Bỏ qua nội dung chính

Anh Hùng Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

Tìm kiếm
Trang chủ
Tra cứu
Thư viện số
Thư viện Koha
Bộ sưu tập
Video
Sản phẩm thông tin
Quan tri CMs
  

Thư viện Tỉnh Đồng Nai > Anh Hùng Quân Đội Nhân Dân Việt Nam > Bài đăng > SONG HÀO
SONG HÀO

 

Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:

Huân chương Hồ Chí Minh.

Huân chương Quân công hạng Nhất.

Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.

Huân chương Kháng chiến chng Mỹ hạng Nhất.

Huân chương Chiến công hạng Nhất.

Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.

Huân chương Sao vàng.

Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Năm phong quân hàm cấp tướng:

Trung tướng năm 1959; Thượng tướng năm 1974.

Thượng tướng Song Hào tên thật là Nguyễn Văn Khương, sinh ngày 20/8/1917 tại xã Hào Kiệt (nay là xã Liên Minh), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1936 trong Phong trào Mặt trận bình dân. Năm 1937, ông phụ trách tổ chức Ái hữu thợ thêu, Thanh niên dân chủ (sau này là Mặt trận phản đế) tại quê hương.

Tháng 4/1939, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử làm Thư ký Ban Thường trực Liên đoàn Lao động Hà Nội và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ Thành ph Hà Nội.

Đầu năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt giam và kết án 7 năm tù, lưu đày qua các nhà tù Nam Định, Hà Nội, Sơn La, Hòa Bình, Chợ Chu. Năm 1943, ông được chỉ định làm Bí thư chi bộ tại nhà tù Chợ Chu. Tháng 8/1944, ông vượt ngục khỏi nhà tù Chợ Chu về vùng Tuyên Quang, Thái Nguyên hoạt động, được chỉ định làm Chính trị viên đội tuyên truyền Cứu quốc quân hoạt động ở các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên.

Tháng 12/1944, ông được chỉ định làm Bí thư Khu căn cứ Nguyễn Huệ. Tháng 8/1945, ông được cử làm đại biểu đi dự Đại hội quốc dân tại Tân Trào. Sau đó ông phụ trách Cứu quốc quân cướp chính quyền tại hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang.

Sau Cách mạng tháng Tám, ông là Xứ ủy viên Bắc Kỳ của Kỳ bộ Việt Minh, phụ trách liên tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên... Tháng 12/1947, ông là Chính ủy Liên khu 10, Khu ủy viên, Bí thư Quân khu ủy. Đến năm 1950, ông là Chính ủy khu Tây Bắc, Bí thư Ban cán sự bộ đội tình nguyện vùng Thượng Lào. Năm 1951, ông là Chính ủy Đại đoàn 308, Bí thư Đại đoàn ủy.

Tháng 5/1955, ông được giao công tác xây dựng quân đội chính quy và được cử làm Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Tổng Quân ủy viên. Năm 1959, ông được phong quân hàm Trung tướng trong đợt phong hàm chính quy đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam (cùng được phong Trung tướng đợt này còn có các tướng Nguyễn Văn Vịnh, Hoàng Văn Thái, Trần Văn Trà).

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần III (năm 1960), lần IV (năm 1976) và lần V (tháng 3/1982) của Đảng, ông được bầu làm ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng. Ông được cử giữ chức ủy viên ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng, trưởng Ban kiểm tra Quân ủy Trung ương (khóa III). Được Ban chấp hành Trung ương cử vào Ban Bí thư (khóa IV), phân công làm Chủ nhiệm ủy ban Kiểm tra trung ương.

Tháng 3/1961, ông được cử giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (thay cho tướng Nguyễn Chí Thanh vào Nam), kiêm thứ trưởng Bộ Quốc phòng, phó bí thư Quân ủy Trung ương.

Sau 1975, ông vẫn tiếp tục công tác trong quân đội cho đến tháng 4/1982, ông được phân công giữ chức Bộ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội đến tháng 2/1987.

Từ tháng 2/1990 đến tháng 12/1992, ông được chỉ định làm Chủ tịch lâm thời Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Ông đã được bầu làm đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa IV và khóa VI.

Ông qua đời lúc 1 giờ 22 phút ngày 9/1/2004 tại Bệnh viên Trung ương quân đội 108, Hà Nội, hưởng thọ 87 tuổi.

(Sưu tầm)

 

 

Comments

Không có nhận xét nào cho bài đăng này.