﻿<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<!--RSS generated by Windows SharePoint Services V3 RSS Generator on 28/10/2026 11:10:21 SA-->
<?xml-stylesheet type="text/xsl" href="/vietnamlao/_layouts/RssXslt.aspx?List=258af021-3ffc-44b8-a090-f6ac9f839776" version="1.0"?>
<rss version="2.0">
  <channel>
    <title>Việt Nam Lào Trường Tồn và Phát Triển: Bài đăng</title>
    <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vietnamlao/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    <description>Liên kết nạp tin tự động RSS cho Bài đăng danh sách.</description>
    <lastBuildDate>Wed, 28 Oct 2026 04:10:21 GMT</lastBuildDate>
    <generator>Windows SharePoint Services V3 RSS Generator</generator>
    <ttl>60</ttl>
    <image>
      <title>Việt Nam Lào Trường Tồn và Phát Triển: Bài đăng</title>
      <url>/vietnamlao/_layouts/images/homepage.gif</url>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vietnamlao/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    </image>
    <item>
      <title>Một số quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quan hệ Việt – Lào</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vietnamlao/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=2</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass33192D88E24E44889A9222CBA1032707><div class=ExternalClass8E0BE38333A441E1892F784DD14F9413>
<p> </p>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Cũng từ đây, cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân hai nước Việt - Lào gắn bó với nhau, ngày càng phát triển trong tình đoàn kết chiến đấu và tạo nên mối quan hệ đặc biệt giữa hai Đảng và hai Nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ gắn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, mà người đã giáo dục cho những người cách mạng chân chính Việt Nam và Lào nhận thức sâu sắc mối quan hệ của cách mạng hai nước, phát huy tài tình, sáng tạo sức mạnh chung của hai dân tộc, biến nó thành nhân tố thúc đẩy và giành thắng lợi trong: Cách mạng Tháng Tám, kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Bài viết này đề cập một số quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ Việt - Lào:</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><b><span style="font-size:12pt">1. Luôn luôn coi trọng và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và liên minh trong đấu tranh chống kẻ thù chung</span></b></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Việt Nam và Lào đều là hai nước có địa lý chính trị quan trọng và tầm chiến lược trong khu vực Đông Nam Á, nếu kẻ địch thôn tính được Việt Nam hoặc Lào, thì chúng sẽ làm chủ toàn bộ bán đảo Đông Dương và tác động đốn các nước trong khu vực. Trong điều kiện như vậy, sự gắn bó giữa Việt - Lào để chống xâm lược, can thiệp, phá hoại là một đòi hỏi khách quan.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhìn thấy: Tiền đề quan trọng về địa lý chính</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">trị trong liên minh chiến đấu Việt - Lào.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: &quot;Từ xưa đến nay, hai nước Việt và Lào là láng giềng và hai dân tộc là anh em&quot;<sup>(1)</sup> . Thực tiễn lịch sử đã cho thấy, kẻ thù của hai dân tộc Việt - Lào luôn là những kẻ có tiềm lực hơn chúng ta gấp nhiều lần (về kinh tế và quân sự), cho nên hai dân tộc anh em cần phải đoàn kết, tạo thành sức mạnh to lớn trong chiến đấu chống kẻ thù chung: &quot;Đoàn kết chặt thì lực lượng to. Lực lượng to thì quyết thắng lợi&quot; <sup>(2)</sup> . Trong &quot;<i>Điện mừng nhân dịp kỷ niệm ngày quốc khánh nước Lào</i>&quot;, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định niềm tin vào sức mạnh của liên minh chiến đấu Việt - Lào: &quot;Tin chắc rằng tình hữu nghị của hai dân tộc Lào - Việt sẽ đủ sức đánh đuổi kẻ thù chung là thực dân Pháp và can thiệp Mỹ&quot;<sup>(3)</sup>. Thủy chung với tình hữu nghị láng giềng truyền thống, trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, Đảng và nhân dân Việt Nam đã giúp đỡ đến mức cao nhất về vật chất và tinh thần cho cuộc kháng chiến Lào. Đáp lại, Đảng và nhân dân Lào đã ủng hộ rất nhiều cho cách mạng Việt Nam, trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc phối hợp chặt chẽ giữa quân và dân hai nước, buộc kẻ thù phải phong tỏa lực lượng ở cả hai chiến trường, điều đó cũng có nghĩa là sức mạnh của chúng sẽ bị giảm đi. Đây là một tiền đề khách quan, để Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao: ý nghĩa của liên minh chiến đấu Việt - Lào. Do đó, trong &quot;<i>Thư gửi các đơn vị bộ đội ta có nhiệm vụ tác hiên ở Thượng Lào</i>&quot;, Người căn dặn: &quot;Lần này là lần đầu tiên, các chú nhận một nhiệm vụ quan trọng và vẻ vang như nhiệm vụ này, tức là giúp nhân dân nước bạn. Mà giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình&quot;<sup>(4)</sup>. Người muốn nhắc nhở bộ đội ta, khắc phục tư tưởng cục bộ, dân tộc, cũng như tư tưởng ban ơn, thực dụng ỷ lại bao biện mà làm sai chủ trương ủa Đảng ta. Để làm tròn nhiệm vụ ấy, theo Người cần phải: &quot;Vượt qua mọi khó khăn, thi đua diệt địch, chiến đấu anh đang ở bên đó cũng như ta; Nêu cao tinh thần quốc tế, tôn trọng chủ quyền, tôn trọng phong tục tập quán; kính yêu nhân dân của nước bạn; Tuyệt đối giữ gìn kỷ luật, giữ gìn danh tiếng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tất cả phải có quyết tâm rất cao, rất bền, tranh nhiều thắng Lợi&quot;</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Thấm nhuần lời dạy của Bác và mang quyết tâm cao nhất nhằm hoàn thành nghĩa vụ quốc tế, bộ đội ta tiến quân vào các chiến dịch với khí thế quyết chiến, quyết thắng. Cảm kích trước tinh thần thuốc tế vô sản của bộ đội ta, trong <i>&quot;Hồi ký”</i> của mình, đồng chí Phami Vôngvichít viết: Thái độ và đạo đức tốt đẹp của cán bộ, bộ đội quân tình nguyện Việt Nam đã Làm cho cán bộ bộ đội và nhân dân Lào yêu mến họ, làm cho tình đoàn kết Lào - Việt Nam mà hai bên cùng nhau xây đắp bằng xương máu ngày càng bền chặt. Trong kháng chiến chống Mỹ, quan hệ Việt - Lào phát triển lên đỉnh cao của hình thức liên minh chiến lược trực tiếp chống đế quốc, trở thành mẫu mực về tình đoàn kết chiến đấu, hỗ trợ lẫn nhau trên mọi lĩnh vực. Trong bài diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: &quot;Nhân dân Việt Nam ta kiên quyết ủng hộ cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Lào hiện nay nhằm chống đế quốc Mỹ, nhằm đưa nước Lào lên con đường hòa hợp dân tộc, độc lập, thống nhất và hòa bình trung lập&quot;<sup>(6)</sup>. Sức mạnh của mỗi dân tộc tạo nên sức mạnh của quan hệ đoàn kết gắn bó Việt - Lào, là nhân tố bên trong có tính chất quyết định nhất. Phải coi trọng, chăm lo và phát triển thực lực cách mạng của từng nước, trên cơ sở đó tăng cường củng cố liên minh dân tộc và liên minh chiến đấu. Đó là hai mặt luôn gắn bó, tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ nhau. Vì vậy, giúp đỡ nhau trưởng thành về mọi mặt để mỗi bên đủ sức giải quyết các vấn đề của mình một cách phù hợp và mang lại hiệu quả cao, là nội dung chủ yếu trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ Việt Lào.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><b><span style="font-size:12pt">2. Coi trọng sự nhất trí về quan điểm và đường lối chính trị là cơ sở để củng cố và phát triển quan hệ đặc biệt Việt - Lào, là sức mạnh to lớn trong kháng chiến chống kẻ thù chung</span></b></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Quan hệ Việt - Lào là một minh chứng cho sự nhất quán toàn diện nhất của hai Đảng, hai Nhà nước và hai dân tộc. Mối quan hệ tốt đẹp này, đã được các lãnh tụ cách mạng tiền bối là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Xuphanuvông, Chủ tịch Cayxỏn Phônvihản, các nhà lãnh đạo kế tiếp của cách mạng hai nước gây dựng và vun đắp, đã đưa quan hệ hai dân tộc trở thành: Quan hệ hữu nghị đoàn kết đặc biệt, mẫu mực trong quan hệ quốc tế của thời đại.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời là mốc quan trọng cho sự thống nhất về quan điểm và đường lối chính trị của cách mạng Việt Nam và Lào. Liên minh đoàn kết dân tộc, liên minh chiến đấu, ra đời và phát triển đã trở thành một quy luật của cách mạng hai nước, làm nên sức mạnh vật chất to lớn chống chọi với thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược từ bên ngoài; cũng như sự phá hoại bên trong của các lực lượng phản động.Tư cách, phẩm chất, đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ảnh hưởng sâu sắc tới các nhà cách mạng tiền bối của Lào, đây chính là một nhân tố cho sự thống nhất về quan điểm, đường lối chính trị sau này.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Trong <i>&quot;Hồi ký”</i> của con trai út Chủ tịch Xuphanuvông (Xinava Xuphanuvông) viết: Cha tôi luôn kể cho chúng tôi nghe về những ngày hệ trọng trong cuộc đời ông, trong đó ông như nhất là lần đầu tiên gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính cuộc gặp gỡ đó, đã biến đổi ông từ một Thái tử của Hoàng gia Lào thành người chiến sỹ cách mạng. Sau khi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, về nước việc đầu tiên mà Hoàng thân Xuphanuvông muốn làm là: Bắt tay vào xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang và tiến hành mở rộng địa bàn kiểm soát.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Chính sự thống nhất về quan điểm, đường lối chính trị, mà ngày 29 - 10 - 1949, tại Băng Cốc (Thái Lan), Hoàng thân Xuphanuvông tuyên bố với các phóng viên, thông tấn, báo chí: &quot;Chúng tôi khẳng định một lần nữa lòng tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân chúng tôi trong cuộc kháng chiến. Chúng tôi tin chắc vào thắng lợi và chúng tôi không hề đơn độc trên con đường chính nghĩa của mình. Các bạn Inđônêxia, Việt Nam và Campuchia cũng đang đi con đường này và chúng tôi được sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng tự do, nhất là các nước bạn vĩ đại, đó luôn luôn là sự động viên to lớn đối với chúng tôi&quot;<sup>(7)</sup>.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Trong <i>&quot;Hồi ký&quot;</i> của ông Phumi Vôngvichít (ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, quyền Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào) cho biết trong những năm kháng chiến chống Mỹ chống Pháp có lần gặp Bác Hồ ở chiến khu, ông viết: &quot;Tôi rất sung sướng được Chủ tịch Hồ Chí Minh giảng giải về lý luận chính trị, rất hấp dẫn và rất sáng. Tôi cũng học được ở Người về cách nói giản dị, sát thực tế, đầy sức thuyết phục và kiên trì giáo dục không mệt mỏi của Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh tôi không bao giờ quên được&quot;<sup>(8)</sup>. Ông còn cho biết: Khi nghiên cứu đường lối, chủ trương cách mạng Lào, ông nhận thấy, những bài học vô giá mà ông và các đồng chí của ông thu được từ Chủ tịch Hồ Chí Minh là vô cùng quý giá. Từ đó, ông và các đồng chí của ông càng phấn khởi và thêm tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng Lào.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Trong những năm tháng gian nan, thử thách đối với nhân dân hai dân tộc Việt - vào, bốn câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là nguồn cổ vũ, tiếp thêm nguồn sinh khí cho nhân dân hai nước:</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><i><span style="font-size:12pt">“thương nhau mấy núi cũng trèo,</span></i></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><i><span style="font-size:12pt">Mấy sông cũng nội, mấy đèo cũng qua.</span></i></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><i><span style="font-size:12pt">Việt - Lào, hai nước chúng ta,</span></i></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><i><span style="font-size:12pt">Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long” <sup>(9)</sup></span></i></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Những câu thơ trên của Bác thấm đượm tình nghĩa Việt - Lào, Lào - Việt, nó đã thấm sâu vào lòng quân dân hai nước, như tiếng kèn xung trận, thôi thúc hai dân tộc kề vai sát cánh bên nhau, gánh đỡ cho nhau những khó khăn, tạo cho nhau những thuận lợi, <i>&quot;cọng rau bẻ nửa, hạt muối cắn đôi&quot;</i>.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Trong quá trình phát triển mối quan hệ Việt - Lào trước những thay đổi của tình hình mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn ủng hộ đường lối hòa bình, độc lập, trung lập và hoạ hợp dân tộc của Vương quốc Lào. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng xác định rõ tầm quan trọng có ý nghĩa chiến lược đặc biệt của quan hệ giữa hai Đảng và nhân dân hai nước, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa quốc tế vô sản và chủ nghĩa yêu nước làm nền tảng. Nói cách khác, đây là mối quan hệ anh em, đồng chí, cùng chung quan điểm và đường lối chính trị, cùng chung kẻ thù, cùng đồng cam cộng khổ, sống chết có nhau, vì nền độc lập tự do của nhân dân mỗi nước và cả hai nước. Donhận thức đúng đắn về tầm quan trọng có ý nghĩa chiến lược đặc biệt, nên ngay từ đầu: Hai Đảng đã có sự phối hợp ăn khớp, nhịp nhàng với nhau, khi đề ra chủ trương cho cách mạng hai nước. Lịch sử đã chứng minh, qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ! </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Tuy nhiên, trong lúc hai bên làm việc với nhau cũng có những ưu, khuyết điểm, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: &quot;Nói khuyết điểm thì cả Lào lẫn Việt đều có, làm thế nào giúp nhau thấy khuyết điểm, thành thật phê bình có thế mới đoàn kết chặt chẽ&quot; <sup>(10)</sup> . Vì vậy, trong quá trình chỉ đạo cách mạng, Bộ Chính trị của hai Đảng thường xuyên tiến hành các cuộc tiếp xúc, trao đổi, tạo ra sự thống nhất về chủ trương: Chiến lược, sách lược, nhằm đưa cách mạng hai nước theo kịp với những chuyển biến ở trong nước và quốc tế.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><b><span style="font-size:12pt">3. Tôn trọng độc lập, tự chủ của mỗi dân tộc, phải nắm vững cái chung và phát huy cái riêng ở mỗi nước </span></b></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Đảng ta mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được Việt Nam, Campuchia và Lào có mối quan hệ về kinh tế, chính trị, cùng chung mục tiêu giải phóng dân tộc khỏi ách xâm lược của thực dân, đế quốc. Do vậy, cách mạng ba nước không thể tách nhau, phải dựa vào nhau. Mặt khác Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nói rõ: Tình hình mỗi nước có nhiều điểm khác nhau; nên cách mạng vận động ở mỗi nước có những đặc điểm riêng. Vì vậy, cần chông chủ quan, áp đặt, cũng như giáo điều, rập khuân.Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 5 - 1941) đã ra nghị quyết thành lập ở mỗi nước một Mặt trận dân tộc thống nhất riêng, để việc tập hợp lực lượng cách mạng mỗi nước phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mình. Ở Việt Nam là: Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh), ở Lào là: Mặt trận Ai Lao độc lập đồng minh. Bước sang năm 1951, phong trào cách mạng mỗi nước đã phát triển và ngày càng trưởng thành. Cuộc kháng chiến của ba nước Đông Dương tuy có cùng chung một mục tiêu và cùng chung một chiến trường; nhưng tới lúc này, tình hình đòi hỏi phải có một tổ chức và một đường lối phù hợp với đặc điểm của mỗi nước. Để đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng và phong trào kháng chiến ở cả ba nước, Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương được triệu tập (tháng 2 - 1951). Đại hội quyết định thành lập chính Đảng riêng ở mỗi nước: Việt Nam là: Đảng Lao động Việt Nam, ở Lào đến ngày 22 - 3 - 1955 thành lập Đảng Nhân dân Lào. Cũng từ đây, liên minh Việt - Lào đã chuyển sang một giai đoạn mới. Cách mạng Việt Nam và Lào từ chỗ do một Đảng lãnh dạo, chuyển qua do hai Đảng ở hai nước lãnh đạo, trên cơ sở bình đẳng với nhau, nhưng tự nguyện liên minh với nhau nhằm mục đích chung và lý tưởng chung. Do đó, phát huy được tinh thần tự chủ, độc lập, sáng tạo của mỗi Đảng, phù hợp với đặc điểm riêng của cách mạng mỗi nước và phát huy ý thức, trách nhiệm của những người cách mạng mỗi nước đối với vận mệnh của dân tộc mình; đồng thời vừa tăng cường và phát triển mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào, Lào - Việt.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào - Cayxỏn Phônvihản đã khẳng định tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tinh thần độc lập, tự chủ trong bài phát biểu nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh: Từ những ngày cách mạng Lào còn trứng nước đến lúc đã trưởng thành, Bác Hồ luôn luôn quan tâm dẫn đường chỉ lối. Bác thường giáo dục chúng tôi phải &quot;nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường” Bác nhấn mạnh: &quot;<i>Có nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường thì cách mạng mới phát triển nhanh chóng, đoàn kết quốc tên mới vững chắc</i>&quot;<sup>(11)</sup>.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giáo dục cán bộ cách mạng của Lào: &quot;Phải nắm vững sự nghiệp cách mạng nào là của nhân dân Lào, phải đi vào dân, đi xuống cơ sở bám chắc lấy dân, lấy việc giáo dục động viên tổ chức nhân dân làm cách mạng và mục tiêu phấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Bác thường xuyên nhắc nhở chúng tôi chăm lo đoàn kết nhân dân các bộ tộc Lào&quot;<sup>(12)</sup>. Qua mỗi nước trưởng thành của cách mạng vào, Chủ tịch Hồ Chí Minh và những người học trò gần gũi Người như: Đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp Cùng với các cán bộ cách mạng Lào trao đổi kinh nghiệm, góp ý kiến để xây dựng cơ sở, xác lập căn cứ cách mạng, mở rộng vùng giải phóng, xây dựng lực lượng vũ trang, phát động đấu tranh ởcùng địch tạm chiếm, tiến hành đấu tranh, liên hiệp, thực hiện hòa hợp dân tộc &quot;Bác chỉ bảo chúng tôi nắm vững chiến Lược, có sách lược đấu tranh sáng tạo&quot;(là Trong quá trình chỉ đạo và thực hiện chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quán triệt cán bộ và bộ đội ta: Phải đảm bảo tuyệt đối công tác bí mật, tôn trọng đầy đủ ác nguyên tắc làm việc giữa hai Đảng, coi trọng ý kiến của phía Lào, mọi công việc của Lào là do Lào tự quyết định, phía Việt Nam không được bao biện làm thay. Về quan hệ hai Đảng, hai Nhà nước: Giữa hai chính phủ nếu có những vấn đề gì lớn thì hai Đảng cần phải có sự trao đổi ý kiến trước. Do quan hệ giai cấp, dân tộc và quốc tế luôn luôn có sự chi phối của vấn đề lợi ích. Hai Đảng, hai Nhà nước đã nhận rõ và có cách xử lý đúng đắn đối với vấn đề thuộc về lợi ích chung, tạo ra sức mạnh cho khối liên minh. Tuy nhiên, do khác nhau về hoàn cảnh nên bên cạnh sự thống nhất vẫn có sự khác biệt về lợi ích riêng, cục bộ khó tránh khỏi. Vì vậy, cần phải thường xuyên trao đổi, lắng nghe ý kiến và tôn trọng ý kiến của nhau, bàn bạc thống nhất, đảm bảo sự nhất trí cao, tạo sự tin cậy gắn bó thực sự, xây dựng tình cảm chân thành, tinh thần tương trợ, tránh hình thức, đồng thời không coi nhẹ các thông lệ quốc tế cần thiết trong quan hệ. Trên tinh thần đó, mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào, đã biến thành hành động cách mạng của nhân dân hai nước. Năm 1975, cách mạng hai nước thắng lợi, nền độc lập tự do phải đổ bằng biết bao xương máu của quân vụ dân hai dân tộc việt - Lào cuối cùng cũng được đền đáp xứng đáng. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Sau khi hai nước giành độc lập, quan hệ hai nước trở thành quan hệ giữa hai quốc gia độc lập có chủ quyền, đang cùng tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng tiền phong. Tuy lúc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng mối quan hệ Việt - Lào đã và đang được hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước ngày càng thắt chặt. Trong tình hình mới, quan hệ Việt - Lào, vẫn còn ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh của mỗi nước trong tiến trình hội nhập với thế giới. Sự nghiệp cách mạng của hai nước đòi hỏi phải được tăng cường, mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào cần phải phát triển lên một tầm cao mới: Theo hướng toàn diện và chặt chẽ trên các lĩnh vực (chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa), trong đó hợp tác về kinh tế và văn hóa trở thành lĩnh vực hết sức quan trọng, tạo nền tảng cho việc củng cố quan hệ lâu dài giữa hai nước. Do đó, quan hệ Việt - Lào phải được đổi mới về nội dung và phương thức, nhưng dựa trên nguyên tắc: tôn trọng độc lập, tự thủ của mỗi dân tộc, Ngày 18 - 7 - 1977, Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ký tại Thủ đô Viêng Chăn. Hiệp ước, khẳng định việc tăng cường tình đoàn kết keo sơn và quan hệ hợp tác lâu dài về mọi mặt giữa Việt Nam và Lào. Phù hợp với quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quan hệ Việt - Lào, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của các thế hệ lãnh đạo, và lợi ích sống còn của nhân dân mỗi nước trong sự nghiệp bảo vệ độc lập và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì lợi ích, sự phát triển của mỗi dân tộc, góp phần vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và thế giới. Những trang sử của hai dân tộc Việt - Lào, sẽ đẹp mãi với những chiến công hào hùng của thế hệ cha anh chúng ta. Dãy trường Sơn hùng vĩ như: &quot;Lá chắn chiến tranh&quot;, &quot;Bức tường thành vừng chắc&quot;<sup>(14)</sup>, trường tồn cùng sông núi và thời gian, là biểu tượng của sự kiên cường, bền vững, ủa ý chí quyết tâm kháng chiến chống Mỹ hành độc lập, tự do của hai dân tộc, gắn bó hai dân tộc với nhau. Ngày nay, hai dân tộc Việt - Lào vẫn không quên lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi chiêu đãi Vua Lào - Xrixavang Vátthana, Người khẳng định: &quot;Hai dân tộc Việt và Lào sống lên nhau trên cùng một dải đất, cùng có chung một dãy núi Trường Sơn. Hai dân tộc chúng ta đã nương tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau như anh em... Tình nghĩa láng giềng anh em Việt - Lào thật thắm thiết không bao giờ phai nhạt được&quot;<sup>(15).</sup> </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn quân và dân Việt Nam: &quot;Phải biết yêu thương sông núi, cỏ cây, nhân dân Lào như yêu thương chính cỏ cây sông núi, nhân dân, Tổ quốc Việt Nam&quot;<sup>(16)</sup>. Không thể có nội đơn vị đo lường nào đánh giá hết chừng thắng lợi và những lợi ích mà nhân dân hai dân tộc Việt - Lào, đã đạt được trong cuộc đấu tranh cách mạng chung. Và nỗi thắng lợi, mỗi quyền lợi đó đều gắn với tình cảm trong sáng, thủy chung, sự hy sinh cao cả, sự giúp đỡ chí tình, vô tư của nhân dân hai nước Việt - Lào.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Nhìn lại chặng đường lịch sử mà hai dân tộc Việt - Lào đã đi qua, cũng có biết bao thăng trầm và không ít thử thách thức lớn. Nhưng ở bất kỳ thời điểm nào, quan hệ Việt - Lào vẫn luôn là quan hệ thủy chung, trong sáng và tràn đầy tình hữu nghị nồng thắm. Chúng ta vô cùng cảm động và thấy rằng, lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn: Việt Nam và Lào luôn kề vai sát cánh bên nhau chiến đấu, mối quan hệ gắn bó với nhau bởi lòng quý trọng và tình đoàn kết đặc biệt mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã xây đắp nên và được Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước chúng ta dày công nâng niu, vun đắp &quot;Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt sẽ mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông<sup>(17).</sup> </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:x-small"><b>CHÚ THÍCH</b></span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8, tr 240.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, tr 139.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">3. Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập 5, tr 275.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">4, 5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7, ti 64.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, ti 200.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">7, 8. Trần Đương (2007): <i>Chủ tịch Hồ Chí Minh với Hoàng thân Xuphanuvông</i>, Nxb Thông tấn, tr 47, tr 68.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">9. Viện Hồ Chí Minh (2008): Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Nxb CTQG, HN, tập 8, tr 368. 10. CP38 (1975): Những sự kiện chính trị về Lào; Phông 32, cặp 189, đơn vị bảo quản 8; Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, tr 175. 11. Cayxỏnhônvihản (2008): &quot;Tư tưởng và tình cảm cao quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngọn đuốc soi đường, là nguồn cổ vũ của nhân dân các bộ tộc Lào , Tạp chí <i>Lịch sử Đảng</i>, số 5, tr 10.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">12, 13. Cayxỏn Phônvihản (2008): tư tưởng và tình cảm cao quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngọn đuốc soi đường, là nguồn cổ vũ của nhân dân các bộ tộc Lào , Tạp chí <i>Lịch sử Đảng</i>, số 5, tr 11.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">14. Hoàng Minh Thảo (1993): &quot;Lào - Việt, mối quan hệ truyền thống chiến lược&quot;, trong cuốn: <i>Quan hệ Việt - Lào,Lào - Việt</i>, Nxb CTQG, HN, tr 143.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">15. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 11, tr 37.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">16. <i>Quan hệ Việt - Lào, Lào - Việt</i> (1993), Nxb CTQG, HN, tr 5.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">17. <i>Tình nghĩa Việt - Lào mãi mãi vững bền hơn núi hơn sông</i> (1978), Nxb Sự thật, HN, tr 48.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger"> </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:x-small"><b><u>TÀI LIỆU THAM KHẢO </u></b></span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"> </div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">Lê Đình Chỉnh (2007). <i>Quan hệ đặc biệt hợp tác toàn diện Việt Nam Lào trong giai đoạn 1945 - 2000, </i>Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">1.<span style="font:7pt 'Times New Roman'"> </span>Nguyễn Hoàng Giáp (2007): &quot;Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người đặt nền móng xây dựng mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt - Lào&quot;, Tạp chí <i>Lý luận chính trị</i>, số 6.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">2.<span style="font:7pt 'Times New Roman'"> </span>Vũ Dương Huân (2003): <i>Quan hệ đặc biệt Việt - Lào</i>, Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">3.<span style="font:7pt 'Times New Roman'"> </span>Trịnh Vương Hồng (2007): &quot;Quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu tại Lào - Biểu tượng sinh động nhất của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào”, Tạp chí <i>Thông tin đối ngoại</i>, số 41.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">4.<span style="font:7pt 'Times New Roman'"> </span>Nguyễn Văn Khoan (2008): <i>Việt - Lào hai nước chúng ta</i>, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">5.<span style="font:7pt 'Times New Roman'"> </span>Lếchsẻn Khămvôngsả (2004): &quot;Chủ tịch Cayxỏn Phônvihản với tình hữu nghị đặc biệt Việt - Lào, Tạp chí <i>Lý luận chính trị</i> , số 8.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">6.<span style="font:7pt 'Times New Roman'"> </span>Phạm Sang (1985): <i>Quan hệ Việt - Lào, Quan hệ Lào - Việt 1930 - 1985</i>, Luận văn </span></div>
<p style="text-align:right"><span style="color:#ff9900"><span style="font-size:x-small"><span style="font-family:'Times New Roman'">Nguyễn Thị Quế, Đỗ Thị Ánh // Nghiên cứu Đông Nam Á. - 2010. - Số 5 . - Tr. 3 – 10</span></span></span></p>
</div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 29/08/2012 8:50 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Quan hệ Việt - Lào được xây dựng trên cơ sở quan hệ láng giềng, có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ từ lâu đời và có cùng mục tiêu chiến lược là đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới để giành độc lập dân tộc. Trước năm 1930, phong trào đấu tranh của nhân dân hai nước Việt - Lào là tự phát, và tất cả các phong trào yêu nước đó đều bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu và thất bại nặng nề. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người tìm ra đường lối cứu nước cho những người bị áp bức trên bán đảo Đông Dương nói chung và người dân hai đất Việt - Lào nói riêng, Người đã truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê nin và dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.618</div>
]]></description>
      <author>LTDUNG</author>
      <pubDate>Wed, 29 Aug 2012 01:54:37 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vietnamlao/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=2</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Quan hệ thương mại Việt Nam – Lào</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vietnamlao/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=5</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass7B4C3D5F71BB43EA9811DB65C1706865><p> </p>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:small">Trên thực tế mặc dù quan hệ giữa hai nước gặp nhiều khó khăn do điều kiện tự nhiên mang lại, nhưng quan hệ giao lưu qua lại giữa hai nước không ngừng phát triển, vượt qua mọi khó khăn để phát triển toàn diện trong mọi hoàn cảnh, một giai đoạn và trong mọi lĩnh vực. Có được mối quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt như ngày nay là nhờ có truyền thống tốt đẹp trong quan hệ giữa nhân dân hai nước có từ bao đời. Đồng thời, có sự lãnh đạo sáng suốt của hai Đảng, Chính phủ hai nước, thể hiện qua nhận thức, qua đường lối, chủ trương phát triển quan hệ giữa hai nước, làm cơ sở cho nhân dân hai nước và các cơ quan của Đảng và Chính phủ triển khai thành hành động thực tế.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:small">Trong thương mại, Việt Nam và Lào cũng đã có mối quan hệ từ xa xưa, ban đầu chủ yếu là thông qua việc giao thương, trao đổi hàng hóa của cư dân vùng biên giới hai nước. Mối quan hệ này được xác lập chính thức thông qua con đường Nhà nước từ khi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Vương quốc Lào ký Hiệp định Thương mại ngày 13/7/1961; Tạo cơ sở pháp lý đầu tiên cho quan hệ thương mại giữa hai nước phát triển.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:small">Tuy vậy, thời kỳ 1961-1975 quan hệ thương mại giữa hai nước mới bắt đầu dưới hình thức đổi hàng của nhân dân vùng biên giới hai nước. Đặc biệt là quan hệ vừa trao đổi hàng hóa vừa giúp đỡ lẫn nhau giữa nhân dân các tỉnh biên giới Việt Nam với bà con vùng giải phóng của Lào Sau khi nước CHDCND Lào được thành lập (tháng 12/1975), thời kỳ 1976 - 1990, hai nhà nước Việt Nam và Lào đã ký các Hiệp định Thương mại 5 năm và các Nghị định thư thương mại hàng năm đề tạo hành lang pháp lý cho việc trao đổi buôn bán giữa hai nước.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:small">Như vậy, bắt đầu từ thời kỳ này, quan hệ trao đổi hàng hóa chính ngạch giữa hai nhà nước mới chính thức bắt đầu. Theo đó, các Hiệp định và Nghị định thư qui định chặt chẽ tổng giá trị hàng hóa trao đổi, danh mục mặt hàng, số lượng hàng hóa và chỉ định tổ chức doanh nghiệp Nhà nước chịu trách nhiệm thực hiện việc trao đổi hàng hóa giữa hai nước. Các địa phương kết nghĩa nhất là các tỉnh có chung đường biên giới cũng có trao đổi hàng hóa với nhau nhưng cũng là hàng hoá Trung ương hai nước giao cho các địa phương thực hiện. Do vậy, thực chất việc trao đổi hàng hóa trong thời kỳ này cũng chỉ là quan hệ trao đổi giữa hai nước với nhau và được bao cấp bằng ngân sách Nhà nước của mỗi bên. Kim ngạch xuất nhập khẩu thời kỳ này giữa hai nước trung bình đạt từ 3,5-4 triệu Rúp. Chủ yếu là thực hiện chủ trương giúp đỡ lẫn nhau trong lúc bạn Lào vừa mới được xuất nhập khẩu. Do vậy, giai đoạn 1976 - 1982, thông qua trao đổi mậu dịch chính ngạch, phía Lào nhập siêu của Việt Nam khoảng 11,5 triệu USD, hàng hóa sang Lào trong thời kỳ này chủ yếu là hàng nhu yếu phẩm, thiết thực phục vụ cho đời sống nhân dân, các đơn vị của ta làm nhiệm vụ mang hàng sang đất Bạn, nhiều nơi, nhiều khu vực phải gùi hàng trên lưng để đưa đến tận các bản, có những cán bộ đã hy sinh trên đường mang hàng hóa sang Bạn do bị sốt rét. Trong thời kỳ khó khăn khi mới giải phóng hàng hóa của Việt Nam đến với các bản, làng của Lào đã góp phần rất lớn cho việc củng cố mối đoàn kết đặc biệt giữa hai nước.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:small">Từ năm 1982 đến năm 1990 phía Lào vẫn tiếp tục nhập siêu của Việt Nam khoảng trên 0,5 triệu Rúp. Hàng hóa Việt Nam xuất sang Lào trong thời kỳ này đã có sự phong phú hơn nhưng chủ yếu vẫn là hàng nông sản như gạo, cà phê, cao su, giày dép các loại, hải sản, hàng dệt may, hạt điều, rau quả các loại.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:small">Tháng 2/1991, Hiệp định Thương mại thời kỳ 1991 - 1995 được ký giữa hai Chính phủ, hai bên thỏa thuận chấm dứt hình thức ký Nghị đinh như trao đổi hàng hóa hàng năm, xóa bỏ tình trạng bao cấp của Nhà nước, tạo ra một thời kỳ mới trong quan hệ thương mại hai nước Việt Nam – Lào. Hiệp định Thương mại trong thời kỳ này cho phép mở rộng đối trong trao đổi, không hạn chế các tổ chức, cá nhân tham gia trao đổi làng hóa, không hạn chế kim ngạch trao đổi, mở rộng danh mục trao đổi từ các mặt hàng cấm xuất khẩu và cấm nhập khẩu, góp phần làm phong phú, đa dạng các mặt hàng trao đổi làng hóa giữa các doanh nghiệp của hai nước.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:small">Với chủ trương và định hướng nới, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa lai nước tăng nhanh. Năm 1991, kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Lào đạt 45 triệu USD trong đó Việt Nam xuất khoảng 36,5 triệu USD và nhập khẩu khoảng 8,5 triệu USD, cơ cấu mặt hàng cũng thay đổi, xuất hiện nhiều loại hàng mới. Ngoài hàng hóa phục vụ nhu yếu phẩm như: gạo, thịt lợn , thịt bò, vải . . . Việt Nam đã xuất sang Lào thêm những mặt hàng công nghiệp như : xi măng, sắt thép xây dựng, xăng dầu... Việt Nam nhập khẩu từ Lào những mặt hàng mà Lào có như thạch cao, cà phê, gỗ và những mặt hàng của các nước qua Lào như: thép xây dựng, xe máy và phụ tùng xe máy, ô tô tải, ô tô du lịch.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:small">Năm 1992, kim ngạch buôn bán giữa hai nước phát triển khá mạnh đạt 73 triệu USD trong đó Việt Nam xuất khoảng 61 triệu USD và Việt Nam nhập khoảng 12 triệu USD, kim ngạch mặt hàng xuất nhất là sản phẩm công nghiệp phụ vụ cho xây dựng như xi măng, sắt thép... tăng nhanh.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:small">Như vậy trong những năm mới chuyển đổi về chính sách quan hệ thương mại của hai nước, ta liên tục xuất siêu sang Lào. Đặc biệt tới năm 1993, do thị trường Việt Nam có nhu cầu về xe máy do đó xe máy Thái Lan đã thông qua các doanh nghiệp Lào nhập khẩu vào Việt Nam với số lượng tương đối lớn (khoảng 30.000 chiếc) chiếm kim ngạch khoảng 39 triệu USD. Tới năm 1994, xe máy của Lào nhập khẩu vào Việt Nam còn chiếm số lượng và kim ngạch lớn hơn. Năm 1995, kim ngạch hai chiều giữa hai nước đạt 80 triệu USD, tăng 77,7% so với năm 1991</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:small">Nét đặc trưng trong quan hệ thương mại thời kỳ này, đặc biệt trong những năm 1993 - 1995 là Lào xuất siêu, Việt Nam nhập siêu của Lào. Mặt hàng xuất của Việt Nam sang Lào là gạo, thịt lợn, thịt trâu, bò, vải, sắt thép xây dựng, xi măng Việt Nam nhập từ Lào chủ yếu là xe máy Dream dưới dạng CBU, CKD SKD phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của người Việt Nam. Trong năm 1991-1995, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm của Việt Nam sang Lào đã đạt được những bước đi khá dài so với những năm trước đây. Kim ngạch hàng xuất của Việt Nam sang Lào trong thời kỳ này gấp 4,8 lần so với tổng kim ngạch XNK hai chiều Việt Nam - Lào của cả thời kỳ 5 năm 1986 - 1990.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:small">Năm 1996 và 1997, kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Lào tiếp tục tăng so với các năm và danh mục mặt hàng trao đổi giữa Việt Nam và Lào cũng đa dạng phong phú hơn Năm 1997, Việt Nam xuất sang Lào các mặt hàng như : xăng dầu, dệt may, gạo, sắt thép, vật liệu xây dựng, đồ dùng gia đình, hàng thủ công mỹ nghệ, rau quả, thực phẩm. Việt Nam nhập khẩu có giảm đi do nhà nước quản lý hạn ngạch xe máy, ngoài ra Việt Nam còn nhập các mặt hàng của Lào như : thạch cao, hàng nông, lâm sản, (cà phê, sa nhân, cánh kiến, đậu, gỗ, song mây, ...) Từ tháng 8/1998 tới năm 2000, để khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam tăng cường quan hệ thương mại với Lào, tạo thêm lợi thế cho hàng Việt Nam cạnh tránh với hàng Thái Lan trên thị trường Lào, giúp Lào thoát dần sự phụ thuộc về hàng hóa vào Thái Lan, đưa quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Lào lên tương xứng với quan hệ chính trị đặc biệt vốn có giữa hai nước, Chính phủ Việt Nam đã có văn bản cho phép các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp Lào được thực hiện qui chế trao đổi hàng hóa. Với chính sách khuyến khích này năm 1999 kim ngạch XNK Việt Nam - Lào đạt mức cao nhất trong quan hệ thương mại hai nước từ trước tới nay là 359 triệu USD trong đó Việt Nam xuất 164 triệu USD và nhập khẩu khoảng 195 triệu USD. Nhìn lại toàn bộ quá trình phát triển thương mại giữa Việt Nam và Lào trong những kỷ nguyên của thế kỷ 20, có thể thấy quan hệ thương mại giữa hai nước đã tạo được những bước tiến đáng kể. Mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn chưa đạt được như mong muốn nhưng quan hệ thương mại hai nước đã dần dần đi vào nề nếp và theo qui định chung của quốc tế, hai nước đã có sự hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhau để cùng phát triển mặt hàng hai nước trao đổi cho nhau đã đi vào thực chất, ngoài hàng hóa của nước thứ ba, hàng hóa Việt Nam sang Lào là những mặt hàng do Việt Nam sản xuất phục vụ cho nhu cầu thiết yếu cho đời sống kinh tế của đất nước cũng như đời sống sinh hoạt của nhân dân. Hàng hóa Lào xuất sang Việt Nam là những mặt hàng nông sản, lâm sản mà Lào có đồng thời cũng là mặt hàng Việt Nam khuyến khích nhập khẩu Đặc biệt, dọc theo khu vực biên giới hai nước, quan hệ trao đổi mua bán của cư dân biên giới phát triển đã giúp cho đồng bào khu vực biên giới vốn là vùng miền núi xa xôi hẻo lánh có cuộc sống ngày một no ấm, tạo ra bộ mặt mới cho khu vực biên giới, tạo ra sự gắn bó giữa bà con hai bên biên giới, góp phần giữ vững an ninh chính từ khu vực biên giới hai nước.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:small">Mặc dù đạt được những thành tựu như đã nêu trên nhưng để quan hệ thương mại hai nước có thể tiếp tục phát triển hơn nữa thì trước mắt chúng ta còn gặp rất nhiều khó khăn trước tiên phải kể đến là ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính khu vực, để hạn chế tác hại của nó, Việt Nam và Lào đều áp dụng chính sách hạn chế nhập khẩu, tăng cường xuất khẩu, phát triển sản xuất hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu Ngoài ra, mặc dù được Đảng, Chính phủ hai nước hết sức quan tâm, tạo điều kiện nhưng quan hệ hai nước nói chung và quan hệ thương mại nói riêng vẫn bị chi phối bởi những khó khăn do khách quan và chủ quan của mỗi nước mang lại, cũng như tác động của kinh tế khu vực, kinh tếthế giới, làm cho quan hệ kinh tế giữa hai nước chưa theo kịp được với quan hệ chính trị của hai nước. Trong quan hệ thương mại Việt Nam - Lào yếu tố ngăn cản sự phát triển trước tiên phải kể tới yếu tố về địa hình là nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc giá cả hàng hóa tăng cao. Do khoảng cách xa, địa hình chủ yếu là đồi núi việc vận chuyển hàng hóa gặp rất nhiều khó khăn, nếu so sánh với nước láng giềng của Lào, ví dụ như Thái Lan thì chi phí cho vận chuyển hàng của Việt Nam sang Lào chiếm phần rất lớn trong cấu thành giá hàng hóa khi bán tại Lào, làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa. Trong khi đó hàng của Việt Nam một phần nào đó về chất lượng, mẫu mã, bao bì chưa phù hợp với thị hiếu của nhân dân Lào cũng như thói quen, trình độ tiêu dùng của người dân. Đây là điểm yếu mà hàng hóa Việt Nam cần khắc phục để có chỗ đứng vững trên thị trường Lào, ngoài ra thị trường Lào với dân số không lớn (khoảng 5 triệu người) với nhu cầu không cao, cư dân phân tán khiến cho khả năng tiêu thụ hàng hóa không nhiều, hàng hóa chủ yếu là hàng tiêu dùng nên kim ngạch không lớn. Việc thanh toán của doanh nghiệp hai nước còn tùy tiện, phụ thuộc nhiều vào thói quen, tập quán mua bán của Bạn Lào, chưa thực sự thực hiện theo cơ chế thanh toán quốc tế do đó doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong thanh toán sau bán hàng. Trong nhiều trường hợp Bạn thanh toán bằng hàng nông, lâm sản nên cũng gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam. Hàng Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ đáp ứng cho nhu cầu của nhân dân Lào sử dụng trong nước, chưa tìm được hướng để tái xuất sang nước thứ ba. Đây là nguyên nhân cơ bản làm cho kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước không tăng hơn được. Mặc dù hai nước đều rất quan tâm tìm các biện pháp để thúc đẩy quan hệ buôn bán giữa hai nước</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:small">Mặc dù quan hệ thương mại chính ngạch không tăng nhưng quan hệ thương mại của cư dân sở vùng biên giới có những bước chuyển biến tốt đẹp. Bộ thương mại hai nước đã thường xuyên tổ chức hội nghị về chợ biên giới giữa Việt Nam và Lào có sự tham gia của Sở thương mại các tỉnh của Việt Nam và Lào có chung đường biên giới, hai bên đánh giá cao hoạt động của các chợ biên giới Việt Nam - Lào đã góp phần tích cực trong việc cải thiện đời sống cho cư dân biên giới nhất là cư dân Lào. Ngoài hoạt động thương mại thuần túy, hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam còn đầu tư sang Lào, Việt Nam đứng thứ 16 trong tổng số các nước đầu tư vào Lào với tổng số vốn đầu tư 15,5 triệu USD trong 29 dự án, các dự án đầu tư thương mại và một số liên doanh Việt Nam - Lào đã đi vào hoạt động mang lại hiệu quả như : liên doanh sản xuất mì ăn liền của TOCONTAP, liên doanh sản xuất sắt thép của VILEXIM...</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:small"><b>Triển vọng quan hệ thường mại hai nước:</b></span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:small">Phát huy truyền thống đoàn kết đặc biệt giữa hai nước, trên cơ sở có sự quan tâm của Đảng và Chính phủ hai nước, bằng những ưu đãi, tạo điều kiện giữa hai nước trong các biện pháp thúc đẩy thương mại, hai nước đã từng bước tạo điều kiện cho quan hệ thương mại phát triển. Trước hết phải kể đến những ưu đãi về thuế cho hàng hóa. Việt Nam và Lào đã áp dụng mức thuế đặc biệt đối với một số nhóm hàng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa của Lào nhập khẩu vào Việt Nam, cũng như hàng của Việt Nam vào Lào, tạo sức cạnh tranh cho hàng hóa so với nước thứ ba, khắc phục phần nào những bất lợi do địa hình mang lại. Ngoài ra, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào cũng áp dụng nhiều chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp mở cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm của Lào tại Việt Nam cũng như mở cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm của Việt Nam tại Lào Những cửa hàng này một mặt bán các sản phẩm sản xuất tại hai nước, mặt khác quan trọng hơn là qua việc giới thiệu sản phẩm, giới thiệu nguyên liệu, tạo điều kiện để nhân dân hai nước trực tiếp được làm quen với sản phẩm của nước Bạn láng giềng. Dự kiến xa hơn của hai Chính phủ trong giai đoạn tới là qua các của hàng giới thiệu sản phẩm để rút kinh nghiệm, làm quen với thị trường tiến tới xây dựng Trung tâm Thương mại ở mỗi nước. Hai nước quan tâm điều chỉnh chính sách đã có nhằm tạo điều kiện thông thoáng cho người, phương tiện và hàng hóa qua lại biên giới. Hiện nay hai nước đã thành lập Ngân hàng liên doanh Lào - Việt nhằm tăng cường hợp tác tạo giải pháp hữu hiệu đảm bảo thanh toán cho doanh nghiệp hai nước, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp vay tiền, bảo lãnh thanh toán trả chậm.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:small">Đặc biệt hơn nữa phải kể đến việc xây dựng khu Thương mại Lao Bảo (phía Việt Nam) và trong tương lai là khu Thương mại Đenxavẳn (phía Lào), hai khu thương mại được xây dựng sát nhau nhằm dựa vào nhau để phát triển cũng như thu hút đầu tư của nước ngoài vào khu vực, đón trước hướng phát triển trên trục đường xuyên Á. Đây là ý tưởng của Lãnh đạo hai nhà nước đồng thời cũng rất phù hợp với xu thế phát triển của hai nước.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:small">Nhìn lại toàn bộ quá trình phát triển trong lịch sử cũng như chiến lược phát triển trong giai đoạn trước mắt, dưới quan điểm hợp tác phát triển toàn diện, xuyên suốt, cũng như dựa vào xu thế phát triển chung của thế giới trong giai đoạn hội nhập, quan hệ thương mại Việt Nam Lào nhất định sẽ ngày một phát triển</span></div>
<div style="text-align:right;text-indent:27pt"><span style="font-size:small">* Bộ Thương mại.                      </span></div>
<div style="text-align:right;text-indent:27pt"> </div>
<div style="text-align:right;text-indent:27pt"><span style="font-size:small">
<div style="text-align:right;text-indent:27pt">Phạm Thị Hồng Thanh // Nghiên cứu Quốc tế. - 2002. - Số 3. - Tr. 30 – 35.</div>
</span></div>
<div style="text-align:right;text-indent:27pt"> </div>
<div style="text-align:right;text-indent:27pt"> </div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:small"> </span></div></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 19/09/2012 9:45 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Quan hệ thương mại Việt Nam - Lào qua các thời kỳ phát triển Việt Nam và Lào từ bao đời nay đã có quan hệ gần gũi, gắn bó với nhau. Bác Hồ của chúng ta đã tổng kết mối quan hệ đoàn kết, đặc biệt hữu nghị Việt Nam - Lào trong những câu thơ sau:
Thương nhau mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua
Việt Lào hai nước chúng ta.
Tình sâu hơn nước Hồng Hà Cửu Long.</div>
<div><b>TopItem:</b> Có</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.200</div>
]]></description>
      <author>LTDUNG</author>
      <pubDate>Wed, 19 Sep 2012 02:50:19 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vietnamlao/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=5</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Đoàn kết Việt Nam – Lào – Campuchia. Một nhân tố thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vietnamlao/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=3</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassA3E64A1C9B0B41B79CE6A795DBD5EB2F><p> </p>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Cũng từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa xã hội đã trở thành hệ thống thế giới với sự lớn mạnh cả về kinh tế, văn hóa, khoa học, kĩ thuật và vững vàng về chính trị, quốc phòng, trở thành nhân tố quyết định chiều hướng phát triển của lịch sử xã hội loài người. Chủ nghĩa xã hội thực sự là thành trì, là trụ cột của phong trào cách mạng, của hòa bình thế giới. Phong trào giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa có những bước phát triển vượt bậc làm cho so sánh lực lượng trên thế giới có sự thay đổi căn bán có lợi cho các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới. Những nhân tố mới đó là những thuận lợi rất căn bản và là nguồn động viên và cổ vũ to lớn đối với Đảng và nhân dân ta.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Tuy nhiên, vào thời kì này, nhân dân ta phải đối mặt với những khó khăn, thử thách nghiêm trọng, đó là nảy sinh sự bất đồng ngày càng sâu sắc trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, giữa các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhất là giữa Liên Xô và Trung Quốc. Đế quốc Mỹ - tên đế quốc đầu sỏ, ra sức lợi dụng và khai thác tình hình đó, tiến hành xâm lược nước ta với tất cả các âm mưu, thủ đoạn tàn bạo và nham hiểm. Chúng đã nhiều lần thay đổi chiến lược. Mỗi lẩn thay đổi chiến lược, chúng lại đẩy chiến tranh lên mức độ ác liệt và tàn khốc hơn. Thậm chí trước nguy cơ thất bại, chúng còn mở rộng chiến tranh với qui mô lớn sang cả Lào và Campuchia, đánh phá ác liệt hậu phương miền Bắc bằng cả không quân và hải quân; đồng thời tìm mọi cách cô lập và đè bẹp cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Chính vì những lẽ đó, Việt Nam trở thành nơi tập trung mâu thuẫn cơ bản của thời đại, trở thành nơi đọ sức quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng, trở thành cuộc đụng đầu lịch sử giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc Mỹ, cũng là cuộc đụng đầu lịch sử của chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân mới, vừa mang tính chất chiến tranh giải phóng, vừa mang tính chất chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, đồng thời mang tính quốc tế và thời đại sâu sắc.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mặc dù trong bối cảnh cực kì phức tạp của tình hình quốc tế, nhưng với bản lĩnh vững vàng, Đảng ta vẫn chủ trương, trong bất cứ hoàn cảnh nào, cách mạng Việt Nam không thể tách rời với phong trào cách mạng thế giới, đồng thời phải thực hiện cho được sự đoàn kết quốc tế rộng lớn, trước hết phải chăm lo tăng cường liên minh, đoàn kết với các nước trên bán đảo Đông Dương, các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, lấy đó làm cơ sở để mở rộng, tăng cường, liên minh đoàn kết với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, với tất cả các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Từ sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, tuy nhân dân ba nước Đông Dương đều giành được thắng lợi nhưng mức độ có khác nhau. Việt Nam giải phóng được nửa nước, miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội. Lực lượng cách mạng và vũ trang Lào có vùng tập kết và là một lực lượng trong Chính phủ liên hợp. Campuchia được công nhận độc lập, nhưng lực lượng cách mạng và vũ trang không được thừa nhận tồn tại độc lập. Tuy mỗi nước có &quot;thế cách mạng&quot; riêng, nhưng trước âm mưu chia rẽ và hành động mở rộng chiến tranh ra cả Lào và Campucha, biến Đông Dương thành một chiến trường, nhân dân ba nước Đông Dương đều có nguyện vọng và yêu cầu chung là bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước mình, chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng. Đó là cơ sở khách quan cho sự liên minh, đoàn kết chiến đấu của ba dân tộc Việt Nam - Lào - Campuchia. Xu thế tất yếu là ba nước cần đoàn kết trong cuộc chiến đấu chung chống đế quốc Mỹ xâm lược.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Nhận rõ âm mưu của kẻ thù, nhận thức được tầm quan trọng của liên minh, đoàn kết ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương phát huy truyền thống đoàn kết quí báu đã được thử thách trong cuộc kháng chiến. chống Pháp của ba dân tộc trước đây, kiên trì đẩy mạnh đoàn kết với hai nước láng giềng Lào và Campuchia anh em trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, lợi ích và nguyện vọng chính đáng của mỗi dân tộc, đồng thời giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, cùng nhau đoàn kết chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ, bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia của cả ba dân tộc.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Thực hiện chủ trương trên, chúng ta đã sớm triển khai, chủ động tiếp xúc, bàn bạc với hai nước bạn theo tinh thần việc giải phóng, bảo vệ đất nước là công việc của nhân dân mỗi nước, nhưng phải coi việc ủng hộ, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau chống kẻ thù chung là nhu cầu bức thiết của ba dân tộc anh em. Chính vì thế, mặc dù có những khó khăn, trở ngại nhất định, nhưng trên suốt chặng đường dài chống Mỹ, chúng ta đã khai thác mọi khả năng, mọi lực lượng, mọi thời cơ để thực hiện bằng được chủ trương đoàn kết ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, tiến lên đánh bại mọi âm mưu thôn tính, chia rẽ của đế quốc Mỹ vả bè lũ tay sai. Thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh &quot;giúp bạn là tự giúp mình&quot;, nhân dân ta đã cùng nhân dân hai nước Lào và Campuchia anh em sát cánh cùng chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ. Lực lượng vũ trang ba nước có sự hợp đồng chiến đấu, cùng chia lửa giữa ba chiến trường, giáng cho quân Mỹ và quân ngụy những đòn chí mạng. Chính phủ ba nước đã phối hợp chặt chẽ với nhau về chính trị, ngoại giao, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau. Chúng ta không chỉ có trách nhiệm phối hợp chiến đấu mà còn giúp đỡ cơ sở vật chất, phương tiện chiến đấu, xây dựng lực lượng cách mạng, xây dựng vùng giải phóng ở hai nước bạn.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Hình thức và nội dung đoàn kết ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia bao gồm nhiều lĩnh vực, tập trung trên các vấn đề chiến lược chủ yếu như: xây dựng thực lực cách mạng, chi viện kịp thời, phối hợp chiến trường chiến đấu, mở các chiến dịch, trao đổi kinh nghiệm, v.v.. Song song với việc tập trung đánh địch, Đảng và nhân dân ta đã giúp cách mạng Lào và Campuchia xây dựng chính quyền, phát triển lực lượng theo yêu cầu đòi hỏi của cuộc kháng chiến ngày càng cao. Việt Nam đã làm hết sức mình và bằng mọi cách giúp các bạn xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, đặc biệt là giúp bồi dưỡng và đào tạo cán bộ, xây dựng thực lực cách mạng và kinh nghiệm chiến đấu; đồng thời còn ủng hộ vật chất cho cuộc chiến đấu và xây dựng căn cứ địa kháng chiến, giúp các bạn giữ vững vùng giải phóng. Một số căn cứ kháng chiến của Lào dựa lưng vào Tây Bắc, Tây Nguyên của Việt Nam. Việt Nam đã cùng với Lào xây dựng tuyến đường chiến lược Tây Trường Sơn để vận chuyển khí tài, vật lực tử hậu phương miền Bắc vào chiến trường miền Nam và chi viện kịp thời cho các căn cứ kháng chiến của Lào và Campuchia đánh Mỹ. Trong các thời kì hòa hoãn thành lập Chính phủ liên hiệp ở Lào, Việt Nam đều ủng hộ đường lối hòa bình, trung lập, hòa hợp dân tộc của Chính phủ Vương quốc Lào, nhân từng bước đẩy Mỹ ra khỏi Lào. Ngoài ra, chúng ta còn tranh thủ đoàn kết với các lực lượng khác ở Lào cùng đứng lên chống đế quốc Mỹ xâm lược. Có thể nói, liên minh, đoàn kết Việt - Lào là hết sức trong sáng, thuỷ chung, bền vững, đem lại hiệu quả cao, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển liên minh, đoàn kết lâu dài sau này.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Đối với Campuchia, chúng ta cũng chủ trương đoàn kết, ủng hộ đường lối hòa bình, trung lập, không liên kết của Chính phủ Vương quốc Campuchia.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Sự đoàn kết, giúp đỡ của Vương quốc Campuchia trong thời điểm đế quốc Mỹ tìm mọi cách cô lập, phong tỏa, chia cắt cách mạng miền Nam, là có hiệu quả và ý nghĩa quan trọng. Từ năm 1970, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh đánh sang đất Campuchia, chúng ta đã chủ động thống nhất phối hợp hoạt động với bạn. Bên cạnh đó, chúng ta giúp đỡ bạn phát triển nhanh lực lượng vũ trang, rồi cùng phối hợp mở các trận chiến đấu mới, tổ chức các chiến dịch phản công lớn, giải phóng nhiều vùng đất đai, nối liền các căn cứ giải phóng, tạo ra một cục diện mới chưa từng có ở Campuchia khiến Mỹ phải lúng túng bị động dối phó trên cả hai chiến trường Việt Nam và Campuchia. Việt Nam cũng chủ trương đoàn kết, ủng hộ đường lối kháng chiến chống Mỹ, xây dựng đất nước hòa bình, trung lập, dân chủ, phồn vinh của Chính phủ đoàn kết dân tộc Campuchia. Chúng ta dã tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của Chính quyền trung lập Vương quốc Campuchia, đã mua được số lượng khá lớn lương thực, thực phẩm, thuốc men, đạn dược cung cấp cho chiến trường Nam Bộ và Tây Nguyên. Bạn cũng cho phép ta vận chuyển quá cảnh theo thông lệ quốc tế tới các khu căn cứ của ta, kịp thời cung cấp cho các chiến trường.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chính phủ và nhân dân hai nước Lào và Campuchia anh em đã tạo điều kiện cho quân đội ta mở đường vận chuyển lương thực, thực phẩm và vũ khí vào chiến trường miền Nam. Để tạo thế chiến lược tiến công địch trên cả ba nước, Việt Nam đã xây dựng và phát triển tuyến đường Trường Sơn. Thực chất đây là một căn cứ kháng chiến rất quan trọng, một hậu phương chiến lược lớn, trực tiếp gắn bó với chiến trường ba nước Đông Dương bằng hệ thống đường huyết mạch nối liền ba nước, là căn cứ vận chuyển từ hậu phương lớn miền Bắc tới các chiến trường quan trọng của ba nước. Có thể nói, tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn là biểu tượng sáng ngời của tình đoàn kết gắn bó, keo sơn giữa ba dân tộc Đông Dương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Bên cạnh đó, quân tình nguyện Việt Nam đã sát cánh cùng với quân đội và nhân dân hai nước Lào và Campuchia giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng, hiệp đồng tác chiến, đập tan các cuộc tấn công càn quét qui mô lớn của Mỹ và chư hầu khi chúng mở rộng chiến tranh xâm lược trên toàn cõi Đông Dương. Ở chiến trường Lào, quân đội ta đã cùng với lực lượng vũ trang của bạn mở các chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng năm 1961, Nậm Thà năm 1962, Đường số 8 và số 12 năm 1963 , Nậm Bạc năm 1968 , Cánh Đồng Chum các năm 1964, 1969, 1970, 1972, Đường 9 – Nam Lào năm 1971. Các chiến dịch trên cùng hàng loạt các trận chiến đấu phối hợp liên quân Lào - Việt đã từng bước đánh bại các chiến lược &quot;Chiến tranh đặc biệt&quot;, &quot;Chiến tranh đặc biệt phát triển cao&quot; của Mỹ ở Lào, tạo thời cơ thuận lợi cho cuộc kháng chiến của ba dân tộc Việt Nam - Lào và Campuchia phát triển lên một bước mới. Ở chiến trường Campuchia, những cuộc phối hợp chiến đấu giũa quân tình nguyện Việt Nam và bạn đánh bại 10 vạn quân Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn tấn công sang đất Campuchia tháng 4/1970, đánh bại các cuộc hành quân lớn của Mỹ - ngụy như &quot;Chen La l” tháng 6/1970, &quot;Toàn Thắng&quot; tháng 2/1971, &quot;Chen La II&quot; tháng 8/1971, đã mở ra cục diện mới cho cách mạng Campuchia, đồng thời tạo thế chiến lược có lợi cho quân và dân ta ở miền Nam mở những cuộc tiến công chiến lược để giành thắng lợi lớn hơn. Các đơn vị cán bộ, chiến sĩ quân đội ta làm nhiệm vụ trên chiến trường hai nước bạn đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế, tạo được sự tin cậy, quí mến của nhân dân hai nước bạn, góp phần tăng cường tình đoàn kết chiến đấu của ba dân tộc Việt Nam - Lào - Campuchia. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã gắn bó cả cuộc đời mình với cách mạng nước bạn, được nhân dân hai nước bạn đánh giá cao, coi họ như con em ruột thịt của mình.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Ngoài ra, chúng ta đã tạo mọi điều kiện để tổ chức các hội nghị đoàn kết của ba dân tộc dưới các hình thức &quot;Hội nghị nhân dân ba nước Đông Dương&quot; năm 1965, đặc biệt là tổ chức thành công &quot;Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương&quot; năm 1970 nhằm tập hợp đoàn kết mọi lực lượng yêu nước và tiến bộ trong ba nước, tranh thủ dư luận và sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến của ba dân tộc, làm cho đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bị phân hoá, cô lập. Trên thực tế đã hình thành Mặt trận đoàn kết nhân dân Đông Dương chống Mỹ, kết thành một khối liên minh kháng chiến ngày càng vững chắc, tạo nên thế chiến lược tiến công chung của nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Đoàn kết ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia đã góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh bại đế quốc Mỹ, giải phóng ba nước khỏi ách xâm lược, nô dịch của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai trong cùng một thời gian tương đối gần nhau. Việt Nam và Campuchia giành được thắng lợi vào tháng 4/1975, Lào giành được thắng lợi vào tháng 12/1975. Cách mạng ba nước Đông Dương đều bước vào giai đoạn lịch sử mới xây dựng đất nước sau chiến tranh.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Đoàn kết ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia là qui luật khách quan, có ý thức, có tổ chức, có sự thống nhất về chiến lược, có sự hiệp đồng chiến đấu cao, dựa trên cơ sở của chủ nghĩa quốc tế thuỷ chung, trong sáng và chủ nghĩa yêu nước chân chính. Thắng lợi của ba dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là thắng lợi chung của tình đoàn kết giữa ba dân tộc Việt Nam - Lào - Campuchia, bắt nguồn tử sự đoàn kết, thống nhất, phối hợp của Đảng ta, Đảng Nhân dân cách mạng Lào và những người kháng chiến ở Campuchia.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Đoàn kết ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia là một trong những nhân tố quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thắng lợi của đường lối quốc tế thủy chung, trong sáng. Nhờ có đoàn kết chiến đấu ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, nhân dân Campuchia đã đập tan chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ và chính quyền tay sai Lonnon, giành độc lập dân tộc. Nhờ có đoàn kết chiến đấu ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, nhân dân Lào đã xóa bỏ được ách thống trị của Mỹ và chính quyền tay sai, giành quyền làm chủ, xoá bỏ vĩnh viễn chế độ quân chủ. Nhờ có đoàn kết chiến đấu ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, nhân dân Việt Nam đã gắn liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam, đã đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thu giang sơn về một mối.Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã được Đại hội lần thứ IV của Đảng năm 1976 đánh giá: &quot;Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có tẩm quan trọng quốc tế và có tính thời đại sâu sắc&quot;.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Ngày nay, tình hình quốc tế chuyển biến nhanh chóng và sâu sắc, tình hình mỗi nước với những điều kiện lịch sử cụ thể của mình, Việt Nam, Lào, Campuchia cần phát huy truyền thống đoàn kết sẵn có lên tầm cao mới, trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, thực hiện hoà bình, hữu nghị, bình đẳng, hợp tác phát triển và phồn vinh.</span></div>
<p style="text-align:right"><span style="font-size:x-small"><span style="color:#ff9900">Lê Văn Yên // Đối ngoại. - 2010. - Số 8. - Tr. 29 - 33.</span></span></p></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 29/08/2012 8:55 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Từ sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, đất nước ta bị tạm thời chia thành hai miền. Cách mạng Việt Nam phải tiến  hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cách mạng ở hai miền có mối quan hệ khăng khít với nhau: xây dựng, củng cố miền Bắc có ý nghĩa quyết định cho toàn bộ thắng lợi của cách mạng nước ta, trở thành mục tiêu, lí tưởng, niềm tin, động lực to lớn để miền Nam đánh Mỹ và tháng Mỹ; miền Nam trực tiếp đánh Mỹ có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, góp phần bảo vệ miền Bắc, trở thành nguồn động viên, cổ vũ miền Bắc củng cố hậu phương lớn, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam đánh Mỹ và thắng Mỹ. Mục tiêu độc lập, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng cuộc sống hoà bình, ấm no, tự do, hạnh phúc và phồn vinh là nguyện vọng thiêng liêng và là mục tiêu cơ bản của cách mạng nước ta và của toàn thể nhân dân ta.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.609</div>
]]></description>
      <author>LTDUNG</author>
      <pubDate>Wed, 29 Aug 2012 01:59:53 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vietnamlao/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=3</guid>
    </item>
    <item>
      <title>Mối quan hệ Việt Nam – Lào những năm đầu thế kỷ XIX</title>
      <link>http://www.thuviendongnai.gov.vn/vietnamlao/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=1</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass64C3806F8B804AEC8D3D61657E46B95A><p> </p>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Đồ cống của các mường Lào gồm có voi đực, sừng tê, ngà voi, sáp ong và đôi khi có cả trống đồng, nhục quế. Nhà Nguyễn qui định cứ ba năm một lần, sứ giả các mường Lào đến cống một lần, lấy các năm thìn, tuất, sửu, mùi làm kỳ cống. Khi sứ giả các mường Lào trở về, nhà Nguyễn cũng gửi tặng quốc vương quà gồm có: đoạn hồng vũ, trừu trắng (tên các loại vải), the mầu, lụa trắng, vải trắng, vải thâm mỗi thứ đều 50 tấm. Sứ bộ mấy chục người đều cho thêm bạc tiền theo thứ bậc khác nhau.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Những năm đầu thế kỷ XIX, mối quan hệ giữa nhà Nguyễn và Viêng Chăn chặt chẽ hơn các mường khác của Lào. Năm Gia Long thứ ba (1804) quốc vương Vạn Tượng (Viêng Chăn) là Chiêu ấn qua đời, Chậu Anụvông là em trai lên nối ngôi (sử sách nhà Nguyễn gọi tên vị vua mới là Chiêu A Nỗ). Vua Gia Long sai cai cơ Nguyễn Văn Uẩn và Hàn lâm Lê Văn Phú sang phúng<sup>(1)</sup> . Trong vòng 20 năm (từ năm 1804 đến năm 1824) sứ giả của Viêng Chăn cứ đúng kỳ hạn 3 năm một lần lại vào dâng lễ cống cho nhà Nguyễn. Quan hệ giữa nhà Nguyễn và Viêng Chăn trong những năm đầu thế kỷ XIX diễn ra hết sức tốt đẹp. Các vị vua của triều Nguyễn luôn có cảm tình tốt đẹp với vua Chậu Anụvông của Viêng Chăn. Chậu Anụvông là vị vua ý thức được nỗi khổ của nhân dân và đất nước dưới ách đô hộ của Xiêm. Nhà vua đã nuôi chí lớn giành độc lập từ tay Xiêm và thống nhất lại đất nước sau một thời gian dài bị Xiêm chia cắt. Sau khi lên ngôi, Chậu Anụvông một mặt ra sức chấn hưng đất nước, xây dựng Viêng Chăn thành một mường giàu mạnh. Mặt khác, Chậu Anụvông cho con trai đến làm chậu mường ở Chăm Pa Xắc và xây dựng Chăm Pa Xắc chờ thời cơ hiệp lực với Viêng Chăn để chống lại Xiêm. Chậu Anụvông cũng luôn giữ hoà hiếu với Luổng Phạ Bang và mong muốn Luổng Phạ Bang cùng chí hướng với mình trong sự nghiệp lớn thống nhất đất nước.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Có lẽ trong toan tính của mình, Chậu Anụvông thấy chỉ có thể dựa vào triều Nguyễn để chống lại ách xâm lược của người Xiêm nên trong một thời gian dài, Viêng Chăn luôn giữ lễ cống đối với triều Nguyễn.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Sau một thời gian dài chuẩn bị lực lượng, tháng 3 năm 1827 Chậu Anụvông đã tấn công vào các đội binh của Xiêm đóng ở bờ bên kia sông Mè Nặm Khoỏng. Bị bất ngờ, quân Xiêm trở tay không kịp đã chịu nhiều tổn thất nặng nề và số quân sống sót đã bỏ chạy về Xiêm để xin viện binh. Thừa thắng, các đạo quân của Lào đã cùng tiến vào đất Xiêm và chiếm được một số thành trì. Nhưng chỉ một tháng sau, vua Xiêm đã sai phó vương chỉ huy các đạo quân đánh trả và các cánh quân của Lào không chống cự nổi đã phải vội vã rút lui. Quân Xiêm truy kích theo sau và nhanh chóng vượt sông Mè Nặm Khoỏng rồi chiếm được Viêng Chăn.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Thành phố Viêng Chăn sau nhiều năm xây dựng và phát triển đã trở nên sầm uất thì nay đã bị người Xiêm đốt phá, cướp bóc và gần như bị san phẳng. Chậu Anụvông cùng gia quyến và lực lượng còn lại đã chạy lánh nạn ở Tam Động, vùng biên giới Lào và Nghệ An của Đại Việt Từ vùng Tam Động, Chậu Anụvông đã sai người đến trấn thần Nghệ An để xin cứu viện.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Ngay khi cuộc chiến giữa Xiêm và Lào xảy ra, Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt được tin báo đã đem việc tâu lên triều đình. Vua Minh Mệnh đã sai quản đạo Tống Văn Uyển đến ngay vùng biên giới thượng đạo Cam Lộ, nơi tiếp giáp với Xiêm để tìm hiểu tình hình chiến sự và phải báo ngay nếu có việc khẩn. Nhận được lời cầu viện của quốc vương Anụvông, vua Minh Mệnh đã sai các quan trong triều bàn bạc về vấn đề này. Sau đây là lời tâu của các triều thần lên vua Minh Mệnh: &quot;Nước Vạn Tượng là thuộc quốc của ta, nay có nạn mà qui thuận ta, nghĩa không nên cự tuyệt. Xin chọn vị đại thần võ ban cho quyền lãnh trấn thủ Nghệ An, sai cùng với hiệp trấn và tham hiệu đem quân giữ bờ cõi, vẫn cho Vạn Tượng trú ở Ba Động. Nếu nước Xiêm đến đòi thì tỏ rõ nghĩa lý mà khước đi. Nếu họ (Xiêm) xâm lấn bờ cõi ta, quấy rối dân man ngoài biên của ta, thì coi như cầm thú làm hại ruộng ta mà trừ đi. Như thế nước Xiêm sẽ sợ then máy của ta, mà nước Vạn Tượng cũng được nhờ ta che chở&quot;<sup>(2)</sup>.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Vua xem lời tâu nói rằng: &quot;Nước Vạn Tượng gây hấn trước, nước Xiêm cất quân lần này là cốt bắt cho được kẻ địch, quyết sạch sào huyệt thì mới hả lòng, thế tất đến gần cõi ta, quấy thuộc man của ta. Nếu ta không phòng bị trước thì chưa khỏi khi lâm sự sẽ mất nhiều công trù tính. Bèn sai điều động lính thú ở Thanh - Nghệ đóng giữ bờ cõi. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Vua Chậu Anụvông trú ở Ba Động rồi sai người thân tín là Xi Mân cùng một số thuộc hạ đưa thư đến trấn thành Nghệ An. Trấn thần Nghệ An lưu Xi Mân ở lại Quì Hợp rồi tâu lên vua. Vua dụ rằng: &quot;Vạn Tượng sai người đến tỏ lòng thành, nếu không cho về ngay thì không khỏi sinh lòng ngờ vực, vậy dụ sai trấn thần bảo về và báo cho A Nỗ biết rằng quân trấn đã đóng giữ ngoài cõi, hãy nên đóng đấy để đợi mệnh lệnh triều đình, lại sai người đưa tặng phẩm vật cho họ yên lòng<sup>(3)</sup>.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Sau khi chiến tranh Xiêm - Lào xảy ra, do gần ngay biên giới Đại Việt nên cuộc chiến không tránh khỏi ảnh hưởng đến tình hình Đại Việt. Thám báo từ vùng biên trở về nói rằng người Xiêm phao tin rằng sau khi chiếm Viêng Chăn sẽ chiếm Lạc Hoàn (một phần của Xiêng Khoảng). Trấn thần Nghệ An lại đem việc tâu lên. Vua Minh Mệnh rất thận trọng trong việc xử lý tình huống ở biên giới nên sau khi nghe báo cáo tình hình đã nói rằng: &quot;Người Xiêm hư trương thanh thế, chưa chắc dám đến quấy bờ cõi, song nước Vạn Tượng sau khi điên đảo, nghe gió thổi hạc kêu cũng đủ sợ hãi, quân ta không đến thì bờ cõi không yên&quot;. Bèn cử đô thống chế là Phan Văn Thuỷ sung chức kinh lược biên vụ đại thần, vẫn kiêm cả việc trấn thủ Nghệ An. Phó tướng là Nguyễn Văn Xuân sung vào chức bang biện quản vụ đại thần; phó thống chế là Đoàn Văn Tường, Lê Văn Hoan đều sung vào chức bang biện quản vụ. Lại sai thêm Thượng thư Trần Lợi Trinh tham vào chức tham tán quân vụ đại thần. Tham tri Nguyễn Công Tiệp sung chức tham tán quân vụ để thống lĩnh các binh tượng nhanh chóng đến Nghệ An để làm việc<sup>(4)</sup>. Phan Văn Thuý vào bệ từ, vua dụ rằng: &quot;Các người hãy đến gần biên giới, đóng quân lại và đưa thư cho nước Xiêm nói rằng họ cùng nước Vạn Tượng đánh nhau không được vượt sang bờ cõi thuộc man của ta, nếu không nghe chỉ có đánh thôi&quot;.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Trước tình hình quan hệ Xiêm - Lào căng thẳng và có thể xảy việc binh đao ngoài biên giới, vua đã sai người báo cho tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt. Lê Văn Duyệt và Tham tri Lại bộ Hoàng Kim Hoán đều có những nhìn nhận đúng đắn và giải pháp tích cực nhưng cứng rắn về quan hệ giữa ba nước Xiêm - Lào và Đại Việt. Ý kiến chủ đạo của hai vị đại thần này là bằng bất cứ giá nào cũng phải bảo vệ Vạn Tượng trước sự xâm lược của Xiêm để bảo vệ phên giậu phía tây của nước nhà. Vua Minh Mệnh chỉ lấy những ý kiến của các đại thần làm ý tham khảo và cho rằng: &quot;. . . việc binh là dữ, chiến tranh là nguy, thánh nhân bất đắc dĩ mới dùng. Phen này, người Xiêm nếu biết lường tính thế lực không dám theo đòi Vạn Tượng mà lấn bờ cõi ta thì việc êm người yên, hoà hảo lâu dài. Bấy giờ ta sẽ tính dần thu lòng người Vạn Tượng dựng lại nước Vạn Tượng, đã tỏ rõ nghĩa lớn, phục lại nước đã mất, nối lại mối đã dứt... Hiện nay chưa biết lý thế nào, nên yên tĩnh để đợi”</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Mặc dù nhận định như vậy nhưng vua Minh Mệnh đã sai kinh lược biên vụ Phan Văn Thuý đưa quân đội đến Kỳ Sơn để bảo vệ bờ cõi và bảo vệ Chậu Anụvông. Phan Văn Thuý đã sắp đặt các đội vệ phấn võ là Nguyễn Trọng Thai đi đến bản Triệu Sầm hỏi thăm và yên uỷ người Vạn Tượng. Vua Anụvông thấy Nguyễn Trọng Thai đến rất mừng, lại gửi thư nói quân Xiêm sắp đến Lạc Hoàn, xin cho đem quân đến bảo hộ.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Phan Văn Thuỷ bèn chia phát binh và voi sai Nguyễn Văn Xuân và Lê Văn Hoan tiến đóng ở Kỳ Sơn, Đoàn Văn Trường tiến đóng ở Quì Hợp, Nguyễn Cóng Tiệp biện lý quân lương. Phan Văn Thuý và Trần Lợi Trinh ở lại trấn nghệ An đợi báo tin và đem việc dàn xếp quân ở biên giới tâu lên cho vua biết. Sau khi tiếp chỉ dụ của vua, Phan Văn Thuý, Trần Lợi Trinh và Nguyễn Công Tiệp tiến quân đến đóng ở Quì Hợp rồi cho người gửi thư cho tướng Xiêm ở thành Viêng Chăn. Tướng Xiêm nhận thư và không có hành động gì gây hấn với Đại Việt. Đoàn Văn Trường bèn từ Quì Hợp tiến đến Ba Động, Anụvông từ bản Triệu Sầm nghe tin quân đội Đại Việt đến Ba Động bèn lại trở về Ba Động.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Tháng 7 năm 1827, trong khi tình hình Viêng Chăn đã yên ắng thì ở biên giới Nghệ An, binh lính Đại Việt do không quen khí hậu đã sinh ốm đau rất nhiều. Kinh lược đại thần Phan Văn Thuý đem việc tâu lên. Vua Minh Mệnh sai cho người do thám tình hình Viêng Chăn thì được cho biết do thấy quân đội Đại Việt đóng áp sát biên giới nên quân Xiêm đã rút về hết chỉ để lại một viên tướng và vài trăm quân cùng phu vương Lào là áp Ma Hạt chiếm giữ thành Viêng Chăn. Vua Minh Mệnh cho rằng việc biên giới đã yên ơn và Chậu Anụvông cũng được an toàn mà không cần phải tận một mũi tên hòn đạn bèn dụ cho Đoàn Văn Trường từ Ba Động rút quân chỉ chọn 1000 quân tinh tráng ở lại giữ châu Quì Hợp, còn lại quân đội rút về hết, riêng đội tượng binh thì đưa về tỉnh thành Nghệ An nghỉ ngơi. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Khi quân đội rút về, Chậu Anụvông đã khẩn thiết xin nương nhờ triều đình. Vua Minh Mệnh bèn cho phép Chậu &quot;Anụvông được dời về trấn thành Nghệ An. Ngày Anụvông và thuộc hạ, gia quyến đến Nghệ An, vua sai Nguyễn Công Tiệp mang tặng Anụvông 1000 lạng bạc, 100 quan tiền, ngoài ra còn những đồ dùng thiết yếu cho cuộc sống của vua Anụvông và gia quyến gồm: rượu, gạo nếp, trâu, gà vịt, trầu cau, nước mắm và muối <sup>(5)</sup> . Ngoài ra vua cũng sai tặng cho thuộc hạ của Anụvông 200 lạng bạc, 300 quan tiền, còn những vật dụng thiết yếu như rượu, gạo nếp, muối mắm, trâu, gà, vịt, trầu cau cho quân sĩ cũng được cấp cho nhiều hơn gia quyến của vua<sup>(6).</sup></span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Trấn thần Nghệ An đã đựng 11 toà công quán ở chỗ đất trống phía đông của trán thành Nghệ An cho Chậu Anụvông và quân sĩ của ông ở. Cũng theo ghi chép của Ngô Cao Lãng thì số quân và dân theo Chậu Anụvông đến công quán Nghệ An ở đông đến 200 người.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Chậu Anụvông đã sai người báo cáo tình hình trong nước với trấn thần Nghệ An. Bấy giờ, trong số gia quyến của ông ta, có cả mẹ và 4 người con của phó vương áp Ma Hạt. Âp Má Hạt bèn gửi thư cho Chậu Anụvông và nói đã nhờ tướng Xiêm xin với vua Xiêm &quot;tha&quot; cho Chậu Anụvông và mời Anụvông về nước. Âp Ma Hạt cũng xin Anụvông cho mẹ và các con mình cùng được trở về Viêng Chăn.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Triều đình cùng nhau bàn bạc đều cho rằng chỉ nên cho một nửa số gia quyến của Âp Ma Hạt về Viêng Chăn còn nên giữ lại một nửa để sau này xem xét tình hình cụ thể ra sao. Nhưng chỉ dụ chưa đến nơi thì Anụvông xin với văn thần cho con của Âp Ma Hạt về dò xét tình hình. Điều này rất phù hợp với những toan tính của vua tôi triều Nguyễn. Vua Minh Mệnh đã nói rằng: “Nếu trời không muốn nước Vạn Tượng loạn lạc, khiến Âp Ma Hạt nghĩ lại đi đón anh về, ta nhân đó gửi thư cho nước Xiêm và đưa Anỗ về nước, thì dân ta cũng được nghỉ vai. Nếu không thế thì khó lòng tránh khỏi việc binh đao&quot; <sup>(7)</sup> . Tháng 3 năm 1828, Vua Minh Mệnh sai trấn thần Nghệ An nói với Anỗ nên dựa vào uy đức của triều đình rồi ngầm sai người về nước tìm người ứng nghĩa để khôi phục lại đất nước. Vua Anụvông nói rằng đã cho người về chiêu dụ các bộ lạc trong nước, số người ứng nghĩa lên đến vạn người. Vua Anụvông xin với triều đình cho quan quân đưa về nước để lấy tiếng viện trợ ông ta sẽ tự đem quân dân về thẳng Viêng Chăn. Nếu gặp quân Xiêm ngăn trở thì sẽ tự đương đầu không dám phiền đến một người quan quân. Nếu nước Xiêm lại đến xâm lược thì thề chết giữ lấy thành trì, không trốn như trước nữa.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Trấn thần đem việc tâu lên, vua sai các đình thần bàn bạc đều cho rằng : Anỗ có chí phục quốc, lại có cơ hội phục quốc, triều đình chính nên xử trí. Bây giờ đương mùa hạ, nước lụt chưa lâu, sai đại thần đem quân đóng ở bờ bắc sông Khung giang (sông Mè Nặm Khoỏng - NLT), đợi Anỗ sang sông qua tuần nhật mà vô sự thì quân ta rút về. Như thế để cho Anỗ nhờ ta mà được phục quốc. Ta đã dựng lại được nước đã mất, nối lại mối bị đứt, vả lại nước Xiêm với nước ta là nước láng giềng, mà nước Vạn Tượng là bề tôi của hai nước, trước ta thương vì cùng khổ mà nuôi vỗ, nay xin về thì đưa về, thực là việc nghĩa cử, xin sai sứ đưa thư sang nước Xiêm nói rõ đại ý của triều đình như thế thì việc làm chính đại quang minh không ai nói vào đầu được Vua cho là phải.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Sau đó, vua Minh Mệnh đã sai viên ngoại lang binh bộ là Hoàng Sĩ Quay đem sắc thư hội đồng với trấn thần bảo cho Anỗ biết. Vua cũng sai đô thống chế dinh long võ là Phan Văn Thấy làm kinh lược đại thần, phó tướng quân là Nguyễn Văn Xuân làm phó, tham tri hiệp trấn nghệ An là Nguyễn Khoa Hào làm tham tán, đem tướng sĩ hơn 3000 người và 20 thớt voi đến Trấn Ninh, tìm chỗ đóng quân, lượng phái biền binh đưa Anỗ về nước.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Người trực tiếp đưa Chậu Anụvông về nước là cai đội Nguyễn Trọng Thai. Nguyễn Trọng Thai cũng chính là người đã đưa thư của nhà Nguyễn cho vua Xiêm tại Viêng Chăn trước khi đưa Anụvông về nước để thoả thuận với phía Xiêm trong việc đối xử với Viêng Chăn. Do đã được sự đồng ý của vua Xiêm nên khi quân đội nhà Nguyễn hộ tống Anụvông về nước trên đường gặp quân Xiêm cũng không có sự ngăn cản gì. Sau khi Anụvông đã yên ổn, quân đội Đại Việt đã rút về. Vua Minh Mệnh cho quân sĩ về nghỉ ngơi và làm đàn tế những người đã vì công việc ngoài biên mà bị thiệt mạng.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Nhưng tình hình Viêng Chăn cũng không yên ổn được lâu. Chỉ hai tháng từ khi được quân đội Đại Việt hộ tống về nước, hiềm khích giữa quân Xiêm và Chậu Anụvông đã xảy ra. Kịch chiến xảy ra và Xiêm đã đưa thêm quân đội đàn áp Chậu Anụvông. Trong khi chưa biết Chậu Anụvông đang ở đâu, vua Minh Mệnh được tin đã vội sai người đến Viêng Chăn muốn khuyên giải Chậu Anụvông &quot;tạ lỗi&quot; với vua Xiêm, nhằm giữ được hoà bình cho cả ba nước.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Trong lúc sứ giả chưa đến được thành Viêng Chăn thì sứ giả của Viêng Chăn đã đến trấn thành Nghệ An xin cứu viện. Vua Minh Mệnh sai các đình thần bàn bạc. Các quan đều cho rằng việc binh là việc lớn, không nên vội vàng. Nhắn bảo cho Anỗ hãy tự lực còn ta chờ cho sứ thần về sẽ định liệu. Bèn sai Nghệ An phúc đáp thư của ANỗ rằng : &quot;Triều đình thương người có nạn cứu người bồ côi, giúp đỡ nước phiên thuộc đã hết sức chu đáo. Gần đây người Xiêm sinh sự có phải tự chủ ý vua Xiêm, hay là bởi tướng ngoài biên cầu công mà gây việc, cũng chưa biết rõ. Cái nghĩa triều đình, đối với nước láng giềng, sao lại có thể gây trước mối động binh . . . triều đình còn đương xét kỹ tình hình động tĩnh của nước Xiêm sẽ có cách xử trí đại đoạn&quot;<sup>(8) </sup>.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Nhưng triều đình nhà Nguyễn đã không có cơ hội để xem xét kỹ tình hình vì tình hình chiến sự giữa Xiêm và Viêng Chăn đã xảy ra hoàn toàn không có lợi cho Viêng Chăn. Chậu Anụvông đã bỏ thành mà chạy. Trấn thần Nghệ An được tin vội đem việc tâu lên. Vua Minh Mệnh vội vã sai đưa quân đi trấn giữ biên giới đề phòng quân Xiêm thừa thế xâm lấn bờ cõi. Phủ Trần Ninh và Trần Tĩnh, mỗi phủ phái đến 300 quân thần sách để trấn giữ. Phủ Trấn Định phái 150 biền binh trấn giữ. Vua lại lo sợ rằng phủ Nghệ An cách Trần Tĩnh rất xa nên đã cử 200 lính đóng ở đồn Quì Hợp để nếu xảy việc binh sẽ sách ứng cho Nghệ An.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Chậu Anụvông sau khi thua trận đã không chờ được sự cứu viện của nhà Nguyễn mà vội vã lại tìm đường chạy sang Nghệ An. Nhưng trên đường rút chạy, mới đến Trấn Ninh, Chậu Anụvông đã bị chậu mường Trấn Ninh là Chiêu Nội (dã sử Lào gọi là Chậu Nón) bắt và giải sang nộp cho người Xiêm. Một thời gian sau, Chậu Anụvông và gia quyến đã bị người Xiêm xử tử hình ở Băngkok.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Vua Minh Mệnh nghe tin, rất cảm thương cho số phận của Chậu Anụvông và giận giữ trước hành động của Chậu Nọi Mương Phuôn, đã sai người bắt chậu Nọi về Huế trị tội. Hai người con trai của Chậu Anụvông được ông đem theo khi trốn chạy và khi biết là không thể thoát được ông đã gửi lại ở phủ Trần Tĩnh. Được tin vua cha bị bắt, hai con ông đã tìm đường đến gặp quan quân Đại Việt và xin cho được trú ngu ở Nghệ An. Triều đình nhà nguyễn cho hai người ở lại phủ Trần Tĩnh và bảo vệ an toàn đồng thời chu cấp cho đầy đủ. Trước khi chiến tranh giữa Viêng Chăn và Xiêm xảy ra, Chậu Anụvông đã cho người đến Luổng Phạ Bang liên kết với vua Luổng Phạ Bang để đề nghị cùng nhau chống Xiêm. Nhưng do nội bộ các mường Lào không thống nhất nên vua Luổng Phạ Bang bề ngoài thì đồng ý với Chậu Anụvông nhưng lại ngầm sai người báo kế hoạch của Chậu Anụvông với vua Xiêm. Vì vậy chiến tranh giữa Viêng Chăn và Xiêm xảy ra nhưng quân Xiêm không tấn công Luổng Phạ Bang<sup>(9)</sup> .</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Sau khi Chậu Anụvông bị thất bại, tháng 9 năm 1828, Luổng Phạ Bang (biên niên sử Việt Nam gọi là Nam Chưởng) đã sai sứ vào triều cống cho nhà Nguyễn. Sứ thần đến kinh đô, được vào lạy vua ở sân điện và đã được vua hỏi han tình hình đất nước và được tiếp đón nồng hậu. Vua Minh Mệnh đã sai Bộ Lễ bàn định kỳ cống cho Luổng Phạ Bang và lấy các năm sửu, thìn, mùi, tuất cứ ba năm một lần vào cống. Phẩm vật cống được qui định gồm: ngà voi 4 đôi sừng tê giác 8 tảng, trống đồng hai cái (sau này nhà Nguyễn đã bỏ lệ cống trống đồng cho Luổng Phạ Bang vì cho rằng vùng này không sản xuất được trống đồng) .</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Mối quan hệ giữa nhà Nguyễn và Luổng Phạ Bang thời kỳ này hầu như không được xuân xẻ do Trấn Ninh và các vùng biên giới Việt - Lào, cư dân đều chịu sự kiểm soát của nhà Nguyễn. Luổng Phạ Bang thường lợi dụng đường đi đến các vùng này thuận lợi đã đem quân đến đòi các dân ngoài biên phải chịu phụ thuộc Luổng Phạ Bang và đòi cống nạp khiến cho dân biên giới vô cùng khổ cực. Triều đình ngoài việc phải đưa quân đội đến dẹp còn hư trương thanh thế khiến người Luổng Phạ Bang phải tự lui.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Một số quí tộc của Luổng Phạ Bang cũng muốn dựa vào nhà Nguyễn trong khi tranh giành nội bộ để lên nắm quyền cai trị nhưng triều đình nhà Nguyễn thường từ chối giúp đỡ những vụ việc rắc rối đó.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Có thể nói đến những năm cuối của triều Minh Mệnh, mối quan hệ của Đại Việt với các mường Lào hầu như bị gián đoạn. Năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), tháng hai, vua Minh Mệnh đã sai trấn thần nghệ An cho người đi do thám tình hình Viêng Chăn và Luổng Phạ Bang để biết rõ tình trạng hai tiểu quốc này. Do thám trở về nói rằng: bắt đầu đến Vạn Tượng, thấy dân Xiêm - Lào cùng ở lẫn lộn. Ở Nông Khai (Ngóng Khai) có một đồn lớn, lính Xiêm đóng giữ, thành nước ấy (Viêng Chăn) bỏ thành nơi hoang rậm... Đến Luổng Phạ Bang thì thấy có lính Xiêm chừng 200 người đóng giữ, một nửa ở trong thành, một nửa bờ nam sông Khung giang (Mè Nặm Khoỏng), vua nước ấy đã chết, Xiêm dựng con vua nước ấy là Vàng Lãng làm vua, em là Hạt Xà Bút làm phó, đều ở trong thành nước ấy<sup>(10)</sup> . Vua sai thưởng cho thám tử 50 quan tiền.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:12pt">Lịch sử thường có những bước ngoặt bất ngờ. Và sự bất ngờ ở những năm đầu thế kỷ XIX là phong trào Chậu Anụvông đã thất bại khiến cho tình hình Lào và tình hình biên giới hai nước luôn trong tình trạng bị xáo trộn. Tình trạng đó đã khiến cho quan hệ hai nước trong một thời gian khá dài bị gián đoạn. Nhưng nhà Nguyễn cũng đã tìm mọi cách khôi phục lại mối quan hệ giữa hai nước mà. trước hết là việc ơn định tình hình biên giới. Bởi nhà Nguyễn cũng hiểu rõ rằng giữ gìn mối quan hệ Đại Việt - Lào không chỉ là đảm bảo cho sự tồn vong của hai dân tộc mà còn là yêu cầu của lịch sử.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">1. Quốc sử quán thế kỷ XIX. Đại Nam thực lục Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 1960 - 1976. Q XXVII, T 3, Trg 260. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">2. Đại nam thực lục. Sách đã dẫn. Trg 238. Q45. T8. </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">3. Đại Nam thực lục. Sách đã dẫn, trg 239. Q 45. T 8.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">4. Ngô Cao Lãng. Quốc triều xử trí Vạn Tượng sự nghi lục. Bản dịch của phòng tư liệu Viện Đông Nam Á.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">5. Ngô Cao lãng. Quốc triều xử trí Vạn Tượng sự nghi lục. đã dẫn. Trg 19.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">6. Ngô Cao Lãng. Quốc triều... sách đã dẫn.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">7. Đại Nam thực lục, sách đã dẫn, Trg 302, </span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">8. Đại Nam thực lục, sách đã dẫn, Trg 3, T 9, Q 54.</span></div>
<div style="text-align:justify;text-indent:27pt"><span style="font-size:larger">9. Xưa Vịlạvông. Lịch sử Lào từ thượng cổ đến giữa thế kỷ XIX. Nhà xuất bản Giáo dục Viêng Chăn 1973.</span></div>
<p style="text-align:right"><span style="font-size:larger"><span style="color:#ff9900">Lương Ninh, Nguyễn Lệ Thi / Nghiên cứu Đông Nam Á. - 2005. - số 4. - Tr. 39 – 45.</span></span></p></div></div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 29/08/2012 8:40 SA</div>
<div><b>ItemShortContent:</b> Những năm đầu thế kỷ XIX, Việt  Nam dưới sự trị vì của vương triều Nguyễn. Ở Lào bấy giờ ngoài ba tiểu vương là Viêng Chăn, Luổng Phạ Bang và Chăm Pa Xắc còn mường độc lập như Phuôn Xiêng Khoảng. Các mường Lào đều chịu là thần thuộc của Xiêm sau cuộc xâm lược của Xiêm đối với Lào vào năm 1778. Mặc dù độc lập đối với nhau và có những mâu thuẫn với nhau nhưng từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX ngoài Chăm Pa Xắc, các mường khác đều luôn giữ quan hệ thân thuộc đối với nhà Nguyễn ở Đại Việt. Những bộ sử lớn của Quốc sử quán thế kỷ XIX đã ghi chép về những lần cống nạp của sứ giả các mường Lào. Đặc biệt những năm đầu thế kỷ XIX, ví dụ các năm 1801, 1802, 1803 sứ giả của Viêng Chăn, Luổng Phạ Bang và Phuôn Xiêng Khoảng, năm nào cũng mang đồ cống vật sang dâng cho nhà Nguyễn và xin được phụ thuộc vào nhà Nguyễn.</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 1.533</div>
]]></description>
      <author>LTDUNG</author>
      <pubDate>Wed, 29 Aug 2012 01:49:56 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.thuviendongnai.gov.vn/vietnamlao/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=1</guid>
    </item>
  </channel>
</rss>