường trải nhựa láng mướt, hoà mình trong không khí mát lành giữa cây rừng xanh bạt ngàn, chúng tôi mới càng thấm thía và cảm nhận hết được sức sống phi thường của thiên nhiên cũng như con người nơi đây khi phải oằn mình suốt mấy mươi năm trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ trường kỳ, gian khổ để cất vang khúc khải hoàn chiến thắng mùa xuân năm 1975 và để hôm nay mảnh đất, tình người chiến khu xưa lại giang rộng vòng tay đón chào các thể hệ cháu con trong những chuyến du lịch về nguồn…</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Nơi đây có một di tích và truyền thống lịch sử hào hùng, chính vì điều đó trong những năm qua đã có rất nhiều những cuộc du lịch tìm về nguồn giúp các thế hệ thanh niên tìm hiểu về mảnh đất và con người nơi chiến khu Đ, tìm hiểu về lịch sử nơi đã trở thành thành trì kiên cố bảo vệ an toàn cho cán bộ và nhân dân các tỉnh miền Đông Nam bộ suốt 2 cuộc kháng chiến và đồng thời cũng giáng cho quân thù những trận đòn chí tử. Trong vòng 3 năm trở lại đây đã có trên 70 ngàn lượt du khách đến thăm quan Căn cứ Khu uỷ miền Đông Nam bộ - chiến khu Đ. Hiện nay, di tích Căn cứ Khu ủy miền Đông đã được tôn tạo, trùng tu và được công nhận là Di tích lịch sử Quốc gia. Trong hướng quy hoạch chung, di tích Căn cứ Khu ủy miền Đông cùng với hệ thống di tích địa đạo Suối Linh, di tích Căn cứ Trung ương cục miền Nam, khu công viên lịch sử văn hoá miền Đông Nam bộ trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu sẽ trở thành một địa điểm sinh hoạt văn hóa truyền thống lý thú, du lịch sinh thái hấp dẫn. Theo như dự án Trung tâm sinh thái – văn hóa - lịch sử Chiến khu Đ, sẽ có đến 73% diện tích dành cho cây xanh và mặt hồ, với 7 hạng mục công trình: tượng đài trung tâm, di tích 9 tỉnh miền Đông, bảo tàng Chiến khu Đ, sân lễ hội, khu hành chính, cây xanh và hồ nước, bãi đậu xe. Mọi sự tôn tạo, trùng tu, xây mới sẽ được thực hiện trên nguyên tắc bảo vệ nguyên hiện trạng lịch sử, tôn trọng yếu tố tự nhiên và bảo vệ rừng sinh thái đầu nguồn thủy điện Trị An. Ngoài mục tiêu tôn vinh các dự tích lịch sử và giáo dục truyền thống lịch sử, truyền thống cách mạng cho lớp thế hệ con cháu, dự án còn nỗ lực tạo sức bật mới cho ngành du lịch Đồng Nai trong thời kỳ mới.</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Ông Phạm Thanh Sơn – Phó Giam đốc Khu bảo tồn thiên nhiên và di tích huyện Vĩnh Cửu cho biết thêm: Trung tâm sinh thái – văn hóa - lịch sử Chiến khu Đ sẽ có điểm nhấn kết hợp với các quần thể di tích. Khi du khách đến tìm hiểu lịch sử, sẽ được thăm quan nhiều nơi khác như: tìm hiểu lễ hội và sinh hoạt văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Châu Ro, thăm quan Bãi đá dựng - Suối Linh, thác Bàng, Di chỉ khảo cổ Lò gốm cổ ở trạm 3 xã Hiếu Liêm có niên đại cách đây 2500 – 3000 năm, nhà máy thủy điện Trị An… Kết hợp với các địa điểm này, là các dịch vụ phục vụ ăn uống, vui chơi giải trí cho du khách gắn với văn hóa ẩm thực của chiến khu Đ: canh lá rừng, khoai mì, cá tào đồi, măng rừng… Bên cạnh đó, khi mà khu du lịch này được đầu tư quy mô, các nghề truyền thống của đồng bào dân tộc sẽ có điều kiện phát triển để phục vụ khách du lịch như: mây – tre đan, gùi , dệt thổ cẩm…</div>
<div style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:22.5pt">Trở lại chiến khu Đ trong những chuyến du lịch về nguồn như vậy giúp chúng ta tìm hiểu lịch sử hào hùng và oanh liệt của vùng đất “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, từng là nỗi kinh hoàng của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Vùng đất chiến khu Đ ngày ấy và bây giờ sẽ mãi tỏa sáng ngọn lửa truyền thống, cháy rực “hào khí miền Đông” trên bước đường xây dựng tương lai…</div>
<div style="line-height:150%"><b><i>        Hương Sen – Lê Lan</i></b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:10 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.289</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:14:25 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=14</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Một nhà văn hoá lớn quê hương ở Biên Hoà, được xưng tụng là một trong “Gia Định Tam gia”.</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=156</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass7906BD955F61402091DDFAC480F866A4>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><font color="#666666"><strong>Tên của ông và tên tác phẩm lịch sử, văn hoá nổi tiếng của ông rất cần thiết cho việc nghiên cứu “xứ đàng trong” là gì? Lăng mộ ông hiện giờ ở đâu?</strong></font> </span></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">﻿ </span></span></div>
<div><span style="font-family:Arial"><font size=2>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:18pt;margin-left:18pt"><span style="font-size:x-small"><i>Trả lời:</i></span></div></font></span><span style="font-size:x-small">
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:18pt;margin-left:18pt"> </div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:18pt;margin-left:18pt"><span style="font-family:Arial">Trịnh Hoài Đức (1765-1825) hiệu là Cấn Trai, là người Việt gốc Hoa, ông là người có tài, được xưng tụng trong “Gia Định Tam gia” cùng với Ngô Nhơn Tịnh và Lê Quang Định. </span></div></span><font size=2>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:18pt;margin-left:18pt"> </div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:18pt;margin-left:18pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">Tác phẩm nổi tiếng là: <i>“Gia Định thành thông chí”</i> rất có giá trị về lịch sử, văn hoá, tác phẩm này của ông rất cần thiết cho việc nghiên cứu của “xứ Đàng Trong”.</span></span></div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:18pt;margin-left:18pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">Lăng mộ ông hiện giờ đang ở phường Trung Dũng, thành phố Biên Hòa</span></span></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Hỏi đáp về Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 11:15 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.437</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Hỏi đáp về Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 16:17:24 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=156</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Đồng Nai: Nước thải ở các khu công nghiệp Nhơn Trạch chưa được xử lý</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=66</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassC8084DD763594933846D177B3685EBAF>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><br>        Việc quy hoạch hạ tầng kỹ thuật và xử lý môi trường ở các KCN Nhơn Trạch chưa theo kịp tốc độ phát triển, dẫn đến không ít bất cập, trong đó đáng kể là vấn đề thoát nước thải công nghiệp ở các KCN và cho cả trung tâm TP.Nhơn Trạch tương lai. Giữa các KCN của Nhơn Trạch ngay từ đầu không có một quy hoạch chung về hệ thống thoát nước, hầu như mỗi đơn vị kinh doanh hạ tầng khi được giao đất xây dựng KCN đều đi theo hướng thoát nước riêng. Sau thời gian dài các KCN hoạt động, nhiều khu vực dân cư, sông suối bị ô nhiễm và ngập úng cục bộ, trong đó sông Thị Vải -  nguồn tiếp nhận nước thải của hầu hết các KCN - đến nay gần như trở thành dòng sông bị ô nhiễm nghiêm trọng nhất ở Đồng Nai cũng như khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam. </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">        Theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường, mỗi nhà máy khi đầu tư vào KCN tập trung đều phải có hệ thống xử lý nước thải cục bộ các công ty kinh doanh hạ tầng KCN trước khi kêu gọi đầu tư phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung khi lấp đầy 30% diện tích, hệ thống xử lý nước thải tập trung phải đi vào hoạt động. Tuy nhiên, theo Sở Tài nguyên - Môi trường Đồng Nai, trong số 6 KCN đang hoạt động trên địa bàn, mới chỉ có KCN Nhơn Trạch 1 có hệ thống xử lý nước thải tập trung công suất 4.000 m3/ ngày đã đi vào hoạt động nhưng qua kiểm tra, nước thải của KCN này vẫn còn những thông số ô nhiễm vượt cao so với tiêu chuẩn quy định. Còn KCN Nhơn Trạch 2, Nhơn Trạch 3 (giai đoạn 2) đang trong quá trình xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung. </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">        Để giải quyết vấn đề thoát nước thải, Nhơn Trạch đang triển khai 4 dự án, đó là dự án tuyến thoát nước dải cây xanh ở KCN Nhơn Trạch 1, dự án thoát nước đường 25C, dự án nạo vét tạm kênh thoát nước cuối đường số 2 và dự án tuyến thoát nước đường số 2 thuộc KCN Nhơn Trạch 3 từ trung tâm huyện đến hương lộ 19. Nhưng đến nay, việc triển khai các dự án này đang gặp khó khăn do tình trạng nước thải của một số KCN có hệ thống đấu nối với đường thoát nước ra tới rạch Bà Ký (hiện vẫn đang chảy tự do do chưa có đường ống đấu nối tiếp ra nguồn tiếp nhận) gây ô nhiễm môi trường nặng nề cho khu vực này. Còn đường thoát nước đường 25C lại đang quá tải. Nước thải  khu vực KCN Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 2 thoát ra cống Lò Rèn, nhưng từ đây lại chưa có hệ thống đấu nối ra nguồn tiếp nhận là sông Thị Vải, nên ở đây vẫn tồn tại có 2-3 miệng cống xả chung. Nước thải khu vực KCN Dệt may Nhơn Trạch (Vinatex - Tân Tạo) dự định sẽ đấu nối với đường ống đổ ra Long Thọ, nhưng địa hình bên tiếp nhận lại cao hơn bên nguồn thải, nên cũng đang gặp bế tắc. </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">        Ban quản lý Dự án thoát nước thuộc Sở Xây dựng Đồng Nai kiến nghị UBND tỉnh: Để giải quyết đấu nối thoát nước và xử lý nước thải cho đô thị mới Nhơn Trạch, cần bổ sung thêm dự án thu gom và xử lý nước thải (giai đoạn 1) thành phố Nhơn Trạch với công suất 16.000m3/ngày đêm theo nguồn vốn ODA dự án thoát nước từ khu dân cư Long Thọ - Phước An đến suối Bà Dẹp tiếp tục đấu nối từ KCN Nhơn Trạch 1 ra tới rạch Bà Ký và dự án thoát nước từ cống Lò Rèn ra nguồn tiếp nhận... UBND tỉnh Đồng Nai chỉ đạo: Từ nay đến cuối năm, tất cả các công ty kinh doanh hạ tầng phải xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung các KCN mới thành lập phải đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung trước khi triển khai các dự án sản xuất, kinh doanh trong KCN. Tỉnh yêu cầu các đơn vị kinh doanh hạ tầng KCN cần lắp đặt thiết bị đo lưu lượng và quan trắc tự động để kiểm soát chất lượng nguồn nước, trong đó việc thoát nước thải từ các KCN ra nguồn tiếp nhận cần gắn với quy hoạch của địa phương, bảo đảm tiêu thoát nước, không gây ngập úng trong khu vực... Những quy hoạch nào không phù hợp với thực tiễn, cần điều chỉnh ngay để công tác xây dựng hệ thống thoát nước cho đô thị Nhơn Trạch sớm hoàn thiện. Song đến nay, nhiều đề án xử lý nước thải công nghiệp vẫn chưa khởi động.</span></p>
<p style="text-align:right"><span style="font-size:x-small">                                                                        Theo Bộ Tài nguyên &amp; Môi trường<br></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/12/2007 11:25 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai hiện có 6 khu công nghiệp (KCN) thu hút khoảng 150 dự án, trong đó chủ yếu là các dự án đầu tư nước ngoài đang hoạt động với tổng lượng nước thải khoảng hơn 18.200 m3/ngày đêm, trong đó mới có 20% lượng nước thải được xử lý qua hệ thống xử lý nước thải tập trung, 60% lượng nước mới qua xử lý cục bộ, 50 nhà máy không có hệ thống xử lý nước thải cục bộ với khoảng 4.000m3 nước thải chưa qua xử lý thải thẳng ra môi trường với nhiệt độ, độ pH, độ màu, các chất rắn lơ lửng, dầu mỡ khoáng... ở mức rất cao đang đe dọa nghiêm trọng môi trường và đời sống của cư dân.</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.277</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 18:40:33 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=66</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Báo động ô nhiễm nước hạ lưu sông Đồng Nai</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=36</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassE101C537945B4E94A1267B22000F7AD1>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Phó giám đốc Sở Tài nguyên môi trường TP HCM Nguyễn Văn Phước cho hay, hiện nước sông Đồng Nai đoạn từ nhà máy nước Thiện Tân đến Long Đại trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã bị ô nhiễm chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng vượt mức cho phép 3-9 lần. Giá trị các chất COD vượt 1,8-2,8 lần, giá trị DO cũng thấp dưới giới hạn cho phép. </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Vùng hạ lưu sông nhiều đoạn bị ô nhiễm ở mức báo động. Toàn lưu vực cũng bị tình trạng nhiễm mặn, nguồn nước không còn khả năng sử dụng cho mục đích tưới tiêu và sinh hoạt. </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Nước hồ thủy điện Trị An cũng bị cảnh báo là ô nhiễm nghiêm trọng<br> </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Theo nghiên cứu của Sở Tài nguyên môi trường TP HCM, đoạn sông từ khu vực trạm bơm cấp nước Hóa An đến Cát Lái, qua địa bàn TP HCM thuộc hệ thống sông Sài Gòn chất lượng nước tương đối ổn định.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Nước hồ Trị An cũng bị cảnh báo là ô nhiễm nghiêm trọng     Tuy nhiên, tại các trạm quan trắc Phú Cường, Bình Phước và Phú An, nước đã bị ô nhiễm hữu cơ, đặc biệt là ô nhiễm dầu và vi sinh, không thể dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt. </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Càng xuống vùng trung lưu (khu vực cầu Bến Súc, cửa sông Thị Tính) và đi dần về phía hạ lưu sông thì tình hình ô nhiễm lại ở mức báo động. Theo kết quả quan trắc, vùng cửa sông Thị Tính có hàm lượng Nitơ vượt gần 30 lần tiêu chuẩn. </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Trong khi đó, chất lượng nước của các sông khác trong lưu vực cũng đang bị suy giảm. Nước các nhánh sông Bé, Đa Nhim - Đa Dung thuộc các tỉnh Bình Dương, Bình Phước diễn biến theo chiều hướng xấu với hàm lượng sắt trong nước tăng cao. </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Tình trạng ô nhiễm nặng tại sông Thị Vải, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, với một đoạn sông &quot;chết&quot; dài hơn 10 km. Nước ở đây bị ô nhiễm hữu cơ nghiêm trọng, có màu nâu đen và bốc mùi hôi thối kể cả khi triều lên xuống.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Điều đáng nói là trong thời gian qua, công tác quản lý các lưu vực sông còn nhiều bất cập vì khó phân định trách nhiệm, thẩm quyền rõ ràng giữa các Bộ, ngành. Hiện vẫn chưa có một cơ chế rõ ràng cho việc huy động nguồn lực từ các tổ chức tư nhân, phi chính phủ, các tổ chức quốc tế, cộng đồng tham gia vào việc phát triển và bảo vệ tài nguyên nước. </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đã đề nghị Thủ tướng cho phép triển khai Đề án bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai từ nay đến năm 2020. Mục tiêu nhằm bảo vệ an toàn nguồn nước thuộc hệ thống về chất lượng và lưu lượng, đạt tiêu chuẩn nước sạch tự nhiên, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội toàn khu vực.</span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Chảy qua 12 tỉnh, trong đó 7 địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (TP HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Long An, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu) và một phần Đăk Lăk, Đăk Nông, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, nguồn nước hệ thống sông Đồng Nai có tầm quan trọng đặc biệt và sống còn trên lưu vực trong phát triển kinh tế - xã hội. Đây là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho hàng chục triệu người, cấp nước cho công nghiệp, tưới tiêu nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, du lịch sông nước... </span></p>
<p style="text-align:right"><span style="font-size:x-small">            Vi Vi </span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 30/09/2008 8:20 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trải rộng trên địa bàn 12 tỉnh, hạ nguồn hệ thống sông Đồng Nai bị ô nhiễm nghiêm trọng, trong đó có đoạn đã trở thành sông &quot;chết&quot;, theo cảnh báo của các chuyên gia tại hội nghị triển khai đề án bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai, sáng 26/2 ở TP HCM.</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.589</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 17:27:59 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=36</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Bàn thờ tiên sư ở ngôi trường hơn trăm tuổi</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=12</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassBAEA7B0EA30744E0A6945D37E84E0931>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:12pt"><span style="color:#666666"><strong>Nằm ở góc đường Cách mạng tháng Tám và Nguyễn Thái Học (TP.Biên Hòa), có một ngôi trường tiểu học được mang tên đại thi hào Nguyễn Du. </strong></span></span></p>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:12pt">﻿ </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:12pt">Đầu tiên, đây là ngôi trường địa hạt, sau đó trở thành trường tiểu học tỉnh lỵ đầu tiên được đặt tại Biên Hòa cùng với 4 trường tổng đặt ở các làng: Bình Trước, Bình Mỹ (tổng Phước Vĩnh Trung), An Hòa (tức Bến Gỗ, thuộc tổng Long Vĩnh Thượng) và Tân Uyên (tổng Chánh Mỹ Trung). </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:12pt">Theo Địa chí Đồng Nai, trường hình thành chậm nhất là năm 1897. Còn sách đất Nam Kỳ thuộc Pháp, xuất bản năm 1878 chép rằng, ở Biên Hòa có trường học, 33 học sinh ngoại trú. Trường được thành lập khá sớm, giữ vai trò là trường địa hạt và sau đó là trường tiểu học tỉnh lỵ (mang tên École primaire complémentaire de Bien Hoa) nhưng trong một thời gian dài, do chính sách giáo dục của thực dân Pháp, trường chậm phát triển. Còn theo tài liệu lưu giữ ở trường thì trường được xây dựng năm 1882 mang tên là Collège dAdnan (trường trung học Bá Đa Lộc). Ban đầu, trường được làm bằng đá đỏ (đá ong), vôi cát trộn với nước ô đước, dưới có 4 phòng học còn phía trên lầu là 4 phòng cho học sinh nội trú, sau này phát triển thành 6 phòng học và 6 phòng ở. Năm 1934, tỉnh Biên Hòa có thêm một trường nữ tiểu học, nên trường tiểu học Biên Hòa được đổi tên thành trường nam tiểu học tỉnh lỵ. Đến năm 1954, trường chính thức mang tên là Trường tiểu học Nguyễn Du theo chương trình Việt hóa các tên trường. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:12pt">Không chỉ là nơi học tập của hầu hết các nhân vật danh tiếng của đất Biên Hòa thời xưa như: nhà giáo Hồ Văn Tam, nhà giáo Hồ Văn Thể, nhà giáo cách mạng Nguyễn Văn Ngũ (Hoàng Minh Viễn); các kỹ sư: Nguyễn Háo Ca, Phạm Minh Dưỡng, Lương Kiển Thạnh; nhà văn Lý Văn Sâm, tướng Lương Văn Nho, nhà nghiên cứu Lương Văn Lựu... mà hiện tại, trường là địa chỉ hiếm hoi còn lưu giữ biểu tượng tôn vinh các giá trị giáo dục, văn hóa truyền thống của dân tộc. Đó là bàn thờ tiên sư. Bàn thờ được đặt trang trọng ở gian phòng phía trong phòng hội đồng, là nơi thờ tự gần 450 giáo viên trong tỉnh quá cố. Ngay chính giữa gian thờ, hai chữ &quot;tôn sư&quot; nằm dưới tấm hoành &quot;Giáo dục thâm ân&quot; được khắc bằng chữ Nho. Hai câu liễn được treo dọc bàn thờ ghi: &quot;Tích nhựt tiên khai giáo huấn sinh đồ năng kiệt lực. Kim triêu hậu tấn truy tư công đức chí thành tâm&quot; (được dịch là: Nhớ lại ngày nào thầy cô là những người đi trước mở đường đem hết khả năng và tận lực dạy dỗ môn sinh. Ngày nay chúng ta kẻ đi sau đem hết tấm lòng thành khẩn nhớ đến công đức ấy (của thầy). Phía bên ngoài gian thờ có hai gốc cột lớn bằng đá xanh có cẩn dòng chữ &quot;Phổ thông văn hóa sinh đồ kỷ niệm thiên thu. Đào tạo nhân tài hậu thế tri tôn vạn đại&quot;. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:12pt"><span style="font-family:Arial;color:black">Bàn thờ tiên sư do ai lập và lập vào năm nào, không thấy sách nào ghi lại. Song theo lời những cựu học sinh và hiệu trưởng của trường thì bàn thờ phải có trước năm 1945. Thầy giáo già Huỳnh Anh kể: &quot;Năm 1949, khi tôi vào trường học lớp nhứt (tương đương lớp 5 bây giờ) thì bàn thờ đã có từ lâu. Thứ hai, trước năm 1930, hiệu trưởng nhà trường là người Pháp với chức vụ &quot;inspecteur primaire provincial&quot;, tức thanh tra tiểu học hàng tỉnh kiêm hiệu trưởng nhà trường. Từ sau năm 1930, hiệu trưởng là người Việt. Bàn thờ được lập ra đặt ngay trong phòng làm việc của thầy hiệu trưởng Lê Hữu Vinh. Bàn thờ được lập để tỏ lòng ghi ơn các bậc tiền nhân của nghề dạy học, quý thầy cô quá cố, đồng thời giáo dục truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc mình&quot;. Khi thầy Huỳnh Anh làm hiệu trưởng thì bàn thờ được di dời vào phía trong phòng hội đồng và giữ vị trí ấy cho đến nay. </span><span style="font-family:Times New Roman"></span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:12pt"><span style="font-family:Arial;color:black">                                              <img alt="" src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0644_Bnthtins1.png"></span><span style="font-family:Times New Roman"> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:12pt"><span style="font-family:Arial;color:blue">                                Bên bàn thờ tiên sư ở Trường tiểu học Nguyễn Du.</span><span style="font-family:Times New Roman"> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt">   </p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:12pt">Ngày hai mươi tháng Chạp hàng năm được quy định là ngày truyền thống của trường. Không chỉ cựu học sinh, giáo viên mà những ai từng gắn bó với trường, với nghề dạy học đều trở về dâng hương, tỏ lòng tri ân... </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:12pt"><strong>Bùi Trang </strong></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:12 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.676</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:12:47 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=12</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Dấu ấn người Hoa ở Đồng Nai</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=28</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass906BE48E36874581A5F5C493980565A2>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#666666;font-size:10pt"><strong>Sự có mặt của nhóm người Hoa đến Biên Hòa sinh sống được sử sách chép với mốc thời gian định vị rõ ràng là vào tháng 5-1679. </strong></span><span style="font-size:9pt"></span></span></p>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt">﻿ </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Gần 330 năm kể từ khi đặt chân đến vùng đất Đồng Nai &quot;xứ sở lạ lùng, con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh&quot;, người Hoa đã tạo lập cuộc sống trên vùng đất mới. Họ cùng với người Việt - số di dân đến định cư trước, cần mẫn khai khẩn, mưu cầu về một cuộc sống ấm no hơn, hạnh phúc hơn nơi họ đã ra đi. Bao thế hệ người Hoa từ đoàn di dân đầu tiên, đến những đợt di cư về sau đến Đồng Nai đã khai khẩn, xây dựng vùng &quot;tị địa&quot; trước xa lạ trở thành &quot;quê hương&quot; thân quen, bao dung họ.</span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">                                                     <img alt="" src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0713_DunngiHo1.png"> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><span style="color:blue">                              Trường học người Hoa ở Biên Hòa sau trận lụt năm Thìn (1952)</span><span style="color:black"> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt">   </p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Cộng đồng người Hoa đã để lại những dấu ấn trong diễn trình lịch sử Đồng Nai nói riêng, Nam bộ nói chung. Ngày nay, đi trên những nhánh sông chảy ngang địa phận Biên Hòa (Phước Long giang xưa), ôm trọn cù lao Phố êm ả, nếu không có sách sử chép, chúng ta khó nhận diện được một thương cảng sầm uất của xứ Đồng Nai - Gia Định cách nay hàng mấy thế kỷ mà công đầu tạo dựng của nhóm người Hoa do Trần Thượng Xuyên lãnh đạo. Một số làng nghề của cộng đồng người Hoa từng phát triển trên vùng đất này như nghề làm gốm, làm lu ở Tân Vạn, nghề đá ở Bửu Long..., hay những phố chợ buôn bán ở Phước Thiền, Bến Gỗ... đã minh chứng cho sự thích ứng, năng động của người Hoa trên vùng đất mới. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Hành trang đến với vùng đất phương Nam của nhóm lưu dân người Hoa ngoài sự cần cù, khéo léo trong buôn bán để mưu cầu cuộc sống no ấm, họ còn mang trong tâm thức mình hình ảnh của tổ tiên, thần thánh, tập tục tín ngưỡng. Khi đã ổn định và thành công trong cuộc sống, người Hoa xây dựng nhiều ngôi chùa, đền miếu để tỏ lòng thành, ghi nhớ công lao đối với tổ tiên, phúc thần trên hành trình đầy hiểm nguy và con đường lập nghiệp nơi vùng đất mới. Người Hoa đã xây dựng những cơ sở tín ngưỡng với kiến trúc khá độc đáo. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Gắn với những thiết chế tín ngưỡng là những giá trị văn hóa tạo nên những sắc thái văn hóa phong phú cho vùng Đồng Nai. Một số công trình tín ngưỡng với những giá trị lịch sử, kiến trúc được nhà nước xếp hạng. Những lễ hội ở các di tích, tiêu biểu như lễ hội Miếu Tổ sư, chùa Bà (phường Bửu Long), các lễ hội Tả tài phán trở thành những nét sinh hoạt văn hóa mang tính đặc thù, đáp ứng nhu cầu tâm linh không chỉ đối với người Hoa mà còn cho các cộng đồng cư dân cùng cộng cư. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Không chỉ có những thế mạnh về kinh tế, người Hoa còn có tinh thần ham học hỏi, cầu tiến nên một số người tài giỏi đã được các chúa Nguyễn tin dùng, ban phong những chức vị quan trọng, trở thành sứ thần, trọng thần của triều đình, gánh vác những trọng trách của xã hội như: Trịnh Hoài Đức, Trần Thượng Xuyên... Nhiều thế hệ của cộng đồng người Hoa đã đem sức tài của mình giúp nước trong nhiều thời kỳ lịch sử. Nhân vật lịch sử Trần Thượng Xuyên được xem là bậc có công nhất trong việc dẫn đoàn người Hoa đến định cư ở Đồng Nai được suy tôn, ngưỡng vọng không chỉ riêng của người Hoa mà còn cả người Việt. Như ngôi chùa làng Thanh Lương khiêm tốn đối diện phía tây cù lao Phố là nơi thờ Phật nhưng vẫn còn lưu thờ bài vị về vị tướng quân có công khai phá vùng đất này. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt">Thế hệ những người Hoa thuở ban đầu đến Biên Hòa đã ra đi. Những gì họ tạo dựng mai một nhiều với thời gian, âu cũng là lẽ thường tình. Nhưng cái còn lại chính là những hình ảnh, giá trị tốt đẹp của cuộc sống luôn được khắc ghi trong lòng của các thế hệ nối tiếp nhau, hòa trong mạch nguồn của văn hóa Biên Hòa xưa - Đồng Nai nay. </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"><strong>            Phan Đình Dũng</strong></span><span style="font-family:Times New Roman;font-size:12pt"> </span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-family:Arial;color:black;font-size:10pt"><strong>            Theo baodongnai.com.vn </strong></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:41 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.497</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 0</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:41:54 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=28</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Người Đồng Nai - Một góc nhìn: 310 năm Biên Hòa – Đồng Nai (1968 - 2008)</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=16</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass61BA4E9948324AC0A9B206C7709AE0F6>
<div class=ExternalClass0E131695441D4E7D9ABE1E185E83B952>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#666666"><strong>Đồng Nai tự hào khi được định danh là một trong những trung tâm văn hóa cổ phát triển của Việt Nam trước Công nguyên: Văn hóa Đông Sơn (miền Bắc), văn hóa Sa Huỳnh (miền Trung), Văn hóa Đồng Nai (miền Nam). Tên gọi Đồng Nai cũng vinh danh trong lịch sử với hào khí oai hùng, hiển hách.</strong></span> </span></span></p>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">﻿ </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black"><strong><em>Trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thường nghe nhắc đến Hào khí Đông A thời nhà Trần và Hào khí Đồng Nai. Chắc chắn bắt nguồn từ nhiều yếu tố để làm nên một trung tâm văn hóa phát triển, một hào khí được nhắc đến với niềm tự hào.</em> </strong></span></span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black"><strong>                                            <img alt="" src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0650_NgingNai1.png"></strong></span> </span></span></p>
<p style="margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:blue"><strong>                                           Quảng cảnh lễ hội 300 năm Biên Hòa - Đồng Nai (1998)</strong></span><span style="color:black"><br> </span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Tính cách của người Đồng Nai như thế nào? Phải chăng tính cách người Đồng Nai nằm trong tính cách chung của người Nam Bộ. Một số nhà nghiên cứu đã viết, giới thiệu về những con người Đồng Nai cụ thể trong một số tác phẩm, công trình mà ở đó, những con người được nhắc đến đáp ứng những tiêu chí về sự đóng góp, công sức, thành tích của họ đối với vùng đất này. Đồng Nai là vùng đất mới, đất mở. Những thế hệ đến đây sinh sống, chắc chắn mang theo tính cách của vùng miền cố hương và từng bước thích ứng với môi trường, cộng đồng và dần dà góp phần tạo nên tính cách trên quê mới trở thành thân thuộc &quot;nhau rún&quot;.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Một số nhân vật được nhắc đến sau đây cho thấy tính cách được khắc họa trên vùng đất Đồng Nai xưa. Người đọc qua những tư liệu này, ắt hẳn phần nào hình dung được tính cách của Người Đồng Nai.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#ff0033"><strong>* Con người của khí phách</strong></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Đặng Đại Độ người huyện Phong Đăng, tỉnh Quảng Bình. Trong thời gian Đặng Đại Độ làm Ký lục Trấn Biên (đất Biên Hòa – Đồng Nai) có hai viên Cai đội hầu cận chúa Nguyễn từ kinh đô Phú Xuân đến Biên Hòa bắt ca nhi (con hát), cậy thế, khinh người, làm nhiều điều bậy bạ đối với dân lành. Đặng Đại Độ sai bắt, căng ra đánh chết rồi treo ở cửa chợ. Xử xong, ông mặc áo ngắn, đeo gông nhỏ rồi đi bộ về kinh chịu tội, dắt một người cháu đi theo. Người cháu xin ông đừng đi bộ để giữ gìn sức khỏe, ông trả lời: <em>&quot;Lại có hạng tội nhân tìm cách cho đỡ khổ à?&quot;.</em> Sau hơn một tháng đi bộ, Đặng Đại Độ tới kinh thành, vào Bộ Hình dâng đơn xin tới nhà ngục chờ xét xử. Bộ Hình đem việc Đặng Đại Độ tâu lên, chúa Nguyễn cho triều kiến. Khi thấy ông không có triều phục, chúa Nguyễn sai người cấp cho.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Khi gặp chúa Nguyễn, Đặng Đại Đội nói rõ sự tình và xin chịu tội. Chúa Nguyễn an ủi, dụ rằng<em>:&quot;Khanh có tội gì đâu mà phải đọa đày mình khổ sở đến như vậy. Chỉ vì trẫm buồn phiền mệt nhọc nên mới bảo chúng nó tìm đôi đứa con hát về kinh giúp trẫm tiêu khiển, không dè chúng cậy thế hiếp người, giở thói làm càn, khanh giết đi là phải&quot;</em>.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Cảm khái trước hành động công minh, thương dân của bề tôi, chúa Nguyễn Phúc Khoát không những trách hành động của Đặng Đại Độ mà còn thăng chức cho ông làm Tuần phủ Gia Định, lại chuẩn cho đi tuần khắp năm phủ (Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận), được quyền thăng giáng các quan lại nơi ấy khi cần thiết. Hành động cương trực, an dân của Đặng Đại Độ được xem là dũng khí của bậc đại thần, nhân dân ngưỡng mộ và lưu truyền trong lịch sử.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#ff0033"><strong>* Nhân cách thanh liêm cao trọng</strong></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Trịnh Hoài Đức sinh năm 1765, còn có tên là An, tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai. Gốc người Hoa nhưng mang trong mình dòng máu Việt của mẹ quê gốc Bình Trước, Biên Hòa. Ông làm quan với chức vị lớn trải ba triều vua nhà Nguyễn.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Trên bước đường công danh, Trịnh Hoài Đức đã lên gần như tuyệt đỉnh trong triều đình. Về phương diện văn hóa, ông là một nhà thơ, nhà nghiên cứu lỗi lạc hàng đầu thời bấy giờ. Ông cùng với Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh cùng thời được vinh danh là &quot;Gia Định Tam gia thi&quot;… Mùa xuân năm 1825, Trịnh Hoài Đức mất, vua Minh Mạng thương tiếc sai nghỉ triều ba ngày và truy tặng ông nhiều danh hiệu cao quý. Đồng thời sai hoàng thân Miên Hoằng thân hành tế lễ và di linh cữu của Trịnh Hoài Đức về Nam theo nguyện vọng lúc còn sống. Khi linh cữu đến Phiên Trấn, đích thân Tổng trấn Lê Văn Duyệt phúng viếng rồi hộ về chôn nơi quê mẹ của Trịnh Hoài Đức ở làng Bình Trước, Biên Hòa (di tích hiện ở địa phận phường Trung Dũng, thành phố Biên Hòa). Dù ở chức quan cực phẩm nhưng ông vẫn sống giản dị, thanh liêm. Chính vua Minh Mạng lúc Trịnh Hoài Đức dưỡng trọng bệnh mới ngỡ rằng quan triều to lớn như ông mà không có nhà riêng.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#ff0033"><strong>* Danh tướng của lòng dân </strong></span></span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black"><strong>Gương phụ nữ &quot;liệt phụ khả gia&quot;.</strong></span><span style="color:red"> </span><span style="color:black">Đó là bà Nguyễn Thị Tồn. Còn có tên là Diệu. Người làng Mỹ Khánh, tổng Chánh Mỹ Thượng (nay thuộc phường Bửu Hoà, thành phố Biên Hòa). Bà là trưởng nữ của Hộ trưởng Nguyễn Văn Lý và là chánh thất của Bùi Hữu Nghĩa. </span></span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Khi Bùi Hữu Nghĩa làm quan tri huyện Trà Vang (Trà Vinh), vì cương trực bị quan trên ghen ghét, ghép tội giải ông về Gia Định chờ xử tử. Bà Tồn thấy chồng bị oan ức liền quá giang ghe bầu ra đến kinh thành Huế đánh trống gặp vua kêu oan cho chồng. Nhờ vậy, chồng bà thoát tội chết. Trước hành động dũng cảm của bà Tồn, vua Tự Đức ban Võng điều có có bốn lọng, nơi đầu võng có gông nhỏ sơn son, ngầm ý khen bà là người trung trinh, gan dạ song cũng thầm trách bà đã làm kinh động đế đô. Cảm kích trước một người phụ nữ dân dã từ xứ Đồng Nai không từ nan vạn dặm lặn lội đến chốn kinh thành minh oan cho chồng, Hoàng thái hậu Từ Dũ khen bà là gương tiết nghĩa, đáng mặt nữ lưu. Khi bà Tồn về đến quê thì chồng là Bùi Hữu Nghĩa khâm mệnh đi trấn đồn Vĩnh Thông (thuộc Châu Đốc – An Giang). Tại Biên Hòa, Bà Tồn lâm trọng bệnh qua đời. Bùi Hữu Nghĩa vì xa xôi cách trở không về lo đám tang được cho người vợ. Ông đã làm một bài thơ vô cùng sâu sắc, cảm động để nhớ và ca ngợi người vợ của mình; trong đó có nhắc đến việc bà Tồn minh oan cho chồng: &quot;…<em>Nơi kinh quốc ba hồi trống gióng, biện bạch này oan nọ ức, đấng hiền lương mắt thấy thảy đau lòng. Chốn tỉnh đường một tiếng thét vang, hẳn hòi lẽ chánh lời nghiêm, lũ băng đăng tai nghe điều khiếp vía</em>&quot;.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#ff0033"><strong>* Những con người sống chết vì đại nghĩa</strong></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Thời kỳ chống Pháp đầu thế kỷ XX, tại Biên Hòa có các tổ chức hoạt động theo hình thức Hội kín. Trong đó tiêu biểu là tổ chức Đoàn Văn Cự và Trại Lâm Trung.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Đoàn Văn Cự sinh năm 1835, quê tại làng Bình An, Thủ Đức (vùng này trước đây thuộc tỉnh Biên Hòa). Lực lượng của Hội kín do Đoàn Văn Cự lãnh đạo khá đông đảo và có mặt tên địa bàn rộng lớn của tỉnh Biên Hòa thời bấy giờ. Để chuẩn bị cho đại cuộc đánh Pháp, ông cho tích lũy lương thực, mua sắm khí giới, lập lò rèn vũ khí, luyện tập cho nghĩa quân… và chọn vùng rừng Bưng Kiệu làm căn cứ. Ngày 11-5-1905, chính quyền thực dân cho một tiểu đội lính đên bao vây căn cứ. Thủ lãnh Đoàn Văn Cự triệu tập nghĩa quân mai phục đánh địch. Thế nhưng, phục cả ngày không thấy giặc đến, Đoàn Văn Cự cho nghĩa quân rút về căn cứ. Nhân lúc này, giặc Pháp tấn công, xông thẳng đến nơi Đoàn Văn Cự đang ở. Khi thấy viên sĩ quan Pháp dẫn lính vào, Đoàn Văn Cự quác mắt nhìn và vung đảo đao chém thẳng vào chúng. Viên sĩ quan Pháp bị thương nhưng kịp rút súng băn thẳng vào Đoàn Văn Cự. Giặc bắn trả làm cho vị thủ lãnh nghĩa quân hy sinh ngay trước bàn thờ Tổ. Đoàn Văn Cự được người dân thờ tại đình Tam Hiệp (Biên Hòa).</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Hội kín Lâm Trung trại với những trại viên chủ chốt như Ba Hầu, Năm Hy, Hai Lựu, Lào Lọt, Hai Sở, Ba Vạn, Bảy Phát, Hai Danh, Hai Hổ, Mười Sóc, Mười Tiết… đóng tại núi Gò Mọi, vùng Thiện Tân, Vĩnh Cửu. Tháng 1-1916, nghĩa quân trại Lâm Trung chia làm nhiều toán tấn công vào các nhà hội (trụ sở hội tề) ở Tân Trạch, Tân Khánh, Tân Lương… và Khám đường Biên Hòa, chợ Tân Uyên (lúc bấy giờ thuộc tỉnh Biên Hòa). Cuộc tấn công làm cho quân Pháp và chính quyền tay sai ở Biên Hòa bất ngờ. Thế nhưng, sau đó, quân Pháp tập trung lực lượng đàn áp, lùng bắt các trại viên. Nhờ có tay sai chỉ điểm, vào tháng 3 năm 1916, giặc Pháp bắt được các trại viên chủ chốt trại Lâm Trung. Tháng 6 năm 1916, thực dân Pháp lập tòa án xử các trại viên Lâm Trung và tuyên án tử hình chín người tại Dốc Sỏi (xóm Bình Thành). Trước khi bị xử bắn, một số trại viên đã tỏ rõ khí tiết hiên ngang, dõng dạc tuyên bố trước họng súng quân thù &quot;<em>Ta sinh làm tướng, chết làm thần, chúc bà con ở lại mạnh giỏi&quot;, &quot;Cứ bắn ta đi, ta xem cái chết như quy tân gia</em>&quot;. Những con người xem nhẹ cái chết vì đại nghĩa, họ được dân lập miếu thờ tại Dốc Sỏi (gọi là miếu Cô Hồn/ nay là chùa Cô Hồn – tên chữ Bửu Hưng tự nay thuộc phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa).</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#ff0033"><strong>* Thi sĩ tay súng, tay gươm</strong></span><span style="color:black"> </span></span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Đó là</span><span style="color:red"> </span><span style="color:black">Huỳnh Văn Nghệ sinh ngày 2-2-1914 tại làng Tân Tịch, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc tỉnh Bình Dương). Ông nổi tiếng là một nhà lãnh đạo quân sự tài ba trong thời kỳ kháng Pháp ở vùng rừng núi miền Đông Nam Bộ.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Trong cuộc đời tham gia cách mạng, ông kinh qua nhiều chức vụ lãnh đạo quan trọng của tỉnh Biên Hòa, của Khu 7. Ông là một trong những người thành lập và lãnh đạo lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên ở Biên Hòa. Tên tuổi của ông gắn liền với Chi đội 10 – người Biên Hòa gọi là bộ đội &quot;Tám Nghệ&quot;. Dưới sự lãnh đạo của Huỳnh Văn Nghệ, lực lượng vũ trang Biên Hòa, miền Đông, Khu 7 đã thực hiện nhiều trận tấn công, làm nên những chiến thắng vẻ vang như: Trận tấn công tỉnh lỵ Biên Hòa, Bàu Cá, Trảng Bom, La Ngà, Bến Sắn… Cấp quân hàm cao nhất của là thượng tá nhưng nhân dân ngưỡng mộ gọi ông là tướng.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Ngoài tài năng thiên bẩm về quân sự, Huỳnh Văn Nghệ được biết đến với tư cách là một nhà thơ. Khi nhắc đến Huỳnh Văn Nghệ, hình ảnh được nhiều người khắc họa đẹp về ông là một chiến sĩ, nhà thơ, tay gươm, tay bút xông xáo trên mọi chiến trường. Ông mất năm 1977 tại thành phố Hồ Chí Minh. Hai câu thơ trong bài &quot;Nhớ Bắc&quot; của Huỳnh Văn Nghệ như một &quot;tuyên ngôn&quot; của đất và người Nam Bộ hướng về cội nguồn Tổ quốc:</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black"><em>Từ độ mang gươm đi mở cõi</em></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black"><em>Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.</em></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:#ff0033"><strong>* Những bà mẹ anh hùng chân chất</strong></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Trên địa bàn Đồng Nai, nhiều bà mẹ được phong tặng danh hiệu anh hùng. Sự đóng góp của họ rất lớn trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ đất nước qua hai thời kỳ kháng chiến chống ngoại xâm. Không chỉ những người con, chồng của họ tham gia chiến đấu và hy sinh, có nhiều bà mẹ cũng trực tiếp đánh thù, tham gia nhiều hoạt động cách mạng. Những năm tháng kháng chiến với chất chồng gian khổ, các bà mẹ vẫn cắn răng chịu đựng và tin vào một ngày mai chiến thắng, độc lập. Mỗi khi tin người thân hy sinh báo về là mỗi lần nén nỗi đau đến tột cùng. Khi nhà nước thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, vinh danh sự đóng góp, nhiều bà mẹ cảm thấy lòng chợt như ấm lên với bao nghĩa tình. </span></span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Thế nhưng, khi làm hồ sơ để công nhận phong tặng, không ít người thực hiện máy móc đã làm các mẹ phật ý, vất vả để tìm cho được những minh chứng cụ thể. Nhiều mẹ bảo: <em>ngày trước động viên chồng rồi đến con, lần lượt từng người đi đánh giặc chỉ mong đánh thắng giặc rồi về, chứ đâu có mong hy sinh rồi có người làm chứng như vậy đâu. </em>Đúng là các mẹ giận nhưng thật là chân chất làm sao. Những nỗi đau, những hy sinh không thể đếm được mà họ trải qua cũng đủ làm cho họ anh hùng. Đó cũng là một tính cách.</span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">                                            <img alt="" src="/trangtin/diachiDN/Lists/Photos/062310_0650_NgingNai2.png">      </span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">                                     </span><span style="color:blue"><strong>Văn miếu Trấn Biên - nơi thờ các bậc tiền hiền xứ Đồng Nai</strong></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Trên đất Biên Hòa – Đồng Nai, vẫn còn có biết bao người trong từng thời kỳ lịch sử đã có những đóng góp cho vùng đất này trên nhiều phương diện. Tính cách con người Đồng Nai chắc chắn từng bước được định hình trong một chuỗi dài của lịch sử kể từ khi khai khẩn, tạo dựng và phát triển cho đến hôm nay mà những nhân vật trên chỉ là một phần trong mạch nguồn tạo nên đất và người Đồng Nai. Thước đo chính xác nhất để con người sống mãi là lòng dân, đó là cách khắc ghi mãi trường tồn so với thời gian bể dâu. </span></span></span></p>
<p style="text-align:justify;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black">Hiện nay, đất Đồng Nai cũng tiếp tục là vùng đất mở để phát triển. Trên vùng đất này, hầu như có mặt đông đảo các thành phân dân tộc của Việt Nam sinh sống và nhiều người nước ngoài từ khắp các châu lục. Đó là một thực tế của diễn trình phát triển trong nhiều thời kỳ lịch sử cho đến nay. Mong sao, từ những tính cách tốt đẹp của những con người cụ thể là những tấm gương cho những ai đã từng sinh ra và lớn lên, cho những ai đến sinh sống và làm việc ở Biên Hòa – Đồng Nai được biết đến, suy gẫm và cùng góp phần để cống hiến cho vùng đất này như bao thế hệ của tiền nhân, để mạch nguồn được mãi khai thông.</span> </span></span></p>
<div style="text-align:center">
<table style="border-collapse:collapse;background:#ccffcc" border=0>
<colgroup>
<col style="width:391px"></colgroup>
<tbody valign=top>
<tr style="height:20px">
<td style="border-bottom:0.75pt outset;border-left:0.75pt outset;border-top:0.75pt outset;border-right:0.75pt outset" valign=center>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black"><strong><em>Vùng đất miền Đông Nam bộ nói chung, vùng đất Đồng Nai nói riêng vào cuối thế kỷ XVI, về cơ bản vẫn còn là một vùng đất hoang dã, chưa được khai phá.</em></strong></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black"><strong><em>trước năm 1958, vùng đất miền Đông Nam bộ trong đó có Đồng Nai, trên danh nghĩa, thuộc Chân Lạp, nhưng &quot;thuộc&quot; một cách lỏng lẻo. Các dân tộc vẫn sống tự trị và một số sóc Khơme lẻ tẻ chưa hợp thành đơn vị hành chính thuộc triều đình La Bích (Chân Lạp).</em></strong></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black"><strong><em>Cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, vùng đất Đồng Nai trở nên sôi động với sự xuất hiện của lớp cư dân Việt từ miền Thuận Quảng di cư vào.</em></strong></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><span style="color:black"><em><strong>Vào năm 1698, Chúa Nguyễn tổ chức xứ Đồng Nai - Gia Định: &quot;Mùa Xuân năm Mậu Dần (1098), đời vua Hiển Tông Hiếu Minh hoàng đế, sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Kính (Cảnh) vào kinh lược vùng đất Đồng Nai (nay là Nam bộ), đặt vùng đất mới thành phủ Gia Định gồm 2 huyện: huyện Phước Long dựng dinh Trấn Biên, huyện Tân Bình dựng dinh Phiên Trấn. Mỗi dinh đặt chức Lưu thủ, Cai bạ và Ký lục để quản trị; nha thuộc có hai ty Xá, Lại để làm việc; quân binh thì có cơ, độ, thuyền, thủy bộ tinh binh và thuộc binh để hộ vệ. Đất đai mở rộng 1.000 dặm, dân số hơn 4 vạn hộ...&quot;</strong> (Trịnh Hoài Đức, Gia Định Thành thông chí).</em></span> </span></span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial;color:black">(Theo Địa chí Đồng Nai)</span></span></p></td></tr></tbody></table></div>
<p style="text-align:center;margin-left:2pt"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">Theo nguồn Báo Đồng Nai  </span></span></p></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> 310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 22/06/2010 11:15 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.798</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>310 năm Biên Hoà - Đồng Nai</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 16:18:27 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=16</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Một phụ nữ quê ở Biên Hoà đã vượt ngàn dặm ra triều đình Huế gióng trống kêu oan cho chồng. Tên bà là gì? Sinh quán ở đâu? Bà đã được ban tặng danh hiệu gì?</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=155</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassE7B31A9F4E094E7F8BD6EDB2CBC0485B>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><b><font color="#666666" face=Arial>Trả lời: Tiêu biểu cho khí phách nữ lưu Biên Hoà- Đồng Nai là bà Nguyễn Thị Tồn đã vượt ngàn dặm xa ra triều đình Huế gióng trống kêu oan cho chồng. Bà ở làng Mỹ Khánh nay là Bửu Hoà, Biên Hoà-Đồng Nai, bà là vợ của ông Bùi Hữu Nghĩa đậu giải nguyên 1835 - tri huyện phủ Trà Vang - tỉnh Vĩnh Long, bà Nguyễn Thị Tồn gióng trống kêu oan cho chồng bị bọn tham quan hãm hại. Cảm kích trước khí phách và lòng thuỷ chung của bà, Từ Cung thái hậu ban cho bà tước hiệu “Liệt phụ khả phong”.</font></b> </span></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Hỏi đáp về Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 11:15 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.110</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Hỏi đáp về Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 16:16:22 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=155</guid>
    </item>
    <item>
      <title>LỄ THÀNH HẦU - NGUYỄN HỮU CẢNH</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=70</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassB982DEA07C4E498782DF95197E508FED>
<div><b><font color="#666666" size=2>Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700), là 1 tướng lĩnh tài ba, một nhà quản lý hành chính xuất sắc; người mở nước về phía Nam và cũng là người có công xây dựng nền móng cho Sài Gòn.</font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div style="line-height:150%;text-indent:36pt;margin-bottom:12pt" align=justify><span style="color:black">Nguyễn Hữu Cảnh sinh năm Canh Dần (1650) tại vùng đất nay thuộc xã Chương Tín, Huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình. Theo các nhà nghiên cứu thì tổ tiên của Nguyễn Hữu Cảnh là Đinh quốc công Nguyễn Bặc -1 vị tướng tài ba xuất sắc của vua Đinh Tiên Hoàng; ông cũng là cháu mấy đời của nhà chính trị đại tài của nước ta - Nguyễn Trãi. Cha ông là Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Đạt - người đã đóng góp nhiều công sức cho chúa Nguyễn trong cuộc đối đầu với chúa Trịnh. <br><br>           Lớn lên trong thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, Nguyễn Hữu Cảnh chuyên tâm luyện võ nghệ để có thể theo cha đi chinh chiến. Tuy còn trẻ tuổi nhưng ông đã lập được nhiều chiến công và đã được chúc Nguyễn Phúc Tần phong chức cai cơ (một chức quan võ thuộc bậc cao) vào lúc tuổi đôi mươi.<br><br>          Năm 1681 cha mất, ông cùng anh ruột là Nguyễn Hữu Hào nối nghiệp cha. Trong công việc và trong quan hệ xử thế, Nguyễn Hữu Cảnh rất cẩn trọng nên được lòng mọi người.<br><br>          Đầu xuân Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn Phúc Chu cử Nguyễn Hữu Cảnh làm thống suất vào Nam kinh lược và thiết lập bộ công quyền, đặt nền pháp trị và xác định cương thổ quốc gia. Theo đường biển, quân của Nguyễn Hữu Cảnh đi ngược dòng Đồng Nai đến cù lao Phố (1 cảng sầm uất nhất của miền Nam bấy giờ). Sau đó, Nguyễn Hữu Cảnh thanh tra vùng đất Sài Gòn và đặt hai đơn vị hành chính đầu tiên tại Nam Bộ là huyện Phước Long và huyện Tân Bình, dưới quyền của phủ Gia Định. Theo Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí thì &quot;đất đai mở rộng hơn ngàn dặm, dân số có thêm 4 vạn hộ&quot;. Nguyễn Hữu Cảnh đặt các bộ phận trông coi mọi việc như ký lục (trông coi về hành chính, thuế khóa), lưu thủ (trông coi về quân sự) và cai bộ (trông coi về tư pháp). Giúp việc cho các quan là các xá ty và một số đơn vị vũ trang. Đối với người Hoa, Nguyễn Hữu Cảnh tập hợp họ thành những tổ chức hành chính riêng như xã Thành Hà (Trấn Biên), xã Minh Hương (Phiên Trấn). Ông cho chiêu mộ nhân dân đi khẩn hoang lập ấp. Đại Nam liệt truyện (tiền biên quyển 1) ghi rõ Nguyễn Hữu Cảnh đã &quot;chiêu mộ&quot; dân phiêu tán từ từ châu Bố Chánh (nay là Quảng Bình) trở vào Nam vào đất ấy (tức là đất Trấn Biên và Phiên Trấn), rồi đặt xã thôn, phường ấp, định ngạch tô thuế và ghi tên vào sổ đinh&quot;. Như vậy biên giới nước ta đã mở rộng đến vùng này. Năm 1700, Nguyễn Hữu Cảnh cầm quân tiến xuống vùng biên giới Tây Nam ngày nay. Nhờ uy danh, Nguyễn Hữu Cảnh đã nhanh chóng giải quyết tình hình bất an của vùng này. Nhưng sau đó do bị bệnh nặng Nguyễn Hữu Cảnh qua đời, lúc ấy ông mới tròn 50 tuổi.</span></div>
<div align=justify>                                                                                             Theo www.suutap.com</div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 23/06/2010 1:45 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.102</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Danh nhân anh hùng trên đất ĐN</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 18:49:08 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=70</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Báo động ô nhiễm môi trường từ những làng nghề ở Đồng Nai</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=55</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass2E99DE70A13E4A7BAED4BF5731A37DC3>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Tại làng mộc ở phường Tân Hòa, thành phố Biên Hòa, nơi có hàng trăm hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống từ hàng chục năm nay, tuy đã được quy hoạch di dời ra khỏi thành phố nhưng do chưa có địa điểm ổn định nên nơi đây hàng ngày vẫn xả ra môi trường bụi mùn cưa, tiếng ồn và sơn phủ bàn ghế PU tạo ra bụi sơn làm ô nhiễm không khí. Cũng ở thành phố Biên Hòa, phố gò thùng thuộc phường Hố Nai hoạt động suốt ngày đêm không chỉ gây tiếng ồn lớn mà trong quá trình hàn chì và sơn, phủ hóa chất cũng tạo ra khí độc, bụi sơn ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của chính dân làm nghề và cộng đồng. Tình trạng ô nhiễm môi trường cũng đang ở mức báo động đối với làng nghề đúc gang, đồng ở xã Thạnh Phú huyện Vĩnh Cửu và cơ sở đúc đồng ở xã An Phước, huyện Long Thành. Dù công cụ đúc gang, đồng ở 2 nơi đây đã được cải tiến, lò nấu đã nâng cấp thay cho bễ thủ công, nhưng với mặt bằng nhỏ hẹp của sản xuất gia đình, môi trường xung quanh vẫn bị ảnh hưởng nặng bởi khí thải CO2, SO2 và kim loại nặng. Các làng nghề dệt vải, thổ cẩm ở xã Tà Lài (huyện Tân Phú), dệt lưới mùng ở phường Tân Mai (TP. Biên Hòa)... chủ yếu vẫn dùng công nghệ dệt thủ công nên bụi vải phát tán nhiều, tiếng ồn từ máy dệt cũ gây ồn lớn. Trong quá trình tẩy, nhuộm thường sử dụng các chất bột tạp, xút, a-xit, hóa chất tẩy rửa... xả ra nước thải độc hại và hoàn toàn không được xử lý... </span></p>
<p style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small">Trong những ngày đầu tháng 9, tại Đồng Nai, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Liên minh các Hợp tác xã Việt Nam tổ chức tập huấn cho hơn 100 cán bộ thuộc các HTX và làng nghề ở 6 tỉnh khu vực miền Đông Nam bộ nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững cho các cán bộ hoạt động trong các HTX và làng nghề; tăng cường sự hợp tác giữa sản xuất tại các HTX và làng nghề với các hoạt động bảo vệ môi trường như: Áp dụng sản xuất sạch hơn; áp dụng hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14000...từ đó nâng cao nhận thức đồng thời có chương trình hành động cụ thể trong việc đào tạo nguồn nhân lực, đầu tư kinh phí cho công tác bảo vệ môi trường ở các HTX, làng nghề. Trong kế hoạch từ nay đến năm 2010, với sự giúp đỡ của  Bộ Tài nguyên và Môi trường, Liên minh HTX Việt Nam sẽ chọn và nhân rộng phát triển các loại hình HTX và làng nghề có môi trường xanh.</span></p>
<p style="text-align:right"><span style="font-size:x-small">                                                                                                      Minh Hưng</span></p>
<p style="text-align:right"><span style="font-size:x-small">                                                                                            Theo </span><a href="http://www.nea.gov.vn/"><span style="font-size:x-small">www.nea.gov.vn</span></a><span style="font-size:x-small"><br></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 06/12/2007 11:10 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện có 157 HTX và 12 làng nghề với hơn 20 ngành nghề khác nhau thu hút khoảng 18.000 lao động trực tiếp. Tuy nhiên, các HTX và các làng nghề này chưa quan tâm đến vấn đề môi trường; phần lớn các rác thải, khí thải, nước thải không được xử lý mà xả thẳng ra môi trường gây hại trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng, đang là mối nguy cho sự phát triển bền vững, kéo theo tình trạng ô nhiễm ngày một tăng.</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.305</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Ô nhiễm môi trường, nguồn nước</category>
      <pubDate>Tue, 22 Jun 2010 18:17:21 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=55</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Đình Tân Lân</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=89</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassD66258E5BA684CCD9272A3CF487BD537>
<div><b><font color="#666666" size=2>Đình Tân Lân, xưa kia thuộc thôn Tân Lân, huyện Phước Chánh, dinh Trấn Biên, nay là phường Hoà Bình, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Đình toạ lạc giữa vùng dân cư trên đường Nguyễn Văn Trị, mặt tiền hướng ra dòng sông Đồng Nai lộng gió, cách trụ sở Uỷ ban nhân dân tỉnh 500m về hướng tây bắc. </font></b></div>
<div><font size=2>﻿ 
<div>Từ khi xây dựng, nhân dân đã lấy tên gọi của thôn là Tân Lân (Xóm Mới) để đặt cho đình. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, tên địa phương nhiều lần thay đổi nhưng tên đình vẫn tồn tại cùng tháng năm. Tương truyền, nguyên thủy đình Tân Lân là ngôi miếu nhỏ ở thành Kèn do dân làng dựng lên từ thời Minh Mạng (1820 -1840) để tỏ lòng ngưỡng vọng Trấn Biên Đô đốc tướng quân Trần Thượng Xuyên, người có công lớn trong việc khai phá đất đai và mở mang thương mại vùng Đồng Nai - Gia Định. Sau hai lần dời chuyển (vào năm 1861 và 1906), ngôi đình ở vị trí hiện nay.</div>
<div>Toạ lạc trên khuôn viên đất rộng khoảng 3.000m<sup>2</sup>, đình Tân Lân bề thế, uy nghiêm với lối kiến trúc mang đậm dấu ấn của văn hoá Trung Hoa. Khách đến tham quan sẽ nhận thấy sự trang nghiêm, đầy hưng thịnh của ngôi đình.</div>
<div>Mặt đình hướng về phía tây nam, được kiến trúc theo kiểu chữ tam (三) gồm ba gian: tiền đình, chánh điện và hậu cung nối tiếp nhau. Hai bên tả hữu là miếu thờ Bà và thờ Ông. Mái đình lợp ngói âm dương. Nền cao 60cm bằng đá xanh, lót gạch bông (20cm X 20cm). Bên trong đình, mỗi gian được bài trí điện thờ, hoành phi, câu đối, bao lam bằng gỗ do các nghệ nhân dân gian chạm trổ tinh vi, sắc sảo mang tính nghệ thuật cao. Các đề tài đều tượng trưng cho hạnh phúc, phồn vinh, tước lộc, công hầu... theo thông tục của người phương Đông.</div>
<div>Phần tiền đình có diện tích 75,5m<sup>2</sup>, bộ khung vì bằng gỗ, trên các xà ngang chạm khắc đề tài dơi, đào, hoa, lá... biểu tượng cho sự phước thọ, trường tồn. Trên nóc trang trí đề tài “Lưỡng long tranh châu nhật”, “Lý ngư hoá long”... biểu tượng cho sự thịnh vượng, như ý. Mặt tiền mái đình là cả một công trình nghệ thuật đặc sắc tô điểm cho nền trời xanh thoáng đãng. Hằng trăm tượng người, vật bằng gốm sứ men xanh thể hiện các đề tài cổ điển phương Đông một cách sinh động, tài hoa. Khó có ai ngờ rằng, gần một trăm năm qua, những “Bát tiên quá hải”, “Quan Công phò nhị tẩu”, những chuyện tích thời chiến quốc, nhật nguyệt, lân phụng... sống động trên mái ngói, thi gan với nắng mưa mà vẫn nguyên vẹn sắc màu và đường nét.</div>
<div>Phần chánh điện chiếm diện tích 487,5m<sup>2</sup>. Tôn nghiêm nhất là gian giữa với những hàng cột gỗ lim to dị thường, với tượng thần uy nghiêm ngự trên ngai sơn son thếp vàng, với những cặp chim trĩ, loan, phượng... bằng đồng đứng chầu trong tư thế duyên dáng và trang nghiêm. Trước bàn thờ thần là bàn La liệt, tiếp đến là bàn hội đồng nội. Song song với bàn La liệt và bàn hội đồng nội là hai bộ bát bửu bằng đồng. Hai gian bên thờ tả và hữu ban. Dọc tường tả hữu có các bệ thờ Thái Giám, Hậu Hiền, Bạch Mã và Tiền Hiền. Toàn bộ khung vì được làm bằng gỗ tốt, có cột chống ở giữa kiểu bình nước, được lắp ghép với kỹ thuật mộng chốt và gắn dầu rái đảm bảo độ bền vững cao.</div>
<div>Hậu cung có diện tích 120m<sup>2</sup> được chia thành ba gian, chính giữa thờ Tiên sư, hai bên thờ Tiền thứ Việt Nam và Tiền thứ Trung Hoa, được đặt trên bệ thờ bằng xi măng lót gạch men xanh.</div>
<div>Ngoài ra, sau đình còn có khu nhà bếp nối liền với hậu cung, kiến trúc đơn giản, là nơi nấu ăn của đình.</div>
<div>Những ai quan tâm đến mỹ thuật không thể không khâm phục bàn tay tài hoa của các nghệ nhân sáng tạo ngôi đình qua các tác phẩm điêu khắc đá, chạm khắc gỗ, phù điêu ghép sành, cẩn xà cừ, tượng sành kiểu Hoa Nam... trong đó ẩn chứa những triết lý nhân sinh sâu sắc. Toàn bộ những mảng trang trí trên là sự kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn giữa hai yếu tố kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn với yếu tố kiến trúc nghệ thuật đặc trưng vùng Hoa Nam (Trung Quốc). Đây cũng là sản phẩm gần như cuối cùng của lớp nghệ nhân tài hoa bản địa.</div>
<div>Đình Tân Lân đã thể hiện được sự tôn nghiêm mà trữ tình, hoành tráng mà tinh xảo, xứng đáng với lòng ngưỡng mộ của nhân dân đối với “Đức Ông” Trần Thượng Xuyên.</div>
<div>Trần Thượng Xuyên tự Trần Thắng Tài, sinh vào năm nào không rõ và mất khoảng năm 1720 (ngày 23 - 10 Âm lịch)<sup>(<a title="" href="http://127.0.0.1:63395/help/topic/vn.dongnai.sdt.dongnaiditich/html/dnditich.html#_ftn3" name="_ftnref3"><span><span><span style="line-height:110%;font-size:14pt">[3]</span></span></span></a>)</sup> người tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), nguyên là Tổng binh ba châu Cao-Lôi-Liêm dưới triều Minh.</div>
<div>Năm 1649, vương triều Minh sụp đổ. Năm 1679, sau khi phất cờ “Bài Mãn phục Minh” thất bại, ông đem hơn 3.000 quân thân tín cùng gia quyến trên 50 thuyền đến Đại Việt xin thuần phục. Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) chấp thuận cho vào khai khẩn xứ Đông Phố đang còn hoang sơ.</div>
<div>Ông đưa lực lượng của mình đến định cư tại vùng Nông Nại đại phố (địa phận Bàn Lân). Cùng nhóm lưu dân người Việt đến trước, ông và lực lượng của mình tiến hành khai khẩn quy mô lớn vùng đất màu mỡ phương Nam. Mặt khác, ông chiêu tập thương nhân người Hoa kiến thiết phố xá, tạo lập các cơ sở thương mại. Với biệt tài tổ chức, chẳng bao lâu Trần Thượng Xuyên đã biến vùng đất hoang sơ thành thị tứ buôn bán sầm uất, kinh tế phát triển nhanh chóng. Nông Nại đại phố (còn gọi là Cù Lao Phố) trở thành thương cảng phồn thịnh, là trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế vào bậc nhất phương Nam lúc bấy giờ.</div>
<div>Ông được lịch sử xác định như người có công lớn trong việc khai phá và xây dựng vùng đất Đồng Nai - Gia Định. Công đức to lớn của ông được nhân dân ghi tạc, tôn thờ, xem như vị thần đã khai sáng vùng đất này.</div>
<div>Về hoạt động quân sự, Trần Thượng Xuyên là một dũng tướng thao lược của chúa Nguyễn. Ông đã nhiều lần cầm binh đánh dẹp Cao Miên, giữ an bờ cõi, mở rộng biên cương nước Việt.</div>
<div>Khoảng đầu những năm 1690, ông cùng Mai Vạn Long đánh bắt được Nặc Ông Thu, chiếm ba lũy Cầu Nam, Nam Vang, Gò Bích. Năm 1700, ông cùng Nguyễn Hữu Cảnh tiến đánh vua Chân Lạp lần hai. Sau trận tiến công này, vùng đất Biên Trấn, Phiên Trấn, Định Tường, Long Hồ, An Giang đã được sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong. Năm 1715, ông lại cùng với Nguyễn Cửu Phú đi đánh dẹp bọn Nặc Ông Thâm, hạ được thành La Bích.</div>
<div>Trần Thượng Xuyên mất ngày 23 tháng 10 âm lịch khoảng năm Canh Tý (1720) an táng tại mạn bắc dinh Trấn Biên (nay thuộc xã Mỹ Lộc, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).</div>
<div>Ghi nhớ công đức của Trần Thượng Xuyên, chúa Nguyễn đã ban danh hiệu cao quý “Nguyễn vi vương, Trần vi tướng, đại đại công thần bất tuyệt”. Các vua Minh Mạng, Thiệu Trị đều phong ông làm “Thượng đẳng thần”. Để tỏ lòng ngưỡng mộ và đền đáp công ơn người đã có công tổ chức khai phá, mở mang vùng đất Đồng Nai - Gia Định, nhân dân hai nơi này đều lập đền thờ ông, khói hương không dứt.</div>
<div>Đình Tân Lân đã được Bộ Văn hoá - Thông tin - Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 457/QĐ, ngày 25 - 3 - 1991.</div>
<div>Hàng năm, nhân dân lấy ngày ông mất làm ngày giỗ trọng. Ngày ấy, đình Tân Lân nghi ngút khói hương, dập dìu khách thập phương trong nghi lễ cổ truyền.</div>
<div align=right><b>Nguyễn Tuyết Hồng</b></div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Di tích lịch sử văn hóa</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 10:20 SA</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.887</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Di tích lịch sử văn hóa</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 03:22:15 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=89</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Pháp đánh chiếm Biên Hoà Đồng Nai vào năm nào?</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=159</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassA3AEA3603DB541D8803519EBDE3C6B9C>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial"><b><font color="#666666">Ngày 4/2/1861, quân Pháp đánh chiếm đại đồn Chí Hoà ở Gia Định, Nguyễn Tri Phương lui quân về thành Biên Hoà để chống nhau với giặc Pháp.</font></b> </span></span></div>
<div style="text-align:justify"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:Arial">﻿ </span></span></div>
<div><span style="font-family:Arial"><font size=2>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="font-size:x-small">Kế hoạch đánh chiếm Biên Hoà được tướng Bonard chỉ huy quân Pháp ở Sài Gòn chuẩn bị từ tháng 12/1861.</span></div></font></span><span style="font-size:x-small">
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"> </div>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"><span style="font-family:Arial">Ngày 14/12/1861, liên quân Pháp và Tây Ban Nha với khoảng 1000 quân, hai hạm thuyền tiến đánh tỉnh Biên Hoà cả đường bộ và đường bộ. Quân triều đình Nguyễn ở Biên Hoà chống trả khá quyết liệt, nhưng không giữ được thành và các phòng tuyến. Sáng ngày 17/12/1861, thực dân Pháp chiếm được tỉnh lỵ Biên Hoà.</span></div></span><font size=2>
<div style="text-justify:inter-ideograph;text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36pt"> </div></font></div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Hỏi đáp về Đồng Nai</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 24/06/2010 11:15 CH</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 902</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
]]></description>
      <author>System Account</author>
      <category>Hỏi đáp về Đồng Nai</category>
      <pubDate>Thu, 24 Jun 2010 16:19:29 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/trangtin/diachiDN/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=159</guid>
    </item>
  </channel>
</rss>