Sinh ngày 01/3/1906 tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, đồng chí Phạm Văn Đồng lớn lên trong một gia đình trí thức yêu nước, giàu truyền thống hiếu học và tinh thần dân tộc. Tuổi thơ chứng kiến cảnh đất nước bị áp bức, nhân dân lầm than dưới ách đô hộ thực dân đã sớm hun đúc trong đồng chí lòng yêu nước sâu sắc và ý chí tìm con đường giải phóng dân tộc.
Những năm học tập tại Huế và sau đó tham gia phong trào học sinh yêu nước đã đánh dấu bước trưởng thành đầu tiên trong nhận thức chính trị của đồng chí. Năm 1926, đồng chí sang Quảng Châu (Trung Quốc) tham gia lớp huấn luyện do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức và được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đây là bước ngoặt quan trọng, đặt nền móng cho con đường hoạt động cách mạng chuyên nghiệp của đồng chí.
Trở về nước hoạt động, đồng chí tích cực tham gia phong trào cách mạng, xây dựng cơ sở quần chúng và vận động thanh niên, trí thức tham gia đấu tranh. Năm 1929, đồng chí bị thực dân Pháp bắt và kết án tù, đày ra Côn Đảo. Trong chốn lao tù khắc nghiệt, đồng chí vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản, biến nhà tù thành trường học cách mạng, tiếp tục rèn luyện bản lĩnh chính trị và ý chí đấu tranh.
Sau khi được trả tự do, đồng chí tiếp tục hoạt động cách mạng, tham gia gây dựng phong trào, củng cố lực lượng, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, đồng chí được Đảng và Chính phủ giao nhiều trọng trách quan trọng, tham gia xây dựng chính quyền cách mạng non trẻ và tổ chức kháng chiến chống xâm lược.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí giữ nhiều cương vị quan trọng trong Chính phủ và công tác đối ngoại. Năm 1954, với cương vị Trưởng phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự Hội nghị Genève, đồng chí Phạm Văn Đồng đã góp phần quan trọng vào việc lập lại hòa bình ở Đông Dương, khẳng định vị thế và chính nghĩa của Việt Nam trên trường quốc tế.
Từ năm 1955 đến năm 1987, đồng chí giữ cương vị Thủ tướng Chính phủ (sau là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) trong thời gian dài nhất trong lịch sử hành chính nhà nước Việt Nam. Trên cương vị này, đồng chí cùng tập thể lãnh đạo Đảng và Nhà nước lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế – xã hội.
Không chỉ là nhà lãnh đạo tài năng, đồng chí Phạm Văn Đồng còn là nhà ngoại giao lỗi lạc, góp phần xây dựng và củng cố quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các nước trên thế giới; là người luôn quan tâm đến phát triển giáo dục, văn hóa, khoa học và nâng cao đời sống nhân dân. Phong cách làm việc khoa học, tầm nhìn chiến lược, sự mềm dẻo nhưng kiên định trong đối nội và đối ngoại đã tạo nên uy tín lớn của đồng chí trong nước và quốc tế.
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, đồng chí luôn giữ lối sống giản dị, khiêm tốn, gần gũi với nhân dân; đặt lợi ích của đất nước và nhân dân lên trên hết. Đồng chí là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, tinh thần tận tụy phục vụ Tổ quốc và nhân dân.
Với những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đồng chí Phạm Văn Đồng được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Sao Vàng – phần thưởng cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam.
Đồng chí Phạm Văn Đồng từ trần ngày 29/4/2000, hưởng thọ 94 tuổi, để lại niềm tiếc thương sâu sắc trong lòng toàn Đảng, toàn dân và bạn bè quốc tế.
Kỷ niệm 120 năm ngày sinh đồng chí Phạm Văn Đồng là dịp để chúng ta ôn lại cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vẻ vang của một nhà lãnh đạo xuất sắc, người cộng sản mẫu mực, qua đó tiếp tục học tập và noi theo phẩm chất, trí tuệ và tinh thần cống hiến của đồng chí; góp phần xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh, vững bước trên con đường phát triển và hội nhập.
………………………………
Tài liệu tham khảo:
Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 120 năm ngày sinh đồng chí Phạm Văn Đồng (01/3/1906 – 01/3/2026) của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.